Hoàngquang’s Blog

08/03/2012

Đảng chỉ còn vai trò kìm hãm xã hội -Lê Hồng Hà vừa dứt khoát lại vừa bao dung

Filed under: Chính trị- xã hội — hoangquang @ 10:44 sáng
Tags: ,

Lê Hồng Hà vừa dứt khoát lại vừa bao dung

V. Quốc Uy
Phạm Hồng Sơn -Phỏng vấn Lê Hồng Hà Đảng chỉ còn vai trò kìm hãm xã hội
& Tiên Lãng và Nguyễn Mạnh Tường

quechoa, 8/3 Hoa cho Bùi Hằng
TIN ĐẶC BIỆT: NGÀY 8.3 ĐI TRẠI THANH HÀ THĂM BÙI HẰNG

Hà Đình Sơn Hy sinh lợi ích truyền thống của dân tộc thì không còn là chính nghĩa
Phạm Gia Minh Tản mạn về “Tây hóa”-
Lê Anh Hùng Sửa Hiến pháp – trí thức phải lên tiếng TS. Nguyễn Sỹ Phương SỰ KIỆN ĐOÀN VĂN VƯƠN VÀ NAN ĐỀ LUẬT HÌNH SỰ Nguyễn Quang Vinh “VỤ TIÊN LÃNG” MANG QUYỀN LỢI CHO HÀNG TRIỆU HỘ NÔNG DÂN
Phạm Thị Hoài Hai con số

***
V. Quốc Uy-
Lê Hồng Hà vừa dứt khoát lại vừa bao dung

Bài phỏng vấn ngày 6/3/2012 (- Xem phần sau) cho tôi một ấn tượng mới về bác Lê Hồng Hà.
Ấn tượng của độc giả trước đây về LHH là một vị lão thành nghiêm túc, chân thực, phê phán mạnh những sai lầm của ĐCSVN và của chủ nghĩa Mác-Lê, tin vào nhân dân… song còn một số hạn chế như: quan niệm “tự vỡ” của hệ thống CS là thế nào, có phải LHH trông chờ nhiều ở những người CS thức tỉnh ở quanh ông mà ít quan tâm đến những nhân vật và phong trào đấu tranh dân chủ cụ thể tự phát ở trong nước nhất là ở ngoài nước, có phải LHH đánh giá chưa đúng nguy cơ Bắc thuộc…? Với bài trả lời phỏng vấn nói trên, theo tôi, bác LHH, một cách ngắn gọn và dứt khoát đã rũ sạch được những ấn tượng “lấn cấn” nói trên.

Việc đánh giá tình hình đất nước của LHH đã xổ toẹt sự đánh giá của đảng CS: Ông nói “tình hình xã hội hiện nay ở mức độ xấu chưa từng có, kể từ năm 1975 đến giờ. Sự xuống cấp của đất nước hầu khắp mọi lĩnh vực mà nguyên nhân là do đường lối của ĐCSVN về phát triển là sai”.

Đánh giá công và tội của đảng CS:
Câu duy nhất tạm coi là ghi công “về công cuộc giải phóng dân tộc thì có thể là anh hùng ca”, nhưng thành tích ấy là do tinh thần yêu nước của dân tộc chứ không phải do tính chất Cộng sản của Đảng, trái lại Đảng đã nhập vào một chủ nghĩa “phản phát triển” nên “việc xây dựng và phát triển đất nước thì từ khi có ĐCSVN đến giờ đó là một quãng lịch sử thất bại” , khiến cho “uy tín của của ĐCSVN đã xuống thấp chưa từng có, gần như không còn ai tin vào cái Đảng này nữa!” “Việt Nam dưới sự lãnh đạo của ĐCSVN thì càng phát triển lại càng tụt hậu về nhiều mặt so với các nước trong khu vực”. Theo ông, ĐCS hiện nay chẳng còn tiền phong tiền phiếc gì hết mà “Đảng hiện nay chỉ còn vai trò kìm hãm xã hội thôi”. (suy ra: Vậy thì Đảng còn ngồi ở đấy làm gì?)

Tội lớn nhất của Đảng là tạo điều kiện cho Trung quốc xâm lược: “Trung Quốc đã và đang ráo riết thực hiện những kế hoạch dữ dội, xâm nhập, ảnh hưởng, chèn ép, bao vây trên mọi lĩnh vực, kinh tế, an ninh, quốc phòng, lãnh thổ, nhằm thực hiện ý đồ cuối cùng là thôn tính Việt Nam. Còn về phía Việt Nam thì nhiều cán bộ lãnh đạo của Việt Nam lại đã và đang bị Trung Quốc mua chuộc và khống chế. Tất cả những điều đó đều là một quá trình liên tục từ Đại hội VI của ĐCSVN đến nay. Thái độ nói chung của lãnh đạo Việt Nam hiện nay về Trung Quốc lại lờ phờ, không rõ ràng. Đó là một vấn đề hết sức nguy hiểm”.

Nguồn gốc mọi sai lầm là do chủ nghĩa Mác-Lênin: “Chủ nghĩa Marx-Lenin là một học thuyết đấu tranh giai cấp, là một học thuyết phản phát triển” nên.”Xây dựng và phát triển đất nước mà lại theo chủ nghĩa Marx-Lenin thì sai hoàn toàn” . “Sai lầm từ gốc nằm ở cương lĩnh, ở đường lối, ở hệ tư tưởng”. Thế nhưng ĐCSVN không biết sai từ gốc hoặc biết sai từ gốc nhưng nếu nhận sai như thế thì “phải chấp nhận rằng công tác tuyên huấn là bịp bợm còn công tác lý luận là bế tắc, họ sẽ phải tự cách chức hết, tự nghỉ hết, tức là sự tự “lật đổ”, sự thay đổi hoàn toàn” dẫn đến mất chức mất quyền lợi của họ. Vì không dám đụng đến cái gốc của sai lầm nên theo ông “mong muốn đổi mới cái Đảng này cho nó mạnh lên, nó sạch lên thì không có. Trong tình hình hiện nay của đất nước thì cái Đảng này không thể đổi mới được”, “làm sao có thể chỉnh đốn được”? Tóm lại lối thoát duy nhất là: “thôi hệ tư tưởng Marx-Lenin đi!” (thế thì ông LHH triệt để hơn hẳn ông Lữ Phương, ông LP vẫn cứ bịn rịn với Mác, chạy tội cho Mác).

Đánh giá lực lượng đổi mới: Đối với chủ nghĩa Mác-Lê và đảng CS, LHH càng dứt khoát bao nhiêu thì đối với các lực lượng đổi mới ông càng ưu ái, tinh tế và bao dung bấy nhiêu.

Trước hết ông chỉ tin vào Dân, đặt Dân đối diện, đối tác, đối lập với Đảng: “Chỉ dân mới có thể tạo ra đổi mới. Nếu cái Đảng này có làm được cái gì tiến bộ thì cũng phải dựa vào SỨC ÉP của dân. Nhân dân sẽ là người BẮT Đảng phải thay đổi”.

Trong dân, ông lưu ý những người tiền phong của dân. Tuy không còn là đảng viên nhưng vợ là đảng viên, môi trường giao lưu hầu hết là đảng viên, nhưng LHH không e ngại đặt hy vọng vào những nhân vật và tổ chức mà Đảng thù ghét như khối 8406, Cù Huy Hà Vũ, cha con Trần Huỳnh Duy Thức, Phạm Thanh Nghiên, Nguyễn Xuân Nghĩa, biểu tình viên Bùi thị Minh Hằng…, và cả phong trào hải ngoại mà LHH đánh giá là “ở ngoài nước, tôi thấy có nhiều phát biểu cũng rất giỏi, nhiều hoạt động rất tích cực”.

Đặc biệt, đối với “những người đang nằm trong hệ thống như Dương Trung Quốc, Nguyễn Minh Thuyết, Tương Lai, Nguyễn Trung…, họ phát biểu còn dè dặt thì đánh giá thế nào?” Những người này vẫn đang bị phê phán là “đối lập trung thành, là cải lương”, LHH biết rõ tác dụng tích cực của họ, nhưng tôn trọng lời cảnh giác của dư luận, LHH chỉ để dấu hỏi và không kết luận gì ( dè dặt là sách lược hay dè dặt do nhận thức, hay dè dặt do quyền lợi?) . Ở đây vấn đề đòi hỏi sự tinh tế, mắc sai lầm về phía nào cũng đều có hại…

Cuối cùng, đối với ĐCS
là đối tượng mà LHH nhận định là không còn chút uy tín gì, chỉ còn mỗi tác dụng là kìm hãm xã hội, nhưng LHH không đòi “giải thể” như nhiều người khác, mà chỉ khuyên các đảng viên hãy “họp lại với nhau (mà bàn nhau) để thôi hệ tư tưởng Marx-Lenin đi! Tôi không kêu gọi thủ tiêu “anh” nhưng “anh” muốn tồn tại thì phải thực hiện đa đảng, dân chủ, để mà tồn tại”.

Lời khuyên ấy không hề là sự yếu mềm chờ đợi, vì LHH đã khẳng định ĐCS không thể tự đổi, khẳng định Dân phải gây SỨC ÉP, phải BẮT thì Đảng mới có thể thay đổi. Vậy sự “tự vỡ” mà ông nói trước đây không phải Đảng tự thân chủ động vỡ ra mà sự “ổn định phi lý” của xã hội phải vỡ ra dưới áp lực của Thực tiễn, của Xã hội công dân ngày càng lớn mạnh.

Lạ thay, những ý kiến dân chủ quyết liệt trong bài phỏng vấn ấy lại từ một “lão thành cách mạng” Cộng sản, học ở Trung Quốc, lại học về Mác-Lê, lại nguyên là đại tá Công an, nghĩa là từ một người có đủ các điều kiện để trở thành một kẻ Mao-ít, phản Dân tộc và Phản động, chỉ biết còn Đảng còn mình!

Tư duy thì dứt khoát như vậy, và LHH quan niệm toàn dân phải tiến lên gây Sức ép đủ mạnh để “bắt” Đảng từ bỏ chủ nghĩa, từ bỏ nạn cai trị độc đảng (đấy là cách mạng ôn hoà chứ còn gì khác), nhưng ông giữ lại điều “ngoại giao” cuối cùng: lờ đi cái nhân vật đang ngồi trên bàn thờ!. Bạn có thể bảo thế là chưa triệt để, nhưng thử nghĩ mà xem, đã lên án cái chủ nghĩa Mác-Lê phản tiến hoá đến tận cùng tội lỗi, mà từ đầu đến cuối không thèm trích một lời nào của nhân vật đã rước chủ nghĩa ấy về (như số đông các người dù phê phán Đảng rất mạnh vẫn thường trích dẫn ), thì ngần ấy chưa đủ phủ định thần tượng ấy hay sao? Điều không cần nói mà cứ nói chẳng là thừa sao?

Phải chăng đó là phép xử lý triệt để mà bao dung rất Á Đông, có thể tham khảo?

8/3/2012

V. Quốc Uy

http://tintuchangngay.info/2012/03/08/le-h%E1%BB%93ng-ha-v%E1%BB%ABa-d%E1%BB%A9t-khoat-l%E1%BA%A1i-v%E1%BB%ABa-bao-dung/

Phạm Hồng Sơn -Phỏng vấn Lê Hồng Hà Đảng chỉ còn vai trò kìm hãm xã hội

pro&contra Ông Lê Hồng Hà, cựu đại tá công an, năm nay 86 tuổi, là người đã tham dự Khóa I cho người Việt Nam về Chủ nghĩa Marx-Lenin tại Bắc Kinh năm 1949 và ở lại làm trợ giảng cho các khóa II, III đến năm 1952. Năm 1953 về nước phụ trách Trường Công an Trung ương (tiền thân của Học viện An ninh hiện nay). Năm 1958 là Chánh văn phòng Bộ Công an dưới thời Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn, là Ủy viên Đảng Đoàn Bộ Công An từ năm 1956. Ông là người đã cùng ông Nguyễn Trung Thành (cựu Vụ trưởng Vụ Bảo vệ Đảng dưới thời ông Lê Đức Thọ), vào nửa cuối thập niên 1990, đề nghị Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN) phải minh oan cho những nạn nhân trong vụ án có tên “Vụ án chống Đảng theo chủ nghĩa xét lại làm tình báo cho nước ngoài” (tên thường gọi: “Vụ án xét lại chống Đảng”). Không lâu sau ông đã bị khai trừ khỏi Đảng (cùng ông Nguyễn Trung Thành) và bị vào tù một thời gian.

Phạm Hồng Sơn thực hiện
Phạm Hồng Sơn: Thưa ông Lê Hồng Hà, với cương vị là người đã tham gia Cách mạng tháng Tám, Kháng chiến chống Pháp và chứng kiến Kháng chiến chống Mỹ, thời kỳ Đổi Mới, xin ông cho biết tình hình Việt Nam hiện nay có những vấn đề gì đáng lưu tâm nhất?

Lê Hồng Hà: Tình hình chung hiện nay tôi thấy có ba vấn đề lớn nhất. Thứ nhất là sự đánh giá của ĐCSVN về chính ĐCSVN và về hiện trạng đất nước nói chung là sai lầm. ĐCSVN vẫn cố tô vẽ cho thực trạng hiện nay những điều không có, vẫn tự khoe khoang, huyênh hoang rằng nhờ mình thì đất nước mới có nhiều điều tiến bộ. Ví dụ Đảng luôn cho lịch sử của dân tộc từ khi có Đảng là một bản anh hùng ca. Theo tôi, về công cuộc giải phóng dân tộc thì có thể là anh hùng ca nhưng về việc xây dựng và phát triển đất nước thì từ khi có ĐCSVN đến giờ đó là một quãng lịch sử thất bại. Và giải phóng dân tộc vừa qua cũng không như Đảng nói là nhờ chủ nghĩa Marx-Lenin mà cái chính là do nhân dân đã tiếp thu, tiếp nối được truyền thống yêu nước của dân tộc. Chủ nghĩa Marx-Lenin nếu có chỉ có một phần nhỏ là tập hợp được đoàn kết giữa công nhân và nông dân thôi. Còn thực tế đã cho thấy Việt Nam dưới sự lãnh đạo của ĐCSVN thì càng phát triển lại càng tụt hậu về nhiều mặt so với các nước trong khu vực. Xây dựng và phát triển đất nước mà lại theo chủ nghĩa Marx-Lenin thì sai hoàn toàn. Chủ nghĩa Marx-Lenin là một học thuyết đấu tranh giai cấp, là một học thuyết phản phát triển.
Thứ hai là tình hình xã hội hiện nay ở mức độ xấu chưa từng có, kể từ năm 1975 đến giờ. Sự xuống cấp của đất nước hầu khắp mọi lĩnh vực từ an ninh, đạo đức, văn hóa, giáo dục, xã hội, hay chính trị. Chính trị nghĩa là uy tín của của ĐCSVN đã xuống thấp chưa từng có, gần như không còn ai tin vào cái Đảng này nữa. Như vậy xã hội hiện nay, theo tôi, đang lâm vào một cuộc tổng khủng hoảng toàn diện mà nguyên nhân là do đường lối của ĐCSVN về phát triển là sai.
Thứ ba là vấn đề Trung Quốc. Trung Quốc đã và đang ráo riết thực hiện những kế hoạch dữ dội, xâm nhập, ảnh hưởng, chèn ép, bao vây trên mọi lĩnh vực, kinh tế, an ninh, quốc phòng, lãnh thổ, nhằm thực hiện ý đồ cuối cùng là thôn tính Việt Nam. Còn về phía Việt Nam thì nhiều cán bộ lãnh đạo của Việt Nam lại đã và đang bị Trung Quốc mua chuộc và khống chế. Tất cả những điều đó đều là một quá trình liên tục từ Đại hội VI của ĐCSVN đến nay. Thái độ nói chung của lãnh đạo Việt Nam hiện nay về Trung Quốc lại lờ phờ, không rõ ràng. Đó là một vấn đề hết sức nguy hiểm.
Phạm Hồng Sơn: Vậy ĐCSVN còn đóng vai trò gì đối với đất nước hiện nay?

Lê Hồng Hà: Trước đây Đảng đã từng giữ vai trò tiền phong trong xã hội, thúc đẩy tiến bộ cho xã hội ở một số phương diện. Nhưng đến nay Đảng không còn giữ được những vai trò đó nữa vì Đảng vẫn đi theo hệ tư tưởng Marx-Lenin. Còn về đội ngũ của Đảng, đặc biệt là hàng ngũ cầm quyền, đã bị tha hóa, tham nhũng, xoay sở, vô cảm với đất nước, xã hội. Vì vậy Đảng hiện nay chỉ còn vai trò kìm hãm xã hội thôi.
Phạm Hồng Sơn: Vừa rồi ĐCSVN đã có Hội nghị Trung ương 4 và tiếp theo là một Hội nghị toàn quốc về chỉnh đốn Đảng, ông có kỳ vọng gì?

Lê Hồng Hà: Nói đúng ra thì những Hội nghị được tổ chức rất ghê gớm đó họ đã có những phát hiện cũng có ích chứ không phải là vứt đi nhưng nó không trúng vấn đề chính, không đi vào nguyên nhân gốc. Nhiều cán bộ lâu năm đã có những bộc bạch là nếu cứ ra những nghị quyết kiểu như thế thì sẽ “chẳng giải quyết được cái quái gì cả”. Họ chỉ dựa vào những biểu hiện, rồi tập trung phân tích vào những hư hỏng bên ngoài. Họ chưa nhận ra hoặc không dám nhận ra nguyên nhân gốc của những hư hỏng đó thì làm sao có thể chỉnh đốn được.
Phạm Hồng Sơn: Tại sao họ “không dám nhận ra”?

Lê Hồng Hà: Nếu họ phải thừa nhận sai lầm từ gốc nằm ở cương lĩnh, ở đường lối, ở hệ tư tưởng thì tức là họ phải chấp nhận rằng công tác tuyên huấn là bịp bợm còn công tác lý luận là bế tắc, họ sẽ phải tự cách chức hết, tự nghỉ hết, tức là sự tự “lật đổ”, sự thay đổi hoàn toàn. Mà hiện nay họ vẫn tỏ ra phải giữ quyền lực, địa vị, giữ lợi ích của họ, nghĩa là họ phải giữ những đường lối đó. Không những thế, vừa rồi họ vẫn còn cho rằng ai phê phán đường lối chính trị của họ là sai lầm là đều thuộc lực lượng “chống đối, thù địch”, nghĩa là những gì chúng ta trao đổi từ nãy đến giờ là thuộc lực lượng “thù địch” rồi. Do đó trong tình hình muốn tạo thế chuyển biến cho đất nước Việt Nam thì phải dựa vào dân, chứ dựa vào Đảng, mong muốn đổi mới cái Đảng này cho nó mạnh lên, nó sạch lên thì không có. Trong tình hình hiện nay của đất nước thì cái Đảng này không thể đổi mới được. Chỉ dân mới có thể tạo ra đổi mới. Nếu cái Đảng này có làm được cái gì tiến bộ thì cũng phải dựa vào sức ép của dân. Nhân dân sẽ là người bắt Đảng phải thay đổi.
Phạm Hồng Sơn: Xin ông đánh giá về lực lượng tiến bộ hiện nay?

Lê Hồng Hà: Vì đất nước, xã hội đang lâm vào một cuộc tổng khủng hoảng nên chính điều đó đang tạo ra một đòi hỏi phải thay đổi của bản thân xã hội, của các thành phần trong xã hội. Những vận động, đấu tranh cho tiến bộ đã được nhiều người thực hiện liên tục từ hàng chục năm qua với nhiều bước thăng trầm. Nhưng khoảng 1 đến 2 năm nay phong trào đang lên mạnh với sự xuất hiện của nhiều nhân vật mới, đang trồi lên liên tục và là tổng hợp của rất nhiều cái cụ thể. Nếu lấy mốc thì tôi lấy mốc là Vụ án Cù Huy Hà Vũ, những cuộc biểu tình chống Trung Quốc ở Hà Nội và một loạt những kiến nghị tập thể, phải kể đến nhất là Kiến nghị có chữ ký ban đầu của 85 vị ở cả trong Nam và Bắc, rồi Kiến nghị của hơn 20 trí thức, rồi Kiến nghị về Bauxite, rồi cả các Kiến nghị của ông Trần Văn Huỳnh (bố Trần Huỳnh Duy Thức). Nói chung lực lượng tiến bộ đang trồi lên với nhiều hình, nhiều vẻ và với những quan điểm rất khác nhau. Vấn đề hiện nay là vẫn chưa có ai tổng hợp được về những lực lượng đối lập đang nổi lên ở trong nước, gồm những ai, như thế nào. Việc này cần quan tâm để đánh giá cho chính xác, để hiểu rõ họ như thế nào. Ví dụ nhóm Minh Triết của Nguyễn Khắc Mai, rồi Khối 8406, hay những người đang nằm trong hệ thống như Dương Trung Quốc, Nguyễn Minh Thuyết, Tương Lai, Nguyễn Trung, họ phát biểu còn dè dặt thì đánh giá thế nào, rồi Phạm Thanh Nghiên, Nguyễn Xuân Nghĩa, rồi hiện tượng ở Phú Yên hay là Nguyễn Xuân Diện đi thăm Bùi Thị Minh Hằng, Nguyễn Quang Vinh đưa tin về Tiên Lãng, Ba Sàm điểm tin hàng ngày, hay Nguyễn Huệ Chi đi thăm Cù Huy Hà Vũ, rồi Tướng Nguyễn Trọng Vĩnh lên tiếng đòi thả Bùi Thị Minh Hằng. Rồi ở ngoài nước, tôi thấy có nhiều phát biểu cũng rất giỏi, nhiều hoạt động rất tích cực. Như vậy hiện nay đang có rất nhiều tiếng nói, hoạt động, rất đa dạng, rất phong phú, rất khác nhau, rất phức tạp, rất ghê gớm. Tôi đang quan tâm nhưng chưa tài nào tổng hợp được.
Phạm Hồng Sơn: Ông tiên liệu gì về phản ứng của ĐCSVN trước những “trồi lên” đó?

Lê Hồng Hà: Họ sẽ đi đến chỗ phải đàn áp. Mà một trong những biểu hiện của nó là Đảng vừa ra 19 điều cấm kỵ đối với đảng viên, nghĩa là nó chuẩn bị đàn áp đấy. 19 điều cấm là tước quyền công dân của đảng viên, vi phạm luật pháp. Nhưng điều đó cũng thể hiện Đảng đang ở tâm trạng bất lực. Một biểu hiện bất lực rõ nữa là tháng trước ông TBT Nguyễn Phú Trọng phải đứng ra mời gặp các cán bộ lão thành trong Nam và ngoài Bắc. Hoạt động đó cách đây khoảng 2-3 năm là một chế độ thường niên, nhưng mỗi lần gặp thì lại bị các cán bộ lão thành phê phán, góp ý kiến rất “lộng óc” nên sau đó Đảng đã bỏ đi, không tổ chức nữa. Nhưng rồi dư luận kêu ca nhiều quá nên vừa rồi lại phải tổ chức lại nhưng lại chỉ dám mời những cán bộ lão thành cao cấp như kinh qua Ban Bí thư, kinh qua Thủ tướng, không dám mời mở rộng và cũng không dám nghe hết các ý kiến. Như vậy là Đảng đang muốn xoa dịu, đang muốn tỏ ra có sự đoàn kết, gắn bó giữa lãnh đạo hiện nay với lớp về hưu, nhưng thực tế cho thấy sự chia rẽ, mất đoàn kết trong Đảng là hiện tượng phổ biến.
Phạm Hồng Sơn: Ông là người đã tiếp thêm tiếng nói mạnh mẽ về việc phải bạch hóa và minh oan cho những nạn nhân trong “Vụ án xét lại chống Đảng” thời những năm cuối 1960 đầu 1970. Theo ông, những tấm gương nạn nhân năm xưa đó có ý nghĩa gì với lịch sử và đặc biệt có ý nghĩa gì trong bối cảnh đất nước hiện nay?

Lê Hồng Hà: Đó là những con người xứng đáng với bản lĩnh anh hùng, xứng đáng là tấm gương cho thế hệ hiện nay noi theo. Xã hội cần phải tiếp tục công việc để đòi ĐCSVN phải tuyên bố sửa sai, đòi minh oan cho những con người lịch sử đó để bảo vệ chân lý, bảo vệ pháp luật và trả lại thanh danh cho những con người anh hùng đó.
Phạm Hồng Sơn: Với tư cách là một người đi trước hay nói theo cách thường thấy là một “lão thành cách mạng”, giả thiết nếu có lãnh đạo của ĐCSVN hiện nay đến tham vấn, ông sẽ nói gì với họ?

Lê Hồng Hà: Tôi sẽ nói với họ đúng như những gì đã nói ở trên.
Phạm Hồng Sơn: Ông có những lời khuyên cụ thể nào không?

Lê Hồng Hà: ĐCSVN cần phải họp lại với nhau để thôi hệ tư tưởng Marx-Lenin đi. Tôi không kêu gọi thủ tiêu “anh” nhưng “anh” muốn tồn tại thì phải thực hiện đa đảng, dân chủ, để mà tồn tại.
Phạm Hồng Sơn: Trân trọng cảm ơn ông Lê Hồng Hà.

Bài đăng ngày 06.3.2012

© 2012 pro&contra
http://www.procontra.asia/?p=387

Phạm Hồng Sơn Tiên Lãng và Nguyễn Mạnh Tường
Theo blog pro&contra

Luật sư Nguyễn Mạnh Tường -“Muốn chữa bệnh phải tìm được “bệnh căn”. Trong vụ án Đoàn Văn Vươn, điều đáng mừng là dư luận đã không nhìn đây như một vụ việc đơn độc mà gắn nó vào một tình trạng phổ biến, có thể gọi không ngoa là một quốc nạn, và tìm thấy gốc là ở Luật đất đai và Hiến pháp, và đề cập đến biện pháp mạnh là phải huỷ bỏ chế độ “sở hữu toàn dân… trá hình”!

Song như vậy đã phải là truy tìm được tới nguồn gốc chưa? Tác giả Phạm Hồng Sơn đã viện dẫn khá chi tiết bài diễn văn lịch sử của nhà Luật học yêu nước kiệt xuất Nguyễn Mạnh Tường cách đây 55 năm, nhân vụ sửa sai nửa vời về Cải cách ruộng đất, để giúp ta khẳng định câu trả lời: Chưa, Luật đất đai vẫn chưa phải nguồn gốc của quốc nạn mà cả nước hiện nay đang đề cập!
Gốc ở đâu? Bác sĩ Phạm Hồng Sơn đã tìm thấy sự tương đồng của quốc nạn về đất đai hiện nay, mà nông dân là nạn nhân chính, với quốc nạn cũng về nông dân trong quá khứ là Cải cách ruộng đất, cả hai đều có cùng nguồn gốc. Tư duy Pháp trị của Nguyễn Mạnh Tường dẫn ta đến kết luận không thể khác: “cả hai đều cùng chung một cái nền sinh ra chất độc. Lớp trên của cái nền đó là chính sách (luật) về đất đai, còn lớp dưới cùng là HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ PHI DÂN CHỦ […]” (PHS)
Kết luận sáng tỏ ấy cũng chẳng phải điều gì ghê gớm đối với tư duy khoa học, nhưng phần đông chúng ta thấy sợ nên cứ tự kiểm duyệt mình thôi. Nhưng cách đây nửa thế kỷ, người Trí thức ưu tú Nguyễn Mạnh Tường, giữa lúc đang được trọng dụng đã dám dấn thân cất lên tiếng nói của Trí tuệ và của lòng yêu nước để cam chịu làm kẻ bị rút phép thông công (Excommunicated) đến tận cuối đời, hẳn ông đặt hy vọng vào lớp hậu bối như chúng ta, ngày nay hoàn cảnh thế giới đã vượt lên rất xa, há ta lại đem sự hèn của mình để cam tâm phụ lòng người đi trước?
Ngoài thu hoạch để tìm ra căn nguyên một vấn nạn xã hội, thiết tưởng tấm gương Nguyễn Mạnh Tường chính là ví dụ thật bổ ích cho cuộc luận bàn về Trí thức hôm nay.
Bauxite Việt Nam

h Tường (1909-1996), trong một phiên họp của Mặt trận Tổ quốc tại Hà Nội vào ngày 30/10/1956, đã có bài diễn văn phê bình Cải cách Ruộng đất (CCRĐ) . và chính sách xử lý, sửa sai CCRĐ của Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN, lúc đó có tên là Đảng Lao động Việt Nam).
Đề cập cụ thể tới biến cố CCRĐ, nhưng Nguyễn Mạnh Tường không sa vào các chi tiết, vấn đề cục bộ. Ngay từ đầu, không hề úp mở, Nguyễn Mạnh Tường đã chẩn đoán xác định trách nhiệm cao nhất về CCRĐ nằm ở sự lãnh đạo của ĐCSVN, ông nói:
“Chủ yếu tôi sẽ phê phán và truy nguyên các sai lầm trong Cải cách Ruộng đất, nhưng theo ý tôi các sai lầm này chỉ là biểu hiện điển hình và bi đát nhất của những thiếu sót trong sự lãnh đạo của Đảng Lao động…
Tại sao tôi lại tin như vậy? Là vì, không những trong Cải cách Ruộng đất chúng ta đã phạm sai lầm nghiêm trọng mà cả trong nhiều khu vực khác nữa. Trong các khu vực này, sai lầm cũng đã đưa một số người trong quần chúng đến cái chết thê thảm. Do đó, nếu chỉ cục bộ hóa các sai lầm, chúng ta không thể rút được bài học kinh nghiệm.”

Có thể do hiểu được tâm lý e ngại của cử tọa khi động chạm tới ĐCSVN, ông lại mạnh mẽ nêu rõ trách nhiệm đó một lần nữa: “các sai lầm ta đã mắc trong cuộc Cải cách Ruộng đất này chỉ là những biểu hiện cực độ của các sai lầm ta đã phạm, và các sai lầm ấy nêu lên, như tôi trình bày trên đây, một vấn đề cực kỳ quan trọng là vấn đề lãnh đạo của Đảng Lao động.”

Sau khi xác định rõ trách nhiệm cao nhất về CCRĐ phải thuộc giới lãnh đạo của ĐCSVN, Nguyễn Mạnh Tường đề cập tới các sai lầm có tính kỹ thuật trong CCRĐ, đó là vấn đề pháp lý, đúng hơn là sự bất chấp pháp lý, coi khinh pháp luật của những người thực hiện CCRĐ. Với một sự chân thành tha thiết Nguyễn Mạnh Tường như muốn dốc hết những kiến thức cơ bản về pháp luật để thuyết phục cử tọa:
“Tôi xin phép nhắc tóm tắt sau đây các nguyên tắc căn bản mà pháp lý nêu lên để đạt mục đích ấy.
…Một nguyên tắc thứ ba là muốn kết án một người phải có bằng chứng xác đáng. Phải có nhân chứng là những kẻ đã mục kích sự phạm pháp và cung khai một cách cụ thể, rõ ràng, chắc chắn. Một nhân chứng thôi chưa đủ, ít ra cũng phải có hai nhân chứng cung khai phù hợp với nhau mới được coi là đáng kể. Cung khai của các nhân chứng phải ăn khớp với nhau và trong quá trình phạm pháp các tang vật thu được phải có tác dụng hợp lý, sát hợp với kết quả do cuộc điều tra mang lại.
Một nguyên tắc thứ tư là thủ tục điều tra, xét xử phải bảo đảm quyền lợi của bị tố nhân. Bị tố nhân có quyền nhờ luật sư bào chữa cho mình, và khi thiếu điều kiện nhờ luật sư, khi nào là một trọng tội, Tòa phải cử luật sư bào chữa không, cho bị can. Trong tất cả, giai đoạn điều tra ở trình độ công an thẩm vấn trong phòng dự thẩm, buộc tội trước tòa, quyền lợi của công tố viện ngang với quyền lợi bị can, nghĩa là nếu công tố viện đưa hết lý lẽ để buộc tội, bị can đưa hết lý lẽ để minh oan. Cuộc đấu lý diễn ra trong tất cả quá trình điều tra, truy tố, xét xử giữa công tố viện và luật sư. Các vị thẩm phán ngồi xét xử phải là vô tư, đứng giữa để theo rõi cuộc đấu lý diễn ra dưới mắt mình. Như thế mới nhận định đúng và xử công minh. Toà án xét xử không chịu lệnh của ai trong khi xét xử, chỉ biết xét xử theo lương tâm của mình và căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ, sau khi nghe hai tiếng chuông buộc tội và gỡ tội. Người thẩm phán phải được đủ đảm bảo để làm nhiệm vụ của mình mà không sợ ai khiển trách hay gây khó khăn cho mình được. Khi điều tra thẩm vấn, tuyệt đối cấm không được dùng phương pháp tra khảo, đánh đập, hành hạ bị can, mớm cung cho bị can, dọa nạt hay dụ dỗ hắn. Khi nào có điều nghi ngờ thì bị can được miễn nghị. Nếu bị kết án thì còn quyền chống án lên tòa trên. Nếu bị kết án tử hình thì lại còn quyền xin ân giảm trước vị Chủ tịch Chính phủ. Con người của bị can, trong tất cả quá trình truy tố và xét xử phải được tôn trọng triệt để, khi bị can ra trước tòa thì không được xiềng xích họ và không lúc nào được dùng nhục hình đối xử với họ.
Theo một nguyên tắc căn bản, không phải vì một người tác hại cho một người khác mà người ấy phải chịu trách nhiệm trước hình luật. Tác hại cho ai thì chỉ nêu trách nhiệm về phương diện dân sự, nghĩa là bồi thường thôi — của người đã tác hại. Muốn truy tố người ấy để thi hành hình luật đối với hắn thì phải chứng minh rằng hắn phạm một tội, nghĩa là phạm vào một điều khoản nào qui định trong hình luật, và hình luật không bao giờ có tác dụng đối với quá khứ cả: nếu hành động của một người diễn ra trong thời kỳ mà hình luật chưa quan niệm là một tội thì người ấy không thể mang ra truy tố được. Không những bị can phải phạm một tội đã qui định rồi trong pháp luật, mà ta lại còn phải xét xem rằng lúc phạm tội ấy bị can có ý thức, có ý chí phạm pháp hay không, hay là vô tình mà phạm pháp. Sự đối xử trong hai trường hợp ấy khác nhau…”

Không dừng lại ở những sai phạm kỹ thuật pháp lý, điều mà có thể nhiều lãnh đạo cao cấp của ĐCSVN lúc đó không phải không biết, Nguyễn Mạnh Tường đã chỉ thẳng vào sai phạm cốt lõi của hệ thống chính trị là tính chất phi dân chủ hay dân chủ giả hiệu. Với con mắt của nhà luật học từ quê hương của Montesquieu, Nguyễn Mạnh Tường đã điểm từng bộ phận giả trong hai nhánh hành pháp, lập pháp của chính thể “dân chủ cộng hòa” giả hiệu, đồng thời kèm theo những lý lẽ chặn trước những bao biện có thể:
“Chính thể ta thiếu dân chủ như thế nào, ta đã từng biết. Vai trò của các vị Bộ và Thứ trưởng ngoài Đảng như thế nào, các vị đó làm được những gì trong Hội đồng chính phủ, trong các ngành chuyên môn mà các vị ấy phụ trách, ta không nên đi quá sâu. Ta chỉ cần liếc mắt nhìn qua công việc làm trong mỗi Bộ, ta chỉ cần nghe tiếng than phiền của các cán bộ, công chức làm việc trong các Bộ là ta hiểu. Ta cũng biết rằng chủ trương của Đảng có lẽ không phải như vậy đâu, nhưng trong thực tế công tác, mỗi anh em ta tiếp xúc với các vị Bộ hay Thứ trưởng ngoài Đảng, đều nhận thấy rằng quyền hành của các vị ấy hình như không phải là quan trọng cho lắm. Nhận định như vậy có lẽ ta lầm đấy. Nhất định ta lầm. Nhưng dù sao có “dư luận” không ai chối cãi được. Do đó, nếu chủ trương của Đảng không phải như vậy thì ít ra Đảng cũng mang trách nhiệm không làm thế nào để tiêu tan cái dư luận tai hại mà chúng ta thấy tồn tại từ thời kỳ kháng chiến đến giờ. Nhưng cũng có điều chắc chắn không ai chối cãi được, là các vị Bộ hay Thứ trưởng không có trách nhiệm gì trước Quốc hội, trước nhân dân, chỉ có trách nhiệm trước Chính phủ mà thôi. Chưa bao giờ ta thấy vị Bộ truởng nào bị lật đổ cả. Phải đợi đến các sai lầm đặc biệt nghiêm trọng trong Cải cách mới thấy hai vị Thứ trưởng phải rút lui khỏi Hội đồng Chính phủ. Các hiện tượng ấy chứng tỏ rằng Chính phủ ta chưa thực hiện được dân chủ trong khi lập Hội đồng Chính phủ, vì các vị Bộ hay Thứ trưởng đều được cử hay bị truất, ngoài sự tham gia trực tiếp hay gián tiếp (qua Quốc hội) của quần chúng.
Tình trạng của Quốc hội lại rõ hơn nữa. Mười năm Quốc hội đã thành lập. Các vị đại biểu Quốc hội còn phản ảnh được ý nguyện của quần chúng không, quần chúng có tín nhiệm ở Quốc hội nữa không, đó là một vấn đề. Nhưng dù vấn đề ấy ta giải quyết như thế nào đi nữa, có một điều chắc chắn là một Quốc hội già 10 năm rồi mà vẫn tồn tại ngoài sự can thiệp của quần chúng, sự lựa chọn của quần chúng, chứng minh rằng quần chúng 10 năm nay đã bị truất quyền cử đại biểu của mình rồi. Dĩ nhiên trong thời kỳ kháng chiến, bầu lại Quốc hội là một điều không làm được. Và hiện thời, Nam-Bắc bị tạm chia cắt, do đó sự bầu lại toàn thể Quốc hội cũng là khó khăn. Nhưng dù sao riêng ở các miền giải phóng này, nếu ta chú ý đến quyền người dân cử đại biểu của họ thì nhất định ta phải cho phép người dân bỏ phiếu rồi. Từ khi hòa bình trở lại, 2 năm đã qua, mãi bây giờ trước phong trào quần chúng đòi thực hiện dân chủ, ta mới nghĩ đến quyền bỏ phiếu của người dân và bổ sung Quốc hội.
Nào có thế thôi đâu? Ngay cái Quốc hội ta đang có hiện thời, ta có thực hiện dân chủ với nó không? Chắc chắn là không. Thỉnh thoảng ta mới họp Quốc hội, và trong các buổi họp đó ta chỉ thấy Chính phủ đưa ra các báo cáo để Quốc hội nghiên cứu, xây dựng, hay các chính sách để Quốc hội tán thành và bổ khuyết. Quyền lập pháp của Quốc hội ở đâu? Quyền đề ra đường lối, chủ trương trong nội trị, ngoại giao, quyền nêu trách nhiệm của Chính phủ và các Bộ, quyền lựa chọn nhân viên trong Hội đồng Chính phủ, bấy nhiêu quyền, Quốc hội có được hưởng dụng không? Dư luận quần chúng quan niệm rằng Quốc hội chỉ có quyền thông qua các chính sách mà thôi. Còn như các sắc lệnh hay đạo luật thì thường thường, quyền thông qua ấy chỉ thuộc ban Thường trực của Quốc hội. Nếu Quốc hội là tổ chức cao nhất của quần chúng, đại diện cho quần chúng, thì ta phải khách quan nhận thấy rằng, với vai trò vô cùng yếu ớt của Quốc hội hiện thời, quyền dân chủ của quần chúng không được thực hiện.”

Về Mặt trận Tổ quốc, theo ngôn ngữ ngày nay, là một tổ chức dân sự mẹ của mọi tổ chức dân sự khác, Nguyễn Mạnh Tường đã vạch thẳng ra ý đồ của ĐCSVN chỉ muốn cái tổ chức dân sự đó đóng vai trò làm fan, làm đẹp cho Đảng:
“Ta thấy khó chịu khi nó thỏ thẻ —chỉ thỏ thẻ thôi— những lời làm ta một phút chốc tỉnh giấc mộng chủ quan mà ta trong cấp lãnh đạo đang say sưa. Vì vậy ta chỉ thường cho phép nó, chỉ khuyến khích nó phụ họa ta, tán đồng ta với thái độ của đứa con khen hay khi mẹ nó hát.”

Là một trí thức đầy uy tín về cả chuyên môn lẫn tư cách, lại đang được ĐCSVN rất quan tâm, dành cho nhiều ưu ái, nhưng không vì thế mà Nguyễn Mạnh Tường im lặng trước thực trạng giới trí thức bị hắt hủi, bị biến thành nô lệ, thành công cụ cho quyền lực của ĐCSVN. Chân tình và chua xót, ông giãi bày:
“Đại đa số các anh em trí thức nói chung, không mơ ước các cương vị, công tác lộng lẫy đâu, họ vui lòng nhường chỗ cho các nhà chính trị, các đảng viên. Họ chỉ thiết tha đòi hỏi được mang khả năng chuyên môn và kinh nghiệm của họ ra phục vụ nhân dân mà thôi. Họ chỉ thiết tha mong muốn được bảo toàn danh dự trí thức của họ và cái tự do tư tưởng mà họ quan niệm là cần thiết cho nhân phẩm của người trí thức mà thôi. Họ đã từng nghe thấy Đảng tuyên bố: Người trí thức là vốn quí của dân tộc. Nhưng họ cảm thấy vốn ấy quí quá đến nỗi phải cất nó đi thật kỹ, giữ gìn nó trong một bán ảnh, một hoàng hôn trường cửu. Nếu có ai cho rằng tôi nói không đúng, tôi cứ đề nghị người ấy quay mặt nhìn chung quanh, ở các cương vị công tác trong chính thể của ta. Có một chỗ nào mà người trí thức ngoài Đảng nắm được thực quyền không? Tác dụng “hiếu hỉ” hay “cười gật” thì có, mà lại có nhiều. Nhưng ngay ở các cương vị ấy, ngoài vai trò hiếu hỉ, cười gật, người trí thức có một trách nhiệm gì không, có quyền nói gì làm gì không, quần chúng đã biết và miễn tôi giả nhời.”

Các biện pháp sửa sai CCRĐ có tính đối phó, mỵ dân, trốn tội có thể làm hài lòng, thậm chí nức lòng nhiều người nhưng đối với một người yêu nước nồng nàn lại am tường chính trị thì không thể. Nhẹ nhàng nhưng dứt khoát, Nguyễn Mạnh Tường yêu cầu phải sửa lại toàn bộ tinh thần và qui trình sửa sai:
“Đảng Lao động và chính phủ có nhận thấy cần thiết, trong chính sách sửa chữa các sai lầm trong Cải cách, phải “tăng cường chế độ pháp trị” của ta. Tôi e rằng trong tư tưởng lãnh đạo, sự nhận thức về vấn đề pháp trị chưa được rõ và đầy đủ. Chính trị vẫn coi pháp luật như một “bà con nghèo”. Chữ “tăng cường” là một chứng minh. Tuy rằng trong nước ta có một Bộ Tư pháp, có các toà án, có luật lệ, nhưng chế độ pháp trị hầu như không có. Đó là một điều tôi sẽ nghiên cứu sâu sắc hơn khi nào tôi trình bày ý kiến về chế độ pháp trị, một chế độ pháp trị chân chính. Theo ý tôi, thì vấn đề không phải là tăng cường mà là xây dựng.
Một chứng minh khác trong chính sách Sửa sai trong Cải cách này, tôi vẫn thấy chính trị lấn áp pháp lý. Trước hết bức thư của ông Hồ Viết Thắng tự phê bình và xin rút lui khỏi Mặt trận Trung ương chỉ là một giải pháp chính trị mà thôi. Trong cuộc mạn đàm với các vị đại biểu đến họp hội nghị này, tôi nhận thấy không ai “thông” về ý kiến và biện pháp ông Hồ Viết Thắng trình bày cả. Riêng về phần tôi là một nhà luật học, tôi chưa thể nào nhận định được trách nhiệm của ông Thắng. Có thể trách nhiệm của ông ấy rất lớn, có thể rất nhỏ. Đứng trên tinh thần pháp lý, sự nhận tội lỗi của một người không đủ để qui định trách nhiệm của người ấy. Trong Cải cách, khi những đảng viên ưu tú bị đoàn Cải cách gán cho là phản động, ra trước nhân dân, có người cũng nhận tội trong khi biết là mình oan. Ta nên rút kinh nghiệm vừa qua, sửa sai không phải là phạm các sai lầm khác.
Do đó, đứng trên một lập trường pháp trị chân chính, tôi đề nghị phải lập một ủy ban điều tra gồm các vị đại biểu Quốc hội, Mặt trận, Đảng Lao động với sự cộng tác của các vị thẩm phán cao cấp, giàu kinh nghiệm để lập một hồ sơ theo phương pháp pháp lý đã nhận định, trên quá trình đi từ lãnh đạo qua chỉ đạo đến chỗ thực hiện chính sách, trách nhiệm ở chỗ nào và do những ai phải chịu. Sau khi kết thúc cuộc điều tra, ủy ban ấy sẽ phân tách trách nhiệm chính trị và trách nhiệm pháp lý. Ai chịu trách nhiệm chính trị sẽ trả lời trước Quốc hội biến thành Toà án tối cao. Ai chịu trách nhiệm pháp lý sẽ trả lời trước các tòa án tư pháp. Dưới con mắt của quần chúng theo dõi xây dựng cuộc điều tra và xét xử, công lý phát huy, không còn ai thắc mắc nữa.”

Rất hệ thống, hàn lâm và quyết liệt trong việc truy nguyên sai phạm nhưng khi đề cập tới giải pháp, Nguyễn Mạnh Tường lại rất thực tế, dung dị, nhưng vẫn nền tảng, chỉ nêu ra ba vấn đề cấp thiết nhằm thực hiện một “ yêu cầu thiết tha nhất hiện thời của quần chúng là được phản ảnh lên ý nguyện của mình”. Một trong ba vấn đề cấp thiết đó là “Một chế độ tự do ngôn luận, xuất bản báo chí.” Đó là lối tiếp cận giải quyết, nói theo Fareed Zakaria, có tính Dân chủ Tự do (liberal democracy), vừa kinh điển kiểu Thomas Jefferson, vừa dân tộc kiểu Phan Chu Trinh và lại rất toàn cầu hóa.
Bài diễn văn kết thúc với những ngôn từ thường có ở một nhân cách lớn: “Các ý kiến của tôi, dù sai hay đúng, tôi cứ thành khẩn đề đạt lên các vị, gọi là để góp phần vào hội nghị, một phần nhỏ mọn nhưng chan chứa một niềm hi vọng và tin tưởng vô biên ở tương lai của đất nước.”
Người đọc diễn văn sau đó đã bị cầm cố cho đến tận cuối đời. Và hơn 55 năm sau khi bài diễn văn vang lên ở Hà Nội, một biến cố về đất đai lại xảy ra ở Tiên Lãng.
Biến cố Tiên Lãng so với Cải cách Ruộng đất – “cách mạng long trời lở đất”
(chữ của Hồ Chí Minh) – chỉ như một giọt nước độc trong một hồ nước độc. Nhưng cả hai đều cùng chung một cái nền sinh ra chất độc. Lớp trên của cái nền đó là chính sách (luật) về đất đai, còn lớp dưới cùng là hệ thống chính trị phi dân chủ do ĐCSVN nắm giữ. Để thay hay sửa cái nền đó không thể là việc đơn giản hay không nguy hiểm. Nhưng nếu muốn nước sạch thì không thể vì sự phức tạp hay nguy hiểm mà lại cho rằng không có hay quên đi cái nền độc tính đó.
Bài đăng ngày 29.2.2012
© 2012 pro&contra
http://www.boxitvn.net/bai/33917

1 Phản hồi »

  1. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: “Đảng cầm quyền nhưng dân là chủ – Mọi quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân” là 1 sự vu oan giá họa vĩ đại của chủ tịch Hồ Chí Minh cho nhân dân VN, bởi vì từ 02/09/1945 đến nay nhân dân chưa được hưởng dù chỉ là 1 ngày của độc lập, tự do, hạnh phúc. Suốt cả quãng thời gian dài 67 năm dân tộc ta nai lưng ra làm nô lệ cho đảng cộng sản Việt nam.

    Đây là một vấn đề thuộc về bản chất của Đảng cộng sản, là điều khác biệt giữa đảng cộng sản và đảng tư sản trong cầm quyền. Đảng tư sản cầm quyền do nhân dân trực tiếp bầu lên nắm chính quyền, do đó nhân dân thực sự là chủ. Nếu đảng tư sản lãnh đạo không ra gì sẽ bị chủ đuổi cổ đi và đưa đảng khác lên cầm quyền. Còn đảng cộng sản VN tự bầu mình là người lãnh đạo vĩnh viễn và tự cho mình cái quyền đè đầu cưỡi cổ dân tộc, do đó không còn phải nghi ngờ gì nữa đscvn là chủ nô và dân tộc VN là nô lệ của đảng

    Vấn đề quyền lực thuộc về đảng cộng sản VN là vấn đề nguyên tắc do đscvn tự đề ra. Đảng cộng sản cầm quyền là để thiết lập và củng cố quyền làm chủ của mình, mọi quyền lực phải thuộc về đảng cộng sản VN. Trái với nguyên tắc này, Đảng sẽ thoái hóa, biến chất, trở thành đối lập với bộ chính trị.

    Đảng scvn đứng trên đầu dân, đứng trên pháp luật và ngồi xổm trên hiến pháp. Còn cán bộ, đảng viên của Đảng đã trở thành những quan cách mạng vinh thân phì gia, những nhóm lợi ích độc quyền và lộng quyền vì quyền lợi ích kỷ của họ đã trở thành chuyện hiển nhiên, cả dân tộc 90 triệu người mà không một ai dám cãi lại sự áp đặt phi lý này của đscvn. Chuyện lạ mà có thật.

    Đó là nguy cơ diễn biến và tự diễn biến mà Đảng cộng sản VN đã tích cực tự diễn biến từ sau 1986 đến nay.

    Đi xa hơn nữa đscvn muốn biến VN thành 1 khu tự trị của TQ, đscvn vì lợi ích cá nhân của mình, sẵn sàng bán rẻ Tổ quốc và dân tộc cho giặc ngoại xâm, phản bội lại ý chí và lời dặn của tiền nhân, phản bội lại quyền sống của hàng ngàn thế hệ trẻ mai sau.

    Hiện nay, việc hủy bỏ cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, cần được tiến hành ngay lập tức và đưa việc này vào việc sửa đổi và bổ sung Hiến pháp, bảo đảm thực thi quyền làm chủ của dân, ngăn chặn tình trạng cướp quyền làm chủ của nhân dân.

    Đây là 1 vài góp ý xây dựng đscvn của tôi.

    Trần Phong.

    Phản hồi bởi 1nxx — 18/03/2012 @ 5:48 chiều | Trả lời


RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Tạo một website miễn phí hoặc 1 blog với WordPress.com.

%d bloggers like this: