Hoàngquang’s Blog

23/04/2012

TRÍ TUỆ CỦA LOÀI MỐI

HÀ VĂN THỊNH

Bùi Van Nam Son Quà tặng của thánh thần
Nguyên Ngọc Hóa ra ông Vương Đình Huệ
không đơn độc

***
Hunhngocchenh NGÀI VƯƠNG ĐÌNH HUỆ KHÔNG ĐƠN ĐỘC VÌ CÓ TÔI Nguyễn Tường Thụy/ Lê Hiền Đức: Ai đã tạo ra những “sản phẩm” như thế này? strong> Quê choa Coi dân như địch? Huynhngocchenh CÔNG CHÚA, HOÀNG TỬ VÀ NÔNG DÂN MẤT ĐẤT nhat sy bao thu Nhật ký mở: về cuộc phản công cấp tập của “Thực Tiễn” trước “Nghị quyết 4” VNE Đại biểu QH Hoàng Yến: ‘Tôi chấp nhận bãi nhiệm’ culangcat Cái hiếm có của bà Hoàng Yến Bà Hoàng Yến: Tôi trung thực! GS Trần Quắt Quay – Một mét vuông mấy thằng ăn cắp

HÀ VĂN THỊNH -TRÍ TUỆ CỦA LOÀI MỐI

Dịp rồi, tôi đi công tác ở Quảng Bình – đất địa linh nhân kiệt với Kẻ Bàng, kẻ sĩ có cái hào sảng, lung linh, cuốn hút như thạch nhũ rạng ngời… Ông bạn tôi, một TS nửa ở ẩn nửa không, nửa làm thơ (từng đoạt giải báo Văn Nghệ) nửa thích dùng búa để bửa xẻ chuyện đời, thủng thẳng nói với tôi rằng: “Trên đời này, nếu kể về trí tuệ trong giới động vật không phải người (hoặc chưa thành người) thì loài ong và loài mối là loại có trí tuệ nhất khi tạo ra những công trình xây dựng có một không hai, chuẩn xác và hấp dẫn có khi còn hơn nhiều công trình khoa học thời nay…”
Tôi nghe trong hương rượu vodka nhưng vẫn còn đủ chút lý trí mơ hồ nào đó để thầm phản bác rằng: “Quái, cái lão chập (gọi thế chứ lão thông minh ít nhất hơn tôi gấp 10 lần) này, hết việc hay sao lại đi khen loài mối. Ong thì khả dĩ còn được, nó đáng yêu, hơn nữa, nó lại còn cái thắt đáy lưng ong, chỉ mới nghe thôi nước bọt đã thơm phức cả miệng mồm…
Mặc cái thằng tôi ngơ ngơ ngẩn ngẩn quẩn tư xuẩn bí, vị TS có gène ba sàm giảng giải tiếp.
“Công trình của loài ong cho phép con người nghĩ tới những sự phi thường, thanh cao, thậm chí đạt đến mức thoát tục của nghệ thuật sống và cống hiến. Thế nhưng, so với loài mối thì ong cũng chỉ đáng là loại học trò mang số kiếp thi lại bền vững”.
Bây giờ thì tôi shock thật sự bởi cái nhiễu loạn so sánh, phân tích của ông bạn có dăm ba chữ vàng. Dẫu có tối tăm cách mấy tôi cũng không thể quên lời dạy của Marx rằng khoa học bắt đầu bằng sự so sánh, rằng muốn đạt đến cái gì đó kho khó một tý đều phải băng qua những đỉnh cao gian khổ, nhọc nhằn của một con đường dài vất vả, chông chênh. Không nghĩ ra thì đành phải chờ thôi. Có hàng vạn người trên trái đất này không thèm trăn trở vì họ biết thể nào cũng có những người khác nghĩ thay, nghĩ cố cho mình.
“Con ong nó xây tổ thật đẹp để sống cho nó và cho những đời sau. Nó dạy cho các thế hệ mới những bài học về tính hiệu quả, tiết kiệm… Cái đẹp của 6 mặt không hề thò lò của cuộc sống chỉn chu là hạnh phúc khi lao động sáng tạo miệt mài”…
Tôi bắt đầu nghĩ rằng có lẽ bạn tôi đã say hơn cả tôi khi nó có ý định dạy tôi những bài học cũ. Nếu tôi nhớ không nhầm thì hồi chung nhau một lớp suốt bốn năm rưỡi ở Đại học Tổng hợp Hà Nội, hắn bao giờ cũng thua tôi ở cái môn nói phét – tức là lịch sử về những điều không tưởng và bịa đặt; hay, nói cho có vẻ văn chương, lịch sử là khoa học về những sự giả dối tinh vi nhằm làm cho con người luôn lầm tưởng mọi cái được bịa ra, thêm vào, cắt bớt, đều là sự thật.
“Loài mối, biết làm những điều không một chủng loại nào làm được (trừ con người). Nó đục ruỗng xà nhà, cột, kèo mà không một ai hay biết. Hoặc, giả có biết thì cứ tin rằng không đáng kể. Có thể ví cột, kèo, xà nhà, đòn tay giống như là “ĐẤT NƯỚC” của loài mối. Chúng phá tan tành đất nước, huỷ hoại từ từ, từng chút một bằng sự tính toán tỷ mỉ, chi ly; sao cho chúng ăn hết bên trong rồi, cái vỏ “đất nước” của nó vẫn y nguyên…”
Nói đến đó, bạn tôi chỉ vào một khúc gỗ tròn, dài, đen bóng, dựng chênh chếch bên trái hòn non bộ: “Cậu thử nhấc nó lên xem. Nhớ nhẹ tay bởi mình không muốn nó mục vỡ”. Tôi đứng dậy, đến gần hòn non bộ rồi “vận công”, nhấc khúc gỗ tròn trông giống một cái cột nhà: Nó nhẹ tênh.
“Đấy, thấy rõ chưa, tất cả chỉ còn lại một cái vỏ, trong khi lũ mối đã đục khoét bên trong chẳng còn gì. Chúng sẽ ăn, tiếp tục đục khoét cho đến khi nào không thể ăn thêm được nữa là chúng cao chạy xa bay, chuyển sang cây cột khác, kèo dầm khác, tìm “nước” khác”.
Nhìn thấy bộ dạng thiểu não, hoang mang của tôi, gã bạn không những không thương hại mà lại còn nhất quyết không buông tha: “Cái khó mà mình nghĩ mãi không ra, khó đến mức phải đặt cái khúc cột nhà đó ở đây để nghĩ tiếp là làm sao loài mối biết khi nào thì cây cột nhà sắp đổ sụp – tức là bị “loài người tiến bộ” phát hiện (tức là chúng chết chắc), để bồng bế, dắt nhau trốn sang “nước” khác kịp thời…”(!)
Ừ nhỉ, tôi thở ra mà giống như trút khỏi cái đầu mình cả một hòn đá trĩu nặng nỗi đau. Lũ mối quả là có trí tuệ siêu phàm. Chúng tham ăn, tục uống, bất lương và không hề biết xấu hổ. Chúng giỏi che đậy đến bậc thượng thừa khi ăn ruỗng, đục khoét hết cả một “đất nước” mà ông đi qua, bà đi lại không hề hay biết (hay là biết mà giả điếc, giả câm?). Chỉ đến lúc nào đó, một cơn bão thổi tới, một ai đó xô mạnh vào thì cả cái gọi là khúc gỗ ấy mới đổ sập xuống! Giả dối để tham lam tinh vi đến thế là cùng. Tiên sư anh Tào Mối(!)
Huế, 20.4.2012.
http://nhathonguyentrongtao.wordpress.com/2012/04/22/tri-tu%E1%BB%87-c%E1%BB%A7a-loai-m%E1%BB%91i/
***

Bùi Van Nam Sơn- Quà tặng của thánh thần

Kỹ thuật là cách để con người tìm lại cảnh nhàn nhã trước khi bị trục xuất khỏi vườn địa đàng – tranh Lucas Cranach. Ảnh:

SGTT.VN – Khi Prometheus lên trời đánh cắp lửa và tài khéo kỹ thuật về cho con người để con người làm chủ thiên nhiên và muôn loài, do quá vội vã (ăn trộm lúc nào cũng vội vã!), Prometheus không kịp đánh cắp thêm một thứ quan trọng! Thiếu thứ này, con người, với tài năng kỹ thuật, tha hồ chém giết nhau.

Thương hại trước khả năng tự huỷ diệt của loài người, thần Zeus đành ban tặng nốt món quà quý ấy cho con người: lương tâm và ý thức về công lý. Như thế, theo tinh thần câu chuyện thần thoại được Plato kể lại, câu hỏi về giới hạn của kỹ thuật đã sớm được đặt ra khi con người biết xấu hổ về luân lý và thấy cần có những chuẩn mực cho đời sống chung.
“Biết” chưa hẳn là “hiểu”, là “gặp”
Ta sử dụng nhiều sản phẩm kỹ thuật nhưng không phải ai cũng biết rõ về cơ sở khoa học của chúng. Tuy nhiên, “mù khoa học” là chuyện của mỗi cá nhân, chứ nhìn chung, tri thức khoa học gia tăng không ngừng.
Tiếc rằng, “biết” không hẳn là “hiểu”, giống như ta có thể biết rất nhiều về một con người, nhưng vẫn không “hiểu”, càng không chắc đã “gặp gỡ” được người ấy. Càng làm chủ thiên nhiên, càng nâng cao năng lực kháng cự và phòng vệ, con người càng khao khát thiên nhiên. Trước tác động “cào bằng” của kỹ thuật (ngôn ngữ triết học gọi là “đánh mất thực thể”), thiên nhiên đáng mong ước ấy đang bị dồn vào một góc: những vườn quốc gia, những khu bảo tồn thiên nhiên bị rào kín không khác một sở thú! Mỉa mai của sự tha hoá, tức của việc “nhìn nhau xa lạ”, đã đạt tới cao điểm: thiên nhiên mà con người muốn “nhân hoá”, “hoà giải” (Marx) suy tàn ngay trong tiến trình nhân hoá, hoà giải. Hai mặt biện chứng hầu như khó bề tái hợp: vừa không được kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất, vừa đồng thời không được “khinh rẻ và hạ nhục thiên nhiên trong thực tiễn” (Marx, 1883).
Thêm nữa, một cách hành xử “không tha hoá” với thiên nhiên cũng tỏ ra khá hàm hồ. Tình hình sẽ ra sao đối với lao động vất vả ở nông thôn và ở các nước chậm phát triển khi sự “tha hoá khỏi tự nhiên” nhiều khi lại là điều cần thiết và được khuyến khích? Dường như, sau khi bị “trục xuất khỏi vườn địa đàng”, con người không có lựa chọn nào khác ngoài nỗ lực khôi phục tình trạng lao động nhàn nhã đã mất: đẩy mạnh và ngày càng hoàn thiện kỹ thuật! Nhưng, tiến bộ kỹ thuật có thực sự là một sự tiến bộ?
Lưỡng tính của tiến bộ kỹ thuật
Ngày nay, không ai còn quá tin vào chủ nghĩa lạc quan kỹ trị. Tiến bộ kỹ thuật không phải bao giờ cũng nhất thiết là một sự tiến bộ, điều ấy là hiển nhiên và cũng đầy nghịch lý. Một mặt, tiến bộ kỹ thuật là hình mẫu của sự tiến bộ nói chung: nhờ có kỹ thuật mới, mục đích được đề ra sẽ đạt được trọn vẹn hơn, nhanh hơn, ít tốn kém hơn. Mặt khác, từ “tiến bộ” (cũng như “phát triển”, “tiến hoá”…) bao giờ cũng giả định một đánh giá tích cực. Thế nhưng, sự hoàn hảo trong kỹ thuật chiến tranh hay đàn áp, kỹ thuật nghe lén hay đánh cắp… khó có thể gọi là “tiến bộ” đích thực!
“Tiến bộ” đúng là lưỡng tính. Một mặt, chỉ được đánh giá là tiến bộ khi quy chiếu với một mục tiêu hay một thước đo nhất định. Bánh xe thường được xem là mẫu mực để đo lường sự tiến bộ. Nhưng văn minh vùng sông Nile xem thuyền bè mới là tiêu chuẩn chứ không phải bánh xe như ở Hy–La hay Trung Hoa cổ đại. Mặt khác, các tiến bộ kỹ thuật, kinh tế, xã hội, văn hoá, đạo đức không tất yếu trùng hợp nhau. Trong việc đánh giá tiến bộ hoặc thoái bộ, tiến bộ kỹ thuật giữ vai trò đặc biệt. Chỉ đơn thuần là phương tiện, bản thân tiến bộ kỹ thuật không phải là một loại tiến bộ riêng biệt mà chỉ nhằm tăng cường tính hiệu quả cho việc thực hiện các mục đích khác vốn đích thực là những giá trị, chẳng hạn: sự sống, sức khoẻ, sự an toàn, hạnh phúc, chất lượng môi trường, đạo đức, công lý hay sở thích tốt đẹp.
Hy vọng của những nhà lạc quan kỹ thuật đang bị thực tế thách thức gay gắt. Những thành tựu to lớn của tiến bộ kỹ thuật đã và đang làm thay đổi bộ mặt thế giới là không thể phủ nhận. Năng suất kinh tế và hiệu quả kỹ thuật song hành với các yếu tố khách quan của chất lượng sống: tuổi thọ, sức khoẻ, phòng chống dịch bệnh, không gian hoạt động độc lập với nhịp điệu và cả sự bất trắc của tự nhiên. Nhưng những cải thiện kỹ thuật ấy có thể chỉ mới phục vụ và sinh lợi cho một bộ phận dân cư trong một nước hay cho một nhóm nước trong phạm vi thế giới. Nghèo đói, thất học, tội ác và nhiều tệ nạn do sự bất bình đẳng sinh ra chưa hề giảm bớt mà có xu hướng tăng lên.

Chỉ đơn thuần là phương tiện, bản thân tiến bộ kỹ thuật không phải là một loại tiến bộ riêng biệt mà chỉ nhằm tăng cường tính hiệu quả cho việc thực hiện các mục đích khác vốn đích thực là những giá trị, chẳng hạn: sự sống, sức khoẻ, sự an toàn, hạnh phúc, chất lượng môi trường, đạo đức, công lý hay sở thích tốt đẹp.

Ngày càng nhiều người nhận định rằng kỹ thuật là một loại ma tuý giúp xoa dịu và ngăn ngừa những thảm hoạ nhỏ, nhưng lại làm gia tốc các thảm hoạ lớn. Bởi kỹ thuật có thể giải quyết nhiều vấn đề, nên người ta dễ dàng tin rằng sớm muộn nó sẽ giải quyết được mọi vấn đề. Tất nhiên, lòng tin vào kỹ thuật không phải là lòng tin mù quáng hay hão huyền, Trong nhiều lĩnh vực, quả thật kỹ thuật không chỉ giải quyết được những vấn đề của lĩnh vực khác, mà cả những vấn đề do chính nó gây ra. Nó có thể phòng tránh, xử lý hay ít ra là giảm nhẹ những thiệt hại và nguy cơ do mình là thủ phạm bằng các công nghệ sửa chữa hay thay thế nguồn gây nguy cơ. Tuy nhiên, điều này không chỉ ngốn số chi phí khổng lồ mà còn đòi hỏi phải có đội ngũ lãnh đạo có ý thức trách nhiệm cao độ và đội ngũ kỹ thuật viên thông thạo, nhất là trong các lĩnh vực phức tạp và có nguy cơ cao như hạt nhân, khai khoáng, chế tạo vũ khí… Trong khi đó, những thách thức có quy mô toàn cầu như kiểm soát sự gia tăng dân số, dành tài nguyên cho các thế hệ sau, ngăn cản sự biến đổi khí hậu, bảo đảm nguồn lương thực, thực phẩm và nước sạch trong lâu dài… cho thấy rõ rằng sự cải thiện kỹ thuật không thể thay thế cho việc thay đổi quan niệm phát triển và cung cách hành xử một cách căn bản.
“Tạo hoá quyền”
Chứng kiến thành tựu kỹ thuật của phương Tây, cụ Phan Thanh Giản, trong một lần đi sứ, có câu nổi tiếng:
Bá ban xảo diệu tề thiên địa
Duy hữu tử sinh tạo hoá quyền

Nhưng, với mỗi bước tiến bộ ngoạn mục của y học, sự sẵn sàng chấp nhận và chịu đựng số phận tự nhiên – sinh, già, bệnh, chết – ngày càng giảm dần, và con người lại trải nghiệm những “hoàn cảnh giới hạn” (Karl Jaspers) ấy như những cú sốc! Con người trong tương lai thậm chí có còn chấp nhận “quyền lực của tạo hoá” hay không là điều không dự đoán được. Hy vọng chăng là con người không dại dột từ chối nốt “quà tặng của thánh thần” để biết đặt ra cho chính mình câu hỏi về trách nhiệm!
Bùi Văn Nam Sơn

Do nhu cầu tổ chức mặt trang, kể từ số báo này, chuyên mục “Chuyện xưa chuyện nay” thường kỳ vào thứ tư hằng tuần xin được tạm dừng. Hai năm qua, tại diễn đàn này, nhà nghiên cứu, dịch giả Bùi Văn Nam Sơn đã trao đổi cùng độc giả những vấn đề cơ bản trong nhận thức con người, lý giải những hiện tượng trong cuộc sống, xã hội thông qua các trào lưu tư tưởng của nhân loại. Trang mục này đã nhận được nhiều chia sẻ của bạn đọc.
Sài Gòn Tiếp Thị xin trân trọng cảm ơn sự ủng hộ của bạn đọc, đặc biệt là sự gắn bó của nhà nghiên cứu Bùi Văn Nam Sơn trong thời gian qua. Bạn đọc sẽ còn được gặp lại nhà nghiên cứu Bùi Văn Nam Sơn trên báo Sài Gòn Tiếp Thị trong thời gian tới, với những câu chuyện và đề tài thú vị khác.
báo SGTT

http://anonymouse.org/cgi-bin/anon-www.cgi/http://sgtt.vn/Khoa-giao/162895/Qua-tang-cua-thanh-than.html

***

Nguyên Ngọc -Hóa ra ông Vương Đình Huệ không đơn độc

Mấy năm nay nhiều người đã rất thích thú theo rõi thường xuyên ở mục ‘Câu chuyện triết học’ trên báo Sài Gòn tiếp thị những bài viết tuyệt vời của Bùi Văn Nam Sơn.

Đấy là những bài ngắn, giản dị, hấp dẫn về những vấn đề triết học cơ bản. Đương nhiên không phải ai cũng cần trở thành nhà triết học, nhưng những hiểu biết sơ đẳng về triết học, “biết đôi chút cái mùi triết học” như có người nói, là cần cho mọi người, bởi lịch sử triết học cũng chính là lịch sử hình thành và phát triển tư duy của loài người, trong quá trình lâu dài trăn trở làm người, từ mông muội cho đến trưởng thành.

Như ai cũng biết, viết được về những vấn đề trừu tượng và cao siêu như vậy một cách dễ hiểu, lại lôi cuốn, cho mọi người, thường là những người cầm bút rất uyên bác, nắm rất vững vấn đề, đến mức có thể tung tăng đùa bỡn mà vẫn nghiêm túc, duyên dáng mà chặt chẽ, nhiều khi như nói chơi mà là sâu xa những chuyện hệ trọng nhất của cuộc đời, thậm chí là chuyện muôn thuở, và nói cho đúng cho đến nay nhân loại vẫn còn suy nghĩ và bàn bạc chưa xong. Và những chuyện đó, chừng xa xôi, lại cũng là chuyện thiết thân cho mỗi người, không chỉ trong công việc mà cả trong sống và ứng xử từng ngày… Mấy năm qua, Bùi Văn Nam Sơn đã tận tụy làm công việc đó, có thể gọi không quá đáng là một công việc khai hóa, về lâu dài là không hề nhỏ, một đóng góp quan trọng cho xã hội …

Vậy mà gần đây bỗng có tin Sài Gòn tiếp thị đã cắt bỏ mục này *.

Hỏi ra thì được biết : ấy là theo lệnh của một cơ quan hay một người nào đó có trách nhiệm và có quyền ở cái thành phố lớn nhất nước này.

Hình như là lệnh miệng, qua một cú điện thoại hay một tin nhắn, nghĩa là không để lại dấu vết hiển thị nào hết, chắc là khắp thế giới không còn nơi nào nữa có kiểu ra lệnh, “chỉ đạo” hay ho đến thế.

Lệnh là : “ Tiếp thị sao lại đi nói chuyện triết học ? Dẹp ! ”

Ôi, vậy mà mấy hôm nay tôi cứ tưởng ông Vương Đình Huệ ** cô đơn lắm khi ông nhỡ mồm dạy các nhà báo về chức năng của báo chí. Hóa ra ông chẳng hề cô đơn chút nào, và cũng chẳng nhỡ mồm. Ông ở trong một hệ thống nhất quán, quyết liệt, triệt để, ngày càng triệt để.

Thêm một ví dụ nữa để chứng minh tính nhất quán, quyết liệt, và triệt để ấy :

Cách đây vài tháng một nhà xuất bản định in một cuốn sách tập họp một số bài viết của Bùi Văn Nam Sơn về triết học (đã đăng trên Sài Gòn tiếp thị) đã không thể nào xin được giấy phép. Lý do ? Người ta lệnh, cũng bằng nói miệng vô bằng : Bây giờ phải rất cảnh giác với các sách triết học, “họ” lợi dụng triết học để dưa dân chủ vào !

Thôi thế là quá rõ rồi : người ta sợ triết học, vì người ta sợ dân chủ !

Nhưng mà, tôi là người ngây thơ, dễ tin, tôi ngơ ngác muốn hỏi : Vậy cái khẩu hiệu lừng danh “ Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh ” là thế nào nhỉ ? Thậm chí còn cãi nhau chán rồi mới quyết định đưa ‘dân chủ’ lên trước ‘công bằng’, coi như một thắng lợi lớn. Chuyện to thế, chẳng lẽ nói đùa ?

Tôi không dám nói chuyện chính trị. Tôi chỉ xin nói chuyện đạo đức : Đừng nghĩ rằng câu chuyện vừa nói trên, chuyện tiếp thị, đi buôn thì cấm tiệt nói triết học, cứ lo chúi mũi làm tiền đi, là không liên quan gì đến đạo đức xã hội mà ai cũng biết là đang xuống đến đáy. Không liên quan đến việc sinh ra những Đoàn Văn Luyện đang có nguy cơ không còn cá biệt ***. Không liên quan đến tội ác đang tràn lan nhức nhối.

Nghĩa là những cấm đoán trắng trợn mà gi ấu tay kia cũng là tội ác đấy! Nó tạo ra môi trường cho tội ác.

N. N.
NGUỒN : Mạng Anh Ba Sàm

CHÚ GIẢI
* Nếu gõ trên mạng Google từ khóa “Câu chuyện triết học” (và thêm SGTT), sẽ được kết quả các bài viết lâu nay của SGTT. Còn đây là bài báo cuối cùng, ngày 12/4/2012: Quà tặng của thánh thần và lời “từ biệt” nép mình bên dưới, có đoạn “Do nhu cầu tổ chức mặt trang, kể từ số báo này, chuyên mục “Chuyện xưa chuyện nay” thường kỳ vào thứ tư hằng tuần xin được tạm dừng …” (có giới thiệu trong mục THẤY TRÊN MẠNG của Diễn Đàn ngày 20.4.2012).
** Vụ “chỉnh” báo chí của ông Vương Đình Huệ, nhiều báo đã gỡ bài, không rõ là ông Huệ đã “xin” hay là “ra lệnh” mà ghê vậy?

+ Bài Bộ trưởng và báo chí trên VNEconomy bị gỡ mất nhưng còn 14 phản hồi sót lại, tuy nhiên nội dung trên trang Baomoi.com thì vẫn còn. Bài này được Sài Gòn Tiếp thị đăng lại cũng đã biến mất, nhưng báo này lại có một bài khác đá móc ông Huệ : Ai lộn sân ?

+ Báo Thanh niên có bài Không chuẩn, cần phải chỉnh của TS Tô Văn Trường cũng bị bóc mất, nhưng vẫn còn trên Baomoi.com bài gốc không bị biên tập cắt bớt (đăng trên mạng Người Lót Gạch).

+ ÔNG VƯƠNG ĐÌNH HUỆ “ĐÁ LỘN SÂN” LÀ CÓ CHỦ ĐÍCH? (Người lót gạch). + CHẬP CHENG! — (Người lót gạch).
*** Thảm án kinh hoàng ở tiệm Internet : Lê Văn Luyện thứ hai ? (An ninh Thủ đô, 19/4/2012)
Lời chót
: Có lẽ không phải ngẫu nhiên mà trong mục Phiếm và Biếm ngày 21.4.2012, Sài Gòn Tiếp Thị đăng bài Bi kịch tắt đèn thời nay
của Người Già Chuyện. Sợ rằng “do nhu cầu tổ chức mặt trang”, bài này cũng sẽ bị gỡ đi, Diễn Đàn mạn phép SGTT đăng lại dưới đây :
Bi kịch tắt đèn thời nay

SGTT.VN – Để giúp học sinh đào sâu suy nghĩ, cô giáo dạy tiết văn về tác phẩm Tắt đèn quyết định hỏi thêm một câu nữa :

– Các em hãy cho biết chi tiết tối đen ở cuối truyện thể hiện bi kịch gì của chị Dậu ?

Học sinh giơ tay đếm không xuể :

– Thưa cô, theo em bi kịch đây là vấn đề môi trường !

Cô giáo trợn mắt :

– Môi trường ? Em giải thích coi !

– Chị Dậu muốn hưởng ứng Giờ trái đất, nhưng đèn đuốc đã tắt hết rồi nên không biết tắt thêm thứ gì nữa !

Lớp phó học tập đứng lên phản đối :

– Bạn nói thế mà nghe được à ! Thời chị Dậu chưa có điện, tắt đèn đây là đèn… dầu, bi kịch của chị Dậu là xăng dầu liên tục lên giá nên không có tiền thắp sáng !

Hoảng hồn vì thấy cả lớp vỗ tay tán thưởng lớp phó, cô giáo lập tức chấn chỉnh :

– Không phải thế ! Bi kịch của chị Dậu mang ý nghĩa lớn lao hơn nhiều chứ đâu chỉ là chuyện tăng giá nhiên liệu. Nào, suy nghĩ đi !

Chán nản vì thấy cả lớp bó tay trước một câu hỏi quá dễ, lớp trưởng đành xung phong :

– Thưa cô ! Muốn làm rõ cái bi kịch ấy phải nhắc lại đoạn cuối : để có tiền nộp thuế thu nhập cá nhân cho chồng, chị Dậu lên tỉnh đi làm ôsin. Chủ của chị là một quan chức già, lợi dụng đêm tối đã mò vào buồng chị… Nguyên do bi kịch của đời chị nằm ở chính cái bóng tối ấy !

Cô giáo khéo léo gợi ý :

– Em nói chưa chuẩn lắm nhưng cũng tàm tạm. Thế thì đoạn kết của tác phẩm là bản án thích đáng để tố cáo ai ?

– Không tố được vì thiếu chứng cớ cô ơi !

Cô giáo chưng hửng :

– Em nói thế là sao ?

– Vì vợ chồng chị Dậu đã thủ sẵn camera, nhưng tối quá không quay được clip sex thì lấy gì tố cáo ?

Người già chuyện
http://anonymouse.org/cgi-bin/anon-www.cgi/http://www.diendan.org/giot-muc-giot-doi/hoa-ra-ong-vuong-111inh-hue-khong-111on-111oc/

Để lại phản hồi »

Chưa có phản hồi.

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Tạo một website miễn phí hoặc 1 blog với WordPress.com.

%d bloggers like this: