Hoàngquang’s Blog

10/05/2012

CƯỚP ĐẤT CÓ GIỮ ĐƯỢC NƯỚC?

Mai Xuân Dũng

Truong duy Nhat -Cắt lát tư duy Đinh La Thăng qua đề án “công nghiệp-hiện đại hóa” Bộ Giao thông vận tải
Trần Kinh Nghị -Lạm bàn về căn bệnh dối trá ở Việt Nam
Trọng Nghĩa/RFI Giới blogger Việt Nam kiên quyết thực hiện quyền tự do thông tin
Nguyễn Hưng Quốc/VOA’s blog: Cộng đồng mạng như một xã hội dân sự
TRỰC TIẾP TỪ VỤ BẢN: CHÍNH QUYỀN CƯỚP ĐẤT, ĐÁNH DÂN RẤT DÃ MAN ĐẶC BIỆT: ẢNH VÀ VIDEO VỤ CƯỠNG CHẾ TẠI VỤ BẢN SÁNG NGÀY 9 – 5 – 2012 TIN MỚI NHẬN: 400 NGƯỜI KÉO LÊN UBND TỈNH THANH HÓA ĐÒI ĐẤT Song Chi Sẽ còn nhiều vụ Văn Giang, Vụ Bản nữa…. Lê Hiền Đức -Lại thêm một vụ Văn giang nữa ! JP Nguyễn hữu Vinh “Rác rưởi” thành cứu cánh THÊM VỤ VỤ BẢN, NAM ĐỊNH: strong> PHẢI CHĂNG “CHÓP BU” HÀ NỘI ĐANG PHÂN CỰC ?

***

Mai Xuân Dũng-CƯỚP ĐẤT CÓ GIỮ ĐƯỢC NƯỚC?

09/5/2012
Trong vụ Tiên lãng Hải Phòng, ông Đoàn Văn Vươn, một nông dân quai đê lấn biển đã buộc phải liều mạng sống và cả sinh mạng vợ con, gia đình, nổ súng chống lại lực lượng cưỡng chế hùng hậu gấp hàng trăm lần để bảo vệ đất.
Tại Văn Giang, đại gia tập đoàn Việt Hưng Eco Park với sự phối hợp của các lực lượng “trung với đảng hiếu với tiền” kéo hàng ngàn công an trang bị đến tận răng, tổ chức cưỡng chiếm đất đai nông nghiệp, đàn áp nông dân tàn bạo khiến dư luận khắp thế giới sôi sục.

Hôm nay tại Vụ Bản Nam Định, Tập đoàn Dệt may Việt nam cũng đã mua đứt linh hồn quỷ dữ nhà cầm quyền. Đám công an đoàn kết chặt chẽ xung quanh đám côn đồ đang dùng bạo lực cưỡng bức bà con nông dân ra khỏi mảnh đất canh tác của họ.
Đảng bật đèn xanh. Đại gia tư bản đỏ vung tiền mua quyền lực. Các lực lượng công an cảnh sát được đảng vừa dạy vừa dỗ và trao cho thanh kiếm, lá chắn vững chắc đang quyết chiến quyết thắng với nông dân chỉ có chiếc mũ nhựa làm vật bảo hiểm nhân mạng.

Với tương quan lực lượng như vậy, nhà cầm quyền đè bẹp sự phản kháng của nông dân là chuyện quá dễ dàng. Cuối cùng đảng đã chiến thắng nhân dân và đạp một chân lên số phận của họ.

Điều gì đang diễn ra trên đất nước này khi đảng CS giảng bài khắp thế giới rằng: “nhà nước là của dân, do dân và vì dân” nhưng trên thực tế đang chà đạp lên quyền sống của nhân dân?

Ba chục năm qua, Luật Đất đai cùng rất nhiều nghị định của chính phủ, thông tư của các bộ, ngành… chồng chéo nhau, qua nhiều lần chỉnh sửa không giải quyết nổi các rắc rối, xung đột phát sinh trong lĩnh vực bồi thường giải tỏa, thu hồi đất. Khiếu kiện liên quan đất đai không giảm mà còn có xu hướng ngày càng gay gắt.

Nguyện vọng của nông dân Văn Giang, Vụ Bản hoặc bất kỳ nơi nào đều có một mẫu số chung: “Chúng tôi muốn thỏa thuận với chủ đầu tư để đạt được mức giá đền bù hợp lý, hoàn toàn dựa trên quy định pháp luật mà Nhà nước đã ban hành. Đúng ra nhà nước chỉ làm trung gian giúp hai bên thỏa thuận chứ tại sao lại cưỡng chế ? Tại sao nhà nước cưỡng bức dân phải chấp nhận mức giá 135.000 đồng/m2 trong khi đó các Dự án đã lên phương án sẵn sàng bán sản phẩm ở mức từ 25-45 triệu đồng /m2?
Giải bài toán về giá đền bù-bồi thường quả thật không đơn giản. Nhưng nguyên tắc cốt lõi cần phải được khẳng định: Quyền lợi hợp pháp của người bị thu hồi đất phải được bảo đảm. Không vì nhân danh quyền lợi chung, sự phát triển kinh tế-xã hội của địa phương mà hy sinh quyền lợi của người dân, đẩy họ vào chỗ không còn nguồn sống.
Một số chuyên gia kinh tế cho rằng ngay cả trong các dự án thực hiện theo phương thức thu hồi đất, quyền lợi của người bị thu hồi đất vẫn có thể giải quyết ổn thỏa, hài hòa nếu chính quyền và chủ đầu tư chịu ngồi lại với người dân, bàn bạc dân chủ, công khai với tinh thần hợp tác. Điều tối kỵ là dùng quyền lực, dựa vào quyền lực để ép dân, tước đoạt quyền lợi của dân.

Phát biểu tại cuộc họp toàn quốc về công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo vào ngày 2-5, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nói: Công tác giải phóng mặt bằng cần “Lấy vận động, thuyết phục làm chính. Tập trung giải quyết dứt điểm 528 vụ khiếu kiện còn tồn đọng trong cả nước, bởi nếu chủ quan, coi thường, không tập trung giải quyết dứt điểm thì đây sẽ là những mầm mống dẫn tới bất ổn an ninh chính trị thời gian tới”.
“Chúng ta phải làm hết lòng, hết trách nhiệm để người dân thấy được lẽ phải. Khi họ thấy lẽ phải thì họ sẽ đồng thuận thực hiện”.

Nhưng lẽ phải ở đâu? Lẽ phải làm sao có được khi “Đền bù cho người ta chỉ hơn 100.000 đồng/m2, nghĩa là mua được vài lít xăng hoặc ba bát phở. 1 m2 đất nông nghiệp, kết quả tích tụ của hàng bao nhiêu năm, lại là cái người nông dân phải đổ ra bao nhiêu mồ hôi mới có được, chưa tính đến chuyện trong đó có cả thành quả cách mạng chia cho người ta nữa, mà giờ trả quá rẻ mạt. Làm sao người ta sống được” như lời GS Nguyễn Minh Thuyết đã nói.

“Vận động thuyết phục là chính” ở đâu trong khi nông dân chưa thông thì nhà cầm quyền đã dùng sức mạnh của cả một bộ máy nhà nước chuyên chính đè bẹp phản kháng chính đáng của nhân dân.
Rõ ràng nói là một chuyện, thực tế là chuyện khác. Kêu gọi tìm sự “hài hòa quyền lợi” giữa nhà đầu tư, nhà nước và người dân nhưng nhà nước luôn đặt quyền lợi tối thượng của cá nhân nhóm lợi ích lên quá cao bất chấp quyền lợi, số phận của nông dân thì làm sao có được sự “hài hòa”.

Đằng sau giá đất chênh lệch khủng khiếp giữa đền bù và giá kinh doanh kia là những cái bắt tay thỏa thuận chia tiền trên máu của nông dân.
Tuy vậy, trong bài toán đất đai, nhận thức của Thủ tướng về sự “bất ổn an ninh chính trị thời gian tới” là điều dễ thấy. Nhưng để hạ nhiệt cho đám lửa đang lan rộng, nhà cầm quyền lại đang đổ thêm dầu. Bài toán được và mất này, thực ra nhà nước có vẻ nói cho vui cho êm dư luận chứ không muốn giải quyết rốt ráo trên cơ sở công bằng và pháp luật.

Như vậy, có phải họ cố lấy được đất, được tiền bằng mọi giá và sẽ nhanh chân tẩu tán khi đám cháy không còn khả năng dập tắt?
Trong khi quan hệ Việt nam-Trung quốc đang ở vào thời điểm đầy nguy hiểm rất dễ diễn ra xung đột vũ trang thì nhà cầm quyền vẫn tiếp tục chủ trương đẩy mạnh các cuộc cưỡng chiếm đất đai bằng bạo lực khác nào cố tình châm ngòi cho quả bom “bất ổn an ninh chính trị”.
Sau Văn Giang nay lại là Vụ Bản và còn hàng trăm vụ vụ cưỡng chế khác sẽ tiếp tục xảy ra.

Các vụ đàn áp, cưỡng chế đang thổi bùng ngọn lửa mâu thuẫn giữa nhà nước với tầng lớp nông dân đông đảo đang phẫn uất cùng cực.
Liệu cướp được đất có giữ được Nước?
Câu hỏi này có lẽ là câu hỏi gây day dứt, đau đớn cho những người nặng lòng với dân với Nước chứ không phải là mối quan tâm của những kẻ đang chia tiền.

Mai Xuân Dũng
http://dzungm86.blogspot.com/2012/05/cuop-at-co-giu-uoc-nuoc.html
***
Truong duy Nhat -Cắt lát tư duy Đinh La Thăng qua đề án “công nghiệp-hiện đại hóa” Bộ Giao thông vận tải

Một đề án tiêu tiền thiếu hiểu biết, thậm chí là điên rồ. Một tính cách bộp chộp kiểu Bí thư đoàn và lối tư duy của một “thằng” giám đốc doanh nghiệp mua rượu Ballantines về chất trong tủ uống dần. Đó là vài lát cắt tư duy Đinh La Thăng qua bản đề án đang gây sốc dư luận “công nghiệp hóa-hiện đại hóa Bộ Giao thông vận tải”.
Công nghiệp hóa cái đít ngồi
Sau hàng loạt chủ trương trái khoáy tạo nên những làn sóng phản đối dữ dội từ dân chúng, Bộ trưởng Thăng tiếp tục đưa ra một bản đề án cực sốc mang tên “công nghiệp hóa- hiện đại hóa Bộ Giao thông-vận tải” . Một bản đề án khiến tôi phải buột miệng: hay ông Thăng có vấn đề về… thần kinh?
Giữa lúc chính phủ đang phải co mình tiết giảm chi tiêu, cắt giảm đầu tư công, giữa lúc tình hình kinh tế như “chiếc xe hỏng phanh lao dốc”, đời sống dân tình đong bữa, thì ông Thăng lại đòi lấy trên 200 nghìn tỷ để “công nghiệp hóa-hiện đại hóa” Bộ Giao thông. Mà thật ra đó là “công nghiệp hóa” cái đít ngồi của quan chức Bộ Giao thông-vận tải: trên 10.000 tỷ đồng xây mới trụ sở.
Thì ra, tư duy hiện đại hóa công nghiệp hóa ngành giao thông của Đinh La Thăng bắt đầu từ cái… đít ngồi.
Đến như bà Nguyễn Thị Hoài Thu, cựu Chủ nhiệm ủy ban các vấn đề xã hội của quốc hội, một trong những người từng công khai ủng hộ và kỳ vọng ở Đinh La Thăng ngay từ khi ông mới lên ngồi ghế Bộ trưởng cũng bị sốc trước “tư duy” đít ngồi này. Bà bức xúc: “hiện đại hóa ngành giao thông bắt đầu từ đâu? Xác định được điểm bắt đầu từ đâu thì hãy bắt đầu từ điểm đó chứ không phải bắt đầu từ việc xây dựng trụ sở Bộ… Tôi không thể ủng hộ một đề án hiện đại hóa bắt đầu từ trụ sở. Tôi chỉ ủng hộ cái gì bắt đầu từ việc làm có lợi cho nhân dân trước: giảm tai nạn, giảm số người chết… Lo cho dân trước, lo cho mình sau”. (nguồn: Giáo dục Việt Nam)
Không biết nhằm thuyết phục chính phủ hay để “an dân”, đề án giải thích: 60% vốn ngoài ngân sách, huy động, cân đối các nguồn vốn tự có, vốn vay, ODA, vốn huy động từ xã hội… (nguồn: Tiền Phong)
Thật tình, nghe xong tôi hoảng. Hay trong suy nghĩ của ông Thăng, tiền vay, vốn ODA… là thứ tiền chùa, không phải thuế dân? Ở điểm này, dường như Đinh La Thăng chưa vượt khỏi lối tư duy của một “thằng” giám đốc doanh nghiệp. Lịch sử chưa thấy vị Bộ trưởng nào lại ngu dại đến mức đi vay vốn ODA để xây trụ sở làm việc.
Bà Phạm Chi Lan “mắng” Đinh La Thăng là loại Bộ trưởng không có lương tâm: “Tiền xây dựng của bộ không thể nói là tự huy động từ ODA hay là vay mượn ở đâu được vì ODA suy cho cùng cũng là đất nước mình đứng ra vay đất nước khác rồi gánh nặng trả sẽ đè nặng lên vai các thế hệ sau này nếu không phải trả sớm ngay bây giờ. ODA không phải là tiền cho không. Không có chuyện bộ nọ bộ kia đứng ra huy đọng ODA cho mình để xây dựng trụ sở cho mình được. Tôi nghĩ là các nước cung cấp ODA cho mình cũng không ai cung cấp cho việc xây dựng trụ sở cơ quan. Họ cũng phải chịu sự giám sát của người dân đã đóng tiền cho chính phủ nước khác đã cung cấp ODA cho mình… Tôi nghĩ rằng trên đất nước này còn rất nhiều nơi người dân đi đường vẫn phải lầy lội. Nói trong ngành giao thông thì với số tiền hàng nghìn tỉ đồng như vậy không dám nói là sẽ phủ kín đường nhựa trên đất nước này nhưng nó sẽ giúp cho dân bớt khó khăn đi. Tôi tin với một Bộ trưởng bộ GTVT có lương tâm, các cán bộ có lương tâm thì đó là điều hạnh phúc hơn là việc ngồi trong một trụ sở to hoành tráng” (nguồn:
Giáo dục Việt Nam)

Thật ra, mắng Đinh La Thăng là Bộ trưởng không có lương tâm cũng quá. Tôi nghĩ ông không tệ thế, sự thể đến vậy suy cho cùng có lẽ cũng chỉ bởi cái tư duy… đít ngồi mà thôi!
Vinalines và hàng trăm nghìn tỷ ném ra biển
Hậu họa Vinashin chưa nguôi, đang tiếp tục hiện hình một Vinashin khác: Vinalines (Tổng công ty hàng hải Việt Nam) chìm ngập trong nợ nần và có nguy cơ vỡ chẳng khác gì Vinashin.
Và cách ông Thăng đang cứu Vinalines cũng chẳng khác gì trước đây người ta “cứu” Vinashin. Giữa lúc hàng loạt các đội tàu biển nằm chơi không có việc hoặc bị cầm giữ ở nước ngoài, đề án “công nghiệp hóa- hiện đại hóa” của Bộ trưởng Thăng lại tiếp tục bơm hơn 100.000 tỷ để “phát triển đội tàu mới” cho Vinalines.
Chủ trương bơm một núi tiền khổng lồ hàng trăm nghìn tỷ cho Vinalines bị phản đối dữ dội còn hơn cả việc đòi 10.000 tỷ xây trụ sở Bộ Giao thông. Cựu Cục trưởng Hàng hải Chu Quang Thứ phản ứng “nếu muốn các công ty lớn tiếp tục thua lỗ thì cứ tiếp tục dồn tiền vào. Vẫn làm như cách hiện nay, không tái cơ cấu, thay đổi toàn diện cách quản lý và khai thác đội tàu biển thì chắc chắn sẽ ngày càng lỗ lớn, nợ chồng nợ” (nguồn: Tuổi Trẻ)
Càng bóc tách “đề án hiện đại công nghiệp” của ông Thăng, càng thấy một sự lãng phí vô lối, một kiểu lối tư duy tiêu tiền thiếu hiểu biết, thậm chí là điên rồ.
Cách thức đầu tư và kinh doanh của Vinalines đang được điều tra và phát hiện cũng i chang kiểu lối Vinashin. Cũng là mua tàu già tàu cũ về cho… thuê lại. Tiền cho thuê tàu thu về hàng tháng là có, thấy đều đặn, nhưng thật sự cái thu về được chỉ là một phần rất nhỏ so với giá trị tài sản nhà nước bị phá đi. Nhiều khi khoản thu về không đủ chi phí khấu hao và bảo hiểm.
Theo báo Tuổi Trẻ, chỉ trong vòng 4 tháng đầu năm 2012, đã có 7 chiếc trong đội tàu biển của Vinalines bị câu lưu tại nước ngoài. Trong năm 2011, trên 40 tàu của Vinalines cũng bị các nước bắt giữ. Nguyên nhân chủ yếu do tàu già tàu cũ không đảm bảo các yếu tố an toàn hàng hải hoặc dính líu đến các vụ kiện tụng tranh chấp tài chính ( không khác gì Vinashin trước đây).
Ngồi ghế Bộ trưởng, nếu ông Thăng không nhìn ra, không nắm được, không được báo cáo đầy đủ về việc này, thì quả thật trình độ và tư duy quản lý của ông chỉ đáng tầm một lão… trưởng thôn. Còn giả nếu ông biết rõ thực trạng này nhưng vẫn nhắm mắt làm ngơ, vẫn cố tình tìm cách móc tiền “đầu tư” ném thêm cho Vinalines một núi tiền khổng lồ như vậy thì phải xem lại động cơ “đầu tư” kia thật sự là cái gì, hoặc chính ông Thăng là kẻ… phá hoại!
Phó giáo sư tiến sĩ Nguyễn Văn Thụ, cựu Viện trưởng viện qui hoạch & quản lý GTVT (người đã từng thách đố ông Thăng nếu thu phí mà giảm được kẹt xe thì ông sẽ đi tù) nhìn nhận: “việc rót 100.000 tỷ đồng cho Vinalines sẽ tiếp tục lặp lại sai lầm phát triển nhanh, ồ ạt, kém hiệu quả. Việc phát triển vận tải biển trong nước không đơn thuần là sắm thêm tàu, vấn đề cốt lõi là tổ chức khai thác đội tàu biển, gắn chặt với việc phát triển dịch vụ logistic (hậu cần) vốn đang rất yếu của Việt Nam” (nguồn: Thanh Niên)
Trong lúc hàng đội tàu nối đuôi nhau phơi nắng hoặc bị giam nhốt ở nước ngoài, thì việc ném tiếp 100.000 tỷ như bản đề án yêu cầu là hành động đốt tiền.
Hay ông Thăng tư duy cứ đổ tiền mua đoàn đoàn lớp lớp tàu hùng hậu về neo đậu phơi nắng cho han gỉ thành sắt vụn như thực trạng những con tàu Vinashin trước đây là “công nghiệp hóa-hiện đại hóa” đội ngũ tàu biển quốc gia?
Mua sắm tàu biển không phải như việc mua rượu Ballantines chất trong tủ uống dần.
Điểm đặc biệt và kỳ lạ hơn ở chỗ: Bản quyết định phát triển ngành vận tải biển đến năm 2020 định hướng 2030 được Thủ tướng phê duyệt chỉ định khung phát triển các loại tàu chuyên dùng (container, hàng rời, tàu dầu) đến năm 2015 với tổng trọng tải 8,5-9,5 triệu tấn, và năm 2020 là 11,5-13,5 triệu tấn. Thế nhưng không hiểu vì lý do gì và căn cứ vào đâu, ông Thăng lại hô biến trong dự án thành 67 tàu với tổng trọng tải xấp xỉ 15 triệu tấn vào năm 2015.
Phó giáo sư tiến sĩ Nguyễn Văn Thụ đặt dấu hỏi “theo qui hoạch đã được Thủ tướng phê duyệt, đến năm 2020, năng lực vận tải biển cả nước (bao gồm Vinalines) tối đa đạt 11,5-13,5 triệu tấn, vậy xin hỏi việc đầu tư riêng cho Vinalines đội tàu 15 triệu tấn được dựa trên cơ sở nào?”
Cú bấm nút vượt mặt Thủ tướng này thực chất là gì? Có mưu đồ gì, hay chỉ giản đơn bởi tấm lòng nhiệt huyết đến bộp chộp của một gã… Bí thư đoàn? Hay chỉ bởi lối tư duy của một “thằng” giám đốc doanh nghiệp mua rượu Ballantines về chất trong tủ uống dần?

____________________
http://motgocnhinkhac.blogspot.com/2012/05/cat-lat-tu-duy-inh-la-thang-qua-e-cong.html

Trần Kinh nghị Lạm bàn về căn bệnh dối trá ở Việt Nam(*)

Đọc Nghị quyết TW 4 khóa XI thấy đồng chí Tổng Bí thư đúng là “danh bất hư truyền” về tài phân tích, tổng kết, báo cáo. Bản Nghị quyết không dài lắm nhưng nêu lên được rất nhiều khuyết điểm cùng những nguyên nhân và biện pháp cũng như lộ trình khắc phục… Lời văn cũng rất hay! Nhiều người, nhất là cánh hưu trí, đã chăm chú lắng nghe và đọc, có những lúc ngồi thần trước màn hình TV ngắm diễn giả không khác nào giới trẻ ngưỡng mộ các “sao Việt”. Thật đấy, chả là dù sao nó cũng đáp ứng nguyện vọng của người dân đang hồi vô cùng bức xúc. (Có thể xem toàn văn NQ tại đây: )

Tuy nhiên, nghĩ đi ngẫm lại, rằng hay thì thật là hay, nhưng có lẽ để thực hiện rốt ráo cái Nghị quyết này chắc sẽ còn tốn rất nhiều giấy mực và thời gian , không khéo hàng trăm tỷ đồng để phục vụ các ban bệ chuyên trách(?). Dư luận đang theo dõi sát sao quá trình trỉển khai NQ với những tâm trạng khác nhau.
Theo như Nghị quyết đã vạch ra, khuyết điểm có ở mọi nơi, mọi cấp, mọi ngành lại còn kéo dài triền miên, nay đã đến hồi “đe dọa sự tồn vong của chế độ”. Tất cả cho thấy một sự thật đau lòng: Đảng đã đánh mất lòng tin nơi quần chúng nhân dân – một bảo bối của sự nghiệp cách mạng đã từng được Chủ tịch Hồ Chí Minh rất coi trọng với những lời cảnh báo từ rất sớm như “Dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong” và “Đẩy thuyền là dân thì lật thuyền cũng là dân”.

Đành rằng cái gì mất đều có thể lấy lại, nhưng cũng có những thứ không thể lấy lại, hoặc lấy lại cũng khó mà nguyên vẹn, nhất là trong trường hợp mất lòng tin do động cơ vụ lợi cá nhân của người trong cuộc nhưng không bao giờ chịu tự nguyện từ bỏ. Đời vẫn thế mà! Nếu ta nhìn nhận một sự việc không có mình trong đó thì thường bao giờ cũng sáng suốt, công bằng, bác ái…Nhưng hể có mình trong đó là méo mó, vẹo vọ liền. Khi kiểm điểm chung thì nói vanh vách như thể khuyết điểm là của ai khác, chứ quyết không phải của mình; chỉ có thành tích là “của tôi” !. Thế nên dân gian có câu “Có ai tự vác đá ghè vào chân mình?” là do xuất phát từ thực tế muôn thuở này. Nghị quyết vạch ra rất nhiều khuyết điểm nghiêm trọng, nhưng liệu có bao nhiêu người tự nhận mình có khuyết điểm nghiêm trọng đến mức phải từ chức? Phần lớn nội dung nói về chống tham nhũng quan liêu, nhưng liệu có mấy ai tự nhận mình tham nhũng, quan liêu? Trình độ yếu kém ư, liệu có ai tự nhận mình yếu kém và xin từ chức? Nhiều kẻ vi phạm, cố ý lảm sai trái phè phè ra đấy không những không mất chức còn được chuyển sang những vị trí mới để tiếp tục làm sai và tiếp tục đục khoét công của …Vì sao vậy? Phải chăng suy cho cùng đó chính là sự ẩn hiện của chủ nghĩa DỐI TRÁ trong mỗi người và trong toàn bộ hệ thống chính trị của đất nước.Nhưng dường như điều này chưa được gọi đích danh trong Nghị quyết lần này. Thiết nghĩ chính bênh dối trá mới là đối tượng cần chỉnh đốn tận gốc rễ trước khi chỉnh đốn những vấn đề khác, vì đối trá cùng với tham nhũng đích thực là một “cặp song sinh” của chế độ.

Dối trá mới nghe tưởng không có gì nguy hại lắm, vì nó vốn dĩ là thói xấu của xã hội loài người chứ đâu của riêng ai. Nhưng ở Việt Nam bệnh dối trá có những đặc thù riêng. Nó bắt nguồn từ thời kỳ cách mạng giải phóng dân tộc, trãi qua nhiều biến cố lịch sử với những phong trào thi đua và những đợt cải cách ruộng đất, cải tạo công thương, nhân văn gai phẩm v.v… khiến xã hội bị xáo trộn, lòng người đảo điên. Những thời kỳ kinh tế khắc khổ cũng khiến con người ta trở nên bon chen và thủ đoạn. Tất cả tạo nên lối sống và tư duy phức tạp, thường mang tính hai mặt, nói và làm không đi đôi với nhau. Trong thời kỳ bí mật những người cộng sản thường phải che dấu tung tích của mình, kể cả phải thay tên đổi họ, tuổi tác, quê quán, thậm chí cả lai lịch bố mẹ, vợ con; trong nhiều trường hợp họ được “đặc cách” giữ kín những thông tin cá nhân, kể cả khi tham gia ứng cử, bầu cử hoặc khi đã nắm giữ một cương vị lãnh đạo quan trọng. Cách làm này là cần thiết trong thời kỳ bí mật, nhưng là yếu điểm đối với một bộ máy công quyền trong thời bình. Đó là tình trạng không minh bạch về lý lịch cá nhân, kể cả tư cách đạo đức của người cán bộ từ cấp thấp lên cấp cao. Nó khuyến khích thói tự mãn và bao biện cùng với những thói hư tật xấu như tác phong gia trưởng, tệ sùng bái cá nhân, thói xu ninh, thủ đoạn câu kết, bao che lẫn nhau để cầu lợi. Thói “làm thì láo, báo cáo thì hay” và thói chạy theo thành tích vốn đã phát sinh từ thời kỳ XHCN ở miền Bắc cũng là những tác nhân gây ra căn bệnh dối trá. Và ngày nay nó đã trở thành một căn bệnh trầm kha ăn sâu bám rể trong toàn bộ xã hội mà ở đó ai không biết nói dối, không biết làm ẩu và không biết “ăn theo nói leo” thì không thể tồn tại. Bệnh dối trá khiến người bệnh mất cả cảm giác tự trọng để nhận ra lỗi lầm của mình hoặc nhận ra nhưng không chịu xin lỗi. Đó là nguyên nhân sâu xa của tệ nạn câu kết, tham nhũng và lãng phí tràn lan trên đất nước này. Đó là mãnh đất màu mỡ nuôi dưỡng những kẻ bất tài, vô đạo đức nhưng thích làm quan. Đó là phương tiện trong tay những kẻ đương chức đương quyền để “sống mòn” với địa vị của họ bất chấp mọi quy luật của cuộc sống, bất chấp lợi ích của người dân và của dân tộc nói chung.

Căn bệnh dối trá chính là nguyên nhân trực tiếp của tình trạng không minh bạch (ngôn từ thời hội nhập) trong hệ thống công quyền Việt Nam ngày nay. Tình trạng thiếu minh bạnh thể hiện trong mọi lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa-xã hôi, giáo dục, an ninh quốc phòng, v.v…Đâu đâu cũng thấy tình trang thông tin mập mờ, không đầy đủ hoặc bị bóp méo sai lệch bởi chính bộ máy hành chính công rất đông mà không mạnh. Mỗi khi cần giải quyết một việc gì người dân phải chạy vòng vo để tìm kiếm mà cũng không có gì để đảm bảo. Có thể nói hài hước rằng ở Việt Nam mọi thứ đều giả, chỉ có dối trá là có thật! Tại đây mọi đứa trẻ sinh ra đã bắt đầu phải hứng chịu hậu quả của sự dối trá. Chúng lớn lên, đi học và đi làm đều ngụp lặn trong môi trường dối trá và thiếu minh bạch. Xã hội đầy rẫy những “ma hồn trận” do sự dối trá gây ra . Nó tạo ra môi trường tranh tối tranh sáng rất thuận lợi cho các loại tội phạm, kể cả ma-fia dân sự và ma-fia chính trị .Có thể nói không ngoa rằng căn bênh dối trá đã và đang làm hỏng những thế hệ người Việt, làm xói mòn chính uy tín của Đảng. Và giờ đây nó đang tấn công vào lợi ích sống còn của dân tộc bằng cách phá hỏng mọi kế hoạch phát triển của đất nước. Một khi khái niệm đúng/sai đã bị đánh lộn sòng thì mọi chủ trương chính sách, mọi kế hoạch, dự án của nhà nước dù đúng/sai cũng bị nghi ngờ, thậm chí bị phá sản. Có lẽ chưa bao giờ người dân tỏ ra không tin vào mọi quyết sách của nhà nước như bây giờ sau khi họ đã học được những bài học cay đắng do sự dối trá gây ra. Nói cách khác, người dân đã bị lừa dối quá nhiều bởi những thực tế phủ phàng, trong đó có rất nhiều những công trình xây dựng kém chất lượng do bị các nhóm lợi ích đục khoét tham nhũng trong quá trình thi công. Tuy mới chỉ là bề nổi của tảng băng chìm nhưng những vụ tham nhũng như PU 18, Lã Thị Kim Oanh, ODA Hành lang Đông-Tây, những vụ nhượng bán rừng và hầm mỏ cùng với những vụ thất thoát bạc nghìn tỷ của Vinashin, Vinalines, Dung Quất và của hàng loạt “anh cả đỏ” đang trên bờ vực phá sản khiến dư luận xã hôi hết sức bất bình và bất tín. Sự kiện rò nước tại con đập Sông Tranh 2 hiện nay là một ví dụ điễn hình của loại “tội phạm kép”- tham nhũng và dối trá. Người dân không mất lòng tin sao được trước hàng loạt những vụ việc như nói trên. Dù không có hình thức bỏ phiếu thăm dò dư luận, nhưng bằng trực giác cũng có thể thấy uy tín của Đảng và của giới lãnh đạo đã giảm sút nghiêm trọng đến mức nào; giảm sút bi đát đến mức có hiện tượng phổ biến là mỗi khi thấy vị lãnh đạo A,B,C… xuất hiện trên TV người xem lập tức chuyển kênh hoặc tắt máy cho bỏ tức! Đã lâu rồi không còn nữa câu chuyện kính trọng và thần tượng lãnh tụ, thay vào đó là những thái độ miệt thị rất bi hài. Đó là sự thật. Và sự thật này đang tăng lên một cách đáng kinh ngạc trên quy mô cả nước.

Thiết nghĩ, để thực sự chỉnh đốn Đảng và chỉnh đốn thành công, nên chăng trong nhiều việc cần làm thì việc đầu tiên là phải chữa trị căn bệnh dối trá đang lan tràn ở đất nước này. Ví dụ, người dân không thể chấp nhận những ứng cử viên vào các chức vụ lãnh đạo mà lý lịch không rõ ràng, thậm chí cha mẹ đích thực là ai cũng không biết. Bộ máy công quyền không thể cứ tiếp tục dung nạp mãi những tấm bằng dỡm có được bằng tiền hoặc các thủ đoạn dối trá. Không thể nói mãi “chính quyền của dân, do dân, vì dân” trong khi vẫn tiếp tục “hành dân” từ những công vụ đơn giản hàng ngày như khai sinh, khai tử, đăng ký hộ tịch…Thật phi lý khi chính quyền nắm trong tay mọi quyền lực, chức năng mà không thể bảo vệ được người tiêu dùng trước vấn nạn hàng giả và thực phẩm độc hại lan tràn. Một vấn đề cấp thiết nữa là, phải đảm bảo quyền của mọi công dân Việt Nam được tiếp cận thông tin một cách rõ ràng, minh bạch về chủ quyền toàn và vẹn lãnh thổ, biển đảo của tổ quốc mình. Nghịch lý thay, bên cạnh Điều lệ đảng còn có đến 19 điều cấm đối với đảng viên mà không sao ngăn chặn được tệ nạn dối trá, trong khi đó lại cấm đảng viên cùng nhân dân đấu tranh vì công lý và tiến bộ xã hội (?)./.

(*) Tiêu đề được đặt lại ít giờ sau khi phát hành.

Trần Kinh Nghị
http://anonymouse.org/cgi-bin/anon-www.cgi/http://trankinhnghi.blogspot.com/2012/03/benh-doi-tra-va-he-luy-cua-no-oi-voi.html

Giới blogger Việt Nam kiên quyết thực hiện quyền tự do thông tin

& VN tuyên chiến với bloggers bằng nghị định

Tiến sĩ Nguyễn Xuân Diện (áo đỏ) và Gs Ngô Đức Thọ trong một cuộc biểu tình tại Hà Nội chống Trung Quốc gây hấn hôm 19/6/2011 -xuandienhannom.blogspot.com
Trọng Nghĩa/RFI
Từ Tiên Lãng đến Văn Giang, và hiện nay là Nam Định, các vụ chính quyền Việt Nam dùng nhân viên công lực để trục xuất cư dân ra khỏi những vùng đất bị trưng thu càng lúc càng thu hút mối quan tâm của công luận. Trong một bản tin hôm nay, 09/05/2012, hãng thông tấn Pháp AFP đã ghi nhận vai trò càng lúc càng quan trọng của giới blogger Việt Nam trong việc đưa tin, bất chấp các biện pháp đe dọa và trấn áp của chính quyền.

Theo AFP, trên một đất nước mà báo chí truyền thống bị Nhà nước kiểm soát, internet đã mang lại cho giới blogger một phương tiện thông tin hữu hiệu, và họ ngày càng mạnh dạn và sáng tạo hơn trong công việc của mình.
Vụ cưỡng chế đất đai ở huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên ngày 24/04/2012 đã được AFP nêu lên làm ví dụ điển hình cho thái độ mạnh dạn này : « Ngay khi công an xông vào giải tán đám đông phản đối vụ cưỡng chiếm đất đai tại Hưng Yên, các blogger đã có mặt tại chỗ, ẩn mình đằng sau các rặng cây gần đấy. Ho đã quay phim và chụp ảnh sự cố, các bằng chứng mà họ nhanh chóng công bố lên mạng. Đây là các tài liệu có chất lượng kỹ thuật kém cỏi, nhưng lại có giá trị chính trị tuyệt vời »
Từ Hà Nội, phóng sự của blogger Nguyễn Xuân Diện về vụ hàng ngàn cảnh sát xông vào trục xuất người dân tại Hưng Yên – với đoạn video cho thấy cảnh sát chống bạo động hành hung hai phóng viên một đài truyền thanh nhà nước đến đấy để làm công việc nhà báo của họ – đã lan tỏa trên mạng như một đám cháy rừng, bù đắp vào sự im lặng của các phương tiện truyền thông chính thức.
Theo giáo sư Carl Thayer, chuyên gia về Việt Nam tại Học viện Quốc phòng Úc (Australian Defence Force Academy), « Hiện tượng các blogger đích thân đến những nơi có phong trào phản kháng để theo dõi và đưa tin là một yếu tố mới », nối tiếp theo sự kiện đã có từ lâu là nhiều nhà báo đã đưa lên mạng internet những bài viết mà họ không được công bố trên báo đài truyền thống.
Việt Nam ‘sao y bản chánh’ cách đối phó của Trung Quốc
Thái độ mạnh dạn của giới blogger lẽ dĩ nhiên không được chế độ tán đồng, và rất nhiều biện pháp đã được áp dụng nhằm bóp nghẹt các tiếng nói không chính thống trên mạng Internet. Biện pháp đầu tiên là hù dọa các blogger.
Một phụ nữ trong số những người đã tiết lộ vụ cưỡng chế Văn Giang hôm 24/04 vừa qua xác nhận với hãng AFP : « Họ theo dõi tôi, họ lưu lại tất cả những gì tôi viết, họ giám sát tất cả các blogger bất đồng chính kiến. Tất cả những gì họ có thể làm được để sách nhiễu chúng tôi, họ đều làm ».
Đối với người phụ nữ mà AFP đặt cho một cái tên giả là Nguyễn Thị Dung, thì chính quyền có một đội ngũ đông đảo những người chuyên « lướt net để làm báo cáo về tất cả những gì mà chính quyền không ưa ». Việt Nam, theo chị Dung đã « sao y bản chánh những gì Trung Quốc đang làm. »
Theo AFP, Việt Nam, nước bị Tổ chức Phóng viên Không Biên giới mệnh danh là một “kẻ thù của Internet”, cũng đang soạn thảo một nghị định để kiểm soát các trang blog.
Theo một bản sao dự thảo văn kiện mà AFP có được, các blogger sẽ bị buộc phải đăng ký dưới tên thật và địa chỉ thật. Các website chứa các trang blog đó thì bị buộc phải khai báo bất kỳ hoạt động bất hợp pháp nào. Nghị định này cũng đòi các tập đoàn internet ngoại quốc, đi đầu là Facebook và Google, là phải hợp tác với chính quyền Việt Nam.
Tuy nhiên, theo AFP, một số quan sát viên không tin rằng chính quyền sẽ thành công trong chủ trương kiểm soát này. Một blogger khẳng định : « Bất kỳ cố gắng nào để áp đặt các hạn chế mới, sẽ chỉ dẫn đến những cách thức mới để phá vỡ các giới hạn đó. Mọi người sẽ tìm được những phương cách sáng tạo để truy cập vào các trang web bị cấm, tương tự như họ làm với Facebook ». Facebook là một trong những trang mạng thường xuyên bị chặn ở Việt Nam.
Ông David Brown, một nhà ngoại giao Mỹ đã về hưu, từng làm việc ở nhiều nước châu Á, đã cho rằng dự án đó hoàn toàn không khả thi. « Tệ hại nhất là khả năng nghị định tạo ra các tội trạng rõ ràng hơn để truy tố các blogger, còn khó có thể tác động đến Facebook hoặc Google, hoặc làm thay đổi được quan hệ giữa các blogger và chính quyền ».
Riêng giáo sư Thayer thì cho rằng nghị định kiểm soát đó thể hiện một quyết tâm của chính quyền, không muốn bị chậm chân so với các thành phần mà họ muốn bịt miêng : « Họ sẽ xiết chặt gọng kềm trên giới bất đồng chính kiến ở trong nước, và hạn chế đáng kể hoạt động của tầng lớp này bằng cách buộc họ, cũng như là các nhà cung cấp dịch vụ internet, là phải chịu trách nhiệm về những gì được loan tải hay lưu trữ trên internet ».
Theo AFP, chế độ Việt Nam từ trước đến nay không bao giờ chấp nhận là độc quyền về quyền lực của họ bị thách thức, và internet ngày càng làm cho họ lo ngại. Nỗi lo sợ đặc biệt gia tăng trong thời gian gần đây khi nhiều người tấn công vào các vấn đề như tham nhũng, tranh chấp lãnh thổ với Trung Quốc hoặc các vấn đề đất đai, toàn là những vấn đề phiền phức cho chính quyền.
Nhìn chung, theo AFP, nghị định đang soạn thảo không dự báo điều gì tốt lành về ý định của chính quyền, về tương lai của các blogger. Bà Nguyễn Thị Dung thừa nhận : « Nếu được thông qua, nó sẽ cung cấp cho công an một khuôn khổ pháp lý để tiêu diệt quyền tự do ngôn luận ».
http://anonymouse.org/cgi-bin/anon-www.cgi/http://www.viet.rfi.fr/viet-nam/20120509-gioi-blogger-viet-nam-kien-quyet-thuc-hien-quyen-tu-do-thong-tin

Để lại phản hồi »

Chưa có phản hồi.

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Blog at WordPress.com.

%d bloggers like this: