Hoàngquang’s Blog

20/03/2012

khi dân cày có thêm… casino! &Thân phận bọt bèo của người nông dân Việt Nam

“‘Anh’ dùng quyền lực, lợi dụng quyền lực của Nhà nước, mượn tay Nhà nước để ‘anh’ cướp bóc của người dân … là điềm báo cho những trận giông bão từ nông thôn.”
Viết Lê Quân-Thụy My

Thụy My /RFI Tiếng Việt- Thân phận bọt bèo của người nông dân Việt Nam
Phú Hòa Một suy nghĩ nhỏ của tôi về triển vọng của đất nước “rừng vàng biển bạc”

suoinguon Nhìn từ Singapore, tại sao dân chủ kiểu Mỹ không hiệu quả, và điều gì khiến Việt Nam bứt phá Nguyễn Quang Lập Mặc cảm Võ Đắc Danh Đào Tuấn 1 chiếc siêu xe, 777 năm thu nhập

***
Viết Lê Quân-khi dân cày có thêm… casino!

(VEF.VN) – Các đề xuất đầu tư Casino luôn là một tổ hợp dịch vụ, giải trí hàng tỷ USD, tốn hàng trăn ha đất. Trong khi đó, hiệu quả từ các casino thử nghiệm và những dự án đầu tư mới đều chưa chứng minh được sự cần thiết của nó.
Các casino muốn đầu tư vào Việt Nam phải nằm trong một dự án tổng hợp lớn về du lịch, giải trí có trị giá ít nhất trên 1 tỷ USD. Thực tế, các đề xuất đầu tư Casino luôn là một tổ hợp dịch vụ, giải trí hàng tỷ USD, tốn hàng trăm ha đất. Trong khi đó, hiệu quả từ các casino thử nghiệm và những dự án đầu tư mới đều chưa chứng minh được sự cần thiết của nó.

Câu hỏi đặt ra là những dự án hàng tỷ USD của những ông chủ vốn đã quen kiếm lợi siêu lợi nhuận từ ngành kinh doanh ăn chơi, cờ bạc…liệu có chịu ngồi yên và chờ đợi trước thực tế vắng khách như hiện tại. Hay đằng sau “tấm bình phòng” tổ hợp dịch vụ đắng cấp quốc tế với tiêu điểm hấp dẫn là casino lại là những sân golf, bất động sản và có thể là cả những điều chúng ta chưa lường hết.
Kỳ quan thứ tám: những nỗi lo
Casino đã bằng nhiều cách lên mọc lên ở nhiều địa phương, từ Lào Cai, Lạng Sơn, Quảng Ninh đến Đà Nẵng Và nhiều dự án đã được chấp thuận đầu tư ở Lạng Sơn, Bà Rịa – Vũng Tàu, Phú Thọ…Đó đều là những dự án cực lớn và được kỳ vọng tạo ra những đổi thay cho kinh tế ở nhiều địa phương.
Tháng 12/2011, một tập đoàn “ăn chơi” lớn của Mỹ – Las Vegas Sands, đã lần đầu tiên xúc tiến kế hoạch đầu tư khu nghỉ dưỡng phức hợp tại đất nước này, với số vốn đầu tư có thể lên tới 6 tỷ USD. Địa điểm ban đầu dự kiến của tập đoàn này là tại Hà Nội và TP.HCM – hai thành phố có sức cầu lớn nhất và cũng là những khu vực có “hệ số tiêu hoang” cao nhất ở Việt Nam.

Như một “đồng thanh”, vào đầu năm 2012, chính quyền tỉnh Quảng Ninh lại đưa ra một dự án đầy tham vọng: xây dựng khu liên hợp du lịch – casino với giá trị đầu tư lên đến 4 tỷ USD. Nếu được thành hình, đây sẽ là một dự án “vĩ đại” nữa, sau Casino Đồ Sơn.
Trong khi việc xúc tiến đầu tư dự án này đang rầm rộ thì dưới góc độ khác lại đang dấy lên những lo ngại cho sự “trong lành” của Hạ Long.
Dù sở hữu “kỳ quan thứ tám” của thế giới, nhưng bất chấp sự bức xúc cùng vô số phản ánh của dư luận khách du lịch, từ nhiều năm qua rác sinh hoạt, rác tiêu dùng vẫn tràn ngập ở Bãi Cháy và Hạ Long, những nơi mà nhiều du khách trong nước và ngoài nước không muốn quay lại một khi đã đặt chân đến.
Hai vợ chồng du khách Astralia, những người đã bỏ công sức để vớt rác trong vịnh Hạ Long, đã thổ lộ: “Tôi và vợ tôi, Christel, đã làm trong ngành y tế ở nhiều nơi như Anh, Úc, Tây Phi, Bắc cực và đảo Solomon. Chúng tôi đã đi du lịch nhiều nơi và có thể nói là vịnh Hạ Long của Việt Nam các bạn là một trong những nơi đẹp nhất. Tuy nhiên, điều làm chúng tôi thấy buồn là khi thăm vịnh Hạ Long, chúng tôi thấy có quá nhiều chai lọ và những loại rác rưởi khác trôi nổi trên vịnh. Đồng thời với rác rưởi là những vệt nước ô nhiễm theo dòng thủy triều gần cảng vịnh. Sự ô nhiễm đó sẽ tàn phá những rạn san hô của Hạ Long một cách dễ dàng. Và nước đục cũng khiến du khách thật sự không muốn bơi”.
Cái nhìn trần trụi của những du khách trên cũng được xác nghiệm bởi một bản báo cáo về hiện trạng ô nhiễm vùng ven biển Việt Nam vào năm 2010, cho thấy vùng nước vịnh Hạ Long được đánh giá là có mức độ ô nhiễm dầu nặng nhất.
Với một cách nhìn khác hơn, bầu không khí thiếu an toàn của môi trường du lịch tại Quảng Ninh không chỉ được bao bọc bởi rác, mà cái chết từ những tai nạn chìm tàu trên biển vẫn là nỗi lo sợ đe dọa thường trực đối với những bản lĩnh yếu bóng vía của khách du lịch. Bên cạnh đó, người ta vẫn chưa thể quên những mất an ninh trật tư, những vụ án nổi tiếng nơi đất này.
“Kỳ quan thứ 8” – Hạ Long đang thực sự đối mặt với nhiều nguy cơ mất điểm khi vẻ đẹp tươi tắn, tự nhiên và trong sáng của nó bị mất đi. Có lẽ sẽ có nhiều điều cần phải làm, có nhiều thứ “rác” cần phải dọn để cho Hạ Long xứng đáng với tên gọi và vẻ đẹp thực có nó. Đó chắn hẳn là điều quyết định để hấp dẫn và thu hút du khách một cách bền vững hay.
Còn casino có phải là một tiêu điểm để hấp dẫn du khách, có phải là một điều cần thiết bên cạnh những giá trị đã được khẳng định và cần được bảo vệ của Hạ Long. Đặc biệt là khi những hiệu quả của nó chưa được chứng minh. Hơn thế, trên thế giới lại có rất nhiều câu trả lời bằng thực tế phồn thịch nhờ du lịch văn hóa, di sản mà không có bóng dáng casino.
Đất nào cho golf, casino
Vào năm 2009, khi số lượng sân golf do các địa phương trình lên Chính phủ tăng vọt lên đến 156 dự án, thì một nửa trong số đó đã chiếm hết khoảng 8.000 ha đất nông nghiệp.
Biểu đồ đi lên của sân golf và biểu đồ đi xuống của diện tích đất nông nghiệp là một nghịch lý không thể lý giải ở Việt Nam, dù tất cả những người nông dân phải chịu cảnh mất đất để phục vụ cho thói quen ăn chơi của giới thượng lưu, và hơn ai hết là giới chủ đầu tư kinh doanh sân golf và casino, đều hiểu ra cái nghịch lý phũ phàng ấy. Song thời gian cứ trôi qua, cùng sự xuất hiện của hết dự án sân golf này đến dự án sân golf khác.

Vào cuối năm 2009, trước làn sóng phản đối mạnh mẽ của dư luận, bao gồm các nhà khoa học và báo chí về những “thói hư tật xấu” của sân golf như gây ảnh hưởng đến môi sinh, môi trường và “ăn” cả đất nông nghiệp, cộng với thực tế chỉ có một tỷ lệ nhỏ nhoi dự án kinh doanh sân golf có lãi, thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã phải cắt giảm đến 76 dự án do chính quyền các địa phương trình đề nghị bổ sung cho quy hoạch sân golf đến năm 2020. Đến lúc đó, số lượng dự án sân golf là 90.
Cho tới năm 2011, một hệ quả đã được các nhà khoa học và giới phân tích dự đoán đã xảy đến với 90 dự án sân golf trên. Một cuộc kiểm tra của Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã kết luận có đến 69 dự án (chiếm tỷ lệ khoảng 70% số dự án) nghiêng về kinh doanh bất động sản thay vì mục tiêu ban đầu là kinh doanh sân golf.
Nguồn cơn của trào lưu sân golf đã hiện ra: chủ đầu tư lấy đất nông nghiệp của nông dân, phù phép chuyển quyền sử dụng đất thành đất phục vụ sân golf rồi từ đó biến thành đất xây biệt thự và các hạng mục dịch vụ du lịch. Trong thực tế, có dự án chỉ dành 30% diện tích để làm sân golf, còn 70% là bất động sản và những thứ liên quan đến bất động sản.
Trong khi hiện trạng hoạt động của 90 dự án sân golf vẫn không mấy thay đổi, và hầu hết không khả quan với kinh doanh golf một số địa phương vẫn tiếp tục đệ trình dự án sân golf lên Thủ tướng. Và trong đó, vẫn có đất nông nghiệp, đất lúa.
Đã không thiếu những minh họa sống động về nạn lạm phát sân golf, đưa ra những minh họa sống động về một xã ở Lâm Đồng phải “cõng” đến 3 sân golf, trong khi bà con nông dân người dân tộc thiểu số vẫn còn trong diện đói nghèo. Với những người nông dân này, kế sách mưu sinh của họ thật giống như mành chỉ treo chuông một khi phần đất đai ít ỏi của họ bị sân golf “nuốt” mất. Không đất đai, không có nghề nghiệp gì khác, họ sẽ sinh sống thế nào đây trong những năm tháng tới?
Cũng như thời xúc tiến đầu tư xây dựng sân golf, hiện cũng đã xuất hiện những ý kiến tô điểm cho “ích nước” của casino. Với nhiều chính quyền địa phương, casino là một “cứu cánh” cho du lịch bản địa. Và điểm trùng khớp là hầu hết các dự án đầu tư casino đều mô tả triển vọng sáng lạn về giải quyết công ăn việc làm cho người dân địa phương và nguồn thu nhập sẽ dồi dào hơn.
Xem ra, những lý do trên có vẻ khá “hợp lý” đối với nhiều địa phương nhiều năm qua đã không có cách nào đột phá để khai thác tiềm năng du lịch sẵn có của mình một cách hiệu quả và lại phải tính đến nước có casino?
http://vef.vn/2012-02-19-khi-dan-cay-co-them-casino-

Thụy My /RFI Tiếng Việt-Thân phận bọt bèo của người nông dân Việt Nam
“‘Anh’ dùng quyền lực, lợi dụng quyền lực của Nhà nước, mượn tay Nhà nước để ‘anh’ cướp bóc của người dân … là điềm báo cho những trận giông bão từ nông thôn.”

.
“Cốt lõi của vấn đề vẫn là những quy định mập mờ của Luật đất đai. Người ta biết trước sau gì cái mảnh đất ấy cũng thuộc về người khác, người nông dân không có những yếu tố để gắn bó với đất đai của mình… Nông dân mà ra phố, khi họ về thì họ mang theo rất nhiều tật xấu ở phố, khiến cho sự thuần khiết về mặt truyền thống mất đi… Bộ máy công quyền ở địa phương thực sự rệu rã, thậm chí họ chả làm gì ngoài cái việc xem có cái gì có thể chôm chỉa được của dân thì họ làm”…

Những gánh hàng rong
Gánh cả nỗi đau nhà nông không đất
Những trai làng thờ thẫn đợi người thuê
Trôi dạt thị thành vẫn giữ nét quê
Nhoẻn miệng cười khi công an rượt đuổi
Đừng đuổi !
Xin đừng rượt đuổi !
Họ chỉ là nạn nhân
Đô thị mở rộng mất nơi cày cấy
Đô thị văn minh họ không chốn nương thân
Những mảnh đời lam lũ
Từng gánh gánh nặng chiến tranh
Nay gánh gánh nặng hòa bình
Sống thời nào cũng thiệt
Thiếu cả lời kêu than…

Những lời thơ chân chất trong bài thơ « Đừng đuổi ân nhân » trên đây không phải do một nhà thơ chuyên nghiệp viết ra, mà là của một nhà khoa học – giáo sư tiến sĩ Hoàng Xuân Phú *, làm việc tại Viện Toán học, thuộc Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam.
« Người nông dân thời nào cũng khổ », nhiều người đã có cùng một nhận xét như thế. Nhà văn Tạ Duy Anh ở Hà Nội nhận định:
Tôi thì bản thân tôi là nông dân, xuất thân từ nông dân và giờ đây vẫn là nông dân dù mang danh là nhà vẵn. Thế nên tôi có mối quan tâm đến những bà con của mình ở làng quê. Tôi thấy thế này, người nông dân luôn là đối tượng chịu thiệt thòi nhất trong xã hội. Thứ nhất là vì hầu hết họ thuộc tầng lớp dân cư có vị trí và dân trí rất thấp, ít có cơ hội tiếp cận với những thành tựu khoa học công nghệ. Những dịch vụ như là y tế, giáo dục, thì lại càng ít có điều kiện. Ở nông thôn hiện nay những dịch vụ ấy còn rất lạc hậu, mặc dù ở thành phố thì có một số nơi người ta được hưởng những dịch vụ tốt hơn.
Trong khi đó thì điều kiện lao động của họ luôn luôn cực nhọc. Bản thân tôi đã từng sinh sống ở nhà quê hai mươi năm trước khi tôi thoát ly đi viết. Người nông dân cực nhọc lắm ! Cho dù là hiện nay quá trình cơ giới hóa ở một số khâu và một số nơi đã được cải thiện đáng kể. Thí dụ như thỉnh thoảng xem tivi thấy người ta bắt đầu gieo trồng bằng máy, gặt đập bằng máy, nhưng mà đấy là những vùng mà có điều kiện ở miền Nam, do đất rộng. Còn ở đa số những vùng đất manh mún, nhỏ lẻ ở miền Bắc, miền Trung, và có cả một số nơi ở miền Nam, thì lao động thủ công vẫn là chính. Lao động rất là cực nhọc !
Nông dân cũng thuộc nhóm người luôn bị thiệt thòi trong việc bán sức lao động của mình. Hàng hóa do họ làm ra thường chiếm tỉ lệ lao động cơ bắp rất cao, ít có đầu tư về công nghệ, và được định giá rất là thấp. Thường là bán ở dạng thô, chưa qua chế biến nên rất rẻ. Thương lái, những người có tiền, những người làm các khâu dịch vụ buôn bán nông sản ,thường lợi dụng tất cả những điểm yếu của nông dân để bắt bí họ.
Những người nông dân cũng là đối tượng chịu ảnh hưởng nhiều nhất từ những biến đổi như là biến đổi khí hậu, rồi biến đổi về thể chế, chẳng hạn như là dịch bệnh, lạm phát. Bởi vì họ không có những công cụ hữu hiệu để chống lại những tệ nạn ấy.
Đấy là tôi nói cái chung. Có lẽ là nông dân thì ở đâu – nhất là những nước đang phát triển, chậm phát triển – thì có thể họ cũng có những cái nét khổ chung như thế. Nhưng mà riêng ở ta thì ngoài những cái khổ ấy ra, họ còn phải đối mặt với sự bất an liên quan đến đất đai.

Vấn đề đất đai, một trong những nỗi bất an của người nông dân Việt Nam, theo nhà văn Tạ Duy Anh, thì cũng là một vấn đề hết sức phức tạp :
Nhắc đến người nông dân là nhắc đến đất đai, nhất là nông dân Việt Nam, bởi vì họ gắn bó với mảnh đất của mình, sống chết với mảnh đất của mình từ nghìn đời nay.
Thế nhưng do những mù mờ trong Luật đất đai, rồi do quá trình chuyển đổi không triệt để về kinh tế…do rất nhiều nguyên nhân. Từ những nguyên nhân chính trị, xã hội, rồi do tâm lý, mà vấn đề đất đai hiện nay ở Việt Nam là rất phức tạp, và nó ảnh hưởng trực tiếp đến người nông dân, là những người đầu tiên phải chịu tác động.
Ví dụ đất đang ở từ đời này sang đời khác, con thừa kế từ ông từ bà từ cha từ mẹ, thế nhưng mà cũng không phải là đất sở hữu của mình về mặt pháp lý. Vẫn là đất thuộc sở hữu toàn dân, tức là anh chỉ có quyền làm nhà trên đó thôi, được sử dụng mảnh đất đó thôi, nhưng không phải là chủ của mảnh đất ấy.
Còn đất canh tác thì luôn chỉ là tạm giao thôi. Có thể là hai mươi năm, nhưng mà cũng vẫn là tạm giao. Thế rồi các quá trình chia lại ruộng đất khiến cho đất đai ở nông thôn nó nát bét ra. Nó thành những mảnh nhỏ lắm, và hậu quả là không thể nào mà áp dụng những tiến bộ về khoa học kỹ thuật được. Nó khiến cho những cơ hội giúp người nông dân được thay đổi phương thức lao động càng khó đi.
Nói chung cái tình trạng ở nông thôn, như tôi đã từng nói, người nông dân đứng trước một tương lai không sáng sủa. Có những nghịch lý rất buồn cười như thế này : đất thì ít, bình quân đầu người ở Việt Nam đất nông nghiệp chỉ có vài trăm mét vuông, nhưng mà khá nhiều nơi đất vẫn còn bị bỏ hoang rất lãng phí. Thế thì đó thực sự là vấn đề bế tắc.
Tôi không hiểu muốn nông thôn theo kịp với mục tiêu công nghiệp hóa đất nước, thì sẽ khắc phục cái tình trạng này như thế nào. Chúng tôi vẫn nói rằng là người nông dân không còn đói nữa, nhưng mà nghèo thì vẫn phổ biến

Do không an tâm làm giàu trên mảnh đất của mình, nên nhiều người nông dân có tư tưởng ăn xổi ở thì :
Tôi nghĩ là cái việc mà người nông dân bỏ làng ra đi, ly hương rồi ly nông, nó là một trong những vấn nạn lớn nhất của xã hội Việt Nam hiện nay. Là bởi vì thế này. Cũng nhiều người đưa ra những giải thích quanh co, bám vào những nguyên nhân mang tính xã hội về hiện tượng bỏ làng, bỏ đồng ruộng. Nhưng cốt lõi vấn đề mà họ cố né tránh vẫn là những quy định mập mờ của Luật đất đai.
Tức là người nông dân họ có lý do để họ không yên tâm bám vào đồng ruộng. Họ không có những yếu tố để gắn bó với mảnh đất của mình. Nhà nước cho họ rất là nhiều quyền, nhưng mà thực ra những quyền đó rất là cảm tính, và cũng rất dễ bị tước bỏ. Bởi vì luật thì phải trên cơ sở những căn cứ pháp lý rất rõ ràng, chặt chẽ, thế nhưng quy định thì người ta có thể thay đổi bất cứ lúc nào. Vì thế mà nông dân không yên tâm với mảnh đất của mình.
Và không yên tâm thì họ không canh tác một cách thực sự. Bởi vì tôi cũng là nông dân, tôi biểt. Ngày xưa khi các cụ canh tác thì các cụ còn phải cho đất nghỉ, đất thở. Thế rồi còn phải bồi đắp, phải tạo độ phì nhiêu cho nó sau mỗi vụ thu hoạch. Thế nhưng hiện tại thì cái quá trình đó người ta không quan tâm. Là vì như thế này. Người ta biết trước sau gì cái mảnh đất ấy cũng thuộc về người khác, hoặc là Nhà nước thu lại.
Thế thì họ tận dụng, khi canh tác thay vì phát huy khả năng đất đai thì họ bằng mọi cách họ tận thu. Mà cái tận thu này là như thế nào ? Tức là có nơi thì họ đào ao, có nơi họ đào đất ruộng ấy để đóng gạch, nơi thì họ đào cái mặt ruộng – bởi vì canh tác chỉ trên đất mặt thôi – cho những khu sinh thái mà người ta cần đất mầu.
Quá trình này theo tôi là quá trình suy thoái đất đai một cách nguy hiểm nhất, mà không thể dễ dàng tìm ra thủ phạm để quy trách nhiệm. Nhưng cái quá trình suy thoái đất đai ấy khiến cho nông thôn Việt Nam biến dạng. Tức là người nông dân đáng lẽ ra có thể yên tâm tìm mọi cách để làm giàu trên mảnh đất của mình, thì họ lại không làm. Họ bỏ hoang, họ cho thuê, thậm chí là người thuê họ cũng chằng thuê lại. Đất thì hiếm, mỗi người vài trăm mét nhưng mà họ bỏ hoang rất nhiều. Cuối cùng họ làm gì ? Họ ra phố.

Khi phải bỏ quê ra phố, có những người nông dân nhanh chóng nhiễm những tệ nạn nơi thành phố, làm phai tàn những truyền thống tốt đẹp của cha ông lâu nay:
Người nông dân mà ra phố thì giống như đi vào một vùng rất nhiều cạm bẫy. Bởi vì họ không được chuẩn bị : không có nghề nghiệp, không sẵn sàng để đối phó với những tệ nạn ở phố. Thế rồi cái này cũng là sự thật, tức là người nông dân khi vào những lúc cùng quẫn, thì họ có thể làm những việc mà pháp luật cấm. Ví dụ như là họ sẵn sàng lấy cắp, lừa đảo…Những người đó khi họ về thì họ mang theo rất nhiều tật xấu ở phố, kể cả bệnh tật nữa. Thí dụ như người ta ra ngoài Hà Nội hoặc những thành phố khác đi làm, thì người ta cũng phải có nhu cầu quan hệ với phụ nữ, rồi là cờ bạc, hút.
Đấy thì tất cả những quá trình đó, quá trình liên quan từ đất đai, sinh nhai, cho đến những biến đổi về mặt xã hội là đi liền với nhau. Và tôi nghĩ rằng cái hậu quả xã hội của nó mới là cái đáng quan tâm. Còn đất đai nó vẫn còn nằm đấy, thì có thể là sẽ phục hồi lại. Rồi như vừa rồi Nhà nước lại gia hạn cho thêm 20 năm, trong khi chờ đợi những động tác tiếp theo.
Nhưng mà cái hậu quả nó đã gây ra rồi, khiến cho người nông dân khi ra phố trở về thì không còn là nông dân nữa. Mà cũng không phải là dân phố ! Thế là nông thôn thì bị những tệ nạn ở phố đe dọa, nhưng mà đồng thời phố thì cũng bị nông thôn hóa. Tôi vẫn đùa là, Nhà nước thì bảo là quá trình đô thị hóa nhanh, nhưng chúng tôi nhìn ra là quá trình nông thôn hóa thành thị cũng rất nhanh. Mà tất cả những điều đó khiến cho sự thuần khiết về mặt truyền thống, đạo đức rồi đạo lý, những cái giá trị bền vững không còn nữa, nó mất đi. Cái đấy mới đáng là những cái gì u ám mà người nông dân hiện nay đang phải đối mặt.

Về tệ nạn cường hào ở nông thôn, theo nhà văn Tạ Duy Anh, thì nay có bộ mặt khác hẳn so với thời bao cấp cũ:
Mình phải nói cặn kẽ một chút. Sau khi mô hình sản xuất cũ bị giải thể triệt để, thì thực sự cái tác động của chính quyền mang tính ràng buộc về hành chính, về quyền lực đối với người nông dân đã giảm đi rất nhiều. Là bởi vì trước kia người nông dân hoàn toàn bị lao động gần như là cưỡng bức trên cánh đồng của mình, do chính quyền sắp đặt, chỉ định. Đến giờ đánh trống thì phải đi làm, hết giờ mới được nghỉ. Anh cũng không được quyền quyết định làm công việc mà anh muốn.
Từ khi chuyển sang cơ chế mới, thì những cái liên đới về quyền lực giảm đi rất nhiều, có thể nói là giảm đi đến quá nửa. Tức là vai trò của chính quyền các địa phương hiện nay đối với người nông dân hiện nay chỉ còn ở những khía cạnh như là những dịch vụ khuyến nông, thủy lợi, phòng chống dịch bệnh. Nhưng nói thế không có nghĩa là nạn cường hào không còn.
Nạn cường hào ở nông thôn hiện nay thậm chí còn ở những khía cạnh khác. Ví dụ như trước kia tuy có sự hà khắc của chính quyền đối với người dân trong các chế tài về lao động, nhưng lúc ấy thì chả có ai được cái quyền lợi gì cả. Lãnh đạo cũng chỉ làm theo chỉ thị, rồi họ nhiều khi cũng là những người rất nghèo đói.
Thế nhưng bây giờ thì yếu tố quyền lực nó đi kèm với yếu tố quyền lợi. Vì vậy mà những sự câu kết của chính quyền với những ông tư bản bây giờ – chúng tôi gọi là những con bạch tuộc – vẫn xảy ra thường xuyên ở những vùng có khả năng diễn ra đô thị hóa, và cái này nó rất là thảm khốc. Hoặc ở những vùng mà người nông dân có xu hướng làm những trang trại lớn, những khu vực chăn thả lớn. Ví dụ như là Tiên Lãng, như là một số những vùng ở Nam Định, Thái Bình – vùng biển ấy. Hoặc là những vùng rừng núi, khi người nông dân có xu hướng đầu tư lớn.

Khiếu kiện đất đai : Điềm báo cho những trận giông bão
Khi họ đầu tư lớn, ví dụ như trường hợp của ông Đoàn Văn Vươn thì nói thật ra, về bản chất là chính quyền cũng định chia chác lại. Thế nhưng mà không có cơ sở pháp lý để kết tội họ về việc đó, do họ lẩn được vào trong các điều khoản mập mờ của Luật đất đai. Tuy nhiên giả sử như việc cưỡng chế thành công, thì hàng chục hộ sau khi phải nộp lại cho huyện, huyện mới cho đấu thầu lại, thì rất nhiều người trong chính quyền sẽ hưởng lợi, và sẽ được chia phần trong đó.
Có nghĩa là gì ? Nghĩa là anh dùng quyền lực, lợi dụng quyền lực của Nhà nước, mượn tay Nhà nước để anh cướp bóc của người dân. Nói một cách chính xác là như thế ! Và phải khẳng định lại như thế này. Ở nông thôn nói chung và những vùng mà quyền lợi về đất đai không nhiều, thì cái nạn chính quyền chèn ép người dân không có cơ sở để tồn tại, ngoài cái việc mà họ đang chờ Luật đất đai mới, xem là có gia hạn hay không. Thì hiện nay Nhà nước gia hạn rồi, tức là tôi nghĩ cái khả năng mà họ chia lại ruộng đất, rồi lợi dụng lấy những chỗ phần ngon, thì chắc là không có.
Nhưng mà có những nơi khác, bất cứ nơi nào mà có yếu tố quyền lợi trong vấn đề đất đai, ví dụ như chuyển đổi. Một thửa đất đền bù cho nông dân hai trăm nghìn, sau đó thì phù phép bán ra với cái giá mười triệu một mét vuông. Những nơi như vậy thì chính quyền lộ rõ là những kẻ cường hào. Tất nhiên là không phải tất cả, nhưng cũng là một bộ phận rất lớn. Bởi vì thế này. Ở trong cái đám ấy thì những người nào mà có muốn trong sạch, gọi là có cái tâm lớn, cũng rất khó tồn tại. Anh thuộc về thiểu số, vì quyền lợi quá lớn. Quyền lợi nó che mắt tất cả. Người ta đều muốn giầu lên, đều muốn có tiền để vênh vang với thiên hạ, đều muốn tận dụng tất cả mọi cơ hội khi đang có quyền để vơ vét.
Cái thực trạng đó là một trong những lý do rất là cơ bản khiến cho người nông dân tiến hành rất nhiều vụ khiếu kiện đất đai. Và những vụ khiếu kiện đấy – tôi đã từng nói, và tôi nói rất rõ ràng, nó là điềm báo. Nó đang ngày một tích tụ lại, và là điềm báo cho những trận giông bão từ nông thôn.

Giáo sư tiến sĩ Võ Tòng Xuân, một nhà nông học nổi tiếng của Việt Nam cũng nhận định:
Vấn đề này thì trên báo chí cũng nói nhiều, về thân phận của người nông dân mất đất. Bây giờ nói chung là cũng có một số người mất đất rồi, họ được đền bù cho miếng đất ở chỗ khác để cất nhà. Nhưng mà cất cái nhà thôi, chứ còn đất canh tác thì họ phải chạy chỗ này chỗ kia để mà kiếm, có nhiều khi cũng không tìm được đất canh tác. Còn học nghề thì cũng tùy người. Có người có trình độ thì người ta đi học lên được, để có thể dùng tiền đó kinh doanh. Nhưng mà phần lớn không học được. Ra ngoài làm, thì toàn là lao động giản đơn thôi.
Thành ra người nông dân của mình khi mà mất đất thì họ rất là khổ, không biết làm sao nuôi gia đình. Tại vì số tiền đền bù cho đất bị mất, thì họ xài một thời gian cũng hết, không biết quản lý tiền.
Ngay cái lúc mà họ còn đất, thì họ cũng không biết quản lý đất của họ luôn. Thấy người ta trồng cái này, cái kia thì bắt chước trồng, chứ không biết tính toán. Tại vì họ hổng có học. Mà ở Việt Nam mình, không có học mới đi làm ruộng ! Còn ở các nước khác ví dụ ở Âu châu, người ta chỉ làm ruộng khi người ta có học.
Làm ruộng thì mới có licence được, tức là cái môn bài, giấy phép để làm ruộng, như thế Nhà nước mới kiểm soát được có làm đúng theo quy định của Nhà nước hay không, có tàn phá môi trường hay không, v.v…Còn người Việt Nam mình không học mới đi làm ruộng, có học thì đi làm chuyện khác.

Theo giáo sư Võ Tòng Xuân, cũng có những nông dân biết cách làm ăn lớn:
Nhưng mà bây giờ cũng có nổi lên trong xã hội mình rất nhiều nông dân chân đất. Học tới lớp Ba, lớp Tư, lớp Năm thôi, nhưng mà ổng lại có cái khiếu học lóm rất nhanh. Những ông nông dân như là ông Sáu Đức ở Tri Tôn, An Giang chẳng hạn, bây giờ ổng quản lý trên 300 hecta, làm rất là tốt. Ổng làm lúa mà ổng áp dụng luôn phương pháp tia laser để làm bằng phẳng mặt đất, rồi dùng máy cày, máy sạ hàng, máy phun thuốc, máy gặt đập liên hợp để mà gặt.
Hoặc là có ông nông dân – anh Hạo, cũng chưa học đại học, mới trung học thôi, nhưng mà cũng học lóm các thầy ở trường Cần Thơ, rồi về trường An Giang. Học rồi về ổng đứng ra chọn giống lúa. Nhưng bây giờ thì ổng được mấy người thương nhân Nhật Bản đặt hàng để mà trồng khoai lang. Trồng rất là trúng, đúng theo tiêu chuẩn của Nhật, cho nên người ta mua. Rồi mấy người chung quanh ổng bắt chước nhưng mà làm hổng được, cuối cùng là giao đất lại cho ổng. Thành ra bây giờ ổng phải quản lý tất cả là 55 hecta. Rồi những người nông dân mà có đất, giao đất cho ổng rồi, thì lấy được tiền mướn đất của ổng, đồng thời làm công cho ổng để mà sản xuất ra khoai lang.
Như thế là có những người nông dân của mình họ có đầu óc quản lý. Tuy là họ không có học nhiều, nhưng mà họ có cái khiếu đó. Còn nhiều nông dân khác không làm được, mà là đại đa số, họ không làm được, thành ra cuối cùng giao đất cho ông kia làm.

Về vấn đề hạn điền, giáo sư Võ Tòng Xuân cho biết có những trường hợp những nông dân làm ăn giỏi được chính quyền làm ngơ để họ sử dụng số lượng đất vượt mức quy định :
Hạn điền thì hạn điền, nhưng mà Nhà nước tại địa phương họ lờ đi. Thí dụ cái ông ba trăm hecta – ông Sáu Đức đó – cái bằng khoán ổng giao cho người này người kia đứng tên, rồi ổng mướn người ta làm. Thì cái này, nói một cách khác là qua mặt Nhà nước, nhưng mà Nhà nước thấy như thế cũng được cho nên cũng cứ để cho làm.
Cũng có những ông làm trang trại ở trên Bình Dương, ổng có 600 hecta. Tui quên tên ổng rồi nhưng mà sáu trăm hecta ổng làm vườn cao su rất là tốt. Có những người Việt Nam mình đi qua bên Campuchia mướn đất người ta làm ba bốn trăm hecta, họ làm cũng rất tốt.
Nói một cách khác, cái vấn đề người nông dân chúng ta làm nông nghiệp, thì thứ nhất là họ chỉ có học lóm với nhau để mà họ đi lên. Cho nên khi mà họ còn đẩt sản xuất, thì khối lượng nhiều thiệt, nhưng mà tỉ lệ chất xám ở trong sản phẩm ít. Như thế thì sản phẩm của họ làm ra bán không có giá so với lại các nước khác.

Còn về việc đào tạo kỹ năng cho nông dân, giáo sư Võ Tòng Xuân nhận thấy là rời rạc, không hiệu quả :
…Rồi khi mà mất đất rồi, thì kể như họ tay trắng. Mặc dầu Đảng và Nhà nước có chỉ đạo, tức là có chủ trương làm cho nông dân khá lên, bằng cách đưa họ vào các tổ chức thí dụ như là hợp tác xã, tập đoàn hoặc là trang trại, cho họ vay tiền, đào tạo cho họ. Nhưng mà tất cả những cái này nó không có đồng bộ.
Thí dụ bây giờ ra nghị quyết biểu đào tạo người nông dân, thì Bộ Nông nghiệp đứng ra làm dự án xin cả mấy trăm tỉ, để mà đào tạo mỗi một năm một triệu ông nông dân. Có đào tạo, nhưng mà kinh nghiệm trong ba năm nay mình thấy rõ ràng tiền đó rất là phí. Tại vì chia tiền xuống cho bên Sở Lao động Thương binh Xã hội, rồi chia cho Sở Giáo dục địa phương, chia tiền cho Hội Nông dân, để tổ chức đào tạo nông dân. Nhưng mà bắt ông nông dân vô ngồi đó, rồi cũng dạy, dạy nuôi con heo, con gà, con vịt v.v…Rồi về thì thôi ! Ổng đi mất thì giờ, rồi ổng cũng hổng có làm.
Cái cách làm như vậy là không có đồng bộ. Mạnh ai nấy làm, thực hiện nghị quyết rất là tùy tiện, theo khả năng của từng Bộ, từng tổ chức. Thành ra cuối cùng nông dân không hưởng được kết quả gì cho có thể đổi đời người ta được.
Do đó mà bây giờ mình phải có một cái cách để mà giúp cho những người nông dân này. Có hai cái hướng, một là những người nông dân bị mất đất thì làm gì để cho họ khá lên. Và những người nông dân mà sắp bị mất đất – tức là đất mình còn tiếp tục công nghiệp hóa, hiện đại hóa, rồi thành phố phải mở ra cho nó đẹp – do đó thì đất tiếp tục mất. Như thế thì cái hướng tới phải làm sao để những người mà mất đất đó, họ có thể sống được. Mà mấy cái chuyện này rất là dài, thì có thể trong buổi phát thanh khác tôi xin trình bày sau.

Nhà văn Tạ Duy Anh tỏ ra âu lo về cách tư duy của cán bộ, và tính nhân bản trong việc đối xử với nông dân:
Vấn đề rất là bức xúc. Nhưng không biết chính quyền từ cấp trung ương đến địa phương họ linh cảm cái điều đó như thế nào, họ ý thức ra làm sao. Nói rất là nhiều, nhưng mà họ có nghe hay không, thì mình cũng không thể biết được là họ nghe đến đâu. Cũng có một niềm an ủi : cách đây vài ngày, tôi có thấy Luật đất đai được gia hạn thêm. Ít nhất thì cũng là giải pháp tình thế, để cho người nông dân người ta không phá đất đai. Người ta không tàn phá hoa màu, không làm cho những tài sản trên đất đai đó bị hủy hoại đi.
Cái thực trạng đấy nó tồn tại ngang nhiên, chưa có một dấu hiệu gì giảm đi cả. Mặc dù có lẽ Nhà nước cũng đang tìm mọi cách đấy, nhưng mà vấn đề là cơ chế kiểm soát quyền lực không có.
Tôi cũng không phải là người quan tâm nhiều đến chính trị, nhưng mà tôi cùng chung cái nỗi lo của bất cứ một công dân nào trong đất nước này. Đó là không hiểu rồi thì tình hình nó sẽ như thế nào ? Khi mà cái bộ máy công quyền ở địa phương thực sự nó rệu rã – thậm chí tôi đã từng viết, và báo chính thống đã in – họ chả làm gì ngoài cái việc để xem xem có cái gì có thể chôm chỉa được của dân thì họ làm. Sự thực nó là như thế !
Tức là họ chả làm gì. Các sai trái của người dân họ cứ để xảy ra, sau đó họ dùng cái sai trái đó để vụ lợi cho bản thân. Cái tính vụ lợi cá nhân nó quá lớn, nó che lấp tất cả. Trong tư duy của anh, ý nghĩ của anh, cái gì cũng phải có lợi, xem có lợi cho mình không.
Thế thì bây giờ thấy ông Đoàn Văn Vươn ông ấy giầu, có ông cán bộ Thành ủy Hải Phòng lại nói một câu như thế này: Ông ấy làm giàu cho bản thân chứ có làm gì cho đất nước đâu ? Tôi nói thật, tôi mà có quyền thì cái ông ấy phải bị cách chức ngay tức khắc !
Nói thế không phải chỉ là vô trách nhiệm. Nói như thế là cực kỳ phản khoa học và phản tiến bộ ! Người nông dân người ta làm giầu, thì làm giầu cho ai ? Cho bản thân họ thì cũng là cho đất nước chứ ! Phải có một cái tư duy rất cởi mở và nhiều nhân tính ở trong đó, thì mới có thể thấy được.
Nhiều khi tôi cứ tiếc, tôi mà là ông lãnh đạo Hải Phòng – Bí thư Thành ủy hoặc Chủ tịch – thì có lẽ không có tuần nào tôi không la cà với bà con ở Tiên Lãng, và tôi khích lệ họ để họ làm giầu. Làm giầu và làm đẹp cho cái vùng đất ấy. Tất nhiên là tôi không thể làm được Bí thư Thành ủy Hải Phòng, rất tiếc là như thế. Tiếc rằng họ chỉ nghĩ được một cách là, nó giầu như thế thì phải bắt nó chia bớt !

Xin chân thành cảm ơn nhà văn Tạ Duy Anh ở Hà Nội và giáo sư Võ Tòng Xuân ở An Giang đã vui lòng dành thì giờ để trao đổi với RFI hôm nay.
Tại Pháp, tuy là một nước công nghiệp phát triển, nhưng nông nghiệp vẫn đóng vai trò rất quan trọng. Không có đời Tổng thống nào mà không đến thăm Hội chợ Nông nghiệp hàng năm. Riêng tại Paris và vùng phụ cận, gọi chung là Ile de France, có đến phân nửa diện tích đất được dành cho nông nghiệp. Tuy vậy theo báo cáo của Hội đồng Kinh tế Xã hội và Môi trường Khu vực (Ceser) vừa công bố hôm qua, thì với tốc độ đô thị hóa hiện nay, mỗi năm vùng Ile de France mất từ 1.500 đến 1.700 hecta đất nông nghiệp. Ceser cảnh báo, với nhịp độ này, thì Paris và vùng phụ cận sẽ không còn đất nông nghiệp trong 200 năm nữa !
Theo nhiều công trình nghiên cứu, thì sản xuất nông nghiệp cho đến năm 2050, lượng thực phẩm phải tăng lên 70% mới đảm bảo được nhu cầu của 9 tỉ miệng ăn trên Trái Đất. Thật ra con số này cũng chỉ tương đối, vì dân số nhân loại vào thời điểm đó dao động từ 8 tỉ cho đến 11 tỉ người. Và như vậy, vấn đề an toàn lương thực còn là một yếu tố mang tính chất địa chính trị.
Còn tại Việt Nam, về mặt xã hội, với tỉ lệ 70% dân số sống ở nông thôn, thì vấn đề nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người nông dân, giảm bớt bất công đối với những con người đang làm ra của cải vật chất cho xã hội, là một thử thách không nhỏ đối với chính quyền. Đặc biệt là trong hoàn cảnh chính quyền các địa phương đang nắm trong tay quá nhiều quyền hành, người lãnh đạo có tâm thì ít mà cán bộ nhũng nhiễu lại nhiều, thì thân phận của người nông dân lại càng bọt bèo hơn.
Nguồn: RFI Tiếng Việt
http://www.viet.rfi.fr/viet-nam/20120314-than-phan-bot-beo-cua-nguoi-nong-dan-viet-nam
http://anhbasam.wordpress.com/2012/03/15/811-than-phan-bot-beo-cua-nguoi-nong-dan-viet-nam/
***

***
Phú Hòa-Một suy nghĩ nhỏ của tôi về triển vọng của đất nước “rừng vàng biển bạc”
Không hiểu sao càng ngày tôi lại càng có cảm nhận rằng rất nhiều vụ cưỡng chế, tịch thu đất đai đang diễn ra ở Việt Nam chỉ là phong trào “Cải cách ruộng đất ngược” mà thôi. Tôi gọi nó là ngược bởi vì những gì diễn ra trong nửa đầu thập kỷ 50 của thế kỷ trước là nhằm mục đích tịch thu đất của người giàu để chia cho người nghèo. Mặc dù có rất nhiều sai phạm, thậm chí có thể gọi là tội ác, gây tang thương cho nhiều gia đình nhưng mục đích chính vẫn nhằm để người cày có ruộng. Giờ đây phần lớn những cuộc cưỡng chế đã và đang diễn ra, cho dù không phải là chỉ đạo trực tiếp từ TW nhưng các chính quyền địa phương đã sử dụng nó như một công cụ để thực hiện cái gọi là “tịch thu đất của người nghèo để gom cho một số người giàu” và hoàn toàn không vì lợi ích chung cho đất nước. Chính quyền địa phương bao giờ cũng dùng lực lượng an ninh như cánh tay sắt để đạt bằng được mục đích của mình kể cả sự tàn bạo không thể chấp nhận được ở một thế chế luôn cho mình là dân chủ. Hơn thế nữa các tập đoàn tư bản cá nhân, cổ phần hóa đều sử dụng chính quyền địa phương đưa lực lượng an ninh và quân đội cưỡng chế dân lành mặc dù những dự án này hoàn toàn không phải là các dự án nhà nước. Đây là việc làm phạm pháp, không thể chấp nhận được.

Các panô dự án mọc lên giữa ruộng lúa, sau đó người dân mới được thông báo đất của họ đã nằm trong dự án, tiền không nhận thì được chuyển gửi vào kho bạc. Ảnh: Trần Việt Đức

Trong những lần về Việt Nam làm việc về các dự án tài trợ nước sạch của chính phủ Czech cho các vùng khó khăn ở Việt Nam thì đoàn chúng tôi, 3 người, hai cậu bạn người Czech và tôi đã có điều kiện đi gần hết các miền của Tổ quốc. Bọn tôi choáng về số lượng các sân golf ở các tỉnh mà có một điều ngược đời là tỉnh càng nghèo thì số lượng sân golf càng nhiều và diện tích sân golf càng lớn. Lãnh đạo tỉnh nào khi gặp gỡ chúng tôi đều rất tự hào khoe về những sân golf của tỉnh mình và có những tỉnh đang cố gắng để có sân golf lớn nhất và hiện đại nhất Đông Nam Á. Bọn tôi, những người làm về tài nguyên và môi trường nên lúc đầu đã không khỏi ngạc nhiên về vị trí của những sân golf như vậy, những vị trí mà dân Việt Nam mình gọi là đắc địa. Sau những lần đi các tỉnh và nhìn thấy thực trạng phổ biến đó thì một cậu bạn tôi, chủ tịch hội đồng quản trị và đồng thời là một chuyên gia có tầm cỡ về đất đai, môi trường mới hỏi tôi về giá đất ở Việt Nam. Sau khi biết được những cái giá giời ơi, đất hỡi ở đây cậu chàng đã phán ngay cho một câu: “Tao hiểu rồi” và cậu giải thích là càng nhiều sân golf và càng to thì địa phương càng có nhiều tiền vì đặc thù của sân golf là người ta có thể rút tiền vô tội vạ mà khó ai có thể kiểm soát được. Điểm thứ hai, quan trọng hơn là từ đất nông nghiệp thì các chủ đầu tư sẽ rất dễ dàng chuyển sân golf thành đất thổ cư và đó là những mỏ vàng khổng lồ cho những nhóm quyền lợi. Càng ngày tôi càng thấy nhận xét của cậu ta là đúng và giờ đây trên các sân golf ở Việt Nam đang thi nhau mọc lên những vila đắt tiền, không phải ai cũng có thể mua được. Chúng tôi đã được tận mắt nhìn thấy những cánh đồng bỏ hoang nhiều năm trong khi người nông dân không có đất trồng trọt chỉ vì chúng là đất dự án. Họ đã phải bán với cái giá rẻ như bèo để rồi sau một thời gian những người sở hữu mới có thể bán đi hoặc nhượng lại với cái giá ngất ngưởng gấp vô số lần cái giá ban đầu mà không phải bỏ thêm bất kỳ một đồng xu nào cả hoặc rất ít.
Nền kinh tế Việt Nam tồn tại được là do các khoản vay mượn từ nước ngoài chứ hoàn toàn không thể tự thân vận động được. Một ngày nào đó, khi đất không còn để bán, khi tài nguyên cạn kiệt, ngành công nghiệp vẫn chỉ ở bước sơ khai ban đầu và nông nghiệp đang chết dần chết mòn cùng với những khoản nợ khổng lồ đè nặng trên vai thì xã hội Việt Nam sẽ ra sao? Tôi nhớ mãi câu nói của Chủ tịch UBND tỉnh Lạng Sơn khi phóng viên hỏi về những vụ cho doanh nghiệp nước ngoài thuê đất rừng biên giới phía Bắc trong vòng 50 năm với cái giá tượng trưng. Ông ta đã nói rằng sau 50 năm nữa thì đó sẽ là việc của con cháu và chúng nó sẽ phải lo. Không hiểu đó cũng là suy nghĩ ngầm của những người lãnh đạo từ địa phương đến trung ương không? Nếu đúng như vậy thì buồn cho một đất nước từng có những nguồn tài nguyên phong phú với những con người cặm cụi làm việc cả cuộc đời nhưng nghèo vẫn hoàn nghèo và thậm chí càng nghèo.
Các hệ thống truyền thông Việt Nam giờ đây không còn nói đến Việt Nam “rừng vàng, biển bạc” và Sài Gòn sẽ vĩnh viễn không bao giờ được gọi là “hòn ngọc của Viễn Đông” nữa. Thời đó đã qua lâu rồi.
P. H.
Tác giả gửi trực tiếp cho BVN.

http://www.boxitvn.net/bai/34359

Để lại phản hồi »

Chưa có phản hồi.

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Tạo một website miễn phí hoặc 1 blog với WordPress.com.

%d bloggers like this: