Hoàngquang’s Blog

14/03/2012

– Trường Sa – Gạc Ma 1988: 24 năm nhìn lại

Mẹ Nấm Nhà văn Nhật Tuấn BÀN CHUYỆN THỜI SỰ VỚI NHÀ VĂN HOÀNG QUỐC HẢI

Bùi Minh Quốc- Thư ngỏ gửi nhà thơ Thuận Hữu, Tổng Biên tập báo Nhân Dân

Bùi Chát – Thói

Quê Choa 14 tháng 3- Ngày của nỗi đau và uất hận! Mai Thanh Hải CHIẾN DỊCH CQ-88 VÀ TRẬN CHIẾN 14/3/1988 TẠI TRƯỜNG SA Cu Làng Cá Hôm nay ngày giỗ anh hùng Trần Văn Phương và 63 liệt sĩ Trường Sa & Sẽ đưa tiếng Hoa vào dạy tiểu học, THCS Văn Bản

Nguyễn Xuân Diện THƯA ANH PHẠM VŨ LUẬN, VIỆC NÀY KHÔNG NÊN ANH Ạ!

***
Mẹ Nấm – Trường Sa – Gạc Ma 1988: 24 năm nhìn lại


Cách đây hơn nửa thế kỷ, Thống tướng Douglas MacArthur của Hoa Kỳ đã để lại một câu nói bất hủ: “Old soldiers never die, they just fade away ” – Những người lính già không bao giờ chết, họ chỉ mờ nhạt đi.
Nhưng tại Việt Nam, có những người lính trẻ đã chết, cái chết của họ không chỉ mờ nhạt đi mà còn bị chôn vào quên lãng, bị xoá mờ chứng tích. Đó là những người lính Việt Nam đã hy sinh vì Tổ quốc để bảo vệ núi rừng và biển đảo của tổ tiên.
24 năm sau trận Hải chiến Trường Sa – Gạc Ma (14/03/1988) không một dòng thông tin nào nhắc về biến cố này. Điều này hoàn toàn không giống như những sự kiện lịch sử khác luôn được báo chí, truyền hình và hệ thống thông tin cơ sở nhắc đến nhiều lần trước ngày kỷ niệm.

Những người Việt Nam sử dụng Internet hiện tại biết nhiều đến trận hải chiến này phần nhiều qua một đoạn video clip do phía Trung Quốc công bố trên Youtube mô tả cảnh hải quân nước này nã nhiều loạt súng máy phòng không 37 ly cùng pháo 105 ly vào lực lượng hải quân công binh Việt Nam tay không vũ khí đang dầm mình trong nước bám trụ giữ đảo.
Tháng 9 năm ngoái, trong một buổi lễ kỷ niệm cuộc gặp gỡ của các cựu chiến binh đã chiến đấu trên tàu HQ604 trong chiến dịch CQ88 tại Trường Sa (1988) có tên “Vòng tròn bất tử” do Trung tâm Dữ liệu Hoàng Sa tổ chức tại khu du lịch Suối Lương (Đà Nẵng), chín cựu binh sống sót sau trận chiến này mới có dịp gặp lại nhau sau khi bị bắt và được trao trả về Việt Nam 1992. Một trong số chín người này đã mất vì bệnh ung thư.
Tôi không được tham dự cuộc gặp gỡ này với lý do “nhạy cảm”, mặc dù trước đó đã nhận được sự đồng ý của Ban tổ chức chương trình nên đã bỏ lỡ phần chia sẻ của những nhân chứng lịch sử và những khoảnh khắc xúc động của cuộc gặp gỡ này.
“Khi tàu bị tấn công, lính và sĩ quan mình trúng đạn ngã la liệt. Tui chỉ kịp xé áo người này quấn cho người kia để cầm máu”, cựu binh Dương Văn Dũng kể. “Tui nhớ đang băng vết thương cho anh Trừ (Thuyền trưởng Vũ Phi Trừ – HQ604) thì nghe ‘ầm’ rồi tàu chìm.”
“Bọn này ôm phao trôi nổi trên biển gần 12 tiếng đồng hồ mới được bọn nó vớt”, Lê Minh Thoa thuật lại bằng giọng Bình Định, “vậy mà 3 ngày sau là hết bọn tui bị lột da từ đầu đến chân”.
“Cho đến gần đây vợ tui mới tin tui từng chiến đấu ở Trường Sa rồi bị Trung Quốc bỏ tù”, cựu binh Trương Văn Hiền kể, “trước nay nó cứ tưởng tui bị đi tù rồi bịa chuyện để nói với con”. Đứa con gái thứ hai của anh Hiền, năm nay 6 tuổi, thuộc lòng tên các hòn đảo ở Trường Sa, nơi cha mình từng chiến đấu. “Nó cứ đòi coi cái đĩa quay cảnh chiến đấu ở Trường Sa của tui”, anh Hiền nói. ((*))

(Trích từ bài viết “Vòng tròn bất tử” – Trung Bảo)
Tất cả những người cựu binh có mặt trong cuộc gặp gỡ hôm đó đều bật khóc khi được xem lại đoạn phim quay cảnh hàng loạt đồng đội của mình đã ngã xuống dưới làn đạn của lính Hải quân Trung Quốc trên đảo Cô Lin, Gạc Ma…
Những người thân của các chiến sĩ công binh đã nằm xuống trong trận chiến Trường Sa – Gạc Ma 1988 đến giờ vẫn tiếp tục tìm kiếm sự thật về sự hy sinh của chồng, của cha mình.
Chị Mai Thị Hoa, vợ liệt sĩ thiếu úy Trần Văn Phương bật khóc khi xem đoạn phim kể chuyện chồng mình hô to khẩu hiệu “Thà hy sinh chứ không để mất đảo. Hãy để máu chúng ta nhuộm đỏ biển Đông chứ cương quyết không để mất đảo”
Câu khẩu hiệu của thiếu úy Trần Văn Phương được Trương Minh Hiền nhớ lại một cách khác, anh bảo lúc đó anh đứng gần chiếc xuồng, cũng là gần chỗ Trần Văn Phương cầm cờ, hình như đó là “Hãy để máu chúng ta nhuộm đỏ biển Đông chứ cương quyết không để mất đảo!”

(Trích bài “Hãy để máu chúng ta nhuộm đỏ biển Đông” – Hồ Trung Tú)
24 năm trôi qua, vẫn là sự im lặng thường thấy đối với biến cố lịch sử này. Thật khó tin đó là sự thật khi có quá nhiều chương trình kêu gọi đóng góp để xây dựng Trường Sa.
Tại sao những người cựu binh, lẽ ra phải được chào đón và tôn vinh như những anh hùng bởi họ là những nhân chứng lịch sử có thật và xác đáng nhất cho “sự vô nhân bất tín” của nước láng giềng “hữu hảo” Trung Quốc lại muốn quên đi những ngày tháng này?
Có lẽ, những người cựu binh Trường Sa – Gạc Ma năm xưa cũng không thể ngờ rằng, 24 năm sau, nhiều người Việt Nam khác vẫn đang tiếp tục tìm kiếm thông tin về những gì đã xảy ra, và vẫn tiếp tục nỗ lực âm thầm đấu tranh cho sự thật nhằm giữ đảo cho muôn đời sau.
Có những cái chết bi tráng. Nhưng chắc không có đau đớn nào bằng cái chết của sự thật về những cái chết bi tráng đó. Người ta bằng mọi cách đã xoá đi những vết tích anh hùng của một dân tộc trong khi luôn ra sức ca tụng những anh hùng không có thật. Và có lẽ chỉ có ở Việt Nam mới có chuyện anh hùng bị phân biệt đối xử một cách rạch ròi. Sự xếp loại không tuỳ thuộc vào những người đã nằm xuống vì đại nghĩa, vào xương máu của họ đã đổ ra như thế nào.
Ở Việt Nam, các anh hùng có được ghi nhớ hay không – Điều này tùy thuộc vào kẻ thù đã bắn những viên đạn xâm lăng vào họ.

http://anonymouse.org/cgi-bin/anon-www.cgi/http://danluan.org/node/11995

Nhà văn Nhật Tuấn -BÀN CHUYỆN THỜI SỰ VỚI NHÀ VĂN HOÀNG QUỐC HẢI

Nhật Tuấn: Thưa anh Hoàng Quốc Hải, vừa qua trong diễn văn khai mạc “Hội nghị cán bộ toàn quốc quán triệt, triển khai thực hiện nghị quyết T.Ư 4”, ông Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng có nói “Đảng cộng sản Trung Quốc… trong những lần trao đổi với chúng ta, bạn thường nhấn mạnh không để bị “Tây hóa”, “tha hóa”, “thoái hóa”. Tuy nhiên các ông tổ cộng sản đều là “mắt xanh mũi lõ”. Vậy phải chăng Trung Quốc xúi Việt nam xa rời chủ nghĩa Mác-Lê- nin?
Hoàng Quốc Hải: Thưa anh Nhật Tuấn, đầu năm nhẽ ra phải nói chuyện du xuân thì anh lại gợi chuyện thời sự. Thật ra nói chơi với nhau cho vui thôi, chứ cái chủ đề này thì ai còn lạ gì đâu.
Trước hết phải thừa nhận một điều rằng, Đảng cộng sản Trung Quốc chưa bao giờ theo chủ nghĩa Mác cả. Tới nay thì điều này cả thế giới đều biết, có nhẽ chỉ có một bộ phận nhân dân Trung Quốc còn nghi hoặc thôi.
Nhưng trong quá trình vận động cách mạng, ông Mao Trạch Đông lãnh đạo nhân dân Trung Quốc nhằm lật đổ chế độ Trung Hoa Dân quốc do ông Tưởng Giới Thạch đứng đầu, thì ông Mao lại dựa vào Liên Xô và tuyên bố theo chủ nghĩa Mác, treo ảnh các ông Các Mác, Ăng -ghen, Lê- nin, Stalin và cờ búa liềm. Việc dựa vào Liên Xô là để gây vốn liếng chính trị và cũng là để nhờ vả về nhiều mặt, trong đó có chuyện vũ khí. Nhưng tất cả chỉ là mẹo, là kế của ông Mao thôi. Việc này người Trung Hoa là bậc thầy của thiên hạ. Hãy xem Việt Vương Câu Tiễn dùng khổ nhục kế như thế nào thì đủ rõ.
Nhưng nói cho cùng kỳ lý thì người Nga và cả Liên bang Xô-viết cũng có theo Mác đâu, họ theo chủ nghĩa Lê-nin đấy chứ.
Sự sụp đổ của Liên bang Xô-viết là sự sụp đổ của chủ nghĩa Lê-nin, còn học thuyết Mác với công trình đồ sộ của ông là “Tư bản luận” thì làm sao mà sụp đổ được.
Và họ khuyên không “Tây hóa” tức là để họ độc quyền theo Tây đấy ông Nhật Tuấn ạ. Ông có nhớ năm 1972, ta đánh Mỹ đang đến hồi gay go nhất thì ông Mao Trạch Đông phát tín hiệu mời ngoại trưởng Hoa Kỳ là ngài Kít-xing-gơ đến Bắc Kinh để mở đường cho công cuộc Trung Hoa ngả vào lòng nước Mỹ. Rồi năm 1978, ông Đặng Tiểu Bình sang Mỹ với quà biếu là mấy con Gấu trúc. Và để hòa nhập, ông Đặng dùng trang phục cao bồi, cỡi ngựa rong ruổi khắp nước Mỹ để kết thân với Mỹ, mời Mỹ vào Trung Hoa. Và từ khi người Mỹ vào Trung Hoa tới nay thì nước Trung Hoa thay đổi hẳn như ta thấy.
Điều này chứng tỏ Đảng cộng sản Trung Quốc theo Tây trước các nước trong phe chứ. Hẳn mọi người còn nhớ, ngài Đặng Tiểu Bình từng tuyên bố: Mèo trắng, mèo đen không quan trọng, miễn là bắt được chuột. Bản chất vấn đề là ở chỗ đó. Tức là họ theo chủ nghĩa thực dụng. Cho nên việc họ theo Liên Xô hay theo Mỹ đều là “kế” cả thôi.
Chủ nghĩa thực dụng là sở trường của người Trung Hoa. Nguồn gốc của nó khởi từ Nho giáo, được Khổng Tử hoàn thiện thành học thuyết. Nước Trung Hoa có cả chục học thuyết, nhưng chỉ có Nho giáo là bao trùm và được ứng dụng từ cổ đại tới nay.
Còn như “tha hóa” và “thoái hóa” thiết nghĩ chẳng qua là một thứ đồng bệnh tương liên, bộc bạch để cùng nhau chia sẻ. Ngược lại, nếu đây là lời khuyên chân thành thì đáng trân trọng.
Nhật Tuấn: Cách nay trên 70 năm, giới tiểu tư sản Hà Nội chạy theo trào lưu “Âu hóa”, nhờ đó Xuân tóc đỏ của Vũ trọng Phụng vốn từ tầng lớp hạ lưu đã nhảy phốc lên thượng lưu danh giá. Trào lưu Âu hóa đó có gì tương đồng với “Tây hóa” mà Đảng cộng sản Trung Quốc khuyên Đảng cộng sản Việt Nam anh em phải tránh xa?
Hoàng Quốc Hải: Cái ông Nhật tuấn này hơi kỳ. Tại sao ông lại đem văn chương so với chính trị. Kiểu so sánh này chẳng khác chi dân gian đã nói: “Bì phấn với vôi…”. Ông hãy nhìn sự diễn tiến bàn cờ thế sự thì rõ thôi mà.
Nhật Tuấn: Hiện nay phim Trung Quốc tràn ngập màn hình TV, đèn lồng Trung Quốc treo khắp nơi trên lãnh thổ Việt Nam…thực chất Trung Quốc đang tiến hành một cuộc xâm lăng toàn diện về văn hóa. Sao ông Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng không nhắc tới nguy cơ Hán hóa mà lại lo “Tây hóa” trong khi Đảng vẫn chủ trương hội nhập toàn cầu?
Hoàng Quốc Hải: Thưa anh Nhật Tuấn, trong thế giới phẳng hiện nay việc xâm thực hay xâm lược văn hóa là thể hiện một thứ quyền lực mềm. Về mặt xâm thực văn hóa của Trung Quốc ngoài phim ảnh, tôi có thể bổ sung thêm, ví như thị trường sách. Nếu anh ra bất cứ một tiệm sách nào trên toàn quốc đều thấy số đầu sách dịch từ nguồn Trung Quốc chiếm tới trên dưới 40% thị phần sách lưu hành. Điều đáng buồn là một khối lượng không nhỏ trong đó là sách thần bí. Loại này trước đây thuộc diện tuyệt đối cấm. Ngoài ra thượng vàng hạ cám, không thiếu một loại sách nào của người Tầu từ thượng cổ đến vừa ra lò vài tuần mà không có trên thị trường sách nước ta. Rất nhiều loại tiểu thuyết đương đại nhà văn Việt Nam thừa sức viết, nhưng nếu có viết ra cũng không được công bố loại những tác phẩm tương đương với những tác phẩm đương đại của Trung Hoa mà ta phải dịch, như các tác phẩm “Nửa đàn ông là đàn bà” của Trương Hiền Lượng, “Báu vật của đời” của Mạc Ngôn, “Thị trấn phù dung” của Cổ Hoa… để bù vào nhu cầu khát đọc của độc giả. Có thể lấy ví dụ như “Truyện kể năm 2000” của nhà văn Bùi Ngọc Tấn, “Thời của thánh thần” của nhà văn Hoàng Minh Tường…Đáng tiếc chúng đã không được phép lưu hành hoặc chỉ được xuất bản một lần.
Nhật Tuấn: Vì sao trong Chỉ thị của Bộ chính trị “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” hoàn toàn không nhắc gì đến hai chữ “nhân dân”? Vậy phải chăng công tác chỉnh đốn Đảng”chỉ thuộc “nội bộ Đảng”? Nếu vậy, điều mà Bác Hồ vẫn dạy là “quan điểm quần chúng” ngày nay có còn không?
Hoàng Quốc Hải: Bác Nhật Tuấn ơi, bác không đọc kỹ lời ông Tổng bí thư sao. Trong đó có chỗ ông nói: Đa số (ý nói các đồng chí lãnh đạo và đảng viên) là tốt, một số không nhỏ (cũng nói về lãnh đạo và đảng viên) là tha hóa, biến chất. Vậy là Đảng chỉ chỉnh đốn cái đám tha hóa, biến chất, tham ô, hủ hóa làm hại dân và làm mất thanh danh của Đảng, chứ Nhân dân thì làm gì có quyền lực để dính đến cái sự xấu xa ấy mà phải chỉnh đốn. Thôi chuyện này là chuyện nội bộ của Đảng, miễn bàn. Còn như nhờ nhân dân giám sát đảng viên, chắc Đảng phải ra một nghị quyết khác.
Nhật Tuấn: Mấy ngày vừa qua Trung Quốc vừa bắn phá tầu của ngư dân Việt Nam vừa đặt bút ký nội dung thỏa thuận cấp thứ trưởng hai nước diễn ra tại Bắc Kinh trong hai ngày 27 và 28 tháng 2. Mặc dù Trung Quốc vẫn leo lẻo “đưa quan hệ hai nước tiếp tục phát triển ổn định, lành mạnh, vì lợi ích của nhân dân hai nước, vì hòa bình ổn định và hợp tác của khu vực và thế giới”, nhưng lại lờ chuyện xung đột trên biển Đông đi, chỉ nhắc tới phân định vùng biển ngoài cửa vịnh Bắc Bộ, hợp tác trong các lĩnh vực ít nhạy cảm như bảo vệ môi trường, nghiên cứu khoa học biển… Phải chăng đó là thủ đoạn câu giờ chờ thời cơ lấn lướt ta để độc chiếm biển Đông?
Hoàng Quốc Hải: Nhật Tuấn ạ, anh còn lạ gì người Trung Hoa, ý tôi muốn nói nhà cầm quyền thôi, còn người dân lao động thì họ cũng còn khổ lắm, thậm chí khổ hơn cả dân mình. Nhà cầm quyền Trung Hoa từ cổ xưa tới nay vẫn nói một đường làm một nẻo. Sự nhãn tiền như họ khủng bố tầu đánh cá của ngư dân ta, rồi họ lại chối phắt. Nếu như quay được băng video, mà về phương diện ngoại giao ta phản kháng gay gắt thì họ liền đổ lỗi cho địa phương Hải Nam hoặc Quảng Đông làm sai, rồi dàn hòa, rồi hứa không tái diễn… để lại tái diễn. Đó là đường lối muôn thuở của họ. Vì vậy trong tiểu thuyết lịch sử tôi đã viết: “Ta với họ không chỉ là kẻ thù truyền kiếp mà còn là kẻ thù tri kỷ”. Điều quan trọng là đối sách của chúng ta kia. Đương nhiên phải mềm dẻo một chút, không làm mất mặt “thiên triều”, nhưng phải kiên quyết, phải cứng rắn không cho phép “thiên triều” đụng đến cái lợi ích cốt lõi của ta, cụ thể là lãnh thổ, là lãnh hải, là ngư trường và các tài nguyên khác.
Còn chuyện Biển Đông đúng như anh tiên lượng: “Đó là thủ đoạn câu giờ, chờ thời cơ lấn lướt ta để độc chiếm biển Đông”. Đúng là họ đang phục kích lâu dài chờ cơ hội kiểu như năm 1974 chiếm Hoàng Sa và năm 1988 cướp Gạc Ma (thuộc Trường Sa) của ta. Nếu ta lơ là mất cảnh giác vì không chuẩn bị đầy đủ sức mạnh để sa cơ một lần nữa, sẽ phải trả giá đắt, phải ân hận tới ngàn năm mà vị tất con cháu đã tha thứ.
Nhật Tuấn: Xin anh cho biết vì sao vấn đề đàm phán về Biển Đông, phía Trung Quốc cứ nhăm nhăm đòi giải quyết song phương mà rất sợ đa phương? Phải chăng Trung Quốc đang chơi xảo thuật bẻ từng chiếc đũa?
Hoàng Quốc Hải: Thưa anh Nhật Tuấn, nếu là chuyện minh bạch thì đàm phán song phương hay đa phương có hề hấn gì. Khốn nỗi về mặt pháp lý quốc tế người Trung Hoa không có một khía cạnh hợp pháp nào trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam. Về Hoàng Sa thì họ ngoạm một phần vào cuối năm 1949; sau Thế chiến II, Trung Hoa dân quốc chiếm một phần từ quân Nhật thua trận (nay thuộc Đài Loan). Phần còn lại họ dùng vũ lực cưỡng chiếm từ quân đội Việt Nam cộng hòa vào năm 1974. Về Trường Sa, họ dùng vũ lực chiếm đóng đảo Gạc Ma của ta vào năm 1988 và sát hại 64 bộ đội công binh, tay không vũ khí. Cả hai trường hợp cưỡng chiếm này đều là hành vi xâm lược. Bởi các quần đảo này ta đã xác lập chủ quyền, và quản lý liên tục từ thế kỷ 18 tới nay, không hề có một quốc gia nào tuyên bố chủ quyền hoặc tranh chấp với ta cho đến trước năm 1949, nghĩa là trước khi có nhà nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa.
Vậy nếu ta nhận đàm phán song phương với họ, coi như ta thừa nhận họ có chủ quyền. Và như thế có nghĩa là họ từ tư thế bất hợp pháp chuyển sang tư thế hợp pháp. Còn nếu như đàm phán đa phương, có đại diện của Unclos làm trọng tài, đương nhiên họ không đủ tư cách pháp nhân để tham gia đàm phán, còn nói gì đến chuyện chủ quyền.
Nhật Tuấn: Anh viết tiểu thuyết lịch sử, hẳn có tìm hiểu kỹ về chủ quyền hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của ta, còn tôi thì tựa như thi sĩ vừa quá cố Đỗ Nam Cao đã viết:
“Trường Sa ư với ngày thường xa thật
Đảo ở đâu tôi có hỏi đâu mà
Điều khốn nạn là chỉ khi máu đổ
Đảo mới gần mới thật của ta”
Cho nên dù đã tìm đọc các tài liệu, tôi vẫn chưa thật thỏa mãn, tôi muốn anh giải thích: Vì sao cả ta và Trung Quốc đều khẳng định hai quần đảo đó thuộc chủ quyền của mình không thể tranh cãi. Phía ta thì các tài liệu để chứng minh chủ quyền khá phong phú, nhưng phía Trung Quốc chỉ thấy họ trưng ra cái bản đồ 9 đoạn hình lưỡi bò, liếm gần hết biển Đông, xâm phạm vùng đặc quyền kinh tế và quyền chủ quyền của nhiều nước. Điểm thứ hai họ trưng ra bằng lời nói chứ không có bản đồ và văn bản cổ là họ đã chiếm hữu vùng biển Đông này từ thời nhà Hán, nghĩa là đã cách đây hơn 2200 năm chứ không phải chỉ có khoảng 3 thế kỷ liên tục chiếm hữu và tuyên bố chủ quyền như phía Việt Nam mình. Nếu có thể được, anh diễn giải giùm chuyện này để mọi người cùng tham khảo.

Hoàng Quốc Hải: Tôi xin chia sẻ với anh cũng như tuyệt đại đa số người Việt Nam, hễ biết liêm sỉ đều có nỗi xót xa ân hận bởi trách phận công dân ấy. Điều quan trọng nhất lúc này là mọi người phải chung tay giữ lấy mảnh giang sơn từng thấm máu ngàn đời gồm vùng đất vùng trời và biển đảo của chúng ta.
Phần bàn về đàm phán song phương, tôi đã nói về chủ quyền hợp pháp của chúng ta về hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Nay tôi nói rõ về cơ sở pháp lý của cái quyền chủ quyền ấy.
Về xác lập chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa thì sách “Phủ biên tạp lục” của nhà bác học Lê Quý Đôn soạn vào năm Bính thân (1776 ) đời Lê Hiển tông tương đương thời chúa Nguyễn Phúc Thuần ở Đàng trong. Về Đảo cát vàng tức Hoàng Sa, sách ấy viết “Phủ Quảng Ngãi huyện Bình Sơn có xã An Vĩnh ở gần biển phía Đông bắc có nhiều cù lao, các núi linh tinh hơn 130 ngọn, cách nhau bằng biển, từ hòn nọ sang hòn kia đi một ngày hoặc vài canh thì đến. trên núi có chỗ có suối nước ngọt. Trong đảo có bãi cát vàng ước hơn 30 dặm, bằng phẳng rộng lớn, nước trong suốt đáy… các thuyền ngoại phiên (nước ngoài) tránh bão thường đậu ở đảo này. Trước họ Nguyễn (ý nói các chúa Nguyễn ở Đàng trong) đặt đội Hoàng Sa 70 suất, lấy người xã An Vĩnh sung vào, cắt phiên mỗi năm cứ tháng Hai nhận giấy sai đi, mang lương đủ ăn 6 tháng, đi bằng 5 chiếc thuyền câu nhỏ, ra biển 3 ngày 3 đêm thì đến đảo ấy. Ở đấy tha hồ bắt chim bắt cá và lấy hóa vật của các tầu đắm… Đến kỳ tháng 8 thì về, vào Cửa Eo, đến thành Phú Xuân để nộp”.
Ở một đoạn khác Lê Quý Đôn lại viết: Tôi đã từng thấy một đạo công văn của quan Chánh đường huyện Văn Xương, Quỳnh Châu (đảo Hải Nam) gởi cho Thuận Hóa nói rằng: “Năm Kiền Long thứ 18 (1758) (tương đương với thời chúa Nguyễn Phúc Chu ở Đàng trong) có 10 tên quân nhân xã An Vĩnh đội Cát Liềm huyện Chương Nghĩa phủ Quảng Ngãi nước An Nam, ngày 7 đến Vạn lý Trường Sa tìm kiếm các thứ, có 8 tên lên bờ tìm kiếm, chỉ để hai tên giữ thuyền, bị gió giật đứt dây thuyền, dạt vào Thanh Lan cảng, quan ở đây xét thực, đưa về nguyên quán. Nguyễn Phúc Chu sai cai bạ Thuận Hóa là Thúc Lương hầu làm thư trả lời”.
Sách Đại Nam nhất thống chí của Quốc sử quán triều Nguyễn, phần núi sông của tỉnh Quảng Ngãi cũng viết: “Đảo Hoàng Sa ở phía đông nam cù lao Ré huyện Bình Sơn. Từ bờ biển Sa Kỳ đi thuyền ra, thuận gió thì độ ba bốn ngày đêm có thể đến nơi. Có tới hơn 130 đảo nhỏ cách nhau hoặc một ngày đường hoặc mấy trống canh. Trong đảo có bãi cát vàng…” (phần còn lại sách này viết giống như Lê Quý Đôn đã viết trong “Phủ biên tạp lục”).
Sách Đại Nam viết tiếp: “Đầu đời Gia Long (1802) phỏng theo lệ cũ đặt đội Hoàng Sa…
Đầu đời Minh Mệnh thường sai người đi thuyền công đến đây thăm dò đường biển, thấy một nơi có cồn cát trắng chu vi 1070 trượng ( bằng 3,5 km ) cây cối xanh tốt, giữa cồn cát có giếng, phía tây nam có ngôi miếu cổ, không rõ dựng từ thời nào, có bia khắc 4 chữ ‘vạn lý ba bình’ (muôn dặm sóng yên ). Về phía tây bắc đảo này nổi lên một cồn chu vi 340 trượng, cao 1 trượng 2 thước ngang với cồn cát, gọi là đảo Bàn Than.
Năm Minh Mệnh 16 (1836) sai thuyền công chở gạch đá đến đây xây đền, dựng bia đá ở phía tả đền để ghi dấu mốc và tra hột các thứ cây ở ba mặt tả hữu và sau…”.
Các sách “Đại nam thực lục chính biên”, “Đại Việt hội điển sự lệ”, “Khâm định việt sử thông giám cương mục”v.v… Rất nhiều di tích đền đài thờ tự “Hải đội trường sa” còn tồn tại với thần phả, tộc phả, gia phả, đặc biệt là vô số các châu bản do đích thân nhà vua hoặc các quan địa phương sai phái người ra vạn lý Trường Sa hoặc Hoàng Sa làm công vụ từ thời các chúa Nguyễn đến tận thời vua Bảo Đại còn lưu giữ trong các kho tư liệu quốc gia, thậm chí trong các nhà dân cũng còn khá nhiều chứng tích về “Hải đội Hoàng Sa”. Đó là các độc bản, chứ các phó bản thì nhiều vô kể (trong đó có nhiều loại bản đồ và các số liệu đo đạc) về Hoàng Sa, Trường Sa còn lưu giữ trong thư viện Viện Hán – Nôm, trong các thư viện của Paris (Pháp) mà trước đây “Viễn Đông Bác cổ học viện” sưu tầm và hoàn thiện rồi lưu trữ khá công phu.
Chính quyền nhà Nguyễn quản lý và khai thác hai quần đảo này cho tới khi thực dân Pháp xâm lược nước ta thì nhà nước thuộc địa Pháp tiếp thu và quản lý rất chặt chẽ. Bằng cách đo đạc, vẽ bản đồ, lập trạm đo khí tượng v.v…Năm 1899 Paul Doumer toàn quyền Đông Dương cho xây dựng một ngọn hải đăng trên quần đảo Hoàng Sa.
Khi nước Pháp thua trận năm 1954, Việt Nam tạm thời chia làm hai miền, từ vĩ tuyến 17 trở vào nam thuộc chính quyền Việt Nam cộng hòa quản lý, trong đó có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Trung Quốc xâm lược chiếm trọn quần đảo Hoàng Sa như phần trước tôi đã trình bày.
Về cái lý không tranh cãi của Trung Quốc họ trưng ra cho thế giới biết cái bằng chứng hư vô là họ đã quản lý vùng biển đảo này từ thời Hán, Đường đến Minh, Thanh. Từ cổ xưa tuyệt nhiên không có sách nào của Trung Quốc nói đến vùng biển đảo phía đông này và cũng không có một tấm bản đồ cổ nào của Trung Quốc vẽ về vùng biển đảo phía đông này trong đó có dấu ấn Hoàng Sa, Trường Sa, kể cả Trịnh Hòa thời nhà Minh đi vòng quanh thế giới có vẽ khá nhiều bản đồ, cũng không hề có sự hiện diện của hai quần đảo này.
Chứng tích vu vơ thứ hai là tấm bản đồ do chính quyền Trung Hoa dân quốc của Tưởng Giới Thạch tự vẽ năm 1947 có chứa đường 9 đoạn mà ngày nay Trung Quốc coi như một bằng chứng lịch sử sáng giá.
Một văn bản khác là tuyên bố năm 1958 của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa về định nghĩa lãnh hải của Trung Quốc và họ phát triển hóa yêu sách này vào luật của nhà nước Trung Hoa cỡ năm 1992.
Thật ra đường lưỡi bò 9 đoạn do Trung Hoa dân quốc tự vẽ và tuyên bố về đường lãnh hải của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa về mặt pháp lý quốc tế đều không có giá trị.
Còn cái chứng cớ cù nhầy mà Trung Quốc ngộ nhận từ đời Hán, Đường, Minh, Thanh rằng toàn bộ vùng biển này đã thuộc về Trung Quốc , ta hãy nghe một trong 29 luật sư nổi tiếng nhất trong suốt 20 năm qua của đoàn luật sư bang California ông Tel Laguatan viết một bài báo ngày 27 tháng 7 năm 2011 với tựa đề: “Tại sao Trung Quốc không đưa vấn đề Trường Sa ra Liên hiệp quốc”.
Tôi xin trích một đoạn của ông luật sư người Mỹ này: “Nhà Hán của Trung Quốc mới có từ 206 trước Công nguyên đến 220 Công nguyên. Còn Alexandre đại đế chết năm 323 trước Công nguyên. Vương quốc của ông bao gồm Hy Lạp, Syrie, Ba Tư, Ai Cập và một phần Ấn Độ.
Đế quốc La Mã tồn tại hơn 1000 năm thâu tóm cả Châu Âu, một phần Châu Á, Châu Phi.
Vậy ngày nay hai nước Mace’donia và Italia có thể đòi lại các phần đất cũ mà đế quốc Mace’doine và La Mã chiếm đóng từ mấy ngàn năm trước không.
Nếu lý luận như Trung Quốc ngày nay thì người Mông Cổ có thể đòi lại cả nước Nga và nước Trung Hoa cùng nhiều quốc gia khác mà Thành Cát Tư Hãn đã thống trị từ thế kỷ 13-14 không?
Thói ngạo mạn của Trung Quốc lấy cơ bắp làm ngôn ngữ ngoại giao và áp đặt chính sách đối ngoại của mình buộc đối phương phải tuân thủ tựa như đường lối của bọn phát xít Hít-le hồi đại chiến thế giới thứ hai. Thế nhưng Trung Quốc luôn rêu rao là ‘trỗi dậy trong hòa bình’ và muốn làm bạn với các nước. Lâu nay Trung Quốc đã thể hiện rất kiên trì đường lối đối ngoại là cái gì họ làm với thế giới luôn luôn ngược lại với cái mà họ hùng hồn tuyên bố.
Hãy cảnh giác với Trung Quốc!”

Thật ra Trung Quốc còn lưu giữ rất nhiều tư liệu có sức “thuyết phục” toàn thế giới, nếu họ trưng ra thì ngay cả nước lên án họ về tranh chấp biển Đông cũng phải mỉm cười ưng thuận.
– Thứ nhất vào năm 1895 tàu Bellona của Đức bị vấp đá ngầm và chìm tại quần đảo Hoàng Sa, đánh tín hiệu cấp cứu mà Hải Nam không có động dạng gì. Và năm 1896 tàu Himeji của Nhật Bản cũng bị đắm ở Hoàng Sa. Cả hai tầu đều không được phía Trung Quốc cứu hộ mà ngư dân của họ từ Hải Nam còn ra cướp đồng và hàng hóa. Chính phủ Anh đã gửi công hàm phản kháng. Phía Trung Quốc tuyên bố chính thức là quần đảo này không thuộc về phía Trung Quốc. Công hàm này hiện vẫn còn lưu trữ tại thư viện Hoàng gia Anh quốc. Ngay cả phía Trung Quốc chắc cũng còn lưu giữ.
– Thứ hai là sau khi thua trận trong chiến tranh Trung – Nhật, nhà Thanh đã ký hiệp ước Shimonseiki ngày 17 tháng 4 năm 1895, phía Trung Quốc gọi là hiệp ước Mã Quan, theo đó nhà Thanh nhượng cho Nhật Bản vĩnh viễn chủ quyền đầy đủ các quần đảo Bành Hồ, Đài Loan và phía đông vùng biển của bán đảo Liêu Đông cùng với tất cả tài sản có trên đó như: công sự, kho vũ khí… Và khu vực này không bao gồm hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa. Điều đó có nghĩa là hai quần đảo này đã không được xem là thuộc chủ quyền của Trung Hoa.
– Thứ ba trong “Trung Quốc địa lý học giáo khoa thư” biên soạn năm 1905, xuất bản năm 1906 có ghi” Phía Nam từ vĩ độ Bắc 18013’ tận cùng là bờ biển Hải Nam (Nhai Châu) là miền đất cực nam của Trung Quốc. Và vì thế nó không có dính líu gì đến Trường Sa, Hoàng Sa.
Chứng cớ rành rành như thế mà Trung Quốc cứ ỉm đi không chịu công bố, lại bấu víu vào cái thứ lịch sử vu vơ khiến luật sư Ted Laguatan phải lên tiếng cảnh báo với toàn thế giới: “Hãy cảnh giác với Trung Quốc”.
Những đòi hỏi của Trung Quốc ở biển Đông trở nên ngạo mạn, cứ xem cái đường lưỡi bò ấy nó liếm mất khoảng 3,8 triệu km2 trong tổng số hơn 4 triệu km2 của toàn vùng biển Đông. Bởi Trung Quốc mơ ước có tới 22 tỉ thùng dầu và 200 ngàn tỉ m3 khí tự nhiên nằm ở đáy biển, cùng với bao nhiêu thứ kim loại khác sẽ giúp cho họ soán ngôi bá chủ thiên hạ.
Lòng tham khiến họ mờ mắt, chứ các nhà khoa học địa chất Mỹ và Nga dự đoán trong lòng biển Đông chỉ có từ 4 đến 7 tỉ thùng dầu là kịch mốc.
Đừng tham quá mà gây thù chuốc oán với các nước láng giềng vẫn luôn tỏ ra tôn trọng Trung Quốc. Xin các vị hãy đọc lại lời dạy của Chủ tịch Mao Trạch Đông với đoàn cán bộ trước khi sang giúp Việt Nam vào tháng 2 năm 1950.
Về mối quan hệ Trung Hoa, Việt Nam, Chủ tịch Mao Trạch Đông đã kể mẩu chuyện lịch sử “Mã Viện đánh Giao Chỉ”:
“Trong lịch sử từ đời Hán trở đi, Trung Quốc đã từng ức hiếp (1) Việt Nam, 80 năm trước chính phủ Mãn Thanh cắt nhượng Việt Nam cho Pháp (2). Dân tộc Việt Nam là một dân tộc tốt, bị nước ngoài cai trị và áp bức lâu dài, họ căm thù người Pháp, rất nhạy cảm đối với người nước ngoài. Các đồng chí có thể nói với các đồng chí Việt Nam: ‘Tổ tông chúng tôi xưa đã từng ức hiếp các đồng chí, chúng tôi tạ tội và xin lỗi các đồng chí’.” (Nguồn hồi ký của Vi Quốc Thanh đăng trong “Thượng tướng phong vân lục” NXB Đại bách khoa toàn thư năm 2000).
Từ hơn hai ngàn năm nay người Việt Nam vẫn chờ một lời xin lỗi công khai từ phía Trung Hoa! Tuy nhiên, muốn buộc đối phương xin lỗi, có nhẽ người Việt Nam phải sống khác đi!
Tạm biệt nhà văn Nhật Tuấn.
Hà Nội 18h50’ ngày 13.3.2012.
Ghi chú:
(1) Ức hiếp ở đây phải hiểu đúng nghĩa là tàn sát dã man, vì Chủ tịch Mao muốn nói tránh đi.
(2) Chỗ này Chủ tịch Mao hơi ngộ nhận, hiệp ước Pháp – Thanh ký là để phân định biên giới, chứ nhà Thanh có tư cách gì mà cắt nhượng được Việt Nam cho thực dân Pháp.
http://anhbasam.wordpress.com/2012/03/14/ban-chuyen-thoi-su-voi-nha-van-hoang-quoc-hai/

***

Bùi Minh Quốc-Thư ngỏ gửi nhà thơ Thuận Hữu, Tổng Biên tập báo Nhân Dân

Vùng biển Cô Lin – Gạc Ma: Nghĩa trang dưới lòng biển Trường Sa.
14/03/1988, hai mươi bốn năm trước, giặc bành trướng hạ sát 64 chiến sĩ ta để chiếm đảo đá chìm Gạc-ma của ta.
Cứ mỗi lần xem lại clip hình ảnh này, lòng tôi lại trào lên bao đớn đau căm giận. Và cảm phục vô cùng những người lính đã ngã xuống giữa lòng biển của Tổ Quốc mới thanh bình chưa được bao lâu sau hơn ba mươi năm chiến tranh. Và càng thấm thía hơn thế nào là Tổ Quốc.
Tổ Quốc Việt Nam yêu dấu ngàn năm!
Và tôi nhớ đến Thuận Hữu.
Nhớ Thuận Hữu, người lính hải quân quê biển Nghi Xuân tham gia giải phóng Trường Sa tháng 4.1975. Nhớ Thuận Hữu, người lính hải quân sau những năm đồn trú dạn dày sóng bão Trường Sa hiên ngang trở về bước vào làm sinh viên Khoa Văn Đại học Tổng hợp Hà Nội, rồi nối gót các bậc đàn anh Chu Cẩm Phong (khóa 5, đã hy sinh), Nguyễn Phú Trọng (khóa 8) thành người chiến sĩ cầm bút, phóng viên thường trú báo Nhân Dân – báo Đảng tại Đà Nẵng. Nhớ Thuận Hữu, người chiến sĩ làm thơ (nay gọi thi sĩ – chiến sĩ) nổi tiếng với bài thơ tình độc đáo “Những phút xao lòng” lần đầu tiên xuất hiện trên tạp chí Đất Quảng (1984). Nhớ những đêm chúng mình ngồi trên ban công nhà 1b Ba Đình Đà Nẵng, có cả anh em Nguyễn Quang Lập, Nguyễn Quang Vinh (thường gọi Cu Lập, Cu Vinh), nghe Thuận Hữu kể về những vụ bê bối động trời ở hậu cần Quân khu 5, về thái độ khúm núm của một cấp chỉ huy rất to tặng quà cho phóng viên báo Đảng Thuận Hữu để mong được lờ đi. Chén rượu Ba Đồn cực ngon Lập Vinh đem từ quê vào bỗng đắng ngắt trong miệng. Một nỗi phẫn nộ ngút trời nén thành im lặng. Nhớ những đêm Thuận Hữu thức trắng cố đánh giúp tôi cho xong một bản thảo quan trọng đem từ Đà Lạt xuống để tôi kịp đem ra Hà Nội trong chuyến đi xuyên Việt tháng 11.1988. Thuận Hữu nhiệt thành không chỉ vì cái tình anh em giữa chúng ta mà còn vì rất tâm đắc với nội dung bài viết – Thuận Hữu bảo thế khi trao cho tôi 7 xấp bản đanh máy với co chữ rất đẹp và rõ của cơ quan thường trú báo Đảng. Ấy là bài “Dắt tay nhau đi dưới tấm biển chỉ đường của trí tuệ” của nhà khoa học Hà Sĩ Phu (nghe nói về sau Thuận Hữu đã bị kiểm điểm về cái vụ đánh máy giúp tôi đó).
Đã 24 năm, từ khi những người lính Trường Sa của chúng ta bị giặc bành trướng sát hại trên đảo đá chìm Gạc-ma.
Đã 24 năm từ những đêm người cựu chiến sĩ Trường Sa ngồi thức trắng đánh máy bản thảo của nhà khoa học Hà Sĩ Phu.
Thuận Hữu nổi tiếng từ “những phút xao lòng” càng nổi tiếng hơn khi thành Ủy viên Trung ương và Tổng Biên tập báo Nhân dân.
Ai chẳng có những phút ngoài chồng ngoài vợ
Nào có trách chi những phút xao lòng

Trong tình cảm riêng tư, ta đâu nỡ trách nhau.
Nhưng với Nhân dân, với Tổ Quốc, liệu có được phép xao lòng nhạt nghĩa?
Tác giả “Những phút xao lòng” vào Trung ương, làm Tổng Biên tập báo Đảng đã hơn một năm. Trong huyết quản Tổng Biên tập Thuận Hữu, liệu còn bao nhiêu độ thắm của dòng máu người lính Trường Sa? Trên báo Nhân Dân, dưới mỗi dòng chữ, liệu có còn đập trái tim của người lính Trường Sa?

Đà Lạt 23g33 đêm 13.03.2012
B. M. Q.
http://www.boxitvn.net/bai/34406
Bùi Chát -Thói

– Các ông cho chúng tôi được biết sự thật nhé!
– Các ông cho chúng tôi được ngủ với vợ/chồng chúng tôi nhé!
– Các ông cho chúng tôi được thở nhé!
– Các ông cho chúng tôi được bình đẳng trước pháp luật nhé!
– Các ông cho chúng tôi được suy nghĩ khác với các ông nhé!
– Các ông cho chúng tôi được chống tham nhũng nhé!
– Các ông cho chúng tôi được tự do ngôn luận nhé!
– Các ông cho chúng tôi được lập hội vỉa hè nhé!
– Các ông cho chúng tôi được viết bài thơ này nhé!
– Các ông cho chúng tôi được ghét các ông chống đối các ông nhé!
– Các ông cho chúng tôi được tự do biểu tình nhé!
– Các ông cho chúng tôi được bầu cử tự do nhé!
– Các ông cho chúng tôi được bảo vệ tổ quốc nhé!
– Các ông cho chúng tôi được học ngoại ngữ nhé!
– Các ông cho chúng tôi được phản đối Trung Quốc chiếm Hoàng Sa – Trường Sa
nhé!
– Các ông cho chúng tôi được giỏi hơn các ông nhé!
– Các ông cho chúng tôi được đi chùa đi nhà thờ nhé!
– Các ông cho chúng tôi được đọc bản Tuyên ngôn nhân quyền nhé!
– Các ông cho chúng tôi được sở hữu mảnh đất tổ tiên chúng tôi để lại nhé!
– Các ông cho chúng tôi được tố cáo các ông nhé!
– Các ông cho chúng tôi được là người Việt Nam nhé!
– Các ông cho chúng tôi được giữ gìn truyền thống nhé!
– Các ông cho chúng tôi được yêu thêm gia đình bạn bè ngoài các ông nhé!
– Các ông cho chúng tôi được xây dựng đất nước nhé!
– Các ông cho chúng tôi được biết diện tích mặt đất và biển đảo của chúng tôi nhé!
– Các ông cho chúng tôi được biết tên của đất nước chúng tôi 20 năm nữa nhé!
– Các ông cho chúng tôi được không theo các ông nhé!
– Các ông cho chúng tôi được sống riêng tư không bị dòm ngó nhé!
– Các ông cho chúng tôi được đá đít các ông nhé!
– Các ông cho chúng tôi được yêu nước nhé!
– Các ông cho chúng tôi được đi bằng đôi chân của chúng tôi nhé!
– Các ông cho chúng tôi được xuất bản bài thơ này sau khi viết xong nhé!
– Các ông cho chúng tôi được chờ các ông đến bắt nhé!
– Các ông cho chúng tôi được từ chối các ông nhé!
– Các ông cho chúng tôi được ước gì chúng tôi chẳng ước điều gì nhé!
– Các ông cho chúng tôi được mưu cầu hạnh phúc và mưu cầu không hạnh phúc nhé!
……………………………
Xin các ông/bà
Các ông/bà đừng xin chúng tôi nữa!
Bản dịch tiếng Anh do nhà thơ Lê Đình Nhất-Lang thực hiện
Customs
– Dear sirs let us know the truth please!
– Dear sirs let us sleep with our spouses please!
– Dear sirs let us breathe please!
– Dear sirs let us be equal before the law please!
– Dear sirs let us think other than you do please!
– Dear sirs let us fight against corruption please!
– Dear sirs let us have freedom of speech please!
– Dear sirs let us form our curbside clubs please!
– Dear sirs let us write this poem please!
– Dear sirs let us loathe you and protest you please!
– Dear sirs let us have freedom of demonstration please!
– Dear sirs let us have freedom of voting please!
– Dear sirs let us defend our country please!
– Dear sirs let us learn foreign languages please!
– Dear sirs let us protest Chinese occupation of our Hoàng Sa – Trường Sa[1] please!
– Dear sirs let us be smarter than you please!
– Dear sirs let us go to our temples and churches please!
– Dear sirs let us read the Universal Declaration of Human Rights please!
– Dear sirs let us own the piece of land our ancestors left behind please!
– Dear sirs let us denounce you please!
– Dear sirs let us be Vietnamese please!
– Dear sirs let us keep our traditions please!
– Dear sirs let us love our families and friends beside you please!
– Dear sirs let us build up our country please!
– Dear sirs let us know the total area of our lands, islands and seas please!
– Dear sirs let us know the name of our country in the next 20 years please!
– Dear sirs let us not follow you please!
– Dear sirs let us live privately without being watched please!
– Dear sirs let us kick your butts please!
– Dear sirs let us love our country please!
– Dear sirs let us walk with our own legs please!
– Dear sirs let us publish this poem after it is written please!
– Dear sirs let us wait for you to arrive and arrest us please!
– Dear sirs let us refuse you please!
– Dear sirs let us wish that we had no wishes please!
– Dear sirs let us pursue our happiness and unhappiness please!
……………………………

Sirs/madams
Stop asking sirs/madams please!
____________________
[1] The Paracel Islands and the Spratly Islands
(Translated by Lê Đình Nhất-Lang)
Bản dịch tiếng Đức do nhà thơ Matthias Göritz và nhà văn Phạm Thị Hoài thực hiện
dichSitten
– Verehrte Herren, erlauben Sie uns bitte, die Wahrheit zu wissen!
– Verehrte Herren, erlauben Sie uns bitte, mit unseren Frauen zu schlafen!
– Verehrte Herren, erlauben Sie uns bitte, frei zu atmen!
– Verehrte Herren, erlauben Sie uns bitte, vor dem Gesetz gleich zu sein!
– Verehrte Herren, erlauben Sie uns bitte, andere Gedanken zu haben als die Ihren!
– Verehrte Herren, erlauben Sie uns bitte, gegen die Korruption zu kämpfen!
– Verehrte Herren, erlauben Sie uns bitte, unsere Redefreiheit auszuüben!
– Verehrte Herren, erlauben Sie uns bitte unsere Straßenclubs!
– Verehrte Herren, erlauben Sie uns bitte, dieses Gedicht zu schreiben!
– Verehrte Herren, erlauben Sie uns bitte, dass wir gegen Sie protestieren und Sie
verachten!
– Verehrte Herren, erlauben Sie uns bitte das Recht auf Demonstrationen!
– Verehrte Herren, erlauben Sie uns bitte, wirklich zu wählen!
– Verehrte Herren, erlauben Sie uns bitte, unser Land zu verteidigen!
– Verehrte Herren, erlauben Sie uns bitte, Fremdsprachen zu lernen!
– Verehrte Herren, erlauben Sie uns bitte, Einspruch zu erheben gegen die
chinesische Besetzung der Inseln Hoàng Sa und Truờng Sa!
– Verehrte Herren, erlauben Sie uns bitte, klüger zu sein als Sie!
– Verehrte Herren, erlauben Sie uns bitte, in unsere Tempel und Kirchen zu gehen!
– Verehrte Herren, erlauben Sie uns bitte, die Allgemeine Erklärung der
Menschenrechte zu lesen!
– Verehrte Herren, erlauben Sie uns bitte, das Land zu besitzen, das uns unser
Vorväter hinterlassen haben!
– Verehrte Herren, erlauben Sie uns bitte, Sie anzuzeigen!
– Verehrte Herren, erlauben Sie uns bitte, Vietnamesen zu sein!
– Verehrte Herren, erlauben Sie uns bitte, unsere Traditionen zu wahren!
– Verehrte Herren, erlauben Sie uns bitte, neben Ihnen auch unsere Familien und
Freunde zu lieben!
– Verehrte Herren, erlauben Sie uns bitte, unser Land aufzubauen!
– Verehrte Herren, erlauben Sie uns bitte, unser genaues Territorium an Land,
Inseln und See zu vermessen!
– Verehrte Herren, erlauben Sie uns bitte, den Namen unseres Landes für die
nächsten 20 Jahre zu kennen!
– Verehrte Herren, erlauben Sie uns bitte, Ihnen nicht zu folgen!
– Verehrte Herren, erlauben Sie uns bitte, unser Privatleben ohne überwacht zu
werden!
– Verehrte Herren, erlauben Sie uns bitte, Sie in den Hintern zu treten!
– Verehrte Herren, erlauben Sie uns bitte, unser Land zu lieben!
– Verehrte Herren, erlauben Sie uns bitte, auf eigenen Füßen zu stehen!
– Verehrte Herren, erlauben Sie uns bitte, dieses Gedicht zu veröffentlichen,
nachdem es geschrieben wurde!
– Verehrte Herren, erlauben Sie uns bitte, auf Sie zu warten, wenn Sie uns
festnehmen!
– Verehrte Herren, erlauben Sie uns bitte unsere Ablehnung!
– Verehrte Herren, erlauben Sie uns bitte unseren Wunsch, wir hätten nichts zu
wünschen!
– Verehrte Herren, erlauben Sie uns bitte, nach unserer eigenen Fasson glücklich
und/oder unglücklich zu sein!
…………………………..
Verehrte(r) Dame/Herr,
hören Sie bitte auf, solche Bitten an die Herren/Damen zu richten!
(Übersetzt von Matthias Göritz und Phạm Thị Hoài)
Bản dịch tiếng Thụy Điển do nhà thơ Kristoffer Leandoer thực hiện
Vanor
Snälla ni låt oss få veta sanningen!
Snälla ni låt oss få ligga med våra fruar!
Snälla ni låt oss få andas!
Snälla ni låt oss få vara lika inför lagen!
Snälla ni låt oss få tänka annorlunda än ni!
Snälla ni låt oss få bekämpa korruptionen!
Snälla ni låt oss få yttrandefrihet!
Snälla ni låt oss få bilda våra trottoarföreningar!
Snälla ni låt oss få skriva den här dikten!
Snälla ni låt oss få avsky er och protestera mot er!
Snälla ni låt oss få rätt att demonstrera!
Snälla ni låt oss få rösträtt!
Snälla ni låt oss försvara vårt land!
Snälla ni låt oss få lära oss främmande språk!
Snälla ni låt oss få protestera mot Kinas ockupation av Paracell- och Spratleyöarna!
Snälla ni låt oss få vara smartare än ni!
Snälla ni låt oss få gå till våra tempel och kyrkor!
Snälla ni låt oss få läsa Deklarationen om Mänskliga Rättigheter!
Snälla ni låt oss få äga det land som våra förfäder lämnade efter sig!
Snälla ni låt oss få fördöma er!
Snälla ni låt oss få vara vietnamesiska!
Snälla ni låt oss få behålla våra traditioner!
Snälla ni låt oss få älska våra familjer och vänner och inte bara er!
Snälla ni låt oss få bygga upp vårt land!
Snälla ni låt oss få veta den sammanlagda arealen av våra landområden, öar och
hav!
Snälla ni låt oss få veta vad vårt land kommer att heta om tjugo år!
Snälla ni låt oss få slippa följa er!
Snälla ni låt oss få leva privat utan att bli övervakade!
Snälla ni låt oss få sparka er i arslet!
Snälla ni låt oss få älska vårt land!
Snälla ni låt oss få gå på våra egna ben!
Snälla ni låt oss få publicera den här dikten när den väl är skriven!
Snälla ni låt oss få vänta på att ni kommer och arresterar oss!
Snälla ni låt oss få säga nej till er!
Snälla ni låt oss få önska att vi inte hade någon önskan!
Snälla ni låt oss få kämpa för vår olycka och lycka!
…………………………………………………..
Snälla ni
Sluta fråga snälla ni!
Tác giả gửi trực tiếp cho BVN.
http://www.boxitvn.net/bai/34300

Để lại phản hồi »

Chưa có phản hồi.

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Blog at WordPress.com.