Hoàngquang’s Blog

31/03/2012

Trò chuyện với đạo diễn bộ phim “Hoàng Sa – nỗi đau mất mát” André Menras Hồ Cương Quyết

Báo Xa Xứ (Xa Xứ) :

Bìa báo Xa Xứ số 252, ra ngày 27.3.2012

Phạm Hồng Sơn Giải thưởng Phan Chu Trinh dành cho ông Nguyễn Sự: vui, buồn và lo
Vi Toàn Nghĩa Lời kêu gọi giúp đỡ khẩn cấp Nguyễn Thượng Long Vọng niệm 2: Những bức ảnh về chiến tranh năm đó và dáng đứng Việt Nam hôm nay anhbasam Thua đau TQ về giáo dục chủ quyền biển đảo
***
Trò chuyện với đạo diễn bộ phim “Hoàng Sa – nỗi đau mất mát” André Menras Hồ Cương Quyết

…”Kháng chiến kiểu mới”…
Đó là một câu mà đạo diễn bộ phim “Hoàng Sa – nỗi đau mất mát” – André Menras Hồ Cương Quyết trả lời báo “Xa Xứ” tại buổi gặp gỡ mới đây trong chuyến công du trình chiếu bộ phim mà ông là đạo diễn và viết kịch bản . Hiếm có một người ngoại quốc nào yêu Việt Nam đến thế, gắn bó với Việt Nam trong giai đoạn đầu của cuộc kháng chiến chống Mỹ giải phóng thống nhất đất nước. Từng bị chính quyền Việt Nam Cộng Hòa cầm tù. Sau này, đất nước thống nhất ông vẫn giúp đỡ Việt Nam, xin được nhiều học bổng cho sinh viên Việt du học
…trong những năm gần đây ông cũng là người lên tiếng mạnh mẽ về hành động bành trướng xâm chiếm biển đảo của nhà cầm quyền Trung Quốc, quyên góp giúp đỡ các gia đình ngư dân Lý Sơn – Quảng Ngãi. Bộ phim tài liệu “Hoàng Sa nỗi đau mất mát” của ông là một minh chứng cho tình yêu Việt Nam, trách nhiệm công dân (ông có quốc tịch Việt Nam) với chủ quyền bờ cõi dân tộc.
Sau đây là nội dung cuộc trò chuyện của báo “Xa Xứ” với ông André Menras Hồ Cương Quyết.

BBTbáo Xa Xứ

Trò chuyện tại VP Ban Biên tập báo Xa Xứ

Báo Xa Xứ (Xa Xứ) : Nhiều khi chúng tôi tự hỏi – không hiểu sao anh lại yêu Việt Nam của chúng tôi đến thế? Anh còn hơn rất nhiều những người Việt “nguyên bản” không phải “hàng nhái” mà thờ ơ với vận mệnh dân tộc. Xuất phát điểm của tình yêu ấy từ đâu, thưa anh?
André Menras Hồ Cương Quyết (AM HCQ) : Xin được nói và sửa ngay cái câu “Việt Nam của chúng tôi…” Việt Nam là tổ quốc của tôi, của các anh nữa chứ (cười hóm hỉnh). Tôi là một giáo viên sang Việt Nam dạy tiếng Pháp tại Miền Nam Việt Nam khi quân xâm lược Mỹ đang hiện diện ở đó. Khi đó tôi ở Đà Nẵng, tôi đã tận mắt chứng kiến các tội ác như tra tấn, mổ bụng mà đội quân này và Đại Hàn gây ra với nhân dân Việt Nam. Là một thanh niên Pháp, sống trong hòa bình và các giá trị của cuộc cách mạng mạng Pháp 1789 “ tự do, bình đẳng, bác ái”. Lúc đó tôi không biết Maxr, Lenin… tôi phản đối chiến tranh với nhiệt huyết của tuổi trẻ. Tôi đã xác định ủng hộ cuộc kháng chiến giành độc lập tự do mà các bạn đang tiến hành. Cụ thể là ủng hộ Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng một cách công khai. Tôi đã phất cờ MTGP trước Nghị Viện chính quyền Sài Gòn… Bị bắt, bị tù tại khám Chí Hòa. Tôi bị tù cùng với những thanh niên tranh đấu, với những người cộng sản, và chính họ đặt cho tôi cái tên Hồ Cương Quyết. Ý chi đấu tranh vì độc lập tự do dân tộc của họ đã làm tôi cảm phục. Càng bị tra tấn họ càng vững vàng. Trong số họ có những người đã hi sinh (xúc động và khóc, ) tinh thần đó, hình ảnh đó lý tưởng độc lập tự do của họ đã cho tôi tình yêu và sức mạnh tới tận bây giờ. Khi đã mang tên là Hồ Cương Quyết thì tôi sẽ cương quyết tới cùng để bảo vệ chủ quyền độc lập của dân tộc Việt Nam trước bất cứ một kẻ xâm lược nào, cường quốc nào, dù mạnh tới đâu… dù tôi là một người bình thường, một người “Tà Ru” nghĩa là “Tù Ra”. Trong tù tôi học Tiếng Việt, đọc lại lịch sử Pháp và biết nhân dân Pháp đã từng ủng hộ Việt Nam. Tôi học sử Pháp từ trong tù đấy (cười)…

Bìa báo Xa Xứ số 252, ra ngày 27.3.2012


Buổi chiếu phim “Hoàng Sa Việt Nam-nỗi đau mất mát” tối 26.3 Tại Praha, CH.Séc. Ảnh: Xa Xứ

Xa Xứ: Chúng tôi thấy tình yêu Việt Nam của anh lũy tiến lên trong thời gian gần đây. Các vấn đề như khai thác bauxite tại Tây Nguyên, biển đảo, biên giới. Anh đã lên tiếng với trách nhiệm của một công dân, một người gắn bó với Việt Nam. Anh có nghĩ mình sẽ gặp trở ngại từ phía chính quyền khi anh bầy tỏ tình yêu nhất là khi anh làm bộ phim “Hoàng Sa Nỗi Đau Mất mát”?
AM HCQ: Lúc trước tôi và bạn bè tôi đã hi sinh vì độc lập tự do cho Việt Nam. Những giá trị ấy không bao giờ thay đổi, nó phải được bảo toàn và giữ vững. Thời gian qua cho thấy Việt Nam đang đứng trước nguy cơ bị mất chủ quyền độc lập trước âm mưu bành trướng bá quyền kiểu mới của nhà cầm quyền Trung Quốc. Các ngư dân Miền Trung bị bức hại, đánh đập, bắn chết khi đang hành nghề trên vùng biển truyền thống của mình. Khi dã tâm xâm lược, chiếm đóng quần đảo Hoàng Sa – Trường Sa – Biên giới. Khi Trung Quốc khai thác bauxiter trên một địa bàn địa chiến lược quan trọng – Tây Nguyên – “nóc nhà của Đông Dương”…ngày một gia tăng. Tôi không thể im lặng. Tôi xác định giai đoạn này là tiến hành “Một Cuộc Kháng Chiến Kiểu Mới” để giữ vững độc lập tự do cho Việt Nam trước bất cứ kẻ thù nào, cường quốc nào dù là Mỹ hay Trung Quốc…và giữ giá trị thiêng liêng là độc lập mà tôi đã tranh đấu. ..bộ phim của tôi được sự ủng hộ của BVH&TT – BNG – và nguyên Chủ Tịch Nguyễn Minh Triết…nhưng khi chiếu tại thành phố Hồ Chí Minh thì bị cấm mà không hề có văn bản, tên người ra lệnh cấm, mặc dù phim đã có giấy phép. Vì chẳng có chứng cớ, nên tôi khó biết, khó hiểu, nó cứ chung chung như là “tàu lạ” còn đây là “người lạ”… không có ai trả lời câu hỏi của tôi là lệnh từ đâu? Như thế là có vấn đề: trong lãnh đạo bây giờ không có thống nhất về vấn đề đó. Có người phản đối, có người ủng hộ tôi. Tôi không sợ bất cừ điều gì, có người kể chuyện một phóng viên UPI bị hành hung, Lãnh sự quán Pháp tại SG cũng khuyên tôi cẩn thận khi đi ngoài đường bị “tai nạn” xe…khi còn trẻ tôi đã chẳng sợ, giờ hơn sáu mươi rồi, có gì phải sợ đâu. Tôi không lật đổ chế độ, không manh động, không ai có thể nói tôi là “phản động”, tôi không yêu Việt Nam…tôi không tham gia bất cứ một đảng phái nào, tôi không có tài sản lớn, không ai mua chuộc chuộc nổi tôi, lương hưu của tôi là hai nghìn Ero. Tôi chỉ có một tình yêu Việt Nam và vì nền độc lập của Việt Nam mà tôi tranh đấu từ khi còn trẻ tới giờ. Tôi chỉ nói lên sự thật, mặc dù có một số người ở Việt Nam không muốn nói lên sự thật. Không dũng cảm nói lên sự thật, trong đó có một số người lãnh đạo, nhưng không phải là tất cả. Hiện nay, dân chủ đang gõ cửa, đang sửa đổi hiến pháp, đó là tín hiệu đáng mừng. Nhân dân không ai muốn lật đổ chính quyền, họ đi biểu tình là biểu thị lòng yêu nước. Sức mạnh là lòng dân chứ không hẳn là vũ khí hiện đại. Sợ nhất là khi người dân dửng dưng trước hiểm họa chủ quyền bị đe dọa. Khi làm phim tôi gặp những gia đình ngư dân ở Lý Sơn, người thân của họ bị Trung Quốc bắt giữ, đánh đập, đối xử như súc vật, đòi tiền chuộc…(xúc động và khóc). Tôi buồn và giận chính quyền vì không có biện pháp cứu trợ giúp đỡ gia đình họ. Họ vẫn bất chấp hiểm nguy ra khơi như để khẳng định chủ quyền biển đảo, chủ quyền Hoàng Sa – Trường Sa từ bao đời nay là của Việt Nam. Họ thự sự là những chiến sĩ của Việt Nam. Phải có chính sách hỗ trợ gia đình họ như miễn phí về việc học hành của con họ, trợ cấp lương thực, vốn cho họ để họ tiếp tục hành nghề. Họ đơn độc trên biển, không có hải quân, tầu bảo vệ biên phòng…nếu Việt Nam mất đảo là sẽ mất biển luôn, tương lai của Việt Nam sẽ thế nào? Tây Nguyên thì Trung Quốc hiện diện rồi, rừng đầu nguồn TQ thuê rồi, dù Đại Tướng Võ Nguyên Giáp cùng bao nhiêu bậc tướng lĩnh, cựu chiến binh, lão thành cách mạng, trí thức, văn nghệ sĩ phản đối. Bây giờ là biển, ngư trường, thềm lục địa…nền độc lập của Việt Nam chưa bao giờ bị đe dọa như bây giờ…

Xa Xứ : Được biết, anh đã tham gia cuộc biểu tình phản đối âm mưu xâm lược lấn chiếm, đòi TQ tôn trọng chủ quyền biên giới hải đảo của Việt Nam. Anh nghĩ thế nào về các cuộc biểu tình tự phát tại TP HCM và Hà Nội trong thời gian vừa qua?
AM HCQ: Đó là biểu thị lòng yêu nước, ý thức về chủ quyền, về độc lập tự do của Việt Nam từ xưa tới nay. Ôn hòa, không kích động, bài xích Trung Quốc. Chỉ yên cầu TQ tôn trọng chủ quyền của Việt Nam, tuân thủ luật pháp về biển, luật pháp quốc tế. Chính quyền muốn mạnh, muốn giữ vững phải dựa vào lòng dân. Hoàn toàn không có sự chống đối, bạo động, kích động lật đổ chính quyền. Các cuộc biểu tình mang ý nghĩa đó. Tôi đã đi biểu tình,để nói lên sự căm phẫn của tôi đối với nhà cầm quyền Trung Quốc, và biểu lộ sự ủng hộ toàn diện của tôi với nhân dân Việt Nam cũng như nhân dân các nước bạn ASEAN mà cái “ lưỡi bò“ của Trung Quốc muốn chiếm đoạt biển đảo thiết yếu cho cuộc sống hôm nay và sự phồn hoa ngày mai. Tôi đi biểu tình để vợi bớt sự cay đắng tích lũy từ nhiều tháng, nhiều năm qua. Cùng đi với tôi là những người bạn đã từng chia sẻ hoạn nạn và chung lưng đấu cật đấu tranh trong nhà tù của chế độ độc tài làm tay sai cho xâm lược Mỹ. Thế là thế hệ lục tuần chúng tôi đã gặp lại nhau, với đầu óc, trái tim và niềm tự hào của tuổi hai mươi, đoàn kết chống lại cuộc xâm lược mới. Khẩu hiệu chúng tôi hô vang là những lời trong sáng, không một chút vẩn đục hận thù. Đó là biểu hiện của một sức mạnh an nhiên, hầu như vui tươi, không một chút sợ hãi. Và chắc chắn là không sợ những cái dùi cui mà chúng tôi đã thấy ngay trước mặt. Chúng tôi đã nhận lời chính quyền TP.HCM, cụ thể là ông Nguyễn Thành Tài, Phó chủ tịch Ủy ban Nhân dân, và ông Nguyễn Văn Đua, Phó Bí thư thường trực Thành ủy, đã có nhã ý mời chúng tôi đối thoại. Với hai vị, chúng tôi đã khẳng định là chúng tôi kiên quyết lên án thái độ hiếu chiến, bành trướng chủ nghĩa của chính quyền Bắc Kinh ở Biển Đông. Chúng tôi cũng nói rõ với các vị không gì và chẳng ai có thể ngăn chận được sự phẫn nộ xuất phát từ lòng yêu nước của nhân dân, bởi đó là sự phẫn nộ lành mạnh, chính đáng và cần thiết để bảo vệ đất nước. Đó là sự phẫn nộ cứu quốc. Chúng tôi đã yêu cầu chính phủ và Nhà nước Việt Nam tạo điều kiện để thể hiện trong tinh thần trách nhiệm, hòa bình, kiên quyết, toàn diện trong sự tôn trọng trật tự. Có những tình huống mà im lặng không giúp ta tránh né được hiểm nguy, ngược lại chỉ làm tăng mối họa vì đối phương lầm tưởng im lặng là bạc nhược. Làm
sao có thể trông mong vào sự ủng hộ của công luận thế giới nếu ta cấm đoán chính nhân dân ta lên tiếng? Phản ứng ngoại giao tất nhiên là cần thiết, nhưng không đủ để tranh thủ được sự đoàn kết quốc tế mà Việt Nam rất cần trong lúc này. Làm sao mà những người đã từng dựa vào sức mạnh của nhân dân để giải phóng và thống nhất đất nước ngày nay lại có thể cản ngăn quyền thông tin và hành động của nhân dân? Hoàng Sa và Trường Sa là của Việt Nam? Ta không nên tự bằng lòng với những cuộc họp của mấy chuyên gia Việt Nam để khẳng định điều ấy một cách âm thầm với vài chuyên gia quốc tế. Các hội nghị ấy đều quan trọng, nhưng chúng ta cần khẳng định chủ quyền ấy trong các trường học, trong các chương trình sử địa ở cả nước. Tôi rất sửng sốt và đau buồn khi thấy trên đảo Lý Sơn, nơi xuất phát của những ngư dân vẫn kiên trì đánh cá ở vùng biển Hoàng Sa, hòn đảo đứng đầu sóng ngọn gió trong cuộc tranh đấu để khẳng định chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa, con em của họ không được biết gì về địa lý của những hải đảo, nơi mà cha anh của các em bị hải quân Trung Quốc bắt bớ, giam cầm, nhận chìm tàu thuyền. Biết bao tấm bản đồ hành chính Việt Nam còn thiếu vắng đảo Hữu Nhật và Quang Ánh, những địa danh mang nặng nghĩa tình vì tại đây, tổ tiên của họ trong hải đội Hoàng Sa đã hy sinh! Tôi rất hiểu vị thế cực kỳ khó khăn và tế nhị của các nhà lãnh đạo Việt Nam mong muốn tránh cho nhân dân mình đã trải qua bao đau thương trong suốt lịch sử dân tộc phải gánh chịu những hy sinh mới. Ai cũng biết Trung Quốc là một cường quốc kinh tế và quân sự có khả năng làm hại và tàn phá to lớn, nhất là đối với những nước lân cận như Việt Nam. Nhà cầm quyền Trung Quốc đã chứng tỏ họ không ngần ngại làm đổ máu Việt Nam: năm 1974, năm 1979, năm 1988. Ngày nay họ vẫn tiếp tục, họ vin vào bất cứ biểu hiện kháng cự chính đáng nào để hành động khiêu khích, giết chóc, phá hủy và chiếm đóng. Những con người đã làm đổ máu chính nhân dân họ, thanh niên của nước họ năm 1989, những con người ấy không biết băn khoăn, coi trọng mạng sống con người là gì. Nhưng sợ hãi không đẩy lùi được hiểm họa. Ngược lại, khi bị chó sủa mà anh bỏ chạy, thì nó sẽ đuổi theo anh và cắn anh. Cụ Bùi Thượng 73 tuổi, vô địch lặn nước sâu ở Lý Sơn, rất biết điều ấy: “ Gặp một con cá mập lớn, thì phải đối mặt với nó, nhìn trừng mắt vào nó. Có như thế thì nó mới không tấn công“. Có những thời điểm phải biết đối mặt. Đó là vấn đề sống còn. Đối mặt trước hết là nói thật, nói sự thật. Ở Bình Châu và Lý Sơn, tôi đã phỏng vấn những ngư dân ngày ngày phải liều mạng ra khơi. Họ kể rằng họ đã đụng phải những đoàn tàu đánh cá Trung Quốc tới sát đảo 20 hải lý. Những đội đánh cá Trung Quốc tổ chức chặt chẽ, hung hãn, chắc là được sự yểm trợ của hải quân Trung Quốc đóng căn cứ ở Hoàng Sa. Còn ngư dân Việt Nam, tôi không thấy ai nói là cảm thấy được bảo vệ hay yểm trợ! Và khi gặp họa, thì bị bắt, bị giam cầm, bị tịch thu cá mú và thiết bị, và những món nợ to lớn phải trả. Thân cô thế cô, như ông Tiêu Viết Là, người xã Bình Châu, bốn lần bị Trung Quốc bắt giam. Trợ cấp của nhà nước hoặc không có, hoặc không thấm vào đâu. Phải anh hùng đến mức nào mới tiếp tục đi khơi ra lộng trong tình hình như vậy! Món tiền tượng trưng hai triệu đồng mà chính quyền thi thoảng ban phát nơi này nơi kia không thay đổi được số phận của họ. Món tiền hàng tỉ đồng mà các đại gia bỏ ra để xây tượng đài ở Trường Sa không giúp gì cho họ sống qua ngày. Phải lên tiếng, phải nói về họ. Họ phải được hưởng một chương trình hỗ trợ chính thức của Nhà nước, một chương trình ưu tiên và tối thiểu cũng phải cung cấp lương thực, nhu yếu phẩm và thuốc men. Con cái của họ phải được học và chăm sóc sức khỏe hoàn toàn miễn phí. Các cháu các em phải được coi là nghĩa tử quốc gia. Bảo vệ các em, mẹ của các em là bảo vệ biển đảo, là bảo vệ đất nước một cách cụ thể và hữu hiệu. Trong bối cảnh ấy, tôi lại càng sửng sốt khi thấy chính quyền tìm cách giảm nhẹ trách nhiệm của Trung Quốc. Hãy nói chuyện tàu lạ với ngư dân Trung Bộ, họ sẽ sửa ngay “tàu Trung Quốc“. Họ chẳng “lạ“ gì, sự thật rành rành đối với họ. Tại sao phải giấu cả tên bọn hung thủ mà không ai không biết? Nhiều bạn nói với tôi: Trung Quốc không như Mỹ đâu: họ khôn lắm, nên nguy hiểm hơn nhiều. Không chắc! Đúng là gần kề thì hiểm họa càng lớn và lâu dài, đúng là họ có kế hoạch bành trướng bạo liệt về mọi mặt – kinh tế, quân sự, ngoại giao và tuyên truyền đối nội – nhưng chưa chắc là họ đã cân nhắc đầy đủ những hậu quả của chính sách xâm lược ấy. Các nhà lãnh đạo Trung Quốc có thực là “khôn“ không? Leo thang quân sự như vậy, họ đang tạo điều kiện xích lại gần nhau giữa những nước ASEAN mà lợi ích ở Biển Đông bị đe dọa. Sau các sự kiện Tây Tạng, Tân Cương, họ đang đánh mất chút uy tín còn lại đối với công luận quốc tế. Họ mở ra một trận tuyến mới, nghĩa là phải ghìm ở đây những lực lượng, nghĩa là chuyển hướng một phần đầu tư cần thiết cho công cuộc phát triển kinh tế vào một cuộc phiêu lưu tốn kém chắc chắn sẽ làm họ sa lầy. Đã qua rồi cái thời mà họ có thể ngang nhiên chiếm đoạt Hoàng Sa, ngang nhiên đánh chìm tàu tiếp vận của Việt Nam tại Bãi Gạc Ma. Trung Quốc đang phát triển mạnh, song chính sự phát triển ấy đang khoét sâu những mâu thuẫn nội tại, khuếch đại những bất bình đẳng xã hội. Nguy cơ xảy ra rối loạn xã hội không thể dùng đàn áp mà đẩy lùi mãi mãi, và những rối loạn ấy sẽ đe dọa sự phát triển kinh tế mà thực chất là tư bản chủ nghĩa. Không cần phải là nhà tiên tri cũng thấy được rằng: khó khăn của Bắc Kinh đang ở trước mặt, chứ không phải ở sau lưng. Đó là điều chắc chắn. Và lúc đó, họ sẽ phải trả lời trước nhân dân Trung Quốc, trước những người mà họ sách nhiễu, đàn áp, trấn lột. Còn một bài học Lịch sử nữa mà nhà cầm quyền Trung Quốc muốn quên – như thế không “ khôn “ tí nào – đó là: về lâu dài, không thể làm nên điều gì khi họ đi ngược lại ý chí của các dân tộc, bởi vì sức mạnh thực sự nằm trong nhân dân, chứ không nằm trong họng súng, trong số lượng vũ khí. Ở Lý Sơn, tôi có dịp tham dự một nghi thức rất có ý nghĩa, nói lên ý chí của người dân hải đảo. Khi một ngư dân mất tích vì bão biển hay vì lí do bí ẩn nào đó, gia đình nào có khả năng xây mộ và mời thầy cúng, thì tổ chức một cái lễ rất độc đáo, có lẽ có một không hai, để gọi hồn người đã khuất về nhập vào một hình nhân nặn bằng đất sét được phù phép. Hình nhân được an táng trong một cái mộ gọi là « mộ gió », để thân nhân có thể tới cúng viếng. Mê tín chăng? Có thế. Nhưng không chỉ có thế. Tôi nghĩ việc này có một ý nghĩa sâu sắc: phong tục mấy trăm năm này nói lên ý chí của những người sống, kiên quyết giành lại từ biển cả, từ kẻ địch cái gì quý nhất, mang về cho gia đình, cho đất nước. Đó là thông điệp rất rõ ràng gửi tới kẻ xâm lược: “Dù các người làm gì đi nữa, chúng tôi vẫn gắn bó với những người đi biển, gắn bó với biển, với văn hiến này, với đất nước này. Những điều ấy, không gì, không ai có thể chiếm đoạt được .”
Tôi rất buồn và đau đớn khi xem lại các tấm ảnh chụp về cuộc biểu tình tại Hà Nội. Không cắt dán lắp ghép – của những công an quần áo màu lục hay màu lam, đội mũ, đi ủng, hay những công an mặc thường phục; họ xô đẩy, lôi kéo, đấm đá; họ đá cả vào mặt một thanh niên đã ngã xuống. Những bức ảnh này chụp điều mọi người đều chứng kiến trên đường phố. Khi xem các ảnh đó, hơi hám của chế độ cũ trở lại trong ký ức tôi, và một vị máu mặn đắng trở lại trong miệng. Vị máu mà tôi đã hơi quên, gay gắt trên môi trên lưỡi. Đó là cái vị mà tôi đã nếm qua dưới chân bức tượng Thuỷ quân Lục chiến ở Sài Gòn khi tôi treo lá cờ Giải phóng, và mật vụ của Thiệu tay cầm đá đã động quyền cước mạnh mẽ đánh tôi rách da sọ! Tôi lại còn được nếm chính cái vị máu ấy lúc hứng dùi cui mưa trên đầu, khi chúng tôi kháng cự việc chúng đày những người anh em tù đi Côn Đảo trong sân khu BC của Chí Hoà; lúc đầu tôi không ngừng va đập vào mỗi nấc thang, vì bị lũ “đầu trâu mặt ngựa”, đi ủng và mang dùi cui, nắm chân kéo lên xà lim biệt giam. Đừng mong rằng tôi sẽ làm giống như một số người bạn tôi, cựu tù nhân chính trị của chế độ Sài Gòn. Nhân danh một quá khứ quang vinh, họ im lặng cam chịu chấp nhận những khốn khổ thê thảm hiện tại. Họ sợ phải lên tiếng cùng với thế hệ thanh niên của họ đang xuống đường. Họ bám víu vào hình ảnh đầy hào quang của họ trong quá khứ và nhắm mắt trước những hình ảnh hiện tại vì sợ bị chóng mặt hay buồn nôn. Tôi rất mến những người bạn này, nhưng cũng rất thương cho họ. Chắc họ khổ tâm lắm! Khổ tâm hơn tôi nhiều. Tôi đơn giản hy vọng rằng những hành xử man rợ và phản quốc, mà những hình ảnh biểu tình ngày 17 tháng 7 năm 2011 tại Hà Nội đã cho tôi thấy, sẽ đánh thức dậy lòng can đảm trong tuổi hai mươi của họ… và làm cho họ khoẻ mạnh hơn. Tuổi trẻ ngày hôm nay cần đến một hình ảnh sống động và đàng hoàng của họ! Trước làn sóng đang dâng lên, hợp pháp, lành mạnh và cứu rỗi, sự đàn áp sẽ lên đến những mức nào trong cái bẩn thỉu, sự hãi sợ, và sự ngu xuẩn? Có phải người ta sẽ mở lại các trại tập trung? Có phải người ta sẽ xử dụng xe tăng theo kiểu Thiên An Môn? Có phải người ta sẽ bắn vào quần chúng? Tra tấn? Thủ tiêu? Liệu có ai ngây thơ đến độ tin rằng nhân dân Việt Nam cũng giống như nhân dân Trung Quốc, và sẽ cúi đầu trước roi vọt? Bởi vì phong trào đã âm ỉ từ lâu như thế, và đã tiến lên như thế, sẽ không dừng lại. Đó không phải là một phong trào bột phát lửa rơm của sinh viên: nó đã tụ hợp được trên những điểm mấu chốt những trí thức có tiếng tăm, có quá khứ ái quốc đầy uy tín, được kính trọng và được lắng nghe, những quân nhân mà sự vinh quang phục vụ tổ quốc cũng như sự liêm khiết không ai có thể nghi ngờ. Nó bắt rễ rất sâu trong quá khứ yêu nước và trong văn hoá đại chúng.
Quả là đến lúc dừng lại dùi cui, để mở mắt nhìn và để dỏng tai nghe: con đường đàn áp là bế tắc. Hỡi quý ông mang dùi cui, cái vị máu trong miệng đó, và cái nỗi thịnh nộ đó, mà mỗi ngày các phản ứng hèn hạ của quý ông mỗi làm cho thêm người cùng nếm trải, đang đưa quý ông, và gia đình, và cả đất nước này đến thảm hoạ. Mà kẻ hưởng lợi độc nhất là xâm lược Bắc Kinh. Chỉ có một lối thoát, chỉ có một lối ra duy nhất cho tất cả những vấn đề liên quan đến công cuộc bảo vệ quốc gia, nền độc lập dân tộc, việc hiện đại hoá nền kinh tế. Đó là nhanh chóng và can đảm mở cánh cửa dân chủ, mở ra cuộc đối thoại tự do với các công dân, khuyến khích họ thực sự tham gia một cách tích cực vào những quyết định trọng đại. Không có gì, không có ai, không một đảng nào có thể tước đoạt lâu dài những quyền tối thượng đó của nhân dân, không có thế lực nào có thể bóp nghẹt hơi thở lành mạnh và cần thiết của lòng yêu nước. Điều này đúng cho việc bảo vệ các hải đảo và vùng biển cũng như đúng cho tất cả những vấn đề khác của đất nước. Hôm 5.6.2011, trong lần biểu tình đầu tiên trước cửa Lãnh sự quán Trung Quốc tại thành phố HCM, một lãnh đạo cấp cao của thành phố, mà tôi đã có lần gặp gỡ thân mật, mời tôi đối thoại, cùng với một số người bạn tôi. Vị này gọi tôi là đồng chí. Tôi đã có phản ứng lễ độ nhưng quả quyết khi trả lời rằng danh từ này chưa bao giờ có một ý nghĩa chung nhất và bền vững. Tôi cho rằng có đồng chí khi này và có đồng chí khi khác: hãy cho biết anh làm gì ở đây hôm nay, và tôi sẽ nói tôi có là đồng chí của anh hay không. Bà bán cháo, khi nhập vào dòng biểu tình để biểu lộ một cách ôn hoà sự phẫn nộ của bà, là đồng chí của tôi. Vị lãnh đạo đã mượn kiểu giảng đạo chính trị để nhân danh sự “ổn định chính trị” mà thuyết phục tôi từ bỏ quyền lợi hợp pháp và nhiệm vụ của người công dân yêu nước, mà chính là phải biểu lộ công khai sự phẫn nộ khi đất nước bị xâm lược và nhân dân bị sỉ nhục, phải chăng vị đó là đồng chí của tôi? “Đồng chí” ấy nói về kiểu “ổn định chính trị” nào vậy? Kiểu buông xuôi? Ông ta đang nói gì với tôi vậy? Rằng vấn đề tối cao về độc lập dân tộc là tôi không cần phải lo? Rằng tôi phải ngoan ngoãn về nhà, câm nín trong tủi hổ, đọc biết qua Internet là những “đồng chí” cấp cao đó thương lượng sau lưng tôi với bọn cướp vẫn đang tiếp tục cướp bóc, về kinh tế, quân sự, chính trị, ngoại giao, văn hoá, đồng thời khích động lòng thù hận trên chính nhân dân họ chống lại tôi? Đó là tình đồng chí mà tôi được trao cho ư? Không, cám ơn, nghìn lần không, tôi không muốn nhận và tôi buồn nôn. Vì nó sẽ bôi quá nhiều ô uế lên ký ức về những người mà tôi biết bao yêu mến và cảm phục, những người với máu trong miệng và trên môi, vâng, chính họ, trong ngục tù của đế quốc, đã cho tôi bài học về ý nghĩa đích thực của danh từ Việt Nam tuyệt đẹp “Đồng chí”, tôi – kẻ chưa bao giờ thốt lên chữ đó bằng tiếng Pháp. Vâng, với những người đó, tôi vẫn là, và sẽ luôn luôn là đồng chí, với vinh dự, với tình yêu. Và điều này tăng thêm cho tôi ý chí đem lại cho những chữ này ý nghĩa thực thụ của chúng, để tôi có thể có phần hãnh diện. May mắn thay cho Việt Nam và tương lai của nó, tôi không phải là người cộng sản duy nhất và cũng không là công dân duy nhất suy nghĩ như thế…

Nguồn: Xa xứ (Cộng hoà Séc) số 252, ra ngày 27.3.2012
http://anonymouse.org/cgi-bin/anon-www.cgi/http://www.boxitvn.net/bai/35076
***

Phạm Hồng Sơn-Giải thưởng Phan Chu Trinh dành cho ông Nguyễn Sự: vui, buồn và lo
Huỳnh Ngọc Chênh NGUYỄN SỰ THÌ TỐT RỒI NHƯNG…


– Ông Nguyễn Sự – Bí thư Thành ủy Hội An, vừa được trao giải thưởng “Vì sự nghiệp văn hóa và giáo dục” của Quĩ Văn hóa Phan Châu Trinh do những nỗ lực làm cho thành phố du lịch Hội An trở thành một mô hình thành công trong việc vừa phát triển, vừa bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống. Nếu ai đó đã đến Hội An một lần và một số điểm du lịch khác của Việt Nam thì, có lẽ không cần phải đọc những bài viết tôn vinh gần đây về ông Nguyễn Sự, cũng có thể phải khâm phục tầm nhìn và tấm lòng của người lãnh đạo cao nhất của đô thị cổ đó – ông Nguyễn Sự. Có thể nói ông Bí thư Nguyễn Sự của thành phố Hội An là một nhà chính trị tốt bụng, một ông quan tử tế, một ông “vua” hiền hết sức hiếm trong cái “thời đểu cáng đã lên ngôi”, cái tên do chính một người đi trước, một cựu đồng chí của ông đã đặt. Vì thế việc ông quan, nhà chính trị Nguyễn Sự được trao giải thưởng “Vì sự nghiệp văn hóa và giáo dục” không thể không là một tin mừng, một niềm vui không nhỏ đối với những người còn trăn trở với đất nước. Nhưng nếu xem lại quan điểm của Phan Chu Trinh, chúng ta sẽ thấy mẫu hình ông quan tử tế hay ông vua hiền lại không phải là điều mà Phan Chu Trinh tâm đắc, muốn đề cao hay tôn vinh.

Trong một bài diễn thuyết ở nhà Hội Việt Nam tại Sài Gòn vào cuối tháng 11 năm 1925, với chủ đề “Quân trị chủ nghĩa và Dân trị chủ nghĩa”[i], Phan Chu Trinh đã nói về lịch sử và nguyên nhân tại sao mà nhiều nước Á Đông (trừ Nhật Bản) vẫn chìm trong lầm than của đau khổ, chậm tiến và xiềng xích bạo quyền trong khi nhiều nước ở châu Âu, châu Mỹ và Nhật Bản đã có những bước tiến lớn không chỉ về kinh tế, khoa học, kỹ thuật, mà cả về những giá trị tinh thần mà ngày nay chúng ta gọi là nhân quyền (quyền con người).

Theo Phan Chu Trinh, nguyên nhân phía sau thực trạng tăm tối của các nước ở nhóm đầu là do xã hội vẫn mê mẩn đường lối “Quân trị chủ nghĩa, tức là nhân trị (người trị người)” hay còn gọi là tư tưởng đức trị trong việc quản lý, điều hành xã hội, đất nước. Phan Chu Trinh day dứt: “Đây hãy nói tóm lại quân-trị tức là nhân-trị. Quân-trị chủ-nghĩa, tuy có pháp-luật mặc lòng, nhưng mà pháp-luật cứ tự tay ông vua lập ra, chứ còn dân thì không biết gì hết. Vậy cho nên khi nào gặp một ông vua thông-minh anh-hùng, hiểu được cái sự quan-hệ giữa dân với nước thế nào, mà trừng-trị lũ quan tham, lại nhũng, để cho dân được yên-lặng làm ăn, thì dân giàu nước mạnh, mà cái thì giờ của vua sống được bao nhiêu thì nước còn được thái-bình bấy nhiêu.

Còn đến mấy ông vua hôn-ám thì ông sống với đàn bà con gái, với bọn hoạn quan, còn biết gì đến nước, trao chính-quyền vào trong tay mấy đứa nịnh-thần, người đã hư thì nước cũng đổ thôi…”

Sau nhiều trích dẫn lịch sử để minh họa cho những thảm họa do tệ sùng bái đức trị ở cả Tây và nhất là Đông gây ra, Phan Chu Trinh lại xót xa: “Nhân-trị nghĩa là cai trị một cách rộng-rãi hay là nghiêm-khắc chỉ tùy theo lòng vui, buồn, thương, ghét của một ông vua mà thôi, pháp luật tuy có cũng như không.”

Theo Phan Chu Trinh muốn giải quyết triệt để vấn nạn trên đây thì trước hết giới trí thức của một nước phải chuyển đổi được tư tưởng từ đức trị, nhân trị sang tư tưởng “dân-trị chủ-nghĩa tức là pháp-trị chủ-nghĩa”. Phan Chu Trinh đã không ngại mượn ngay mô hình chính trị, theo tinh thần pháp trị, của nước Pháp lúc đó để giúp cử tọa hiểu được một cách cơ bản về cấu trúc của một chính thể dân chủ, như cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp. Mặc dù chỉ ngụ ý nói các nét đại cương, nhưng, ngoài việc nói về sự cần thiết phải có tự do ngôn luận, tự do tư tưởng và các chính đảng, Phan Chu Trinh đã nhấn mạnh tầm quan trọng của tính độc lập giữa các nhánh quyền lực trong một chính quyền dân chủ: “Quyền tư-pháp cũng như quyền hành-chính của Chính-phủ, và quyền lập-pháp của nghị-viện, đều đứng riêng ra, không hiệp lại trong tay một người nào.” Để làm bật ra ích lợi tổng quát của “dân-trị chủ-nghĩa tức là pháp-trị chủ-nghĩa” đối với toàn xã hội, Phan Chu Trinh đã thẳng thắn khái quát: “Vì rằng quyền lợi và bổn-phận của mọi người trong nước đều có pháp-luật chỉ-định rõ-ràng, không khác gì là đã có đường gạch sẵn, cứ trong đường ấy mà đi tự-do, muốn bước tới bao nhiêu cũng không ai ngăn-trở, chỉ trừ khi nào xâm lấn đến quyền-lợi của người khác thì không được. Vì đối với pháp-luật thì mọi người đều bình-đẳng, không có ai là quan, ai là dân cả.”

Cuối cùng, Phan Chu Trinh kết luận: “So-sánh hai cái chủ-nghĩa quân trị và dân-trị, thì ta thấy chủ-nghĩa dân-trị hay hơn cái chủ-nghĩa quân trị nhiều lắm. Lấy theo ý riêng của một người hay là của một triều-đình mà trị một nước, thì cái nước ấy không khác nào một đàn dê, được no ấm vui-vẻ hay là phải đói rét khổ-sở chỉ tùy theo lòng của người chăn. Còn như theo cái chủ-nghĩa dân-trị, thì tự quốc-dân lập ra hiến-pháp, luật-lệ, đặt ra các cơ quan để lo việc chung cả nước, lòng quốc-dân muốn thế nào thì làm thế ấy. Dù không có người ta giỏi làm cho hay lắm, cũng không đến nỗi phải đè đầu khốn-nạn làm tôi-mọi một nhà, một họ nào.

Xét lịch-sử xưa, dân nào khôn-ngoan biết lo tự-cường tự-lập, mua lấy sự ích-lợi chung của mình, thì càng ngày càng bước tới con đường vui-vẻ. Còn dân nào ngu-dại, cứ ngồi yên mà nhờ trời, mà mong đợi trông cậy ở vua ở quan, giao-phó tất cả những quyền-lợi của mình vào trong tay một người, hay là một chính-phủ muốn làm sao thì làm, mà mình không hành-động, không bàn-luận, không kiểm xét, thì dân ấy phải khốn-khổ mọi đường.”

Rõ ràng, quan điểm của Phan Chu Trinh đã dứt khoát rằng muốn đất nước được bảo toàn, phát triển, nhân dân được hạnh phúc một cách bền vững thì phải tập trung khai mở bằng được ý thức tự lập cho người dân và hình thành được các thiết chế dân chủ cơ bản. Còn nếu vẫn trông ngóng, say mê, cổ xúy cho đức trị, đạo đức của quan, của vua thì dân sẽ còn “khốn-khổ mọi đường” “nước cũng đổ thôi”.

Như vậy, xét về mặt đạo đức, và có thể cả về một ý nghĩa chính trị (nhỏ) nào đó trong thời điểm hiện nay, ông quan Nguyễn Sự hoàn toàn xứng đáng và cần được vinh danh. Nhưng việc vinh danh hay việc trao giải thưởng cho ông Nguyễn Sự lại có thể đang (vô tình) trở thành, hoặc bị trở thành, hoặc hiểu nhầm thành một sự tôn vinh, gia cố thêm cho tư tưởng đức trị. Đó là một nỗi buồn lớn. Buồn lớn là vì giải thưởng trao cho ông Nguyễn Sự lại mang tên Phan Chu Trinh – nhà tư tưởng, cách đây cả trăm năm, đã dùng gần trọn cả cuộc đời để vận động dân chủ, hết sức thiết tha làm sao để giới trí thức dứt đi được tư tưởng đức trị và thay vào đó bằng tư tưởng pháp trị (dân chủ). Do đó việc trao giải thưởng Phan Chu Trinh cho ông Nguyễn Sự vừa là chuyện vui, vừa là chuyện buồn. Và còn có cả nỗi lo nữa. Lo là vì những tiếng nấc trong vụ án bà Ba Sương, hình như, vẫn chưa lặng hẳn.

Bài đăng ngày 26.03.2012

Phạm Hồng Sơn
© 2012 pro&contra

http://www.procontra.asia/?p=439

[i] Thế Nguyên, Phan Chu Trinh, Nxb Tân Việt, 1956. Độc giả có thể tham khảo bài diễn thuyết này tại đây (lưu ý: có một số từ và câu không hoàn toàn giống với sách đã dẫn)

| 27.3.12
http://danlambaovn.blogspot.com/2012/03/giai-thuong-phan-chu-trinh-danh-cho-ong.html?utm_source=BP_recent

Để lại phản hồi »

Chưa có phản hồi.

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Blog at WordPress.com.

%d bloggers like this: