Hoàngquang’s Blog

04/03/2012

Việt Nam phải thay đổi! Thời gian không thể chờ đợi!

Trần Lâm

Thuỳ Linh- Cách mạng tư hữu
Hồ Bất Khuất- Có bớt sự dối trá được không?

VŨ THỊ PHƯƠNG ANH- Chỉnh đốn Đảng, và “sức mạnh của thảo dân”

LS Vũ Đức Khanh- Việt Nam ‘cần hiện đại hóa cả chính trị’

To Hai’s Nhật ký mở sau ngày bế mạc” Hội Nghị Cán Bộ Toàn Quốc của Đảng” Nguyễn Quang Lập – Thuốc trừ sâu Tương Lai Thuốc đắng dã tật dcv.info Đảng Cộng Sản Việt Nam là Đảng của ai?

***
Trần Lâm -Việt Nam phải thay đổi! Thời gian không thể chờ đợi!

Việt Nam đang vô cùng bức bối trước sự o ép của Trung Quốc. Mỹ trở lại Châu Á, một chút hy vọng nhen nhóm. Tình hình khu vực mỗi ngày một thay đổi, hy vọng lớn dần. Bản thân Việt Nam dù chậm chạp nhưng phong trào cũng đã nhích dần. Các thay đổi dù nhỏ nhưng ngày ngày vẫn tăng. Đã đến lúc cần xem lại mọi vấn đề một cách rộng rãi hơn trong việc đoán định tương lai, con đường đi lên, tiến tới độc lập tự cường và ứng phó kịp thời trước mọi khó khăn. Tình hình khu vực, quốc tế đã xuất hiện nhiều yếu tố mới đòi hỏi phải có sự xem xét thấu đáo.

BÀI HỌC MYANMA
Myanma quằn quại dưới ách thống trị của giới quân sự cầm quyền. Trung Quốc là người đỡ đầu giới cầm quyền này. Thật bất ngờ, Tổng Thống Thein Sein ra lệnh ngừng xây dựng đập thuỷ điện 4 tỉ USD của Trung Quốc trong khi Trung Quốc viện trợ cho Myanma 14 tỉ USD, ông tuyên bố xanh rờn “làm theo ý dân”. Trong năm qua ông còn ra quyết định theo hướng dân chủ: Thả tù chính trị, để phe đối lập tham gia ứng cử, bầu cử. Bà San Sun Kyi, lãnh tụ phe đối lập, con gái nhà yêu nước Aungsan, giải thưởng Nobel hoà bình đã bị giam lỏng hơn 10 năm đã tham gia tranh cử với tư cách đại diện của phe đối lập. Bà thừa nhận các thay đổi này là từ thực lòng của giới cầm quyền.

Có dư luận là Tổng Thống tiền nhiệm là ông Than Shwe đã dàn dựng sự thay đổi, đưa ông Tổng Thống đương nhiệm lên cầm quyền để thực thi đường lối này. Ông Than Shwe được mệnh danh là “Chuyên gia chiến tranh tâm lý” từ lâu. Cũng còn dư luận, giới quân sự im lặng là để tình hình diễn biến êm đẹp, vì đã chứng kiến quá nhiều đau thương, tang tóc do mình gây ra, nay ý thức được mình đã già, muốn được thanh thản, an bình.

Người dân thì vui mừng vì cùng một lúc thấy thoát được 2 cái nạn: Phương Tây cấm vận, Trung Quốc o ép. Mỹ ký kết hiệp ước nhiều mặt với Myanma. Trung Quốc thì tuyên bố: Myanma thay đổi là tốt, không có ảnh hưởng tiêu cực nào tới Trung Quốc. Thực ra, Trung Quốc mất rất nhiều, thời cuộc nay đã thay đổi, nên đành phải “ngậm bồ hòn làm ngọt”.

. Luật sư Trần Lâm sinh năm 1925, nguyên là Thẩm phán Tòa án Nhân dân Tối cao, Vụ phó Ủy Ban Kế Hoạch Nhà nước. LS Trần Lâm cũng là người tham gia bào chữa trong rất nhiều vụ án chính trị nổi tiếng
.
TRUNG QUỐC KHÔNG MẠNH NHƯ TA TƯỞNG
Lâu nay vì sao mà Trung Quốc hống hách đến như vậy? Trung quốc vì sao lại có thể buộc Việt Nam phải lệ thuộc chặt chẽ vào mình như vậy? Việt Nam sao lại có thể như thế được?
Phải chăng Trung Quốc là một kẻ đại bịp khi lấy tăng trưởng kinh tế làm con bài hù doạ: Tăng trưởng thần kỳ là sức mạnh vô biên ! Trung Quốc chỉ nay mai sẽ bá chủ thế giới! Vậy mà năm qua, két bạc Trung Quốc đã thụt mất 20 %. Bao nhiêu của cải rải khắp nơi đều đình đốn, vỡ vụn, nợ của các Tỉnh bằng số tiền Mỹ nợ Trung Quốc. Người ta đói mà người ta lại vui vẻ vỗ tay “Hoan hô Mỹ ở lại Châu Á!”. Mình khoẻ mà sao mình lại rầu rĩ, xuống thang, trở nên nhu mì, hiền hậu bất ngờ. Sẽ chờ xem bao giờ thì “Gió Tây thổi bạt Gió Đông”.

Chiêu thứ 2 của Trung Quốc là phát triển ồ ạt lực lượng quân sự, lấy việc đó để hù doạ thế giới : “Trung Quốc đánh đâu được đấy!”, “Trung Quốc sẽ thống trị thế giới!”. Hai năm qua, sự thể không phải như vậy. Cái tầu sân bay cũ sửa mãi không ra hồn. Vũ khí trộm được, mua được…cứ thế mà nhái, mà nhại theo. Một tướng Mỹ bình luận: “Có vũ khí là một chuyên, dùng được vũ khí lại là một chuyện khác, phải mất rất nhiều thời gian. Có một cái lại phải có bao nhiêu cái phối hợp…!”.
Cái bất ngờ lớn của Trung Quốc là Mỹ trở lại, Mỹ như đang rà soát lại quan hệ với các đồng minh Châu Á, bổ xung, tăng cường chuyển giao kỹ thuật, tầu bè… cho các đồng minh. Mỹ sắp ký kết với Myanma, việc còn lại là ký với Việt Nam, chỉ là vấn đề thời gian. Mỹ thắt chặt quan hệ với Ấn Độ, không rời bỏ Đài Loan, triển khai quân đội đến Australia… cái vòng xích xiết chặt Trung Quốc như chỉ còn thiếu Việt Nam. Biên giới Trung – Ấn gập ghềnh, xa vời làm xong đường xá phải mất hàng chục năm. Trung Quốc đang bị vây tứ phía, phải lúc chiến tranh, các con đường bị khép lại, hết dầu, hết nguyên liệu, hết nơi tiêu thụ… Trung Quốc sẽ ra sao đây?

Đặc khu Tam Sa với các tầu ngầm nguyên tử, với tầu sân bay đang hoàn thiện, với 80 tầu kiểm ngư ngày đêm ngược xuôi Biển Đông, dàn khoan khổng lồ sẽ hút cạn khô dầu Biển Đông… đâu rồi? Một đạo quân mấy triệu người chưa từng ngửi khói súng của chiến tranh với mớ lý luận xuông, lý thuyết chiến trận là chắp vá, rất huyênh hoang mà nay đang thờ thẫn và im re!? Có người đặt câu hỏi: Một khi chiến tranh Châu Á Thái Bình Dương nổ ra, đồng minh của Trung Quốc là ai nhỉ? Câu trả lời lúc này là: Chỉ có Việt Nam “Môi Hở Răng Lạnh” với “16 chữ vàng” và “4 tốt”… ngoài ra còn gì nữa? Việt Nam đang chán ngấy và đang muốn nói lời chia tay…

Còn có thể nhìn nhận, Trung Quốc còn bao nhiêu khó khăn và hạn chế khác nữa.
Mối quan hệ giữa Trung Quốc và Việt Nam, rõ ràng Trung Quốc là cái “Phanh”, cái “Khoá” đối với sự tiến bộ và sự thay đổi của Việt Nam. Cái “Phanh” nay đã rão, không lâu nữa cái chốt sẽ phải mở, đó là lúc Việt Nam “Tháo Cũi Sổ Lồng”… xem ra truyện này không còn xa vời.
Đã đến lúc không sợ Trung Quốc như trước, không để cho “Người ta mạnh vì ta quỳ gối”. Một nền ngoại giao bình đẳng sòng phẳng Việt Trung là cái đích mà chúng ta hướng tới. Phải chăng chúng ta không phải chờ lâu.

III. BIỂN ĐÔNG VÀ LỐI THOÁT

Việc Biển Đông nay như mới bắt đầu. Việc giải quyết không biết bao giờ mới xong:
1. Đầu tiên Việt Nam kiên quyết: Biển Đông là của Viêt Nam, không có đàm phán song phương. Rồi lại đến lúc có mối quan hệ không tuyên bố giữa Việt Nam và Trung Quốc như là Việt Nam chấp nhận đàm phán song phương, sau đó lại im bặt. Indonesia, Philippinse tăng cường quân sự như muốn thế chân Việt Nam đối đầu với Trung Quốc. Phải chăng ban lãnh đạo Việt Nam đã bắt đầu phân liệt, nửa theo Tây, nửa theo Đông ! Rồi việc Mỹ lại mời Việt Nam ký kết hiệp ước như kiểu Mỹ đã ký với Philippinse. Bây giờ lại thấy im hơi lặng tiếng. Có người nói: Chẳng bao giờ có “song phương”, ai dám đơn phương ngồi bàn riêng với Trung quốc chỉ có 2 bên để rồi Trung Quốc chiếm hết, rồi nhân dân ta nguyền rủa muôn đời là kẻ bán nước. Trung Quốc dùng lá bài song phương để mê hoặc Việt Nam để độc chiếm Biển Đông… kế hoạch này nay có nguy cơ phá sản.

2. Điểm thứ 2 là về mặt pháp luật: Không có vụ việc tranh chấp nào vừa kiện vừa điều đình như vụ việc Biển Đông. Việc đăng ký thềm lục địa là chính thức, bó buộc phải được giữ nguyên. Việc điều đình song phương, đa phương có thể tự nguyện làm sau việc đăng ký thềm lục địa xét xử xong. Như trên đã nói, đàm phán song phương có nhiều nghi vấn: Trung Quốc và Việt Nam đều là toàn trị, không có đảng đối lập, không có trưng cầu dân ý, Liên Hợp Quốc cần phải làm tròn trách nhiệm bảo vệ dân chủ, bảo vệ hoà bình của tổ chức lớn nhất thế giới này. Những động thái gần đây của các bên cho ta thấy, Trung Quốc đã tỉnh ra nhiều, đã thấy việc mình làm có nhiều điều trái ngược. Lúc này Liên Hợp Quốc ra tay là đúng lúc, Trung Quốc phải chịu, thế giới vừa lòng.

3. Để ổn định tình hình thiết nghĩ cần thúc đẩy quyết định về ứng xử ở Biển Đông mà các nơi đang làm, chuẩn bị tích cực việc xét duyệt việc đăng ký thềm lục địa đối với các nước liên quan đến Hoàng Sa – Trường Sa.
Tranh chấp Hoàng Sa, Trường Sa, vấn đề Biển Đông trước đây như đầy khó khăn, hôm nay sự việc như dần sáng tỏ. Con đường giải quyết không còn quá mờ mịt nữa… Trách nhiệm của Liên Hợp Quốc trong việc xét đăng ký thềm thục địa là hết sức quan trọng. Ứng xử của Liên Hợp Quốc trong vấn đề này sẽ có ảnh hưởng tích cực đối với khu vực và uy tín của cơ quan tối cao trong việc duy trì hòa bình và ổn định cho toàn thế giới. Vì vậy, phải chăng lúc này là lúc Liên Hợp Quốc phải ra tay bằng cách xét duyệt việc đăng ký thềm lục địa. Thiển nghĩ Liên Hợp Quốc mà dám phủ nhận đường lưỡi bò đầy sai trái của Trung Quốc thì những tranh chấp vụn vặt trong vùng biển đó sẽ tự tan biến.

IV. CHUYỂN ĐỔI HAY LÀ CHẾT
Họp Đại Hội Đảng có một cương lĩnh, trong đó không có 2 chữ Trung Quốc. Một người nói: Lúc này không nói đến Trung Quốc tức là không nói gì. Rồi lại có một văn bản nêu những điều cấm kỵ đối với Đảng Viên. Nhiều người đọc xong chép miệng: “Đảng Viên không có quyền công dân, phải chăng không còn Đảng, chỉ còn tập đoàn cầm quyền”(!?)

Về chính trị, tập đoàn cầm quyền chịu sự chi phối của nước ngoài . Trong bang giao, chỉ dám phản ứng bằng hậm hực hoặc cúi đầu…như thế độc lập là cũng không còn nữa.
Về kinh tế, làm nhiều nhưng hiệu quả thấp, được 1 thì mất đến 10. Dân chúng hiện nay bị nhìn nhận như những những người bị bóc lột.
Về văn hoá xã hội, xây dựng cơ bản thì làm nhiều lắm, nhưng làm gì cũng hỏng… Hà Nội và Sài gòn, cuộc sống của người dân nếu không được nằm trong “Nhóm Lợi Ích”, nhóm quan tham thì đói khổ hơn bao giờ hết.
Về đạo đức, các mặt đều sa sút, sự sa sút lại khởi đầu từ những người cầm quyền. Hàng ngày cầm tờ báo, ai cũng sửng sốt vì số vụ giết người quá nhiều. Các vụ án kinh tế như Vinashin, vụ Hà Giang, vụ in tiền polyme Việt Nam ở Úc… hình như chào thua các vụ đang xẩy ra ở mức độ nghiêm trọng, mức độ thiệt hại… càng thao gỡ càng mệt nhoài trong vô vọng. Hiện tượng sụp đổ như báo trước. Nếu không thay đổi thì xã hội Việt Nam sẽ phải đối diện với những bất ổn, những thảm họa do những người cùng quẫn “Chết không có gì để mất – Sống không có gì để hy vọng” có thể gây ra.

Hiện tại, việc thoát Việt Nam thoát khỏi bàn tay Trung Quốc như đã có hy vọng, chuyển đổi đường lối như đã nhen nhóm. Cuộc cách mạng dành độc lập, xây dựng dân chủ đã khởi đầu. Cũng là bó buộc nếu không muốn mất nước vì giặc ngoài thù trong. Thay đổi hay là chết không phải là lời kêu gọi rỗng tuyếch của một não trạng không bình thường.

V. VIỆT NAM CHUYỂN ĐỔI NHƯ THẾ NÀO?
Quốc Hội vừa ban bố lệnh sửa đổi Hiến Pháp, một việc làm khó khăn, cam go đến mức sống còn. Sửa đổi Hiến Pháp là phải sửa đổi từ gốc. Việt Nam hiện nay là độc Đảng, toàn trị, Hiến Pháp hiện hành nói thì dài dòng, nhưng thực ra chỉ có điều 4 nói lên tất cả. Bỏ điều 4 là không còn chế độ hiện hành. Vẫn cứ giữ điều 4 thì việc sửa đổi Hiến Pháp thành ra trò mị dân, như một trò đùa gây phẫn nộ cho dân mà lòng dân đang sôi sục. Cuộc chơi với lửa đã bắt đầu, đây là sự “Phản Tỉnh” của giới cầm quyền như Myanma, hay chỉ là sự vụng suy của giới cầm quyền! Hãy chờ xem!
Kinh nghiệm của sự chuyển đổi đã có từ mấy trăm năm. Vua Loui 14 của Pháp vỗ ngực “Quốc gia là ai? Quốc gia là ta!” mà cách mạng tư sản Pháp vẫn bùng nổ, chế độ dân chủ ra đời cách đây đã mấy trăm năm. Việt Nam hiện nay chưa có một người kiệt xuất như San Suu Kyi đưa đường chỉ lối, chúng ta phải chờ đợi. Sự chờ đợi chắc không lâu.
Giai đoạn này đang nổi lên 2 vấn đề rất cần tìm hiểu: Thái độ của Trung quốc và những việc làm cụ thể của ta trong việc thay đổi Hiến Pháp. Xin hãy chờ xem… Nếu giới cầm quyền thực lòng muốn chuyển đổi như Myanma, thì cần có những tiền đề, những việc cần làm ngay để cho việc chuyển đổi được tốt nhất.
Hiện nay ta không có Đảng đối lập, chỉ có phong trào quần chúng… nên chuyển đổi ngay là không khả thi, phải chủ động tạo ra đối lập, vì có đối lập là có mâu thuẫn, mà mâu thuẫn là động lực của phát triển. Xin lưu ý: Khái niệm Đối Lập ở đây không có nghĩa là đối đầu, đối kháng. Vì thế, ngay lúc này cần có các nới lỏng về dân chủ, về nhân quyền… tạo điều kiện cho các phong trào quần chúng, các Hội Đoàn, các Đảng phái chính trị mới ra đời. Có phong trào, có tổ chức, những người đại diện cho quần chúng xuất hiện, lực lượng dân chúng hình thành. Các cuộc tiếp xúc, các Hội Nghị bàn tròn sẽ được tổ chức. Tiền thân của các Đảng đối lập và nền dân chủ đa nguyên được hình thành. Những khởi đầu này là bắt buộc.

Ai sẽ là những người tham dự các Hội Nghị bàn tròn? Tất nhiên một bên là những người đang cầm quyền, chấp nhận Đa Nguyên, Đa Đảng, một lòng vì sự sống còn của đất nước. Một bên là những người của dân, họ là những người trước đây hay hiện nay vẫn mang danh Cộng Sản, kết hợp với họ là những người tiêu biểu của các lão thành, các người trong giới tinh hoa trong nước, ngoài nước. Tóm lại, họ có thể là những người “Cộng Sản Tử Tế”, những người cộng sản phản tỉnh, những nhân sĩ không đảng phái có nhiều kinh nghiệm. Họ có thể vẫn còn khác nhau nhưng cùng chung một ý nghĩ: “Thay đổi hay là chết!”
Tháng 2 – 2012
Trần Lâm
Theo: Danlambaovn
http://12bennuoc.blogspot.com/2012/03/viet-nam-phai-thay-oi-thoi-gian-khong.html

Thuỳ Linh-Cách mạng tư hữu

Trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, chính K. Marx đã viết “Người cộng sản có thể thâu tóm lý thuyết của mình qua một câu duy nhất : Bãi bỏ quyền tư hữu” (K. Marx – Manifeste du Parti communiste – trang 43 – Edition www. Librio.net – 2005). Như vậy, chủ trương Bãi bỏ quyền Tư hữu chính là xương sống của chủ nghĩa Marx.
Nhưng cả về lý thuyết cũng như trên thực tế đều chứng minh QUYỀN TƯ HỮU là yếu tố nằm trong bản thể và xã hội loài người và xa hơn, là cả ở động vật bậc cao. Cho nên, chống lại bản thể đó khác nào húc đầu vào núi Thái Sơn và chắc chắn thất bại. Bản thể thì không thể tiêu diệt, mà chỉ có thể làm sao để cho bản thể được đáp ứng một cách văn minh. Đói thì ăn, nhưng ăn sao cho ra người, chứ không phải theo kiểu luật rừng kiểu thú vật, mạnh được yếu thua. Một vấn đề căn bản như vậy tất nhiên phải được các nhà khoa học khắp năm châu cày xới rất kỹ, đến nay vấn đề đã trở nên rất dễ hiểu, chẳng tin mời các bạn đọc bài “Cách mạng tư hữu” sau đây của Thuỳ Linh, rất thuyết phục mà chẳng cần viện dẫn sách vở cao siêu gì.
Cũng như Thuỳ Linh, 5 năm trước đây một tác giả khác đã viết trên trang Talawas ‘Người cộng sản có thể thâu tóm lý thuyết của mình trong một câu duy nhất: Bãi bỏ quyền tư hữu!’. Nhưng bỏ tư hữu thì làm gì có Kinh tế thị trường? Nay chấp nhận Kinh tế thị trường thì phải chấp nhận tư hữu, vậy đối chiếu với câu duy nhất nói trên thì hết chủ nghĩa Mác rồi còn gì?”.
Dù tiếp cận từ vấn đề nông dân hay từ kinh tế thị trường, đều thấy chủ trương Bãi bỏ quyền tư hữu quả thực không còn chỗ đứng!. Thế là một câu hỏi khác phải đặt ra: Chân lý đã hiển nhiên, sao chính quyền tiếp tục chống tư hữu, điều này là “vì dân” hay “vì quan” ?
Nay nước CHXHCNVN chúng ta tiếp tục chủ trương công hữu hoá đất đai do nhà nước thống nhất quản lý chính là thực hiện cái điều căn bản nhất của chủ nghĩa Marx là “Bãi bỏ Tư hữu”, vậy chẳng hiểu sao lại có ý kiến bảo chính sách của Việt Nam hiện nay “không liên quan gì” đến chủ nghĩa Marx, cứ làm như Đảng ta không chịu đọc và làm theo hòn đá tảng của Marx, thật vô lý.
Trong đoạn kết tác giả Thuỳ Linh lại trở về với Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản nhưng cập nhật với vụ Đoàn Văn Vươn để chứng minh rằng “Những người vô sản như anh em anh Đoàn Văn Vươn thực chất làm đúng như lời tuyên ngôn (Cộng sản) này.” Như vậy Đoàn Văn Vươn đang lặp lại động tác của những người vô sản cách mạng hồi còn mồ ma cụ Marx, anh chính là đệ tử chân truyền của Marx hoặc học trò xuất sắc của Marx, chẳng lẽ lại bị những người “Mác-xít” (cũng xuất sắc) bỏ tù? Lại cũng vô lý!
Hay là, chẳng phải lỗi của anh Vươn, cũng chẳng phải lỗi của nhà nước mà do con đường “Cách mạng” của ta có lỗi thiết kế nên con tàu cứ chạy vòng tròn, đi chán lại về chốn cũ? Cứ cho là như thế, thì “sai đâu sửa đó” , sai hệ thống thì sửa hệ thống, lo gì?
Hà Sĩ Phu

Ngay sau khi ra đời, có lẽ đức tính đầu tiên con người xác lập là tính tư hữu. Sở hữu đầu tiên là bầu sữa mẹ. Nó độc quyền bầu vú mẹ ít nhất một năm.
Lớn lên chút biết nói thì là dành tất cả những gì thuộc về nó hay tưởng là của nó: mẹ là sở hữu đầu tiên đứa bé muốn là của riêng nó, sau đến các đồ vật quanh nó.
Đi học sẽ thường xuyên dùng đến cụm từ: trường của tôi, lớp học của tôi, bạn bè của tôi, quyển sách, vở của tôi…
Đi làm sẽ thêm: công việc của tôi, cơ quan, công ty của tôi, đồng nghịêp của tôi, lương của tôi, thu nhập của tôi, ngôi nhà của tôi…
Trong đời sống tình cảm thì là: người yêu của tôi, vợ tôi, chồng tôi, gia đình tôi, con tôi, người thầy tâm linh của tôi…
Đến cái chết cũng là của riêng từng người, không ai giống ai. Dù sự lí về cái chết thì chả thể khác được.
Vì thế tính tư hữu ăn sâu vào tiềm thức của con người. Như thể nó tạo ra không gian cần thiết để người ta sống, suy tư, phấn đấu, thành công hay thất bại, tử tế hay xấu xa… Không còn ý thức về sự tư hữu thì con người gần như không còn đối tượng để họ thể hiện tình cảm nữa. Ái, ố, hỉ, nộ cùng Tham – Sân – Si cũng từ tình cảm tư hữu mà ra. Và đó là cuộc sống hồn nhiên. Đó là con người hồn nhiên. Đó cũng là động lực để phát triển. Thậm chí cũng là nền tảng để người ta học TU. Tước bỏ tính tư hữu là tước bỏ nền tảng cuộc sống. Nhưng thực sự có tước bỏ được không? Chưa bao giờ và không khi nào làm được. Thế nên mới sai lầm, hỗn loạn, đổ máu, hận thù…Và cũng từ đó sinh ra các cuộc cách mạng, các khái niệm mù mờ, gây hấn: giai cấp, bạo lực, đấu tranh giai cấp, quốc hữu hóa, sở hữu toàn dân…
Trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản ra đời tháng 2 năm 1848, Engels và Karl Marx xác lập mục tiêu và chương trình hành động của tổ chức này. Bản tuyên ngôn này kêu gọi hành động cho một cuộc cách mạng vô sản để lật đổ trật tự xã hội tư sản và cuối cùng sẽ mang lại một xã hội cộng sản chủ nghĩa. Tuyên ngôn nêu ra 10 phương pháp nhằm xóa bỏ chủ nghĩa tư bản và xây dựng chủ nghĩa cộng sản như sau:
1. Tước đoạt sở hữu ruộng đất và trao nộp tô vào quỹ chi tiêu của nhà nước.
2. áp dụng thuế luỹ tiến cao.
3. Xoá bỏ quyền thừa kế
4. Tịch thu tài sản của tất cả những kẻ lưu vong và của tất cả những kẻ phiến loạn
5. Tập trung tín dụng vào tay nhà nước thông qua một ngân hàng quốc gia với tư bản của nhà nước và ngân hàng này sẽ nắm độc quyền hoàn toàn.
6. Tập trung tất cả các phương tiện vận tải vào trong tay nhà nước.
7. Tăng thêm số công xưởng nhà nước và công cụ sản xuất; khai khẩn đất đai để cấy cầy và cải tạo ruộng đất trong một kế hoạch chung.
8. Thực hành nghĩa vụ lao động đối với tất cả mọi người, tổ chức các đạo quân công nghiệp, đặc biệt là nông nghiệp.
9. Kết hợp nông nghiệp, thi hành những biện pháp nhằm làm mất dần sự khác biệt thành thị và nông thôn.
10. Giáo dục công cộng và không mất tiền cho tất cả các trẻ em. Xoá bỏ việc sử dụng trẻ em làm trong các khu công xưởng như hiện nay. Kết hợp giáo dục với sản xuất vật chất.

Vậy là ngay từ đầu, chủ nghĩa Marx đã xác định phải thủ tiêu tư hữu. Tức là đánh thẳng vào tiềm thức, vào tình cảm của con người. Bảo sao không được lòng dân chúng? Bảo sao chỉ có ông vô sản thích học thuyết của Marx? Mà các vô sản cũng chỉ thích khi còn vô sản, chứ khi hữu sản rồi thì đừng hòng mà theo Marx… Mình mới nghe trên báo chí nói cô gái tên là Nguyễn Thanh Phượng, giỏi giang ghê cơ, mới ngoài 30 tuổi đã nắm trong tay 4 công ty thuộc hàng khủng: tài chính, ngân hàng, chứng khoán, bất động sản. Mình không bàn cô ấy tài giỏi ra sao để có được thành công ấy vì nhiều người nói rồi… Cũng là tư hữu đấy. Bây giờ bảo cô ấy và những cổ đông của cô ấy từ bỏ tư hữu xem họ nói gì? Cho nên con đường mà Engels và Marx vạch ra mãi mãi là không tưởng. Và chỉ gây nhiều tai họa cho con người.

Ngôi nhà của Pasternak ở Peredelkino

Ngôi nhà của Pasternak ở Peredelkino

Đọc Bác sĩ Zhivago của nhà văn Nga Pasternak, có một đoạn viết thế này: “Chủ nghĩa Marx là khoa học ư? Chủ nghĩa Marx làm chủ bản thân nó còn quá kém, chưa đến mức trở thành một khoa học. Các khoa học thường ôn hòa hơn. Chủ nghĩa Marx và tính khách quan ư? Tôi chưa thấy trào lưu nào lại tự bịêt lập mình và xa rời các sự kiện thực tế như chủ nghĩa Marx. Mỗi người chỉ lo kiểm trả bản thân mình qua kinh nghịêm, còn những người nắm quyền hành thì tìm cách né tránh sự thật, vì cái câu chuyện hão huyền là cá nhân họ không bao giờ phạm sai lầm. Tôi không thích những người thờ ơ với chân lý”.

Đám tang của ông& Ngôi mộ Pasternak ở nghĩa trang làng


Từ những năm giữa thế kỷ 20 ông đã viết ra những dòng này, khi mà chủ nghĩa xã hội như dòng thác lũ cuốn trôi bao đất nước, số phận con người vào cuộc cách mạng bạo lực giành chính quyền. Vì thế mà Bác sĩ Zhivago mãi đến năm 1988 mới được xuất bản ở Nga. Vì thế mà Pasternak bị khai trừ khỏi Hội Nhà văn Xô Viết, bị buộc viết thư từ chối giải Nobel văn học trao cho ông, bị hắt hủi nhiều năm trời: “Nhìn nhận ý nghĩa của giải thưởng với xã hội mà tôi đang sống, tôi buộc phải từ chối giải thưởng này. Đề nghị không phật ý với sự tự nguyện từ chối của tôi”. Mình đã được đến ngôi nhà của ông ở Peredelkino, ngoại ô Maxcơva. Một ngôi nhà gỗ giản dị. Trong ngôi nhà đó giá trị nhất là chiếc đàn piano để vợ ông chơi. Còn phòng làm vịêc của ông chỉ có một chiếc bàn gỗ mộc, kê bên cửa sổ. Đôi ủng dạ dựng góc nhà như thể ông vừa đi đâu ngoài trời tuyết về và vào bếp uống ly trà nóng. Chiếc giường đơn, nơi ông trút hơi thở cuối cùng ở cuộc đời gian truân, đau khổ cũng chỉ vì các cuộc cách mạng, các cuộc đấu tranh giai cấp trải tấm drap hoa giản dị. Bức ảnh chụp đám tang ông treo ở trong phòng khách màu đen trắng ngả màu. Chỉ vài người bạn thân thiết đến đưa ông về nơi an nghỉ tại nghĩa trang của làng, không xa ngôi nhà đó lắm. Ông không vào nghĩa trang danh nhân ở Maxcơva cũng như nhà thơ Esenin và nhạc sĩ tài ba yểu mệnh Vysotsky. Nhưng ngày nào cũng có hoa người đem đến viếng. Ngôi nhà gỗ đó giờ vẫn lặng lẽ buồn như chính cuộc đời gian truân của ông vậy dù ông đã đi xa hơn 50 năm…

Có chuyện kể rằng: Khi Marina Tsvetaeva chuẩn bị đi sơ tán ở Elabuga, ông đã đến giúp bà thu xếp hành lý. Ông đem theo sợi dây thừng, giúp Marina buộc vali. Khi buộc xong, ông nói đùa: “Sợi dây này rất chắc, cho dù có treo bà lên cũng không đứt được”. Sau này khi nghe mọi người kể lại, Marina treo cổ tự tử bằng chính sợi dây đó, Pasternak đã rất ân hận về câu nói đùa của mình. Nhiều nhà văn, nhà thơ, nhà khoa học, nghệ sĩ đã tự sát thời Stalin… Pasternak không tự sát nhưng cuộc sống của ông thì như bị giam cầm cho đến lúc từ giã cõi đời. Pasternak đã đúng. Nếu ngày đó nhiều người còn nghi ngờ những lời ông nói thì đến giờ đã chứng minh: con đường mà Engels và Marx vạch ra vẫn chưa hé lộ bất cứ thành công nào vì chủ nghĩa Marx chưa bao giờ là một khoa học. Tính tư hữu vẫn ngự trị con người và cuộc sống. Chủ nghĩa tư bản vẫn phát triển mạnh trên tính tư hữu ấy một cách hợp lý.
Xã hội Việt Nam tính tư hữu còn mãnh liệt hơn hết vì đó là xã hội tiểu nông. Nông dân bám chặt vào mảnh ruộng của họ. Gia đình chăm chăm thu vén cho gia tộc, luôn ngó nghiêng xem họ tộc nào hơn mình chưa để phấn đấu hoặc chiến đấu, “dìm hàng” nhau. Làng nọ lại kèn cựa với làng kia để tồn tại… Cứ thế tính tư hữu luôn luôn nét tinh thần trên gương mặt Việt. Nhớ hồi sơ tán, các bà muốn đi tiểu còn phải cố chạy về tận góc vườn nhà mình mới hành sự vì sợ tiểu chỗ khác phí mất… Bãi phân trâu cũng đánh dấu để thằng (con) khác không lấy mất. Mảnh ruộng cũng phải ăn chia cho đều. Bờ xôi ruộng mật mỗi nhà một miếng con con. Ruộng xấu cũng phải nhận lấy một mẩu kẻo tị nạnh. Thế nên đồng ruộng mới manh mún như miếng vải vá chằng vá đụp như thế. Đã có thời lập ra các HTX, nhất là HTX bậc cao nên mới ra nông nỗi thiếu ăn, sản lượng lúa thấp vì là của chung nên chả ai lo làm. Mới có một Bí thư Tỉnh ủy Kim Ngọc dám “vượt rào” chia ruộng và công cụ cho nông dân tự quản. Thực chất là xác lập tính tư hữu của nông dân dựa trên bản tính thâm căn cố đế đó của họ. Mình tự hỏi: nếu thời đó có lãnh tụ nào ủng hộ bác Kim Ngọc và biến thành cương lĩnh hành động cho miền Bắc thì sẽ như thế nào nhỉ? Chắc chắn sẽ không có tịch thu tài sản và cải tạo tư sản sau 75. Và từ đó bao nhiêu vận hội của đất nước đã được hình thành và phát triển? Thôi, để nhâm nhi trong giấc mơ về một ngày mai vậy…
Mình không nhớ đọc được ở đâu đó câu nói của Deninkin (tướng Bạch vệ hồi cách mạng tháng 10 Nga): “Mơ ước của tôi là tới được Matxcơva, giao quyền lực lại cho chính phủ và sẽ được lập ra ở đó. Và hãy cho tôi 15 đêxichin đất, tôi sẽ ngồi trong khoảnh đất đó, gieo trồng bắp cải và táo”. Mình đọc cách đây hơn 20 năm câu này. Lúc đó mình xúc động về lời bộc bạch giản dị của một tướng Bạch vệ mà người ta thường nói xấu trong các sách mình được đọc trước đó. Đúng là một ông tướng nông dân, không tham quyền cố vị và yêu đất đai đến mức nào…
Cũng là một văn hào Nga, trải qua những biến cố đau thương của dân tộc Nga nên Dostoyevsky đã đúc kết: “Ý tưởng về sự thủ tiêu tư hữu – đó là tư tưởng cổ xưa và tự nó rất hào hiệp. Nó có cả trong đạo Kitô giáo, nhưng với một điều kiện nhỏ bé đặt trước là từ bỏ tư hữu cần phải diễn ra một cách tự giác. Không thể thực hiện nó bằng con đường bạo lực. Vấn đề không phải là trong sự tư hữu như vậy mà là ở tình cảm của sự tư hữu. Vấn đề ấy sẽ trở thành cuộc cách mạng của tâm hồn chứ không phải là cuộc cách mạng chính trị”.
Vậy bao giờ thì người dân nước Việt được thừa nhận quyền tư hữu mảnh đất nuôi dưỡng mình và giúp mình sinh sống? Thừa nhận tư hữu mảnh đất mà ngôi nhà mình ở? Tất nhiên lúc này chuyển đổi tư hữu thì người có tiền, có quyền chức là lợi lộc hơn cả vì họ mới có đất đai, thậm chí nhiều như lá thu rơi… Nhưng không phải vì thế mà cứ tiếp tục các quan có quyền phán xét tịch thu, mua rẻ, thu hồi, đền bù… của người dân bất cứ khi nào các quan muốn, nhân danh “sở hữu toàn dân”. Người dân vẫn nhớ câu kết trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản do Engels và Marx viết ra: “Những người cộng sản coi là điều đáng khinh bỉ nếu giấu giếm những quan điểm và ý định của mình. Họ công khai tuyên bố rằng mục đích của họ chỉ có thể đạt được bằng cách dùng bạo lực lật đổ toàn bộ trật tự xã hội hiện hành. Mặc cho các giai cấp thống trị run sợ trước một cuộc Cách mạng cộng sản chủ nghĩa! Trong cuộc cách mạng ấy, những người vô sản chẳng mất gì hết, ngoài những xiềng xích trói buộc họ. Họ sẽ giành được cả thế giới”. Những người vô sản như anh em anh Đoàn Văn Vươn thực chất làm đúng như lời tuyên ngôn này…
Tặng bạn bè hai bài thơ của Boris Pasternak. Bản dịch của Nguyễn Viết Thắng.

Giải Nobel

Tôi mất hút, sa vào như con thú
Đâu đó tự do, ánh sáng, con người
Tiếng thét gào, xua đuổi sau lưng tôi
Nhưng lối thoát bên ngoài không hiện rõ.

Khu rừng tối và bên hồ nước
Gỗ thông già chất đống khắp nơi
Cả bốn phía chặn bước con đường tôi
Tôi chịu đựng, dù thế nào cũng được.

Có phải tôi làm điều chi thô bỉ
Tôi là tên ác độc, kẻ giết người?
Tôi chỉ làm cho lệ thế gian rơi
Trước vẻ tuyệt vời của đất đai quê mẹ.

Cái chết đã cận kề, nhưng dù thế
Tôi vẫn tin rồi sẽ đến một thời
Khi tinh thần thánh thiện sẽ lên ngôi
Sẽ chiến thắng thói đê hèn, phẫn nộ.

Làm người nổi tiếng là không đẹp

Làm người nổi tiếng là không đẹp
Đâu phải vì nổi tiếng mới lên cao
Những giấy tờ, lưu trữ đừng tích cóp
Trước những trang bản thảo chớ nôn nao.

Mục đích của sáng tạo là dâng hiến
Đâu phải vì thành tích, tiếng ồn ào
Đem biến mình thành những lời truyền miệng
Cho người đời, thật xấu hổ làm sao.

Ta cần sống khiêm nhường, không tự bạch
Phải sống sao, bởi suy xét cho cùng
Để tiếng gọi tương lai nghe thấy hết
Nhận về tình luyến ái của không trung.

Cần phải biết để chừa ra khoảng trống
Trong số phận mình, không phải trong thơ
Trong cuộc đời có những chương, những đoạn
Cần tô đậm lên cho khỏi lu mờ.

Và phải biết đắm chìm vào quên lãng
Trong vô danh giấu những bước chân ta
Như làng mạc ẩn mình trong sương sớm
Sương khói mịt mù không thể nhìn ra.

Những kẻ khác theo bước chân sống động
Bám gót ta đi qua chặng đường mình
Nhưng đành ngậm ngùi nhìn lên chiến thắng
Mặc người đời, ta không phải bận tâm.

Và phải biết không một tấc ngắn ngủi
Đừng để đánh mất gương mặt con người
Cần phải sống làm một người sôi nổi
Và vui tươi cho đến cuối cuộc đời.

T. L.
Nguồn: http://www.buudoan.com/2012/03/cach-mang-tu-huu.html
http://www.boxitvn.net/bai/33982
***
Hồ Bất Khuất-Có bớt sự dối trá được không?
Hiện nay đại bộ phận chúng ta không đói, không khát nhưng luôn cảm thấy ngột ngạt, ấm ức, tức tối, vô vọng… Sở dĩ chúng ta có cảm giác này vì sự dối trá đang tràn lan trong cuộc sống.
Hầu như ngày nào chúng ta cũng “chạm trán” với sự giả dối, nhưng chúng ta lại cố tình lờ đi vì đấu tranh với sự giả dối không đơn giản chút nào. Có những sự giả dối vô hại, thậm chí có chút lợi ích nho nhỏ, nhưng đại đa số giả dối có hại – cái hại đó lớn tới mức làm băng hoại đạo đức xã hội, suy tàn quốc gia.
Ai cũng ghét sự giả dối nhưng hầu như ai cũng mắc phải
Trong những người trưởng thành, không ai dám chắc mình trung thực tuyệt đối suốt đời, vì cuộc sống phong phú, đa dạng phức tạp tới mức nhiều khi con người không phân biệt được đâu là thật, đâu là giả. Rất nhiều người tự răn mình là không được dối trá. Họ đã cố gắng làm như vậy cho đến lúc hoàn cảnh bắt buộc họ phải nói dối. Lúc đó họ tự an ủi mình là sự nói dối của mình vô hại, thậm chí là có lợi nho nhỏ. Điển hình cho hoàn cảnh này là nhân vật bà xơ trong tiểu thuyết “Những người khốn khổ” của V. Hugo. Bà xơ này chưa một lần nói dối nhưng để cứu Jean Valjean (người mà bà rất kính trọng) bà đã nói dối cảnh sát.
Có những người cứ nghĩ mình rất thành thật, nhưng không biết là đã bị nhiễm thói đạo đức giả vào tận xương tủy. Lại có những người không có khả năng thành thật với chính mình. Mà không thành thật với bản thân mình cũng là một sự giả dối.
Sự giả dối ít bị lên án, ít bị vạch mặt vì ai cũng cảm thấy mình không đủ tư cách để nói lên điều này. Hơn nữa, nhiều người còn lập luận rằng, họ nói dối với dụng ý tốt, lời nói dối đôi khi lại trở thành hữu ích nếu biết rằng sự thật trong một số trường hợp không có ích cho ai. Tuy nhiên, với những người sống có nguyên tắc, chủ nhân của những lời nói dối kia vẫn bị khép tội dối trá.
Nhưng sự dối trá trong hoạt động sản xuất kinh doanh, trong quản lý điều hành, trong hoạt động chính trị mới ghê gớm. Những sự dối trá này mới chính là nguồn gốc gây nên những điều xấu xa, bẩn thỉu. Để đấu tranh với sự dối trá, rất cần sự nhận diện, phân biệt, xếp loại.
Sự giả dối đã thành một phần của văn hoá ứng xử trong cuộc sống
Vào thế kỷ thứ XVIII, ở nước Anh, những người phụ nữ trang điểm còn bị khép tội lừa đảo, nhưng nay việc trang điểm cho phụ nữ đã được đẩy lên thành một nghề hái ra tiền. Con người đã thỏa hiệp với các dạng nói dối vô hại và sự giả dối không lời như sử dụng mỹ phẩm, tóc giả, phẫu thuật thẩm mỹ… Đó là do nhu cầu của cuộc sống. Nhà văn Mark Twain đã viết: “Người ta giả dối bất cứ khi nào, cả trong lúc ngủ và lúc thức, trong lúc buồn và vui. Nếu người nào đó giữ được cái lưỡi im lặng, anh ta sẽ chuyển sang giả dối bằng thái độ”. Sự giả dối giống như một thứ kỹ năng, tồn tại trong mỗi con người và được sử dụng khá thoải mái.
Đã có một số nghiên cứu nghiêm túc về sự nói dối của con người. Năm 2004, nhà tâm lý học Robert S.Feldman ở Đại học Massachusetts(Mỹ), sau khi phân tích những cuộc nói chuyện của sinh viên với người lạ, đã công bố: Hơn 60% số người có biểu hiện nói dối trong khoảng thời gian mỗi 10 phút. Mức độ dối trá được sắp xếp từ thổi phồng cho đến bịa đặt. Nam giới và nữ giới có tần suất nói dối như nhau, nhưng mục đích nói dối khác nhau. Trong khi phụ nữ có khuynh hướng giả dối để đối tượng yên tâm thì nam giới lại dùng sự giả dối cốt để tự an ủi chính mình.
Vì sao con người dễ dàng lừa dối và bị lừa dối đến vậy? Vì điều đó góp phần không nhỏ vào sự thành công trong quá trình sinh tồn của chúng ta. Dối trá để tồn tại, dối trá để giúp nhau, dối trá để thăng tiến… Có thể nói, dối trá là một “sản phẩm đa năng” được sinh ra từ não bộ, giúp con người thoát hiểm trong nhiều trường hợp nguy cấp. Nhưng cũng chính dối trá hủy hoại nhiều điều tốt đẹp ở con người.
Trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta, những người bình thường nói dối cho yên chuyện, để hưởng lợi tí chút. Còn những người có chức, có quyền nói dối để thực hiện những dự tính, những âm mưu của mình. Chính vì vậy đây là sự dối trá rất nguy hiểm vì chúng thường được tô vẽ cho tốt đẹp hoặc được “bảo kê” bằng sự đe doạ. Họ dựa trên nguyên tắc: Con người nếu không tin thì cũng phải biết sợ. Người ViệtNamhiện nay có lẽ sợ công an nhất. Đến bọn trẻ con không chịu ăn, mẹ dọa: “Không ăn các chú công an đến bắt bây giờ!”, thế là chúng nó nuốt lấy, nuốt để.
Dối trá đã có điều kiện phát triển tràn lan và đang tác oai, tác quái
Bệnh thành tích là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự dối trá tập thể. Điều này chúng ta dễ dàng nhận ra khi các nhà máy, xí nghiệp, cơ quan làm báo cáo tổng kết cuối năm thời bao cấp. Đọc các báo cáo này, chúng ta thấy hầu hết đều đạt được những thành tích cao, hoàn thành và hoàn thành vượt mức kế hoạch. Đây là sự dối trá của nhiều tập thể, chính vì vậy mà có những lúc chúng ta phải cãi vã với nhau để giành được quyền mua một chiếc áo may ô hay một ống kem đánh răng.
Cũng xin được nói thêm là việc báo cáo láo chính là một trong những nguyên nhân cơ bản khiến cường quốc Liên Xô sụp đổ. Những số liệu thống kê đẹp đẽ đã khiến một số nhà lãnh đạo quan liêu vẫn tưởng rằng Liên Xô đang phát triển vững chắc. Sự thật, cuối những năm bảy mươi của thế kỷ XX kinh tế Liên Xô đã bước vào suy thoái. Dân khổ nên người ta chán chế độ, lười làm việc, chờ cơ hội để phán kháng.
Bây giờ ở ViệtNamchúng ta không thiếu đồ dùng nữa nhưng không phải vì thế mà sự dối trá ít đi. Sự dối trá hiện nay trở nên tinh vi hơn, xảy ra ở cả những nơi tôn nghiêm, sang trọng. Do vậy, ảnh hưởng xấu của nó cũng ghê gớm hơn, lâu dài hơn.
Đảng Cộng sản ViệtNamđang phát động phong trào chỉnh Đảng nên tôi nói thêm điều này: Rất nhiều người dối trá khi vào Đảng. Chỉ cần so sánh những việc làm của họ hiện này với những lời thề, lời hứa tại lễ kết nạp là chúng ta nhận ra sự dối trá ngay thôi. Tôi xin nói cụ thể hơn: Cách đây khoảng 30 năm, tôi (khi đấy đang công tác tại Tạp chí Cộng sản) có tham gia cùng với một nhóm nhỏ của Ban Tuyên huấn Trung ương điều tra (chỉ dùng cho mục đích nghiên cứu) động cơ vào Đảng. Kết quả thế này (đương nhiên là chỉ tương đối thôi, khó chính xác vì chúng tôi làm trong diện hẹp, phương pháp chưa thật sự khoa học): 1. Vì lý tưởng cộng sản: khoảng 7%; 2. Để có cơ hội tiến thân: khoảng 50%; 3. Cho yên chuyện: khoảng 43%.
Trước cách mạng tháng 8 – 1945 và trong thời kỳ chiến tranh, đại đa số vào Đảng là vì lý tưởng vì vậy Đảng rất mạnh. Còn bây giờ phần lớn những người vào Đảng lại không vì lý tưởng thì làm sao cho Đảng mạnh đây?! Chỉnh Đảng có giải quyết được vấn đề này không?
Thật đáng lo là trong khoa học, trong giáo dục sự dối trá cũng đầy rẫy. Tuyển sinh sau đại học hiện nay gian lận nhiều nhất. Nhiều người khẳng định: Tại một số cơ sở đào tạo sau đại học, nếu không chạy tiền thì không thể nào thi đỗ để làm thạc sỹ, tiến sỹ!
Hậu quả đáng buồn là khoa học – lĩnh vực đáng ra phải tuyệt đối trung thực cũng không thể “giữ mình” được nữa. Tại sao có sự dối trá trong khoa học? Tại vì họ phải chạy chọt mất tiền mới thành thạc sỹ, tiến sỹ! Hơn nữa, nếu có những nhà khoa học được đào tạo minh bạch, nghiêm túc; họ lạị bị quản lý theo luật công chức như quản lý các nhân viên hành chính. Vì vậy đáng ra các nhà khoa học chỉ tập trung vào nghiên cứu, sáng tạo thì lại phải đối phó với rất nhiều thứ. Có một số viện nghiên cứu khoa học ở Hà Nội bắt tất cả cán bộ, nhân viên phải lấy vân tay để làm thẻ vào cửa. Những người không chịu làm thẻ thì bị kỷ luật, thậm chí không được vào phòng làm việc. Còn những người làm thẻ rồi, đến phòng làm việc ngủ vẫn được chấm công. Quản lý như vậy không sinh ra sự dối trá mới lạ!?
Về nguyên tắc, ở đâu mà sự dối trá ngự trị thì ở đó khoa học không hoạt động có hiệu quả được. Khoa học ViệtNamvài chục năm nay hầu như không có thành tựu gì đáng kể. Xây dựng một trường đại học có chất lượng cao, có đẳng cấp quốc tế chúng ta cũng không làm được thì nói gì đến những phát minh?! Điều này có nhiều lý do, nhưng lý do chính là nền khoa học của chúng ta đang bị tha hoá, đang có sự dối trá ở trong đó.
Có đấu tranh được với sự dối trá không?
Nhưng xét cho cùng, sự giả dối vẫn là thói xấu bị muôn đời bị con người căm ghét. Đã căm ghét thì phải tìm cách đấu tranh, loại bỏ. Nhận diện sự giả dối không hề khó. Chỉ qua một vụ rắc rối ở Tiên Lãng, chúng ta đã thấy sự dối trá phơi bày ra cả. Sự dối trá nổi đình nổi đám nhất, chưa biết thuộc về ai? Một số người phản ánh: Bí thư Thành ủy Hải Phòng nói ngược lại kết luận của Thủ tướng. Những người lãnh đạo Câu lạc bộ Bạch Đằng khẳng định ngược lại. Sự thật chỉ có một, cái không đúng với sự thật là dối trá. Chỉ có điều chưa ai làm rõ điều này. Đã có toàn văn kết luận của Thủ tướng. Chỉ cần công bố nội dung buổi nói chuyện của Bí thư Thành ủy Hỉa Phòng, chúng ta biết được ai là người dối trá và Bí thư có nói ngược lại kết luận của Thủ tướng không?
Đấu tranh với dối trá mới là điều cần bàn, cần động viên nhau vì đây là việc làm nguy hiểm. Tại sao nguy hiểm? Bởi vì sự dối trá gây nguy hại nhiều nhất thuộc về những người có chức, có quyền. Cái câu tục ngữ “Muốn nói gian làm quan mà nói” tưởng chí đúng với quan ngày xưa, hóa ra đúng với cả thời nay.
Vấn đề nơi đỗ xe đang nóng bỏng ở Hà Nội. Hậu quả của việc này cũng do sự dối trá gây nên: Bao nhiêu điểm quy hoạch để đỗ xe thì họ lại làm việc khác. Ai làm được việc này nếu không phải là quan chức? Một ví dụ cụ thể: Báo chí (đặc biệt là báo Tiền Phong) phản ánh về những sai phạm trong việc cống hoá đoạn mương Liễu Giai – Linh Lang trên đường Phan Kế Bính để làm chỗ đỗ xe. Lãnh đạo quận Ba Đình và Tp Hà Nội đã vào cuộc. Họ nói chắc nịch: “Phần nào làm không đúng với thiết kế phải dỡ bỏ!”. Có người tưởng đây là thái độ quyết liệt và trung thực, nhưng phần lớn nhận ra rằng, đây chỉ là sự giả dối vì không chỉ rõ thời gian và cơ quan phải làm việc này. Và đến nay toàn bộ công trình xây dựng ở đây đã được đưa vào sử dụng, nhưng lại là của hàng bán xe máy, quần áo, quán cà phê… Như vậy, chúng ta biết được sự giả dối, đã đấu tranh nhưng không có hiệu quả.
Đấy chỉ là một ví dụ nhỏ và rất cụ thể thôi. Trong cuộc sống hiện nay, còn nhiều sự giả dối to lớn và nghiêm trọng hơn nhiều vẫn tiếp tục diễn ra một cách công khai. Chuyện bức xúc nhất hiện nay là hàng loạt ô tô, xe máy bỗng nhiên bị cháy mà không rõ nguyên nhân – đây là hậu quả tổng hợp của nhiều sự giả dối cùng một lúc, trong đó có xăng bị pha chế, có sự bất lực của khoa học, có sự vô trách nhiệm của những người quản lý. Bắt quả tang những người làm bẩn xăng có khó không? Không khó, báo chí đã chỉ ra. Tìm ra nguyên nhân cháy xe có khó không? Cũng không vì cấu tạo ô tô, xe máy chẳng còn gì là bí ẩn nữa. Cái khó ở đây là những người có trách nhiệm chỉ giả vờ quan tâm, giả vờ tích cực, giả vờ quyết liệt. Nguyên nhân xe cháy chắc chắn sẽ được tìm ra vì đây là một vụ việc cụ thể và không quá rối rắm.
Cái đáng lo nhất hiện nay là sự giả dối ở tầm vĩ mô. Nói một cách rõ ràng, thẳng thắn thì những phát biểu chung chung, những lời hứa hão, những mục tiêu to tát không đi kèm những biện pháp khả thi cũng là sự giả dối. Hơn nữa, sự giả dối loại này gây tác hại to lớn và lâu dài. Mà đấu tranh với những loại giả dối này là vô cùng khó.
Muốn đấu tranh có hiệu quả với sự giả dối, cần phải có sự dũng cảm ở trong mỗi con người. Một khi con người không sợ hãi mới mong đấu tranh với sự dối trá có kết quả. Chiến dịch chỉnh Đảng đang bắt đầu, có hy vọng gì không?…

<strong. H. B. K.
Tác giả gửi trực tiếp cho BVN.
http://www.boxitvn.net/bai/34024

VŨ THỊ PHƯƠNG ANH- Chỉnh đốn Đảng, và “sức mạnh của thảo dân”

“Sức mạnh của thảo dân” là tựa dịch của một bài nghị luận chính trị (tựa tiếng Anh là “The power of the powerless” mà có người dịch là “Quyền lực của không quyền lực”). Tác giả bài nghị luận này là Vaclav Havel, vị tổng thống của xã hội dân chủ đầu tiên của Tiệp Khắc, vừa qua đời tháng 12/2011 vừa qua. Bài nghị luận này được Havel viết từ năm 1978, và được xem là một bài viết rất quan trọng trong phong trào dân chủ của đất nước này. Có thể tìm đọc bài viết bằng tiếng Anh (tại đây!)
Còn chỉnh đốn Đảng thì hiện đang là một cuộc vận động lớn trong Đảng theo lời kêu gọi của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng.Tôi không phải là đảng viên, lại cũng đã rời hệ thống công lập rồi, nên chẳng quan tâm gì mấy, nếu báo chí và các phương tiện truyền thông không đưa tin dày đặc, tới tấp như thế. Toàn là những tít lớn trên trang nhất của các tờ nhật báo lớn của cả nước, nên tôi không thể không liếc qua. Và vì đã đọc qua những thông tin trên báo chí, nên tôi cũng (đâm ra) chia sẻ một số những ưu tư, trăn trở của các vị lãnh đạo Đảng và Nhà nước ta, đó là làm sao cho Đảng ngày càng trong sạch, vững mạnh. Bởi vì hiện nay theo cơ chế của VN mà mọi người dân đều phải tuân theo dù muốn hay không muốn, đó là VN chỉ có duy nhất một Đảng Cộng sản Việt Nam mới được phép có vai trò lãnh đạo toàn diện và triệt để trên mọi mặt của đời sống chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa vv của đất nước VN vào đầu thế kỷ 21, thời đại của Internet và của các mạng xã hội với tốc độ thông tin thần tốc này mà thôi.
Vậy chứ tôi chia sẻ những gì, và điều đó thì có liên quan gì đến “sức mạnh của thảo dân” mà tôi đã nhắc đến ở trên? À là như thế này, tôi cảm thấy rất rõ ràng (chẳng biết có đúng không) là các vị lãnh đạo cấp cao của Đảng ta đang thực sự mong muốn Đảng được chỉnh đốn, tức nói theo kiểu “nôm na là cha mách qué” bình dân như tôi là “gột đi cho sạch hết những nhơ bẩn” của Đảng (ấy chết, tôi nói thế có nghĩa là của những đảng viên xấu ấy ạ, chứ theo đúng quan điểm và đường lối của Nhà nước ta mà tôi luôn quán triệt vì là một công dân tốt thì Đảng làm sao mà xấu được, chỉ có những ĐV làm sai nên Đảng mới bị mất niềm tin từ dân chúng như hiện nay mà thôi).
Sự chân thành của các vị lãnh đạo cấp cao thì đã rõ, tôi nghĩ không cần phải chứng minh, các vị lãnh đạo Đảng – mà lại là Đảng lãnh đạo – thì trước hết phải bảo vệ uy tín của Đảng là đương nhiên rồi. Cũng như các vua chúa thời xưa cần phải bảo vệ vương triều của mình ấy mà, chắc là không ai có thắc mắc gì nếu ai đó nói rằng các vị ấy đã xả thân bảo vệ vương triều của mình phải không, vì đó là lợi ích thiết thân của chính các vị ấy trước. Tôi chỉ thắc mắc là không hiểu các phương pháp đang được đưa ra để “chỉnh đốn Đảng” liệu có hiệu quả hay không, vì tôi thấy chúng chủ yếu vẫn là những phương pháp cũ đã sử dụng từ rất lâu rồi, đó là phê và tự phê, ngay ở trong nội bộ Đảng. Là một người không phải là ĐV và có lẽ rất ngô nghê về chính trị, tôi trộm nghĩ việc phê và tự phê cũng hơi giống như trong Đạo Thiên chúa có “bí tích” hòa giải với Thiên chúa, tức là tự xét mình rồi đi xưng tội với linh mục, để rồi nhận được sự thứ tha của Chúa và quyết tâm không làm điều xấu nữa. Quả là hay, nhưng … có rất nhiều người Công giáo vẫn cứ có đủ loại trọng tội như thường, vì tất cả mọi việc đều dựa vào tinh thần tự giác, nên nếu không tự giác thì đến linh mục hay cả thượng đế có lẽ cũng phải … bó tay chấm com.
Là một người ngoài đảng (và hẳn là suốt đời vẫn sẽ ngoài Đảng, vì hiện nay tôi đã ở cuối cuộc đời làm việc rồi, mà hình như người ta vào Đảng trước hết cũng chỉ vì công việc, hay nói đúng hơn là sự thăng tiến trong công danh, sự nghiệp mà thôi), tôi cứ băn khoăn mãi về việc, liệu có phải tất cả đảng viên đều tuyệt đối tin vào những “tín lý” của chủ nghĩa cộng sản hay không? Vì tôi nghĩ, lý thuyết của Karl Marx ra đời trong một bối cảnh lịch sử hoàn toàn khác với hiện nay, nên chắc chắn là có nhiều điều cần phải xét lại lắm, và chắc chắn là còn nhiều tranh cãi, như bất kỳ một lý thuyết nào về chính trị – xã hội. Vì vậy, hẳn là có khá nhiều, nếu không nói là toàn bộ, các đảng viên không thực sự tin vào hệ thống lý luận mà họ được trang bị; họ chỉ tuyệt đối trung thành, chấp hành mệnh lệnh của Đảng, của cấp trên mà thôi, dù trong bụng họ có tin hay không tin.
Mà nếu vậy, chẳng lẽ các đảng viên của chúng ta đang không sống thực với những điều mình suy nghĩ? Nếu điều này là đúng, thì quả là một tình trạng đáng lo ngại cho Đảng, vì đây chính là chỗ để cho các “thế lực thù địch” nó tấn công vào đấy, dù nó là ai thì tôi cũng chưa hình dung được. Vì không lẽ một đất nước VN hòa bình, thống nhất, tuyệt đối an toàn không có khủng bố, dưới sự lãnh đạo tuyệt đối và toàn diện của Đảng, lại có lắm “thế lực thù địch” đến thế hay sao nhỉ?
Quả thật, cứ nghĩ đến đây là trong đầu (thực ra tôi định nói là trong bụng, nhưng sửa lại vì thấy nếu chỉ suy nghĩ trong bụng thì chắc là không nghĩ được nhiều) tôi lại thấy rối rắm không biết giải quyết ra sao. Nhưng hôm nay thì may quá, tôi lại vớ được bài viết của Havel nói về đất nước ông thời còn chủ nghĩa cộng sản, trong đó có những đoạn rất đáng suy nghĩ và dường như là có liên quan đến những gì tôi đề cập ở đây. Xin trích dưới đây một đoạn có liên quan đến “sống trong sự thực” và “sống trong dối trá”. Các bạn đọc ở dưới đây:
Các cá nhân bị vong thân với chính mình là vì trong họ có một cái gì đó cần phải bị loại ra khiến họ trở thành vong thân. Đối tượng của sự áp bức chính là cuộc sống chân thật của họ. Vì vậy mà “sống trong sự thật” được đan cài trực tiếp vào tấm thảm “sống trong dối trá”. Nó là lựa chọn đã bị đè nén, là mục tiêu thực sự, còn sống trong dối trá chỉ là phản ứng giả tạo thôi. Chính trên cái nền ấy mà sống dối trá mới có ý nghĩa: nó tồn tại chỉ vì có cái nền như thế. Sự bắt rễ đầy đầy chống chế và ảo tưởng của nó trong trật tự của loài người chỉ là phản ứng trước thiên hướng tìm về chân lý của con người mà thôi. Dưới bề mặt có vẻ trật tự của đời sống dối trá luôn ẩn giấu cuộc sống thực với tất cả những mục tiêu chính đáng vẫn còn đang ngủ say, luôn mở lòng để đón nhận chân lí.
Quyền lực chính trị phi thường, mãnh liệt và khó lường trước được của “sống trong sự thật” chính là ở đây: sống một cách thẳng thắn trong sự thật bao giờ cũng có đồng minh, tất nhiên là đồng minh vô hình nhưng mạnh mẽ vô song, đó chính là cái không gian đã bị ẩn giấu ấy. Chính từ không gian này mà cuộc sống cởi mở trong sự thật mới có thể phát triển, tiếng nói của nó là nhắm đến không gian này, và nó tìm được sự cảm thông ở đó. Chỉ có ở nơi này người ta mới có thể mong đợi khả năng có sự giao tiếp thực. Nhưng đây lại là nơi bị giấu kín, và vì vậy, nhìn dưới góc độ quyền lực thì nó rất nguy hiểm. Sự lên men phức tạp ở không gian này diễn ra trong cảnh tranh tối tranh sáng; sau một thời gian nó sẽ xuất hiện giữa thanh thiên bạch nhật với một chuỗi những bất ngờ gây chấn động cho hệ thống, và thường thì lúc ấy mọi việc đã quá muộn, không thể che đậy bằng những biện pháp thông thường được nữa. Chính vì vậy, nó luôn làm cho hệ thống lúng túng, hoảng loạn và buộc phải phản ứng bằng những biện pháp không thích hợp.

Khá là khó đọc, phải không các bạn, lý luận chính trị mà. Tôi chỉ rút ra ở đó có một điều thôi, dù mơ hồ, và nó là như thế này: phải chăng cái “thế lực thù địch” mà Đảng hay nhắc tới, nó chính là sự khao khát hướng về chân lý của mỗi con người, kể cả các đảng viên – dù tất nhiên chưa ai biết chân lý là gì và có bao giờ con người có thể đạt được đến chân lý tuyệt đối hay không. Chính sự khao khát ấy nó làm cho người ta có thể suy nghĩ (và sau đó là hành động) khác đi với những “tín điều” mà người ta đã được truyền dạy. Mà theo Havel thì sự khao khát ấy đã nằm ngay bản chất của mỗi con người rồi, là bản năng cơ bản của loài người, và vì thế thì rất khó, nếu không nói là không thể, loại trừ nó đi. Và nếu thế, nếu những người nghĩ khác – và làm khác – với những gì mà Đảng chỉ đạo (tuyệt đối và toàn diện) đều bị xem là những kẻ chống đối, thù địch, thì cái lực lượng ấy xem ra sẽ đông như quân Nguyên, vì nó có khả năng là toàn bộ tất cả chúng ta – có thể loại trừ một thành phần rất ít ỏi những người cốt cán nhất và “cuồng tín” nhất. Dường như đó cũng là thông điệp mà Havel muốn đưa ra trong bài viết với cái tựa “sức mạnh của thảo dân” đấy.
Quay lại cuộc vận động chỉnh đốn Đảng, chắc hẳn nó sẽ còn lâu dài và vất vả lắm, có thể sẽ mãi kéo dài song song với lịch sử tồn tại của Đảng. Tức là, nếu còn Đảng, thì sẽ còn phải “chỉnh đốn Đảng”. Sẽ rất mệt mỏi, tốn kém, tổn hao sức lực ghê gớm. Mà đó là sự tổn hao sức lực của toàn xã hội, của cả một dân tộc, một đất nước, một thời đại. Vì ở VN ta, Đảng là người đại diện chân chính và duy nhất của toàn dân tộc, là đỉnh cao của mọi thời đại, mà lại.
Là một kẻ ngây ngô về chính trị (như đã nói ở trên), tôi trộm nghĩ rằng, sao Đảng cứ phải nhọc công như thế nhỉ? Cả như tôi, thì tôi cứ làm như thế này, như tôi vẫn đã làm với các con tôi: Thì mình cũng giáo dục, cũng uốn nắn, cũng chỉ dạy, cũng “indoctrinate”, nhưng mà nó thấm vào được đến đâu thì vào. Còn thì cũng phải để cho chúng nó tự nghĩ, tự trải nghiệm, tự chịu hậu quả của những sai lầm của chúng, hoặc hưởng thành quả của những quyết định đúng đắn của mình. Chứ hơi đâu mà tôi can thiệp mãi như thế; phải để cho cây đời mãi mãi xanh tươi được mọc lên chứ nhỉ?
Nguồn: Blog AVhttp://bloganhvu.blogspot.com/2012/03/chinh-on-ang-va-suc-manh-cua-thao-dan.html
http://quechoa.info/2012/03/01/ch%E1%BB%89nh-d%E1%BB%91n-d%E1%BA%A3ng-va-s%E1%BB%A9c-m%E1%BA%A1nh-c%E1%BB%A7a-th%E1%BA%A3o-dan/
***
LS Vũ Đức Khanh- Việt Nam ‘cần hiện đại hóa cả chính trị’
Gửi tới BBC từ Ottawa, Canada

Để chuẩn bị cho tương lai, Việt Nam cần phải thay đổi hệ thống chính trị và cho phép cải cách và hiện đại hoá cơ chế, tổ chức nhà nước và phương thức làm việc.
Nước Việt Nam mới cần phải tập trung vào tương lai và không nên bị sa lầy bởi chính trị có từ thời đại khác.

Cờ Đảng ở Hà Nội là biểu tượng của hệ thống chính trị có tuổi
Bước vào tháng thứ 2/2012, tôi nhìn về phía trước tiên liệu trong năm nay có thể mang lại những gì.
Tôi không bàn về Thế Vận Hội mùa hè năm nay ở Luân Đôn hoặc ngày tận thế giả định theo lịch của người Maya. Tôi không nói về những sự kiện đã được lên kế hoạch như “sự kết thúc của thế giới” chắc chắn sẽ được thảo luận khi tháng 12 tới gần hơn, đúng hơn, tôi đang muốn nói về những sự kiện không nằm trong kế hoạch mà có ý nghĩa lớn.
Thời gian gần đây, tình hình chính trị Việt Nam ngày càng rối răm và liên tục nóng lên. Bên trong nước, ngày càng có nhiều tiếng nói bất đồng quan điểm với chính quyền được vang vọng lên từ mọi nơi, mọi phía và xuất hiện ở mọi tầng lớp nhân dân.
Từ những vụ tuần hành yêu nước cuối tuần để phản đối chính sách bành trướng của Trung Quốc trong khu vực Biển Đông đến những tiếng nói phản biện của trí thức trước các vấn nạn lớn của xã hội qua những vụ đình công rầm rộ của công nhân đòi tăng lương, bảo vệ quyền lợi lao động, sự bất mãn cao độ của quần chúng trước sự quản lý, điều hành yếu kém của chính phủ trong các chính sách vĩ mô.
Và đặc biệt gần đây nhất vụ tranh chấp đất đai giữa chính quyền địa phương và người dân ở Tiên Lãng như những hồi chuông cảnh báo chế độ.
Tương tự ở thế giới bên ngoài, năm ngoái chúng ta đã chứng kiến “Mùa Xuân Ả-Rập” nơi mà những công dân trên khắp Bắc Phi và Trung Đông đã anh dũng vùng lên chiến đấu để lật đổ các nhà lãnh đạo độc tài, tham nhũng của họ.
Bước về phía trước
Năm nay chắc chắn “Mùa Xuân” đó xuất hiện một cái gì đó có thể xảy ra ở châu Á-Thái Bình Dương, nhưng chính xác là gì? Có lẽ, như tôi đã hy vọng với mỗi năm trôi qua, chúng ta sẽ chứng kiến một sự thay đổi của tầng lớp cầm quyền tại Việt Nam.
Tôi không có ý nói về một nhóm người mới trong nội bộ của Đảng Cộng Sản, đảng cầm quyền. Ý tôi muốn nói đến một sự thay đổi thực sự thông qua cải cách chính trị và dân chủ hóa Việt Nam.
“Việt Nam cần phải thay đổi, Việt Nam nhất định phải đổi mới lần hai”
Và dường như thay đổi đang lãng vãng đâu đó trong bầu không khí quanh ta, nhưng tôi chỉ có thể hy vọng rằng nó sẽ là sự thay đổi thực sự mà Việt Nam cần.
Vậy, chính xác những thay đổi này là gì? Chúng ta có thể bắt đầu từ trên thượng tầng: cải cách chính trị kết hợp với cải cách hiến pháp. Sẽ là không đủ khi chỉ nói suông và chung chung về nhân quyền. Chính phủ cần phải thực sự tôn trọng nhân quyền. Và vẫn chưa đủ khi nói rằng tự do ngôn luận hiện hữu, nhưng liền sau đó lại tiếp tục phỉ báng nó khi có cá nhân nào đó lên tiếng chỉ trích nhà nước.
Cải cách chính trị lần này phải thay đổi dứt khoát cách thức chính phủ suy nghĩ và cư xử. Những gì tôi đề xuất không phải là một giải pháp nhất thời kiểu “mì ăn liền”, nhưng là một phương cách mới để quản lý và điều hành quốc gia điều mà Việt Nam đang quan tâm.
Cải cách chính trị không phải là một cái gì đó chưa từng nghe thấy, nhưng đó là những gì Việt Nam đang rất cần.
Sự thành công của cải cách này đòi hỏi chính phủ phải từ bỏ rất nhiều quyền lực của mình. Điều này không ngụ ý rằng chính phủ phải buông thả tất cả để quốc gia bị rơi vào tình trạng hỗn loạn, vô tổ chức, nhưng chắc chắn một điều là chính phủ buộc phải bị giới hạn trong khả năng đơn phương hành động của mình. Và đó, tôi tin rằng thay đổi thực sự sẽ từ từ đến với Việt Nam.
Để đạt được điều đó, người dân nhất quyết phải có tiếng nói trong công việc của đất nước mình, vì tất cả họ đều là công dân. Họ cùng chung sống trong một quốc gia và cùng hít thở chung một bầu không khí, mọi người nhất định phải có quyền quyết định số phận của chính mình và đất nước mình – không ai có thể để quyền đó rơi vào tay của một nhóm thiểu số thiếu dân chủ.

Người dân Libya kỷ niệm một năm Cách mạng 17/2/2011-2012
Giờ đây, liệu điều này có nghĩa là Đảng Cộng sản phải bị giải tán và bị cấm không được tham chính? Vâng, nhưng không hẳn là thế, nó chỉ có nghĩa là phải có chỗ cho phe đối lập, và rằng không có đảng chính trị nào có thể cai trị mà không có sự tín nhiệm của công dân của mình.
Một nhà nước độc đảng về cơ bản là trái ngược với loại hình chính thể đại nghị – nó thực sự không đại diện ý chí của người dân. Một hệ tư tưởng nhất nguyên không chấp nhận tính đa dạng chắc chắn sẽ có mâu thuẫn và xung đột với những niềm tin, suy nghĩ phong phú của người dân.
Ngoài những ngôn từ thông thường cổ vũ cho sự thay đổi như tự do, dân chủ và nhân quyền, có những lý do khác cũng quan trọng không kém. Cũng giống như cách các doanh nghiệp cần phải đánh giá lại chiến lược của họ để tồn tại và có lợi nhuận, các chính phủ cũng phải làm tương tự.
Một nhà nước độc đảng có thể có hiệu quả trong việc đưa ra quyết định, nhưng nó vô cùng cồng kềnh, soi mói từng chi tiết ở cấp cơ sở.
Chính quyền trung ương lớn, bao gồm tất cả, có thể hành động một cách nhanh chóng, nhưng liệu nó có thể hoạt động hiệu quả? Dân chủ không nhất thiết phải luôn “hiệu quả hoặc trong sạch” nhưng nó là hình thức của một chính phủ công bằng nhất mà chúng ta biết.
Giả sử tất cả những gì nói trên đã xảy ra. Chúng ta hãy giả định rằng Đảng Cộng Sản Việt Nam đã có những bước đi mạnh mẽ trong cải cách hiến pháp và chính trị, thả các tù nhân lương tâm, các nhà tranh đấu cho nhân quyền và những người bất đồng chính kiến.
Các cuộc bầu cử đã được tổ chức ở mọi cấp của chính quyền, và bên được bầu đã phát động kế hoạch tiếp tục hiện đại hóa và dân chủ hóa Việt Nam.
“Một hệ tư tưởng nhất nguyên không chấp nhận tính đa dạng chắc chắn sẽ có mâu thuẫn với nhân dân”
Ủy ban ánh sáng sự thật
Giả sử tất cả những điều này đã xảy ra. Thật khó để tưởng tượng rằng một số người dân và có lẽ sẽ có nhiều người sẽ không cảm thấy không khinh bỉ và chống lại người của chế độ cũ. Thật khó để tưởng tượng rằng dĩ vãng là dĩ vãng, và tất cả sẽ được tha thứ.
Sẽ có những cá nhân cảm thấy rằng các nhà lãnh đạo trước đó phải trả lời cho những tội lỗi của họ đã gây ra và họ phải bị như thế. Nhưng liệu kiểu “công lý nhân dân” đó có thể được chấp nhận chăng?
Đối với Việt Nam để thực sự hướng về tương lai chúng ta cần phải làm hòa với quá khứ. Trong khi chính trị và lịch sử khác nhau, tôi muốn gợi ý tham khảo về Ủy ban Hòa giải và Sự thật của Nam Phi, đã được thành lập sau khi chấm dứt chủ nghĩa phân biệt chủng tộc.
Một lần nữa, sự khác biệt giữa Việt Nam và Nam Phi vừa xa vừa rộng, nhưng một ủy ban như vậy có thể giúp chữa lành vết thương cũ.

Ủy ban Hòa giải đã giúp Nam Phi khép lại quá khứ, chào đón tương lai
Ủy ban này sẽ không truy ra pháp đình những tội phạm trong quá khứ, nhưng nó có thể mang lại ánh sáng sự thật cho những hành động như vậy. Tối thiểu, nó có thể giúp đưa ra sự minh bạch mà trước đây không có.
Không chắc rằng ủy ban này sẽ được chào đón bởi tất cả mọi người, nhưng cứ khư khư ôm chặt quá khứ sẽ chẳng giúp được gì cho một Việt Nam mới đang tập trung vào xây dựng lại cho tương lai.
Và đó là lý do chính vì sao sự thay đổi này là cần thiết. Việt Nam, như nó đang hiện hữu, chưa sẵn sàng để đối mặt với tương lai.
Phương cách làm việc của chính phủ đã bị ăn sâu tận trong gốc rễ của nền chính trị cũ, dù những lãnh đạo bảo thủ nhất của đảng cộng sản đã rời chính trường từ lâu.
Chính trị của Đảng Cộng Sản Việt Nam hiện nay vẫn là lỗi thời, bảo thủ, cố hữu, cứ cố bám chặt vào quyền lực và quyền lợi mà họ đang có. Nhưng họ cũng cần phải sớm nhận ra rằng họ đang bị bỏ rơi vì thế giới chung quanh đã thay đổi để thích nghi với thời đại.
Việt Nam đã nỗ lực để hiện đại hóa, nhưng họ đang bị vượt qua bởi những quốc gia đã có những bước đi căn bản nhưng cần thiết.
Nếu Việt Nam muốn đóng bất kỳ vai trò quan trọng nào trong thế kỷ 21, việc đầu tiên phải làm là tham gia thực sự tích cực vào thế kỷ 21 bằng cách từ bỏ hoặc hiện đại hóa các phương thức hoạt động và cách cư xử cũ rích của mình.
Nhưng điều này không thể xảy ra mà không có sự thay đổi thực sự, thay đổi cấu trúc của toàn bộ hệ thống chính trị. Đây là những thay đổi phải bắt đầu từ thượng tầng kiến trúc để có hiệu lực tại hạ tầng cơ sở.
Nếu năm 2012 là năm thay đổi của Việt Nam, tôi hy vọng chúng ta thấy sự thay đổi thực sự.
Bài viết thể hiện quan điểm riêng của luật sư Vũ Đức Khanh từ Ottawa, Canada. Quý vị có ý kiến đồng ý hoặc phản biện lại chính bài này xin chia sẻ với Diễn đàn BBC hoặc trang Bấm Facebook của bbcvietnamese.
http://anonymouse.org/cgi-bin/anon-www.cgi/http://www.bbc.co.uk/vietnamese/forum/2012/02/120217_vn_politics_change.shtml

Để lại phản hồi »

Chưa có phản hồi.

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Tạo một website miễn phí hoặc 1 blog với WordPress.com.

%d bloggers like this: