Hoàngquang’s Blog

29/04/2012

–Làm cách mạng không phải để dựng nên một nhà nước độc tài

Filed under: Khác — hoangquang @ 3:46 chiều
Tags:

Phạm Hồng Sơn /Phỏng vấn Huỳnh Nhật Hải, Huỳnh Nhật Tấn
Đào Tiến Thi: CHỈ VÌ MẤY ĐỒNG BẠC CỦA NHÀ TƯ SẢN?
Trần Nhương -Đường về Bùi Công Tự: ĐÔI ĐIỀU SUY NGHĨ VỀ HÒA HỢP DÂN TỘC
Hunhngocchenh BÙI HẰNG ĐƯỢC TRẢ TỰ DO (cập nhật) Huỳnh Ngọc Tuấn -Tháng Tư về truongduynhat 37 năm & một thời Cộng sản của ba Huỳnh Thục Vy Viết cho tháng Tư BuiTin Nhân ngày 30-4: Câu chuyện về 16 tấn vàng » nhatsybaothu Nhật ký mở: Lực bất tòng tâm mất rồi các bạn của tôi ơi!
***

Phạm Hồng Sơn /Phỏng vấn Huỳnh Nhật Hải, Huỳnh Nhật Tấn –Làm cách mạng không phải để dựng nên một nhà nước độc tài
Tháng 4 28, 2012

pro&contra: Hai anh em, ông Huỳnh Nhật Hải sinh năm 1943, ông Huỳnh Nhật Tấn sinh năm 1946, là những người, vào cuối năm 1988, đã cùng nhau tự ra khỏi Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN) đồng thời từ bỏ luôn những chức vụ đang đảm nhiệm kèm theo những tiềm năng rất lớn về quyền lực, quyền lợi: Phó Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân Thành phố Đà Lạt kiêm Thành ủy viên (đối với ông Huỳnh Nhật Hải) và Phó Giám đốc Trường Đảng tỉnh Lâm Đồng kiêm Tỉnh ủy viên dự khuyết (đối với ông Huỳnh Nhật Tấn). Điều gì đã khiến hai đảng viên cộng sản đầy tiềm năng của một gia đình có truyền thống cách mạng từ trước năm 1945 lại có quyết định chia tay cách mạng khi sự nghiệp “cách mạng giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước”đã thành công hoàn toàn?
___________________
Phạm Hồng Sơn: Hai ông có thể cho biết con đường nào đã đưa các ông đến với ĐCSVN?

Huỳnh Nhật Hải: Có thể nói hai anh em chúng tôi đã được “nhuộm đỏ” từ bé. Chúng tôi đã có thiện cảm, tinh thần ủng hộ, và làm những việc có lợi cho những tổ chức của cách mạng như Việt Minh hay Mặt trận Dân tộc Giải Phóng miền Nam Việt Nam (Mặt trận) ngay từ khi còn rất nhỏ tuổi. Vì ba má tôi là một gia đình tư sản ủng hộ Việt Minh tại Đà Lạt từ trước năm 1945. Ba tôi là hội viên Công hội Đỏ và tham gia cướp chính quyền tại Đà Lạt vào năm 1945 và sau đó trở thành đảng viên bí mật của Đảng Cộng sản Đông Dương (tên gọi lúc đó của ĐCSVN). Hai anh trai tôi là những người đi tập kết ra Bắc sau năm 1954.
Huỳnh Nhật Tấn: Có thể nói là ngay từ nhỏ, mở mắt ra là chúng tôi đã được nghe, được thấy, được sống trong tinh thần của cách mạng, tôi cứ tạm gọi là “cách mạng” đi. Đó là những năm thơ ấu của chúng tôi ở trong “vùng tự do” liên khu 5, khi gia đình chúng tôi phải tránh sự truy lùng của Pháp từ khoảng cuối 1945 đến năm 1954, và cả thời gian sau đó khi ba má tôi trở lại Đà Lạt (sau Hiệp định Genève) để tiếp tục nhiệm vụ ủng hộ bí mật cho ĐCSVN và Mặt trận dưới hình thức là một gia đình tư sản.
Phạm Hồng Sơn: Hai ông có nhớ đã có ảnh hưởng nào đến từ ngoài gia đình không?
Huỳnh Nhật Tấn: Có, những trí thức như giáo sư, nhà văn, nhạc sĩ có tên tuổi lúc đó mà đi với Việt Minh hay Mặt trận cũng gây cho chúng tôi sự lôi cuốn, cảm hứng âm thầm nhưng rất lớn. Đặc biệt là qua quan sát, tiếp xúc với những cán bộ hoạt động bí mật đã sống ở nhà tôi thì hai anh em tôi thấy đó là những con người rất đáng khâm phục, họ vừa có tinh thần kỷ luật, chịu đựng, hy sinh rất lớn vừa có những lý tưởng rất cao đẹp là quyết giành lại độc lập cho đất nước và tự do cho dân tộc.
Huỳnh Nhật Hải: Một yếu tố nữa cũng làm cho chúng tôi ủng hộ Mặt trận là sự xuất hiện của quân đội Mỹ tại miền Nam. Sự xuất hiện đó làm cho những người như chúng tôi cảm thấy bị xúc phạm về chủ quyền dân tộc. Chúng tôi cảm thấy là miền Nam đang bị người Mỹ xâm lăng và cần phải chống lại họ và chính quyền thân Mỹ tại miền Nam.
Phạm Hồng Sơn: Thời gian từ khi Mặt trận được thành lập (năm 1960) cho tới năm 1975 các ông làm những việc gì để ủng hộ “cách mạng”?
Huỳnh Nhật Hải: Công việc của cả hai anh em chúng tôi đều cùng có hai giai đoạn khác nhau, trước và sau khi chúng tôi “nhẩy núi”, tức là phải bỏ gia đình để vào tận căn cứ trong rừng sâu để hoạt động. Tôi “nhảy núi” vào đúng mồng 3 Tết Mậu Thân 1968 còn em tôi, Huỳnh Nhật Tấn, “nhảy núi” trước đó vài tháng khi đã bị lộ.
Huỳnh Nhật Tấn: Trước khi “nhảy núi”, anh em chúng tôi làm công tác liên lạc, vận động trong giới thanh niên, học sinh, sinh viên tại Đà Lạt để thành lập các nhóm, tổ chức, đoàn thể hoặc in, tán phát truyền đơn hay khẩu hiệu đấu tranh cho Mặt trận.
Huỳnh Nhật Hải: Sau khi “nhảy núi”, hai anh em chúng tôi, mỗi người một nơi, nhưng đều ở bộ phận công tác phong trào thanh niên học sinh, sinh viên. Anh em chúng tôi thường phải đi vào những “vùng lõm“ (vùng dân cư mà ban ngày do chính quyền Việt Nam Cộng hòa kiểm soát còn ban đêm thuộc về lực lượng của Mặt trận) để bắt liên lạc, tiếp nhận hay vận động ủng hộ về vật chất, tinh thần cho Mặt trận.
Phạm Hồng Sơn: Những công việc đó chắc phải rất mạo hiểm và hết sức khó khăn?
Huỳnh Nhật Tấn: Đúng thế, chúng tôi phải rất kiên trì, khôn khéo trong công tác vận động và không phải lần vận động nào cũng thành công. Cả hai anh em chúng tôi cũng đã bị phục kích hoặc chạm trán với lực lượng quân đội của Việt Nam Cộng hòa, nhưng rất may cả hai chỉ bị thương nhẹ trong một, hai lần.
Phạm Hồng Sơn: Sau 30/04/1975 các ông được giữ ngay chức Phó Chủ tịch UBND Thành phố hoặc Phó Giám đốc Trường Đảng?
Huỳnh Nhật Hải: Không phải như thế. Sau 30/04/1975 tôi tiếp tục công tác ở Thành đoàn, sau đó mới chuyển qua công tác chính quyền. Năm 1977 tôi được kết nạp Đảng. Năm 1979 làm Chủ tịch khu phố I Thành phố Đà Lạt, rồi sau khi đi học Trường Đảng ở Tây Nguyên trong một năm đến năm 1981 là tôi trở thành Phó Chủ tịch UBND Thành phố Đà Lạt, là Thành ủy viên.
Huỳnh Nhật Tấn: Tôi thì được kết nạp Đảng từ năm 1972 sau khi “nhảy núi”. Ngay tháng 10/1975 tôi đã được chọn vào số cán bộ đầu tiên gửi ra Bắc học ở Trường Tuyên huấn Trung ương ở khu Cầu Giấy, Hà Nội trong 3 năm rồi trở về giảng dạy môn kinh tế chính trị tại Trường Đảng tỉnh Lâm Đồng. Và sau lần ra học tiếp ở Hà Nội tại Trường Tuyên Huấn Trung Ương trong 03 năm nữa, đến năm 1986 tôi được bổ nhiệm vào chức Phó Giám đốc trường Đảng tỉnh Lâm Đồng, đồng thời được cơ cấu vào cấp Tỉnh ủy, là Tỉnh ủy viên dự khuyết.
Phạm Hồng Sơn: Một cách ngắn gọn, lý do gì đã khiến hai ông gần như đồng thời quyết định từ bỏ Đảng kiêm các chức vụ đó?
Huỳnh Nhật Tấn: Tôi còn nhớ trong lá đơn xin ra khỏi Đảng lúc đó tôi có viết một câu: “Tôi không tin ĐCSVN có thể lãnh đạo đưa đất nước đạt được những điều tốt đẹp như Đảng thường nói.”
Huỳnh Nhật Hải: Còn trong lá đơn của tôi viết sau ông em tôi một vài tháng, tôi nhớ đã viết là: “Tôi không còn động cơ để phấn đấu cho mục tiêu và lý tưởng của Đảng nữa.” Nhưng thực sự trong thâm tâm thì cũng giống như ông em tôi đã nói ở trên. Tôi không tin ĐCSVN nữa.
Phạm Hồng Sơn: Quá trình đi đến sự bất tín đó diễn ra như thế nào?
Huỳnh Nhật Hải: Đó là một quãng thời gian kéo dài khoảng 5-7 năm, thông qua những quan sát, tìm hiểu, trao đổi, bàn bạc và trằn trọc từ mỗi bản thân và gần như chỉ giữa hai anh em chúng tôi.
Huỳnh Nhật Tấn: Có thể nói chúng tôi đi đến sự bất tín vào ĐCSVN là dựa vào những gì chúng tôi thấy, chúng tôi gặp trên thực tế hơn là từ vấn đề lý luận.
Phạm Hồng Sơn: Những “thực tế” nào quan trọng nhất khiến hai ông nhận thức lại ĐCSVN?
Huỳnh Nhật Tấn: Đó chính là những chính sách về quản lý xã hội, điều hành kinh tế và việc tôn trọng các quyền tự do, dân chủ của người dân của ĐCSVN. Về quản lý xã hội, ĐCSVN đã không quản lý bằng pháp luật mà bằng sự tùy tiện, áp đặt, gần như hoàn toàn chỉ dựa theo các chỉ thị, ý muốn từ lãnh đạo Đảng. Ví dụ việc tịch thu nhà cửa, tài sản hay đưa đi “học tập cải tạo”, thực chất là bỏ tù con người, đều không dựa trên pháp luật hay xét xử của tòa án. Điều hành kinh tế thì lúc đó chúng tôi thấy những chính sách rất kỳ cục và phản khoa học, ví dụ như có những chỉ thị là Đà Lạt phải sản xuất bao nhiêu rau hay các huyện khác phải sản xuất bao nhiều mì[i] mà không cần biết khả năng và lợi thế về thổ nhưỡng, thói quen canh tác của người dân hoặc việc giao quyền lãnh đạo kinh tế không dựa vào chuyên môn, kinh nghiệm mà lại dựa vào thành phần giai cấp và sự gắn bó với Đảng. Về các quyền tự do dân chủ của người dân, càng ngày chúng tôi càng thấy thực tế lại tồi tệ và khó khăn hơn rất nhiều so với thời Việt Nam Cộng hòa. Ví dụ như khi hoạt động trước 1975, chúng tôi đã từng cho một số viên chức chính quyền đọc cả cương lĩnh của Mặt trận nhưng những người đó không coi chúng tôi là thù địch, họ coi việc khác biệt quan điểm là chuyện hết sức bình thường. Nhưng sau năm 1975 mọi thứ không như thế nữa, tất cả mọi hoạt động, kể cả trong tư tưởng, mà khác với quan điểm của ĐCSVN thì đều không được chấp nhận. Báo chí tư nhân, biểu tình, bãi công, bãi thị đã hoàn toàn bị cấm ngặt mặc dù những bất công, nhu cầu lên tiếng của xã hội hết sức bức bối. Có thể nói điều lớn nhất để chúng tôi nhận thức lại ĐCSVN là sự độc tài toàn trị dựa trên bạo lực và không tôn trọng những quyền căn bản của người dân.
Phạm Hồng Sơn: Các ông đã quen biết những nhân vật như ông Hà Sĩ Phu hay ông Mai Thái Lĩnh,…những cư dân tại Đà Lạt lúc đó chưa?
Huỳnh Nhật Hải: Chúng tôi chưa biết ông Hà Sĩ Phu, còn ông Mai Thái Lĩnh thì chúng tôi đã biết nhau từ hồi cùng “nhảy núi” nhưng sau 30/04/1975 chúng tôi gần như chưa trao đổi hay bàn luận gì với nhau cả. Anh em chúng tôi trước khi quyết định bỏ về đã nói với nhau là “chúng ta đi làm cách mạng không phải để xây dựng nên một nhà nước chuyên chính độc tài như thế này.”
Phạm Hồng Sơn: Gia đình, những người thân và bạn bè đồng chí của các ông có phản ứng gì trước quyết định đó?
Huỳnh Nhật Hải: Lúc đó ba má tôi đều đã qua đời nhưng chúng tôi tin rằng nếu còn sống ba má tôi cũng ủng hộ việc từ giã ĐCSVN của chúng tôi. Hai bà xã của chúng tôi ủng hộ hoàn toàn quyết định về nhà tự làm ăn của chúng tôi.
Phạm Hồng Sơn: Thế còn hai anh trai, những người đã đi tập kết sau 1954, và những đồng chí thân quen của hai ông?
Huỳnh Nhật Tấn: Anh trai cả của chúng tôi thì gần như không có ý kiến gì, còn người anh trai thứ hai thì không đồng ý. Còn những đảng viên đồng sự khác và các cấp lãnh đạo lúc đó hoàn toàn ngạc nhiên, gần như tất cả mọi người đều khuyên chúng tôi xem xét lại. Có người lúc đó đã nói với tôi là nếu về thì cuộc sống sẽ rất khó khăn, nhưng tôi xác định trong lòng là trước đây khó khăn nguy hiểm như thế mà còn chịu được thì lẽ nào bây giờ lại không.
Phạm Hồng Sơn: Khi “trằn trọc” để đi đến quyết định cuối cùng, hình ảnh hay tư tưởng của lãnh tụ Hồ Chí Minh có vấn vương trong “trằn trọc” đó?
Huỳnh Nhật Tấn: Có. Chúng tôi lúc đó cũng thấy cần phải xem lại cả ông Hồ Chí Minh – lãnh tụ, người sáng lập ra ĐCSVN.
Phạm Hồng Sơn: Các ông thấy thế nào?
Huỳnh Nhật Hải: Sau khi cùng tìm hiểu, trao đổi, bàn luận chúng tôi nhận thấy tình trạng mất tự do, phi dân chủ hay có thể nói là cuộc sống kìm kẹp, đau thương của nhân dân, của giới trí thức sau chiến thắng 30/04/1975 ở miền Nam hoàn toàn là sự lặp lại y nguyên tình trạng ở miền Bắc sau chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954 – thời kỳ mà ông Hồ Chí Minh vẫn hoàn toàn ở trên đỉnh cao quyền lực.
Huỳnh Nhật Tấn: Tôi đã từng tự hỏi là mục tiêu sâu xa của ông Hồ Chí Minh là gì? Với những gì lịch sử đã diễn ra khi ông Hồ Chí Minh còn sống thì tôi thấy mục tiêu của ông Hồ Chí Minh vì quyền lực là chính, còn mục tiêu độc lập cho đất nước hay tự do, dân chủ cho dân tộc, cho xã hội Việt Nam đã bị ông Hồ Chí Minh coi nhẹ. Hai mục tiêu tốt đẹp đó chỉ là những ngọn cờ để ĐCSVN lôi kéo, tập hợp quần chúng và giới trí thức cho mục đích giành quyền lực cho ĐCSVN. Thực tế chính quyền dưới thời ông Hồ Chí Minh đã biểu hiện đi ngược lại hoàn toàn hai mục tiêu tốt đẹp đó, độc lập cho dân tộc và tự do, dân chủ cho nhân dân.
Phạm Hồng Sơn: Vâng, về vấn đề tự do, dân chủ cho nhân dân thì đã rõ, nhưng còn về độc lập dân tộc, xin ông nói rõ thêm?
Huỳnh Nhật Tấn: Có thể nói ông Hồ Chí Minh đã đưa đất nước thoát khỏi sự phụ thuộc, đô hộ của người Pháp nhưng lại để đất nước trở lại sự phụ thuộc, khống chế và thôn tính của Trung Quốc cộng sản. Nếu không có sự đồng ý, chủ kiến ngoại giao của ông Hồ Chí Minh thì không thể có tình hữu nghị Việt-Trung như “môi với răng” và cũng không thể có Công hàm 1958 của ông Phạm Văn Đồng. Một cách ngắn gọn, có thể nói ông Hồ Chí Minh đã vô tình tạo điều kiện thuận lợi cho sự xâm lăng, thôn tính của Trung Quốc cộng sản đối với Việt Nam như chúng ta đang chứng kiến.
Phạm Hồng Sơn: Liệu có công bằng không khi tình trạng mất độc lập, mất chủ quyền hiện nay qui hết cho Hồ Chí Minh?
Huỳnh Nhật Tấn: Đúng là tình trạng lâm nguy của đất nước hiện nay không thể qui hết cho ông Hồ Chí Minh. Nhưng bất kỳ một lãnh tụ, một nhà sáng lập của một đảng, một tổ chức chính trị nào cũng đều có ảnh hưởng rất căn bản tới tầm nhìn, hành động của các thế hệ kế tiếp, dù xấu hay tốt. Tôi nhớ ngay trong văn kiện, khẩu hiệu của ĐCSVN vẫn luôn khẳng định ông Hồ Chí Minh là người sáng lập, tổ chức, lãnh đạo, rèn luyện “Đảng ta”, tức là ông Hồ Chí Minh đã là kiến trúc sư cho mọi chính sách, đường lối của ĐCSVN cũng như thể chế, cung cách quản lý xã hội của ĐCSVN.
Huỳnh Nhật Hải: Đúng như thế, theo tôi, mặc dù ông Hồ Chí Minh đã mất rồi nhưng tư tưởng, đường lối chính trị của ông ấy vẫn được tiếp tục kế thừa trong ĐCSVN. Không phải ngẫu nhiên mà ĐCSVN hiện nay vẫn hô hào học tập tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh.
Phạm Hồng Sơn: Nhưng nhiều người cho rằng tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh là rất tốt đẹp, đáng học theo?
Huỳnh Nhật Hải: Đúng, rất tốt đẹp và đáng học nếu chỉ căn cứ vào lời nói và khẩu hiệu như ông Hồ Chí Minh đã đề ra. Và đúng là ĐSCVN hiện nay cũng đang thực hiện đúng như thế, các khẩu hiệu, lời nói, mục tiêu của họ hiện nay cũng rất hoặc khá tốt đẹp, nhưng hành động và thực tế thì lại hoàn toàn ngược lại – cũng như ông Hồ Chí Minh.
Huỳnh Nhật Tấn: Nếu chỉ căn cứ vào truyền thống nhân ái của người Việt Nam thông thường thôi thì cũng thấy đáng lý ra, với cương vị là người có quyền hành cao nhất, ông Hồ Chí Minh phải ra lịnh không được giết hoặc hãm hại ân nhân của mình như vụ xử bắn bà Nguyễn Thị Năm và nhiều người khác trong Cải cách Ruộng đất. Hoặc những vụ bắt bớ, thanh trừng các đồng sự, các ân nhân của ĐCSVN sau này mà không qua xét xử thì ông Hồ Chí Minh không thể không biết là trái đạo lý. Nếu ông Hồ Chí Minh thực sự là người vì nước vì dân thì sau khi lên nắm quyền, điều đầu tiên ông Hồ Chí Minh phải làm là phải để nhân dân và giới trí thức có nhiều tự do hơn thời thực dân Pháp chớ.
Phạm Hồng Sơn: Nếu được sống lại thời tuổi trẻ một lần nữa, các ông có tiếp tục ủng hộ và đi theo Việt Minh, Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam hay ĐCSVN?
Huỳnh Nhật Hải: Không, không bao giờ.
Huỳnh Nhật Tấn: Tôi sẽ phải bình tĩnh hơn, tìm hiểu xem họ có ủng hộ và có tư tưởng dân chủ thực sự không, chứ không thể chỉ căn cứ vào lời nói và tuyên truyền của họ. Theo tôi, vấn đề dân chủ phải được đặt cao hơn vấn đề dân tộc vì chỉ có dân chủ mới giúp cho dân tộc được tự do đúng nghĩa và khi đó đất nước mới có nền độc lập bền vững.
Phạm Hồng Sơn: Ngày 30/04/1975 các ông đang ở đâu và cảm xúc như thế nào?
Huỳnh Nhật Tấn: Lúc đó tôi đang ở Đà Lạt. Tôi đã trở về Đà Lạt từ ngày 03/04/1975 với tư thế của người chiến thắng.
Huỳnh Nhật Hải: Tôi về Đà Lạt sau ông em tôi một ngày, ngày 04/04/1975. Cảm xúc của tôi là sung sướng vô cùng, nhất là khi gặp lại má tôi – má đã tưởng tôi hy sinh từ năm 1971 và đã đưa ảnh tôi lên bàn thờ.
Phạm Hồng Sơn: Dịp 30/04 hàng năm vẫn là một trong những ngày lễ lớn của cả đất nước, cảm xúc của các ông ra sao trong những ngày này?
Huỳnh Nhật Hải: Buồn. Nếu không có cuộc chiến tranh tương tàn giữa hai miền trước 1975 thì dân tộc này không có cái bất hạnh, đau khổ như ngày hôm nay.
Huỳnh Nhật Tấn: Buồn. Một ngày quá buồn. Cái chiến thắng 30/04 chỉ đem lại một sự áp bức trên mọi phương diện cho nhân dân, đất nước và lại nặng nề hơn cả thời Pháp thuộc.
Phạm Hồng Sơn: Nếu bây giờ vô tình hai ông gặp lại một người là cựu viên chức cũ của chế độ Việt Nam Cộng Hòa và người đó chính là “kẻ thù” của ông trước 1975, điều trước tiên hai ông muốn nói là gì?
Huỳnh Nhật Tấn: Tôi có lỗi với dân tộc. Chính cái hăng hái, nhiệt huyết của tôi đã góp phần dựng nên chế độ độc tài hiện nay, đã vô tình đem lại sự đau khổ hiện nay. Và nếu xét về những căn bản để bảo đảm tự do cho nhân dân và độc lập cho dân tộc thì tôi cũng đã vô tình góp công sức đưa những người mang danh là “cách mạng” nhưng thực chất là vì quyền lực tới phá bỏ một chế độ đã được xây dựng trên những căn bản về tự do, dân chủ và nhân bản tại miền Nam Việt Nam.
Huỳnh Nhật Hải: Bây giờ nhìn lại, con đường chúng tôi đã đi trước 1975 là một con đường sai lầm. Sự nhiệt huyết lúc đó của chúng tôi đã đem lại bất hạnh hơn là hạnh phúc cho dân tộc.
Phạm Hồng Sơn: Xin trân trọng cảm ơn ông Huỳnh Nhật Hải, Huỳnh Nhật Tấn.
______________________
Chú thích ảnh: Ông Huỳnh Nhật Hải (phải) và ông Huỳnh Nhật Tấn (trái)
© 2012 pro&contra
________________________________________
[i] “Mi” tức là “sắn” theo tiếng miền Bắc
http://www.procontra.asia/?p=544

***
***


Đào Tiến Thi: CHỈ VÌ MẤY ĐỒNG BẠC CỦA NHÀ TƯ SẢN?
– bài gửi riêng NXD-Blog

Vụ Văn Giang nóng lên từ đầu tháng tư năm nay.

Trên các phương tiện truyền thông ta đã thấy, suốt từ đầu tháng 4, bà con đã đi gõ khắp các cửa, từ huyện, tỉnh đến trung ương. Bà con không nhất trí với giá đền bù, do đó không chấp nhận quyết định cưỡng chế và đã làm tất cả những gì trong vòng pháp luật và ôn hòa để giữ đất.

Theo ông Bùi Huy Thanh, chánh văn phòng UBND tỉnh Hưng Yên, đây là cưỡng chế 5,8 ha còn lại (trong số 72ha) thuộc 166 hộ không nhận tiền đền bù hỗ trợ, do đó phải tiến hành cưỡng chế.

Nghe có vẻ nhỏ, thế nhưng cuộc cưỡng chế ngày 24-4-2012 lại có quy mô khổng lồ và chắc chắn để lại nhưng vết thương khó lành.
.
1. Vài suy nghĩ về tính pháp lý của vấn đề

Luật đất đai 2003, điều 38 quy định về mục đích thu hồi đất bao gồm “quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, phát triển kinh tế”.

Về loại đất bị thu hồi gồm đất nhà nước giao cho tổ chức (của nhà nước) khi bị giải thể, phá sản, chuyển đi; đất sử dụng không đúng mục đích, không có hiệu quả; đất bị lấn chiếm; đất không có người thừa kế; đất giao hết thời hạn; đất trồng cây bị bỏ hoang quá thời hạn quy định v.v.. có tất cả 12 loại đất có thể bị thu hồi nhưng không có một điều khoản nào nói thu hồi giao cho chủ đầu tư vì mục đích kinh doanh. Trong các mục đích thu hồi nói trên ta thấy có mục đích “phát triển kinh tế”. Cái tên “Dự án khu đô thị thương mại – du lịch Văn Giang” (Ecopark) đã cho thấy nó thuộc mục đích kinh doanh. “Kinh doanh” khác “kinh tế”. Hơn nữa Điều 40 mục 1 giải thích nội dung “phát triển kinh tế” như sau:

Điều 40. Thu hồi đất để sử dụng vào mục đích phát triển kinh tế

1. Nhà nước thực hiện việc thu hồi đất để sử dụng vào mục đích phát triển kinh tế trong trường hợp đầu tư xây dựng khu công nghiệp, khu công nghệ cao, khu kinh tế và các dự án đầu tư lớn theo quy định của Chính phủ. Cụm từ “và các dự án đầu tư lớn theo quy định của Chính phủ” mang nghĩa chung chung dễ làm một số người hiểu rằng cứ dự án nào được cấp chính phủ ký là thuộc loại này. Tôi không nghĩ thế. Với chữ “lớn” ta hiểu đó là những dự án có tính chất chiến lược, do nhà nước trực tiếp đầu tư (hoặc nhà nước đầu tư là chủ yếu), và là những công trình mang tính hạ tầng, không phải kinh doanh. Nếu không phải thế, nếu nó bao gồm cả loại kinh doanh thì mục 2 của điều sau đây sẽ là thừa:

2. Đối với dự án sản xuất, kinh doanh phù hợp với quy hoạch sử dụng đất đã được xét duyệt thì nhà đầu tư được nhận chuyển nhượng, thuê quyền sử dụng đất, nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất của các tổ chức kinh tế, hộ gia đình, cá nhân mà không phải thực hiện thủ tục thu hồi đất.

Mục 2 trên của Điều 40 chính là để dành cho loại kinh doanh như Ecopark. Ecopark “được nhận quyền chuyển nhượng, thuê quyền sử dụng đất,…”. Với các hình thức “chuyển nhượng”, “thuê”, “góp vốn” thì chỉ có bằng con đường THỎA THUẬN. Và Luật cũng nói rõ “không phải thực hiện thủ tục thu hồi đất”.

Trên Tuổi trẻ online ngày 26-4-2012, Luật sư Lê Đức Tiết nói: “Liên quan đến các dự án kinh tế thì phải đảm bảo nguyên tắc cao nhất là thỏa thuận giữa người có đất với chủ dự án, với doanh nghiệp theo cơ chế thị trường”. Cho nên việc cưỡng chế là hoàn toàn trái luật.

Chắc đã bị người dân chất vấn, đấu tranh nhiều về chỗ này cho nên chính quyền Hưng Yên cũng đã có cách chống chế. Ông Bùi Huy Thanh, Chánh văn phòng UBND tỉnh Hưng Yên đã trả lời báo rằng:

“Đây là dự án đổi đất lấy hạ tầng chứ không phải là dự án phát triển kinh tế của chủ đầu tư. Trong toàn bộ diện tích giao cho chủ đầu tư thực hiện dự án, chỉ có 30% diện tích được phục vụ vào mục đích kinh doanh, tức là chủ đầu tư làm nhà để bán, còn lại là diện tích đất dành cho phát triển giao thông, công trình phúc lợi, cây xanh”. (Tuổi trẻ online ngày 26-4-2012).

Cái “hạ tầng” được ông Thanh giải thích được hiểu là phần “chủ đầu tư đã đầu tư hơn 1.500 tỉ đồng để làm đường bộ liên tỉnh từ cầu Thanh Trì (Hà Nội) đi TP Hưng Yên, hơn 3.000 tỷ đồng để xây dựng hạ tầng khu đô thị và hạ tầng thuộc huyện Văn Giang, (Tuổi trẻ online ngày 26-4-2012)

Ta thấy gì qua lý lẽ trên?

1. “30% diện tích được phục vụ vào mục đích kinh doanh” được giải thích là phần “làm nhà để bán”, còn lại “diện tích đất dành cho phát triển giao thông, công trình phúc lợi, cây xanh” là ngoài phạm vi “nhà” . Cái lý luận này không lừa được cả trẻ con. Nhà bình thường mà không có đường vào thì cũng chẳng ai mua huống chi đây là nhà cao cấp. Đường đi, công trình phúc lợi, cây xanh, tất cả cùng với nhà mới thành một hệ thống, mới trở thành chỗ ở, nếu không thì ai mua? Cho nên làm sao có thể tách 30% đất nhà với các phần còn lại không thể thiếu được cho một cái công trình gọi là “nhà”?

2. Cứ tạm cho rằng chỉ có 30% để kinh doanh, còn lại là xây hạ tầng phục vụ chung cho cả khu vực, nhưng giả sử không có 30% kinh doanh kia liệu nhà tư bản có làm hạ tầng không? Chắc chắn là không. Miếng mồi ngon cho nhà tư bản là ở chỗ ấy. Chính quyền cưỡng chế quyết liệt cũng chỉ vì chỗ ấy.

Cho nên 30% chứ 3% thì nó vẫn thuộc về cái mục đích mà nhà đầu tư hướng tới để tìm kiếm lợi nhuận. Mà đã là lợi nhuận thì phải
thỏa thuận
theo luật đất đai và cũng là theo quy luật kinh tế thông thường.

Vả lại vấn đề không phải số phần trăm nhỏ thì số đất là nhỏ. Diện tích lớn thì vài phần trăm của nó cũng sẽ rất lớn và số người bị mất đất sinh sống cũng rất lớn, chứ đâu phụ thuộc số phần trăm, thưa ông Thanh.

3. Tại sao lại phải “đổi đất lấy hạ tầng”? Thiết nghĩ cái gì nhà nước xây được thì xây, cái gì chưa thì sau này xây chứ sao lại xẻo mãi bờ xôi ruộng mật để bán? Chỗ này nhờ các nhà kinh tế phân tích rõ. Tôi thì nhìn vấn đề một cách trực cảm đã thấy bất ổn. Nó giống như hiện tượng người nông dân bán đất nông nghiệp để mua xe máy, để xây nhà lầu, để rồi rơi vào thất nghiệp và nghèo đói như báo chí thường nêu. Cứ lý lẽ “đổi đất lấy hạ tầng” thì cuối cùng bán hết quốc gia công thổ hay sao?

2. Cuộc cưỡng chế diễn ra thật khủng khiếp, trái đạo lý và luật pháp, làm xấu hình ảnh Nhà nước

Đêm trước của ngày cưỡng chế, bà con dựng lều bạt, đốt lửa tại chỗ để giữ đất. Quang cảnh không khác gì thời cổ đại trong những cuộc chiến tranh bộ lạc. Thời ấy có những bộ lạc hùng mạnh đi cướp lấy đất đai, của cải, kể cả con người của bộ lạc khác; ngược lại, bộ lạc bị xâm lược quyết tâm bảo vệ mảnh đất mà ông cha họ đã khai phá, gây dựng, và nếu không thành cũng không có đường lui: họ không những mất đất, mất của cải mà bản thân họ hoặc bị giết, hoặc bắt làm nô lệ. Lửa trại và không khí âm thầm của bà con nông dân đêm 23-4-2012 cho thấy một điều gì đó thật nghiêm trọng gần như thế. Và nó không chỉ là vấn đề cơm áo, mà hơn thế, nó là cõi tinh thần, là máu thịt thiêng liêng của cha ông họ đã đổ xuống nhiều đời. Hàng vạn người khác, dù không có quyền lợi gì ở Văn Giang, cũng xót xa thao thức cùng họ và nín thở chờ đợi giờ G.

Và giờ G đã diễn ra vào sáng sớm ngày 24-4-2012 với hàng rừng cảnh sát có vũ trang và các phương tiện đàn áp. Theo các nguồn tin không chính thức lực lượng cưỡng chế có khoảng 2000 – 3000 người, còn UBND tỉnh Hưng Yên thừa nhận là 1000, nhưng 1000 cũng là quá khủng, gấp 10 lần vụ Tiên Lãng rồi. Đặc biệt là đội quân cảnh sát cơ động với sắc phục đen, mũ bảo hiểm, áo chống đạn, khiên che, trông xa hoàn toàn nghĩ đó là đội chiến binh của đế quốc La Mã, lực lượng gieo rắc tang thương lên khắp các vùng Nam Âu, Bắc Phi và Tây Á thời cổ đại.

Bên nông dân tất cả chưa đến 1000 (theo ông Bùi Duy Thanh, chỉ khoảng 300), chủ yếu là phụ nữ trung niên, đầu đội mũ bảo hiểm, tay cầm gậy, miệng đeo khẩu trang hoặc bịt khăn để chống hơi cay. Ở một vài điểm, xung đột có vẻ nhẹ: hai bên dàn quân đứng trông chừng nhau rồi sáp lại nhau nhưng không có xô xát. Vì mấy chị đàn bà gầy guộc chỉ quen làm lụng làm sao địch được những thanh niên trai tráng to khỏe được huấn luyện bài bản nhiều năm trời, được trang bị tận răng các phương tiện bảo vệ cũng như vũ khí tấn công.

Nhưng có video clip cho thấy có những cuộc dàn trận quy mô: gậy gộc và đá của người nông dân với bên kia là công an, cảnh sát cơ động có vũ khí. Những tiếng nổ dữ dội, những đường đạn đi veo veo lạnh người (tại lúc ấy người dân nghĩ là súng pháo, sau này mới biết đó là “quả nổ”, một thứ làm ra có lẽ chuyên để hăm dọa, khủng bố tinh thần).

Người dân thực ra cũng chỉ ném được vài hòn đá từ xa, không gây thương tích, cảnh sát cũng không giết ai nhưng cảnh tượng thì khủng khiếp quá. Quả là cảnh tượng của chiến trường với sự dàn quân tác chiến, tiếng nổ xé tai, khói bụi mù mịt, tiếng quát “Chạy à? Chạy à?” báo hiệu có kèm theo sự trừng phạt.

Và quả là có những cuộc trừng phạt ghê gớm. Một cậu thanh niên đang đứng bên trong một bờ tường bỗng gần chục cảnh sát và dân phòng đeo băng đỏ từ bên kia hùng hổ nhảy qua tường lôi cậu ta đi. Đến sát tường, một cảnh sát từ bên kia nhảy lên tường vung dùi cui vụt cậu hai dùi thẳng cánh, đồng thời đám đông cảnh sát và thanh niên đeo băng đỏ xông vào đánh túi bụi. Một thanh niên khác có ý can ngăn liền bị họ túm luôn lấy và rồi tất cả xông vào đánh cậu này. Kẻ đá, người đấm, kẻ lên gối. Một công an cầm cây gậy dài thúc mạnh vào lưng. Cùng với tiếng đấm đá, có tiếng nổ chói tai như tiếng súng phụ họa để hưởng ứng.

Thật không thể tưởng tượng nổi. Những hình ảnh về “ngụy quân ngụy quyền” đàn áp nhân dân trong phim ảnh (tức là đã phóng đại so với thực tế) ngày trước cũng không tàn bạo bằng. Nhiều phụ nữ không dám xem video clip này.

Tôi cố cắt nghĩa tại sao nhóm công an và dân phòng kia sao lại ác đến thế, mất nhân tính đến thế. Tôi nghĩ họ:

1. Đánh để lấy thưởng. Hoặc:

2. Đánh để trả thù (có thể do những lần đi khiếu kiện, những thanh niên này đã va chạm với số công an, dân phòng đó chăng). Hoặc:

3. Đánh để thử sức lợi hại của những ngón đòn được đào tạo. Hoặc:

4. Đánh để hưởng thụ khoái cảm được đánh người
.
V.v.. và vv..
Lý do nào thì cũng không thể chấp nhận được.

Có lẽ đối với họ đây là ngày “tháo khoán”, là ngày “trâu bò được ngày phá đỗ” chăng? Những cái ác trong con người được dịp bung phá như con ngựa vô cương.

Như thế này chúng ta tránh sao được hiện tượng nữ sinh trung học tụ tập đánh hội đồng và lột quần áo bạn liên tiếp xảy ra như một bệnh dịch hiện nay, tránh sao việc nảy ra những Lê Văn Luyện, Đào Văn Tài (18 tuổi, Yên Dương, Tam Đảo, Vĩnh Phúc, giết hai mẹ con chủ quán internet để lấy tiền mua điện thoại, được coi là Lê Văn Luyện thứ hai[1]).

(Hỡi nhà nước chuyên chính nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, hỡi tất cả lương tri của người Việt Nam và lương tri của nhân loại, nếu chúng ta bỏ qua hành động đánh người dã man trong khi đi “cưỡng chế” nói trên là chúng ta quá nhẫn tâm, là mỗi người tự vả vào mặt mình)

Chúng ta thử nghĩ xem cái ác từ đâu đến. Những anh công an đánh người dã man kia có phải quỷ xa tăng từ địa ngục sai phái đến đâu. Các anh cũng là con em nhân dân, trong đó có nhiều người nông dân lam lũ, chất phác. Các anh đi làm thuê cho nhà nước, đúng rồi. Nhưng nhà nước hiện đại, về bản chất, lại là người làm thuê cho nhân dân. Vậy chẳng lẽ nhân dân thuê các anh đánh chính mình? Không. Đã có người đặt câu hỏi: tiền chi cho đội quân khổng lồ có nhiều phương tiện kỹ thuật kia, ai chi? Tiền nhà nước? Nhưng đây có phải là việc nhà nước đâu. Đây là sự thỏa thuận chuyển nhượng giữa người nông dân có đất và chủ đầu tư cơ mà. Tiền của Ecopark? Thế thì chẳng lẽ nhà nước đi làm thuê cho mấy ngài tư sản? Nhà nước tư sản cũng không bao giờ làm việc ấy huống chi nhà nước XHCN.

Đau xót. Tủi nhục. Xấu hổ.

3. Cuộc cưỡng chế báo hiệu đất nước ở bên bờ vực do những cuộc đối đầu giữa nhân dân và nhà cầm quyền

Dự án khu đô thị sinh thái này theo quảng cáo đầy hấp dẫn của họ, có thể thấy trước đó là một khu chỉ người giàu mới mua nổi[2]. Thế thì về ý nghĩa xã hội, đó là cách lấy của nhà nghèo chia cho nhà giàu, là một hiện tượng chưa có trong lịch sử.

Trong các clip người dân quay được, ta thấy những tiếng chửi, tiếng nguyền rủa phẫn nộ của người dân mất đất. Chúng ta chỉ là những người xem mà cũng phẫn uất rồi nói chi họ. Nhưng cuối cùng thì người dân Văn Giang và dư luận cả nước nói chung đã cúi đầu chấp nhận. Còn lực lượng cưỡng chế thì cho rằng họ đã thắng lợi, như phát biểu của Ông Bùi Huy Thanh, Chánh văn phòng UBND tỉnh Hưng Yên:

“Trong quá trình tổ chức hỗ trợ thi công và cưỡng chế giải phóng mặt bằng bàn giao đất tại xã Xuân Quan đã thực hiện đúng tinh thần chỉ đạo của Chính phủ, đảm bảo tuyệt đối an toàn về người và phương tiện; được đông đảo cán bộ, đảng viên và nhân dân huyện Văn Giang nói chung, xã Xuân Quan nói riêng đồng tình ủng hộ”. (Cổng thông tin điện tử tỉnh Hưng Yên)

Tuy nhiên sóng gió trong lòng người mạnh hơn lúc nào hết. Nó dồn nén, nó tích tụ, rồi nó thành cái gì thì khó ai đoán được. Nhưng cũng có những cái đoán được. Đội quân nông dân đông đảo mất đất kia sẽ về những ngả nào? Từ cách đây khoảng hơn 10 năm, khi nhiều nơi người nông dân còn được đền bù những khoản tiền khá lớn và hoan hỷ nhận thế mà kết cục cũng thường chẳng tốt đẹp gì. Nhiều nhất cũng chỉ là xây được ngôi nhà tầng, mua xe máy, ti vi, rồi phần đông rơi vào thất nghiệp, sống bằng các công việc không ổn định hoặc phiêu bạt kiếm sống xứ người. Một số rơi vào cờ bạc, nghiện hút, tranh giành, đâm chém nhau… Có nguyên nhân là người nông dân chưa biết tiêu tiền nhưng chủ yếu vì họ mất đi tư liệu sản xuất truyền thống mà không có ai chịu trách nhiệm hướng dẫn và tạo điều kiện để họ bắt nhịp vào một cuộc sống khác cuộc sống truyền thống ấy.

Huống chi bây giờ họ nhận đồng tiền rẻ mạt, không dùng được vào việc gì cả. Đội quân thất nghiệp ấy chắc chắn sẽ kéo ra thành thị sống vất vưởng bằng đủ thứ nghề. Và khi lâm vào những hoàn cảnh cùng đường, tủi nhục cộng với nỗi uất hận chưa nguôi “hôn nhân điền thổ vạn cổ chi thù” chắc chắn sẽ làm tha hóa không ít người, sẽ biến họ thành những kẻ ăn cắp, trộm cướp, đĩ điếm, lừa đảo, và lúc ấy xã hội tha hồ lên án họ, coi họ như những phần tử làm bẩn xã hội đáng khinh bỉ nhất.

Có thể ngày mai từ Văn Giang lớp lớp sẽ lên đường
vượt Trường Sơn làm “cà phê tặc”, “đinh tặc”
v…v…các thứ “tặc”

(Thanh Thảo, Quê choa ngày 27-4-2012)

Đất nước hiện nay đang đứng trước hiểm họa ngoại xâm và hiểm họa ngày càng đến gần. Kẻ mạnh đang hằng ngày lấn lướt, đe dọa, cướp đi từ con cá, lít dầu mà chúng ta chưa làm gì được. Không có nhân dân làm hậu thuẫn thì nhà nước tất trở nên yếu hèn. Vậy tại sao cứ đẩy nhân dân vào đường cùng, buộc phải đối đầu với nhà nước? Bài học của nhà Trần và nhà Nguyễn trong việc giữ nước cho thấy hai thái cực, hai kết quả trái ngược nhau. Nhà Trần dựa vào dân nên ba lần bỏ Thăng Long mà rồi lấy lại Thăng Long khá dễ dàng. Nhà Nguyễn vì không dám đi cùng nhân dân đánh giặc nên mặc dù có thành cao hào sâu, quân đông, đại bác nhiều, thế mà cứ thua, thua dần thua mãi cho đến khi thua hoàn toàn. Vừa rồi nhân viết bài kỷ niệm 130 năm ngày Hà Thành thất thủ lần thứ hai đồng thời cũng là 130 năm người anh hùng Hoàng Diệu tử tiết[3], tôi cứ nghĩ mãi tại sao một người “lâm nguy lý hiểm đã từng” như Hoàng Diệu” mà lại dại dột ngồi chờ giặc như vậy? Sao quân ta không ra tay 5 ngày, 10 ngày, 15 ngày, 20 ngày trước đó, kể từ khi chúng đến Hà Nội, thậm chí cả tháng trước đó khi chúng còn ngấp nghé ngoài cửa biển? Và tại sao khi chiến sự xảy ra, quân ta chỉ cố thủ trong thành mà không có những đội quân ngoài thành phối hợp với nhân dân cự địch? Sao không bám từng góc phố, từng căn nhà, từng gốc cây (như hồi năm 1946 dưới chính quyền Cụ Hồ Chí Minh) mà đánh địch? Tại sao lại để chúng nghênh ngang kéo pháo từ Đồn Thủy (khu vực Bệnh Viện Hữu Nghị hiện nay) vào sát Cửa Bắc (đường Phan Đình Phùng hiện nay) để nã pháo vào bên trong cho chính xác? Và cuối cùng thì tôi càng thấm thía cái điều đã cũ, cái điều mà các thầy cô và sách giáo khoa lịch sử đã dạy tôi từ bé: nhà Nguyễn sợ dân hơn sợ giặc. Vì sợ dân hơn sợ giặc nên vua quan nhà Nguyễn tuy cũng chống giặc (chống không phải ít, tốn bao nhiêu là súng đạn và hy sinh biết bao binh hùng tướng mạnh) nhưng họ lại đi riêng con đường của mình chứ nhất định không đi cùng nhân dân. Đúng ra là không dám đi cùng nhân dân, vì họ đã làm nhân dân điêu đứng khổ cực, vì họ đã đàn áp dã man các cuộc khởi nghĩa của nhân dân. Vậy nên hao người tốn của mà vua quan nhà Nguyễn vẫn thua, cuối cùng phải đầu hàng nhục nhã. Để sau đó đời nọ đến đời kia làm tay sai cho ngoại bang. Tủi nhục đến mức mà Bảo Đại, ông vua cuối cùng của triều đại này khi trao ấn kiếm cho chính quyền cách mạng đã nói một câu bất hủ: “Trẫm muốn được làm dân một nước tự do hơn là làm vua một nước bị trị”.
Thế đấy, mất nước sẽ không còn gì.
Chẳng lẽ chỉ vì mấy đồng bạc của nhà tư sản mà dân tộc này chém giết nhau?
Để rồi bi kịch mất nước lại có cơ tái diễn.
Đ.T.T

________________________________________
[1] http://dantri.com.vn/c170/s170-587183/bat-ke-giet-hai-hai-me-con-chu-quan-internet.htm
[2] http://www.pagewash.com//nph-index.cgi/000010A/uggc:/=2fcunzivrgqnb2.oybtfcbg.pbz/2012/04/8-2-gl-hfq-fr-hbp-nh-gh-inb-xuh-b-guv.ugzy
[3] http://www.pagewash.com////nph-index.cgi/000010A/uggc:/=2fkhnaqvraunaabz.oybtfcbg.pbz/2012/04/xl-avrz-130-anz-atnl-un-gunau-gung-guh.ugzy

http://xuandienhannom.blogspot.com/2012/04/ao-tien-thi-chi-vi-may-ong-bac-cua-nha.html

***
Trần Nhương-Đường về

Khi anh đang trị vì
Có thể hét ra lửa
Có thể bắt bớ thậm chí giết người không đồng chính kiến
Có thể anh được thụ hưởng vô biên mà không biết ở đâu ra
Có thể gia tộc anh ăn tiêu mười đời chưa hết của
Có thể anh nói một câu quần thần tán như rồng…
Tất cả. Anh có thể làm tất cả
Khi anh hết quyền
Có thể anh vẫn là người
Nhưng coi như đã chết
Có ông quan đầu tỉnh nọ
Về vườn mười năm sáng nào trước nhà cũng một bãi phân
Nhân dân công bằng
Bia đời không xóa được

Con đường trở về nhân dân
Tưởng như không khó khăn gì
Vua có nhân dân là minh chủ
Có những người đương thời cho là giặc
Chết rồi vẫn sông với nhân dân
Nhân dân công bằng
Hỡi những đấng quyền uy
Đường trở về nhân dân
Khó hay dễ chính khi đang tại vị…

Hà Nội 17-7-2011
Theo blog Trần Nhương:
http://quechoa.info/2012/04/28/d%C6%B0%E1%BB%9Dng-v%E1%BB%81/
***
Bùi Công Tự: ĐÔI ĐIỀU SUY NGHĨ VỀ HÒA HỢP DÂN TỘC

Hai người lính trẻ từ hai chiến tuyến

Nhớ lại 37 năm trước, ngày 30 tháng Tư năm 1975, tôi hòa trong dòng người Hà Nội trôi bồng bềnh trên các đường phố với một niềm vui sướng tưởng như bất tận: Sài Gòn giải phóng rồi ! Cả Hà Nội đổ ra đường. Một hãng thông tấn nước ngoài đưa tin: Hôm nay Hà Nội là thành phố vui nhất thế giới!

Niềm vui nào rồi cũng qua đi… cho đến bây giờ. Nhân kỷ niệm ngày 30 tháng Tư, chương trình thời sự VTV lại vang lên giai điệu hào hùng của bài ca “giải phòng Miền Nam” quen thuộc tự thuở nào. Nhưng lòng tôi thì đã lạnh lùng. Tôi đang là công dân của Sài Gòn. Và tôi thấu hiểu câu nói của ông Võ Văn Kiệt – người con ưu tú của miền Nam: “Nhiều sự kiện khi nhắc lại, có hàng triệu người vui mà cũng có hàng triệu người buồn”. Ông Võ Văn Kiệt được dân Sài Gòn – nhất là giới trí thức, văn nghệ sĩ – yêu mến, kính trọng nhiều hơn bởi câu nói đầy “chất Người” đó. Còn tôi, tôi muốn gọi ông là “người Cộng Sản có trái tim”.

Thế hệ những người như tôi sinh ra cùng Cách mạng tháng Tám, cùng nhà nước Dân chủ Cộng hòa. Cả một thời lịch sử oanh liệt và bi thương đi qua mái tóc bạc cùng cả một đời mong mỏi. Thời kháng chiến 9 năm thì mong đến “Ngày Độc lập”, sau hiệp định Giơ-ne-vơ 1954 thì lại mong đến “ngày Thống nhất”. Rồi ngày ấy cũng đến, ngày 30 tháng Tư năm 1975 được coi là ngày thống nhất đất nước.

Báo chí ngày ấy nhắc đi nhắc lại câu: “Non sông đã thu về một mối”. Nhưng ít người để ý rằng “lòng người còn trăm mối ngổn ngang”. Người giải phóng trong cơn say chiến thắng cứ đinh ninh nghĩ rằng mình “chiến đấu và chiến thắng kẻ thù” mà có biết đâu là mình “chiến đấu và chiến thắng đồng bào của mình”.

Tôi viết đến đây thì bỗng nghe trong một chương trình truyền hình Trọng Tấn đang hát bài “Đất nước trọn niềm vui”. Tôi muốn hỏi nhạc sĩ Hoàng Hà – tác giả ca khúc này – phải chăng ông đã viết ra nhạc phẩm ấy trong một tâm trạng phấn khích ngây thơ? Vì ông ở trong phe chiến thắng nên ông không nhận ra “có hàng triệu người đang buồn” và thế nên “đất nước chưa trọn niềm vui”.

Tôi cứ tự hỏi tại sao ngày ấy chúng ta phải giam giữ hàng vạn đồng bào (sỹ quan binh lính Việt Nam cộng hòa) khi họ đã buông súng đầu hàng? Những nhà tù được gọi là “trại cải tạo” ấy chẳng những không “cải tạo” được ai mà còn chuốc thêm thù oán. Tại sao chúng ta lại để cho hàng triệu đồng bào phải bỏ nước ra đi khiến ngôn ngữ loài người có thêm từ ngữ “thuyền nhân”? Tại sao chúng ta lại chiếm đoạt các nhà máy, cửa hàng… của các công dân trong cái gọi là “cải tạo tự bản tư doanh”?

Tại sao?

Lại nghĩ, nếu như lúc ấy trong tư thế người chiến thắng, chúng ta hành xử với các đồng bào của mình (những người ở phía bên kia) được như người Tây Đức đối đãi với người Đông Đức sau khi bức tường Berlin sụp đổ thì tình thế có lẽ đã khác biết bao? Nhưng chúng ta đã không đủ văn hóa để ứng xử văn minh như người Đức. Thực tế là chúng ta đã hành xử hà khắc nếu không muốn nói là vô luân. Và vì thế mâu thuẫn trong nội bộ dân tộc càng thêm căng thẳng.

Tuy thế vấn đề hòa hợp dân tộc cũng đã được đặt ra. Nhà nước Việt Nam cũng đã có những chính sách ngày càng cởi mở hơn, tạo điều kiện cho kiều bào đóng góp với quê hương đất nước. Nhưng những gì đã có là chưa đủ. Đâu đó vẫn còn những quy định, những phát ngôn, những việc làm chưa thấu suốt tinh thần hòa hợp.
Theo thiển nghĩ của tôi, chỉ trừ những kẻ phản quốc, còn tất cả những người có huyết thống thuộc 54 dân tộc Việt Nam, dù ở trong nước hay ở nước ngoài, đều là thành viên của nhân dân Việt Nam, của dân tộc Việt Nam.

Không thể có chuyện tất cả 90 triệu nhân dân đều có chung một quan điểm chính trị, đều có chung một cách nhìn nhận. Ngay cả lòng yêu nước cũng có nhiều cách thể hiện khác nhau. Cho nên để hòa hợp dân tộc thì phải chấp nhận sự khác biệt, vượt lên trên những khác biệt, kể cả sự khác biệt về chính kiến, để tất cả mọi công dân đều có cơ hội chung sức chung lòng xây dựng đất nước Việt Nam.

Sự hòa hợp dân tộc trong một quốc gia còn thể hiện ở chỗ đại bộ phận nhân dân ủng hộ chính quyền, ủng hộ người lãnh đạo mình.

Muốn đạt được như vậy thì chính quyền phải đáp ứng nguyện vọng của nhân dân, không có cách hành xử chống lại nhân dân. Những vụ việc không tốt đẹp xảy ra ở Tiên Lãng, Văn Giang và nhiều nơi khác vừa qua đã làm cho lương tâm nổi giận, sẽ tiếp tục dẫn đến sự đối đầu trái với tinh thần hòa hợp dân tộc mà tất cả mọi người dân đều tha thiết.

Hòa hợp dân tộc chỉ có thể có được trong một chính thể cởi mở, có nhiều tổ chức xã hội quy tụ nhân dân. Chính quyền và nhân dân cùng phấn đấu cho một mục tiêu chung. Nó đòi hỏi phải có sự minh bạch để nhân dân tin tưởng là chính quyền trong sạch, tin tưởng sự đóng góp của mình là để xây dựng và bảo vệ tổ quốc, là để giúp đỡ cộng đồng chứ không phải để nuôi béo một nhóm người. Do đó hòa hợp dân tộc còn dựa trên tinh thần phản biện để tìm ra chân lý, tránh mê tín, sùng bái cá nhân hoặc tâm lý “đám đông”.

Hòa hợp dân tộc là con đường sáng, là nguyện vọng của toàn dân. Hòa hợp dân tộc chỉ có “được”. Nhưng chỉ những ai không sợ “mất” thì mới mong muốn thôi. Đúng thế không các bạn ?
B.C.T

Xin mời xem thêm chùm ảnh: Đời thường trong dinh Độc Lập, ngày 30.4.1975, tại Mai Thanh Hải – Blog.

http://xuandienhannom.blogspot.com/2012/04/bui-cong-tu-oi-ieu-suy-nghi-ve-hoa-hop.html

1 Phản hồi »


RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Tạo một website miễn phí hoặc 1 blog với WordPress.com.

%d bloggers like this: