Hoàngquang’s Blog

11/02/2012

Thẩm quyền, quyền lực và Tiên Lãng

Phạm Hồng Sơn
Phỏng vấn TS Thang Văn Phúc, nguyên Thứ trưởng Bộ Nội vụ, hiện là thành viên Ban Biên tập sửa đổi Hiến pháp Nên có sở hữu tư nhân về đất đai
GS.TSKH ĐẶNG HÙNG VÕ -Thời hạn và hạn điền – những thúc giục từ thực tế

nguyencuvinh VỤ TIÊN LÃNG: THỦ TƯỚNG KẾT LUẬN (Cập nhật theo phút…)
C Toàn văn kết luận của Thủ tướng

baomoi Chính quyền sai toàn diện trong vụ Tiên Lãng Trịnh Viên Phương Kết luận của Thủ tướng vụ Tiên Lãng: diệt cỏ phần ngọn NGUYỄN QUANG LẬP … ”Thế mới biết quan sâu là loại quan không bao giờ biết mình là sâu, suốt đời coi nhân dân là sâu bọ. Rõ khốn!” Thói quen của sâu. KỲ DUYÊN Những “kỷ lục” của Tiên Lãng và sự …tha hóa
truongduynhat Những con chó trong vụ Tiên Lãng Luật gia TRẦN ĐÌNH THU CẦN BÃI MIỄN TƯ CÁCH 2 THẨM PHÁN XÉT XỬ VỤ ĐOÀN VĂN VƯƠN NGAY LẬP TỨC Viết Lê Quân Nhân sự Tiên Lãng hay nhân sự Hải Phòng? Kiên Trung Dự án tiền tỉ bỏ hoang cạnh đầm ông Vươn Gia Minh, biên tập viên RFA Kết luận của Thủ tướng về vụ Tiên Lãng BBC Lãnh đạo Hải Phòng chỉ phải ‘kiểm điểm’
Hoà Ái, RFA 4000 văn bản pháp lý trái pháp luật, cần làm gì?
***

Phạm Hồng Sơn – Thẩm quyền, quyền lực và Tiên Lãng

Thẩm quyền (authority) và quyền lực (power) là hai khái niệm hoàn toàn riêng biệt và khá phức tạp trong khoa học chính trị, pháp lý. Nhưng chúng lại thuộc những khái niệm có tính nền tảng cho dân chủ. Có nhiều cách khác nhau để định nghĩa thế nào là thẩm quyền hay quyền lực, trong khuôn khổ của bài viết nhỏ này chúng tôi xin trích dẫn định nghĩa trong giáo trình Foundations of Democracy: justice, authority, privacy (Các nền tảng của Dân chủ: công lý, thẩm quyền, sự riêng tư) của Center for Civic Education (Trung tâm Giáo dục Công dân) tại Hoa Kỳ. Quyền lực là khả năng kiểm soát hay điều khiển được vật hay người. Còn thẩm quyền là quyền lực được gắn kết với một quyền (sự cho phép) được sử dụng quyền lực đó. Liên quan đến thẩm quyền là các khái niệm quan trọng khác như nguồn gốc của thẩm quyền, nền tảng của thẩm quyền hay các sự kiện lịch sử tác động tới nhận thức về thẩm quyền. Để dễ hiểu hơn chúng ta có thể thấy một kẻ bất hảo dùng súng để cưỡng đoạt tài sản của người khác thì kẻ đó có quyền lực nhưng hoàn toàn không có thẩm quyền làm việc đó. Hay việc một cảnh sát được trang bị các dụng cụ trấn áp như dùi cui, súng ngắn hay còng số 8 thì viên cảnh sát đó có quyền lực mạnh nhưng chỉ có thẩm quyền bắt giữ người khác theo đúng những gì pháp luật qui định, như bắt người phải có sự phê chuẩn trước của viện kiểm sát. Hoặc một giáo viên có thẩm quyền giữ trật tự trong lớp học nhưng không có thẩm quyền cấm học sinh bày tỏ quan điểm (một cách lịch thiệp) vì hiến pháp đã qui định mọi công dân đều có quyền tự do ngôn luận và cách bày tỏ lại không xâm phạm chuẩn mực đạo đức. Hiểu một cách khác và đơn giản hơn thì thẩm quyền là việc pháp luật cho phép hay qui định bổn phận (trách nhiệm) cho một cá nhân, một tổ chức được (hay phải) làm một việc gì đó. Còn quyền lực là khả năng tạo ra hoặc huy động được sức mạnh vật lý hay tinh thần. Như vậy một thẩm quyền luôn phải được kèm theo một mức độ quyền lực để làm tăng tính thực thi cho thẩm quyền trước những cản trở có thể. Còn một cá nhân hay một tổ chức có thể có quyền lực mạnh nhưng không hẳn đã có thẩm quyền để làm một việc gì đó. Để dễ hình dung hơn nữa chúng ta có thể lấy luôn vụ cưỡng chế đất ở Tiên Lãng vừa qua làm ví dụ. Vụ đó đã cho thấy rõ việc san phẳng ngôi nhà của anh Vươn là việc không hề khó đối với những quyền lực như người lái máy ủi và những người có chức quyền từ cấp xã, huyện cho đến trung ương. Nhưng tất cả những người có quyền lực đó đều không có thẩm quyền để làm tổn hại, dù chỉ là sướt sát, ngôi nhà đó khi những người chống trả đã rời khỏi ngôi nhà. Đây cũng là vấn đề đang được dư luận rất chú ý với những đòi hỏi phải làm rõ và xử lý hình sự những người đã huy động quyền lực phá nhà anh Vươn.

Một điều nguy hiểm hơn nữa trong vụ Tiên Lãng là, đối chiếu với những khái niệm thẩm quyền và quyền lực vừa trình bày, đang tiếp tục có sự đánh tráo hay cố tình nhập nhèm khái niệm thẩm quyền và quyền lực trong giải quyết vụ việc. Về nguyên tắc, trách nhiệm xử lý một tranh chấp, xung đột đã được khởi tố hình sự (đã có dấu hiệu vi phạm bộ luật hình sự) thì thẩm quyền xử lý phải hoàn toàn thuộc các cơ quan của hệ thống tư pháp (judiciary) – bao gồm Bộ Tư pháp, Viện Kiểm sát các cấp, Cơ quan Điều tra và Tòa án Hình sự các cấp. Nhưng đến tận hôm nay qua các phương tiện truyền thông chính thống thì giải quyết vụ việc Tiên Lãng dường như lại đang dựa hoàn toàn vào chỉ đạo của Thủ tướng (thuộc cơ quan hành pháp) và Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN- vẫn chỉ là một đảng chính trị dù là độc nhất). Các báo chí, phương tiện truyền thông chính thống đều tỏ ra rất săn đón hay hoan hỉ trích dẫn những phát biểu, nhận định của các cựu lãnh đạo cao cấp của ĐCSVN, đưa tin đậm về cuộc họp dự kiến của Thủ tướng về vụ Tiên Lãng, thậm chí nhiều đảng viên cộng sản kỳ cựu còn công khai gửi gắm, kỳ vọng việc “giải quyết tận gốc vụ Tiên Lãng” hoàn toàn cho ông Thủ tướng. VTV1 đã dành riêng một phần trong chương trình thời sự 19h ngày 07/02/2012 để đưa tin cuộc họp báo của tổ chức địa phương của ĐCSVN ở Hải Phòng về vụ Tiên Lãng. Đúng là tất cả những nhân vật, tổ chức vừa nêu đều là những người, những tổ chức có sức hấp dẫn lớn đối với dư luận hoặc là những người, những tổ chức có quyền hay quyền lực rất mạnh nhưng họ hoàn hoàn không có thẩm quyền để phân định đúng sai trong vụ Tiên Lãng. Điều 10 của Bộ Luật Tố tụng Hình sự qui định: “Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án phải áp dụng mọi biện pháp hợp pháp để xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ…” Thế nhưng, nếu chỉ nhìn vào dư luận từ khi tiếng súng nổ ra ở Tiên Lãng đến giờ, tất cả những cá nhân, những cơ quan có thẩm quyền này đều như không hề tồn tại hoặc nếu có thì lại chỉ thể hiện như những chức năng cấp dưới của ông Thủ tướng.
Rất có thể những người có quyền lực hiện nay trong hệ thống chính trị của Việt Nam đang toan tính cách xử lý vụ Tiên Lãng theo chiều hướng vỗ về dư luận – đã bùng và sôi lên từ hơn một tháng qua. Nhưng nếu vấn đề thẩm quyền (authority) và quyền lực (power) không được làm rõ hay không được làm rõ thêm thì cái được cho xã hội sau vụ việc lịch sử này vẫn chả có gì là bền vững hoặc nếu có thì cũng không đáng là bao.
© 2012 pro&contra
http://www.procontra.asia/?p=256

Phỏng vấn TS Thang Văn Phúc, nguyên Thứ trưởng Bộ Nội vụ, hiện là thành viên Ban Biên tập sửa đổi Hiến pháp Nên có sở hữu tư nhân về đất đai

Về hướng sửa Luật Đất đai, TS Thang Văn Phúc, nguyên Thứ trưởng Bộ Nội vụ, hiện là thành viên Ban Biên tập sửa đổi Hiến pháp, đề xuất nên chấp nhận sở hữu tư nhân về đất bên cạnh sở hữu Nhà nước, sở hữu tập thể…

* Phóng viên:
Thưa ông, những bất cập trong Luật Đất đai hiện hành đã được nhận diện qua thực tiễn. Về mặt lý luận, ông đánh giá vấn đề này như thế nào?

– TS Thang Văn Phúc: Ngay trong các văn bản pháp luật hiện hành đã thể hiện sự không đồng nhất trong việc xác định quyền sở hữu đất đai. Nếu như điều 17 của Hiến pháp năm 1992 quy định “đất đai là tài sản thuộc sở hữu toàn dân, Nhà nước là người đại diện chủ sở hữu đất đai trên toàn lãnh thổ” thì Bộ Luật Dân sự 2005 lại quy định đất đai là một trong những loại tài sản thuộc sở hữu Nhà nước. Trong khi đó, điều 5 Luật Đất đai lại quy định “đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước đại diện chủ sở hữu”…
Theo tôi, cần bổ sung vấn đề cốt lõi về quyền sở hữu do 3 yếu tố cấu thành. Thứ nhất là quyền chiếm hữu, thứ hai là quyền định đoạt và thứ ba là quyền hưởng lợi. Cả ba quyền này suy cho cùng đều là quyền tài sản, có quyền buôn bán được.
* Hướng sửa Luật Đất đai là phải nắm bắt được tinh thần nội dung của việc sửa Hiến pháp vì Hiến pháp được coi là “luật mẹ”. Nội dung sửa Hiến pháp năm 1992 chủ yếu gồm những lĩnh vực gì và có mối quan hệ với Luật Đất đai như thế nào?

– Nội dung sửa Hiến pháp lần này chủ yếu là các lĩnh vực: tổ chức bộ máy Nhà nước, làm rõ quyền – nghĩa vụ công dân và vấn đề kinh tế liên quan đến quyền sở hữu. Sự không rõ ràng về quyền sở hữu đất đã dẫn đến nhiều tranh chấp không đáng có. Cả lý luận và thực tiễn hiện nay đang đòi hỏi phải đa dạng hóa về sở hữu đất đai, trong đó có sở hữu tư nhân về đất đai. Nhiều nhà nghiên cứu, nhà khoa học đã góp ý khái niệm sở hữu toàn dân là khái niệm rất chung chung, mang sắc thái chính trị cho nên không rõ ràng, không rõ ai là chủ quyền thực sự nên khi vận dụng dễ bị suy diễn một cách chủ quan. Thực tế, nhiều nơi, tài nguyên đất đai, môi trường bị “băm nát” bởi quan niệm rất mù mờ về quyền sở hữu toàn dân.
Cần phân biệt rõ các khái niệm quyền quản lý, quyền sử dụng và quyền sở hữu đất đai. Luật pháp là để phục vụ con người cho nên tính nhân bản luôn được coi trọng trong khi xây dựng Hiến pháp cũng như các luật liên quan, trong đó, đặc biệt chú trọng đến Luật Đất đai. Hình thức sở hữu đất đai phù hợp đem lại hiệu quả cao nhất với chi phí thấp nhất cho người dân.

Cả lý luận và thực tiễn hiện nay đang đòi hỏi phải đa dạng hóa về sở hữu đất đai, trong đó có sở hữu tư nhân về đất đai.
TS Thang Văn Phúc

Dù lộ trình có khác nhau nhưng phải thống nhất quan điểm đa dạng hóa hình thức sở hữu đất đai trong việc sửa Hiến pháp cũng như sửa Luật Đất đai. Tôi ủng hộ quan điểm cần chấp nhận sở hữu tư nhân về đất đai, bên cạnh sở hữu Nhà nước, sở hữu tập thể vì đáp ứng được nhu cầu phát triển của thực tế, làm giảm tham nhũng trong bộ máy quản lý đất đai.
* Đã từng nhiều năm giữ cương vị thứ trưởng Bộ Nội vụ và tổng thư ký Ban Chỉ đạo cải cách hành chính của Chính phủ, theo ông, Hiến pháp, luật và thủ tục hành chính cần phải sửa như thế nào để quản lý, sử dụng đất đai ở Việt Nam hữu hiệu?

– Hướng chúng ta nhắm đến là Hiến pháp như thế nào thì luật pháp và các thủ tục hành chính đi theo phải tương ứng. Hiện nay, vẫn có tình trạng như doanh nghiệp mua mảnh đất của người dân thì phải thương lượng để đền bù. Cơ quan Nhà nước làm thủ tục quyết định thu hồi đất của dân, rồi lại làm thủ tục quyết định giao đất hoặc thuê đất cho doanh nghiệp.
Thủ tục hành chính này nhiêu khê vì phụ thuộc vào luật và phải mất hai lần làm thủ tục. Nếu coi đất đai là một loại hàng hóa thì doanh nghiệp trực tiếp mua bán với người dân theo giá thỏa thuận, còn Nhà nước chỉ làm một lần thủ tục là “sang tên, đổi chủ” giống như mua bán nhà ở TP.

Rõ ràng là đi kèm theo các thay đổi trong nội dung của việc sửa đổi Luật Đất đai thì một loạt thủ tục hành chính Nhà nước về quản lý đất đai phải được thay đổi căn bản. Người dân cần các thủ tục hành chính minh bạch, thuận tiện và đơn giản. Chương trình tổng thể cải cách hành chính giai đoạn 2001-2010 và 2010-2020 đã xác định nội dung nói trên là trọng tâm ưu tiên, đột phá.
Hiện Luật Đất đai đang được sửa trước khi sửa Hiến pháp nên vấn đề mấu chốt nhất để tránh luật mâu thuẫn với Hiến pháp hiện hành và vẫn mang các yếu tố tích cực cho việc sửa Hiến pháp sắp tới thì cần công nhận quyền sử dụng đất của người dân là quyền tài sản. Theo đó, người dân có quyền sở hữu, định đoạt và hưởng lợi từ tài sản ấy.
Trong những trường hợp khẩn cấp như chiến tranh hay yêu cầu phòng tránh thiên tai, Nhà nước có quyền trưng thu hoặc trưng mua phục vụ mục đích công cộng nhưng sau đó phải có thỏa thuận với người dân. Tôi tin rằng với các bài học kinh nghiệm trong quản lý Nhà nước về đất đai cũng như sự đóng góp trí tuệ của nhân dân thì kết quả của việc sửa đổi Hiến pháp, Luật Đất đai và cải cách các thủ tục hành chính sẽ đem lại sự ổn định và phát triển bền vững của đất nước.

Duyên Anh thực hiện

http://nld.com.vn/2012021009503980p0c1002/nen-co-so-huu-tu-nhan-ve-dat-dai.htm

GS.TSKH ĐẶNG HÙNG VÕ -Thời hạn và hạn điền – những thúc giục từ thực tế

TTCT – Câu chuyện một nông dân có 500ha ruộng mà 70-80% số đó phải nhờ người khác đứng tên, hay thời hạn năm 2013, tức 20 năm từ khi thực hiện giao đất nông nghiệp theo nghị định 64/1993, Nhà nước có thu hồi ruộng đất để chia lại hay không… đang cho thấy những thực tiễn nóng bỏng trong lĩnh vực nông nghiệp, thúc giục một sự quyết đáp rõ ràng.

Đất đai luôn luôn là vấn đề lớn đối với phát triển nông nghiệp, nông thôn và nông dân, nhất là ở các nước đang phát triển với kinh tế nông nghiệp chiếm tỉ trọng cao, dân sống bằng nghề nông còn nhiều. Ngày nay, các nước phát triển cao cũng đặt mối quan tâm lớn vào khu vực nông nghiệp và nông thôn với ý nghĩa bảo đảm an ninh lương thực và giải quyết vấn đề môi trường.
Nhìn xa hơn, khi tài nguyên hóa thạch cạn kiệt, loài người sẽ phải tìm kiếm nhiên liệu, nguyên liệu từ nông sản để tiếp tục phát triển.
Hai vấn đề cốt lõi

Từ ngày đầu đổi mới, chính sách Nhà nước giao đất của hợp tác xã cho hộ gia đình, cá nhân để sử dụng ổn định lâu dài đã mang lại động lực cho phát triển nông nghiệp, đưa nước ta từ tình trạng thiếu lương thực trở thành nước xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới. Đến nay động lực đó đã cạn dần vì không thể tăng năng suất và sản lượng cao hơn.
Để phát triển nông nghiệp theo chiều sâu, chúng ta cần đầu tư hạ tầng hiện đại, quy hoạch lại đồng ruộng, tăng cường dịch vụ cho nông nghiệp và nông thôn như điện, thủy lợi, giao thông, công nghệ…, làm sao để giúp nông dân tự vươn trực tiếp ra thị trường nông sản trong nước và quốc tế. Nhưng, từ đây có hai vấn đề cốt lõi cần có những quyết đáp rõ ràng: đó là câu chuyện thời hạn (giao đất) và hạn điền. Giải quyết xong hai vấn đề này sẽ tạo được động lực mới cho nông nghiệp, nông thôn và nông dân.
Một mặt không để hình thành tầng lớp “địa chủ” mới, mặt khác lại không thể để ruộng đất manh mún và thiếu đầu tư dài hạn. Hai tư duy này cọ xát nhau rất mạnh trong quá trình phát triển nông nghiệp nước ta. Nếu không được tập trung ruộng đất quy mô lớn với thời gian sử dụng ổn định lâu dài thì người có khả năng làm nông nghiệp không dám đầu tư lớn và dài hạn để tăng năng suất và sản lượng.
Thời hạn được quy định từ Luật đất đai 1993 với tinh thần “hết thời hạn vẫn được tiếp tục sử dụng đất nếu sử dụng đất có hiệu quả”. Vấn đề phức tạp thực tế được đặt ra: ai là người xác nhận hiệu quả sử dụng đất để được tiếp tục sử dụng? Chắc chắn phải là chính quyền địa phương.
Như vậy, cơ chế này bắt người nông dân phải “cầu cạnh” chính quyền để giữ được đất. Và một cơ chế như vậy ẩn chứa nguy cơ tham nhũng rất cao. Khi chuẩn bị Luật đất đai 2003, câu chuyện được đặt ra là chúng ta có nên bỏ thời hạn sử dụng đất nông nghiệp hay không, nếu không bỏ thì có kéo dài thời hạn hay không? Cứ cho là thời hạn được kéo dài hơn thì cũng vẫn vướng vào câu hỏi là hết thời hạn sẽ làm gì?
Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 7, khóa IX đã đưa ra xem xét vấn đề này khi thông qua nghị quyết số 26-NQ/TW về tiếp tục đổi mới chính sách, pháp luật đất đai trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Có hai luồng ý kiến khá ngang nhau xuất hiện: một là hết thời hạn thì chia lại ruộng đất cho công bằng theo lực lượng lao động hiện tại; hai là cho đương nhiên kéo dài thời hạn, thậm chí xóa bỏ thời hạn.
Vì số lượng ý kiến ngang nhau nên vấn đề thời hạn bị xếp lại để tiếp tục giải quyết trước ngày 15-10-2013, ngày kết thúc thời hạn 20 năm đối với đất sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối.
Những thực tế đòi hỏi

Một điều thấy rõ là nếu không xóa bỏ thời hạn thì chắc chắn nông dân sẽ khó lòng yên tâm đầu tư dài hạn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn, nhất là với mô hình sản xuất lớn có giá trị gia tăng cao đang được cổ xúy rất mạnh mẽ hiện nay. Khi sử dụng đất sản xuất nông nghiệp chỉ với thời hạn 20 năm, sau này lại không biết “thân phận” đất đai của họ đang sử dụng sẽ như thế nào, chắc chắn không người nông dân nào dám đầu tư lớn, dài hơi.
Xóa thời hạn được coi là phương án tốt nhất để người chuyên làm nông nghiệp yên tâm dồn tâm trí, tiền bạc, sức lực để tạo nên khu vực nông nghiệp có năng suất và sản lượng rất cao. Đây chính là động lực mới từ chính sách đất đai để phát triển kinh tế nông nghiệp. Đầu tư cho nông nghiệp có khi phải kéo dài cả hàng chục năm mới thay đổi được phương thức canh tác làm tăng đáng kể lợi nhuận.
Việc giải phóng thời hạn sử dụng đất đồng nghĩa với việc giải phóng tâm lý lo lắng, phấp phỏng của nông dân, để họ yên tâm đưa ra một kế hoạch đầu tư dài hạn. Tất nhiên, để tránh trường hợp có đất nhưng không sử dụng, cần đặt ra nhiều chính sách khác như điều tiết bằng thuế, thu hồi đất, đừng dùng cách hạn chế bằng thời hạn sử dụng đất.
Đối với hạn điền cũng có hai cách nhìn nhận khác nhau: thứ nhất cho rằng cần loại bỏ hạn điền nhằm khuyến khích kinh tế trang trại quy mô lớn; cách thứ hai ngược lại, muốn tiếp tục quy định hạn điền để tránh xu hướng hình thành tầng lớp “địa chủ” mới và “tá điền” mới ở nông thôn. Nhưng từ lịch sử mà thấy, thì hạn điền là một chính sách đất đai rất cơ bản của thời kỳ phong kiến để nhà vua không cho tầng lớp địa chủ cơ hội lấy quá nhiều đất của vua. Cách thức đó rõ ràng không phù hợp với tư duy công nghiệp trong thời kỳ công nghiệp hóa.
Hệ thống pháp luật đất đai của ta nhiều năm qua cũng đã đi theo hướng nới rộng hạn điền. Hạn điền theo Luật đất đai 1993 đã trở thành hạn mức giao đất của Nhà nước cùng với hạn mức nhận chuyển quyền (khoảng gấp đôi hạn mức giao đất) trong Luật đất đai 2003. Mặt khác, trên thực tế hệ thống quản lý đất đai của ta không phát hiện được và cũng không có chế tài xử lý các trường hợp vượt hạn điền.
Việc xóa bỏ hạn điền cũng là cần thiết, điều đó sẽ giúp người nông dân có điều kiện hình thành các trang trại lớn, yên tâm đầu tư chiều sâu, nông nghiệp sẽ phát triển mạnh hơn. Để tránh hiện tượng hình thành tầng lớp “địa chủ” mới, chúng ta cũng vẫn giải quyết được bằng chính sách thuế, bằng các chế tài thu hồi đối với đất đã phát canh thu tô, quy định cụ thể về phân chia địa tô, đừng giải quyết bằng hạn điền vì không hiệu quả.
“Tam nông” hiện đang cần những chính sách đất đai phù hợp hơn, tạo động lực lớn hơn để người nông dân yên tâm tự đầu tư sản xuất nông nghiệp theo chiều sâu. Vậy hãy trao cho nông dân cơ hội làm giàu trên đồng ruộng. Để làm được điều đó, về mặt chính sách đất đai, Nhà nước cần xóa hạn điền, xóa thời hạn trong sử dụng đất nông nghiệp, mở ra nhiều kênh tín dụng phù hợp cho nông dân để phát triển sản xuất, tạo điều kiện để người nông dân dễ dàng tiếp cận với công nghệ và dịch vụ, hỗ trợ người nông dân trực tiếp tham gia thị trường.
Vụ việc ở Tiên Lãng (Hải Phòng) là một ví dụ điển hình về tiêu cực khi thu hồi đất hết thời hạn mà trên đất đó những người trực tiếp sản xuất nông nghiệp đã bỏ quá nhiều vốn liếng, công sức ra đầu tư dài hạn. Nhiều bài học về chính sách đất đai rất cần được rút ra thấu đáo từ những đau lòng này.

Ở các nước phát triển đều không có thời hạn và hạn điền đối với đất nông nghiệp. Nông dân được tạo điều kiện hết mức để ổn định sản xuất, khuyến khích đầu tư dài hạn theo chiều sâu, con em nông dân được tạo điều kiện học tập nghiên cứu để sau đó quay trở về nông thôn, đồng ruộng tiếp tục làm nghề nông. Con em họ thường theo truyền thống gia đình, không ly nông ly hương chạy vào đô thị.
Những nước có nền nông nghiệp phát triển đã tạo cho người nông dân sự yên tâm với nghề nông, có được thu nhập cao từ nghề nông và con em họ vẫn tiếp tục chí thú với nghề nông. Trong khi ở nước ta, con em nông dân mà giỏi giang một chút là chạy vào đô thị để tìm kiếm cơ hội thu nhập cao, không bao giờ muốn quay về đồng ruộng.
Những người làm nông nghiệp là cha là mẹ cũng khuyến khích con em họ quay lưng lại với nghề nông để tránh cuộc sống lam lũ. Chúng ta luôn luôn làm cho “tam nông” bị hẫng hụt mà cái hẫng hụt đầu tiên là về nhân lực – cái hụt khó bù đắp nhất.

GS.TSKH ĐẶNG HÙNG VÕ

http://tuoitre.vn/Tuoi-tre-cuoi-tuan/Tuoi-tre-cuoi-tuan/476864/Thoi-han-va-han-dien—nhung-thuc-giuc-tu-thuc-te.html

Để lại phản hồi »

Chưa có phản hồi.

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Blog at WordPress.com.

%d bloggers like this: