Hoàngquang’s Blog

11/02/2012

Mấy hiện tượng tâm lý lộ ra từ “Vụ Tiên Lãng”

Mạc Văn Trang

TS Nguyễn Sỹ Phương, CHLB Đức – Nhà nước có tim?
Đào Tuấn – Để luật không phải là cạm bẫy
**

Nghiên cứu tâm lý con người khó nhất là làm sao qua những hiện tượng biểu hiện ra bên ngoài mà chẩn đoán đúng được bản chất của nó. Cụ tổ Mạc Đĩnh Chi nhà tôi từng nói “Họa hổ họa bì nan họa cốt, Tri nhân tri diện bất tri tâm”. Còn dân ta thì đành kiên trì chờ đợi “Cái kim bọc giẻ lâu ngày cũng lòi ra”… Khoa học công nghệ hiện đại Mỹ, Anh, Đức, Nga… loay hoay mãi cũng chưa sáng chế được cái máy phát hiện nói dối đáng tin cậy… Thế mà “Vụ Tiên Lãng” chỉ qua một tháng trời, toàn dân được thấy bao nhiêu là hiện tượng tâm lý kỳ thú. Không một phép thử tâm lý nào tuyệt vời hơn thế. Cơ hội vàng cho các nhà tâm lý học, xã hội học… đấy. Mình già yếu, hưu rồi chả có điều kiện đi nghiên cứu thực địa, chỉ qua thông tin trên báo chí cũng thấy khối điều hay.
Thứ nhất là chân dung tâm lý các nhân vật cứ lộ dần ra qua các việc làm, lời nói, dư luận xã hội…
Anh Đoàn Văn Vươn, khi vụ cưỡng chế nổ ra ngày 5/1/2012 thì ngay sau đó một loạt đài báo đưa tin anh là chủ mưu, cầm đầu nhóm chống người thi hành công vụ, sử dụng vũ khí nóng giết người, kiểu băng đảng xã hội đen… Thủ tướng mới nghe vậy đã có chỉ thị: Xử lý nghiêm kẻ chống người thi hành công vụ, báo cáo ngay! Nhưng các thông tin hồi cứu, các tư liệu mới ngày càng khẳng định anh Vươn là mẫu người của xã hội đương thời: một cựu chiến binh, một kỹ sư nông nghiệp dám nghĩ, dám làm, có tầm nhìn xa, có hoài bão lớn, có tư duy sáng tạo, có ý chí kiên cường bất khuất trước thiên nhiên khắc nghiệt, có sức lôi cuốn cả gia đình, anh em và nhân dân địa phương dấn thân làm giàu từ đất đai quê hương và sức cần lao của chính bản thân… Có lẽ anh quá say mê lao động, sống chân thành với xung quanh đã không ngờ đến sự dòm ngó, âm mưu toan tính của mấy người nắm quyền ở xã, huyện… Và khi bị ép đến đường cùng thì bản tính bất khuất của anh bật ra là tất yếu. Đoàn Văn Vươn là mẫu người của đương thời, một nhân cách không cam chịu nghèo hèn, vươn lên làm giàu bằng khối óc, bàn tay của chính mình; không cam chịu nhẫn nhục cúi đầu trước cường quyền tước đoạt cả mồ hội, máu và nước mắt của mình. Những nét nhân cách của anh thể hiện bộc trực, thẳng băng, chẳng phải che giấu, lươn lẹo… Đoàn văn Vươn một mẫu nhân cách ViệtNamquý hiếm, đang rất cần cho chấn hưng đất nước. Vậy mà anh đang chịu bao oan khuất. Sự tương phản trong số phận của anh làm xúc động lòng người. Chính vì thế có nhà báo viết: “Muôn người đều đứng về phía anh Vươn”…

Đối lập với anh Vươn là chân dung tâm lý các quan chức Hải Phòng, Tiên Lãng cũng lộ dần ra, càng cố che giấu, càng lòi ra một cách lộ liễu ở mọi góc cạnh.
Trước hết là trình độ văn hóa chung và văn hóa làm quan chức nhà nước của họ quá thấp kém. Ta có cảm nhận như mọi thứ học hành, đào tạo, giáo dục đều truội đi đâu hết; cái đầu óc của họ chỉ để mưu tính những thủ đoạn và làm theo lệnh “trên” hoặc “quyết định tập thể”, chứ bản thân không suy nghĩ sâu xa, không có ý thức pháp luật, ý thức về vai trò, chức năng, trách nhiệm công vụ, mà cứ làm từng vụ, từng việc, rồi gặp đâu nói đấy… Họ chỉ mạnh khi cố kết với nhau thành “tập thể” và dùng “toàn hệ thống chính trị” để “phát động…”, “trấn áp”… Còn khi từng cá nhân đối diện với người dân, với báo chí thì họ không đủ trí tuệ, bản lĩnh để đối thoại thẳng thắn, chân thành, thuyết phục…
Chủ tịch huyện Tiên Lãng Lê Văn Hiền điển hình cho cách nghĩ nông cạn, làm liều, nói liều. Giám đốc công an Hải Phòng Đỗ Hữu Ca điển hình cho sự thấp kém về IQ, nhưng lại thích ba hoa, hùng hổ một cách hồn nhiên, vì không biết mình dốt. Đỗ Trung Thoại Phó chủ tịch Hải Phòng mà ấu trĩ về chính trị, xã hội đến mức tuyên bố trước các nhà báo giữa Thủ đô: “Dân bức xúc nên phá nhà anh Vươn” (?). Đến trẻ con cũng không ngu và liều như thế!
Không chỉ IQ thấp mà EQ (chỉ số xúc cảm), SQ (chỉ số xã hội) càng thấp vì họ không cảm nhận được những phản ứng xúc cảm của những đối tượng bị cưỡng chế, không cảm nhận được lòng dân, không tiếp nhận và phân tích, đánh giá được tâm trạng xã hội, dư luận xã hội…
Điều ghê sợ hơn là tính cách độc đoán, thô bạo, trơ trẽn, gian dối đổi trắng thay đen, nói không thành có, vu oan giáng họa cho người lương thiện, ngoan cố với những việc làm sai trái, giở mọi thủ đoạn để quyết đạt được mục đích xấu xa. Lúc đầu nói thu hồi đất để làm sân bay, bí quá lại nói hết hạn thuê đất, thu lại cho người khác thuê; lúc lại nói anh Vươn khai thác trái phép, trốn thuế, phát canh thu tô lấy lời, không đóng góp cho xã hội, rồi anh Vươn là người xã khác đến vỡ đất nên dân sở tại không đồng tình… Cả một lực lượng đông đảo cưỡng chế có xe cơ giới vào phá nhà anh em anh Vươn giữa ban ngày, mà lúc thì bảo do bọn chống đối ẩn nấp trong đó bắn người thi hành công vụ nên phá (Hiền), lúc bảo do dân bức xúc nên phá (Thoại), lúc bảo làm nhà không phép nên phá (Ca), rồi lại không biết lực lượng nào phá, còn điều tra (Ca). Rồi cái nhà hai tầng của người ta cho hai gia đình sinh sống lại gọi là “đập cái chòi canh cá” có gì đâu (Ca)… Hai nhân vật dối trá trơ trẽn, có bài bản là Chánh văn phòng UB huyện Ngô Ngọc Khánh và Vũ Hồng Chuân, Trưởng ban Tuyên giáo huyện Tiên Lãng. Họ xuất hiện nhiều lần trước công chúng, nói bao điều dối trá như diễn kịch, không hề ngượng ngùng, xấu hổ. Đặc biệt, Chuân còn đứng trước 300 đảng viên cốt cán của cả huyện để quán triệt rằng: việc cưỡng chế là đúng pháp luật, đúng trình tự, hợp lòng dân, Vươn và đồng bọn chống người thi hành công vụ có chủ định, là tội giết người… Các đảng viên và toàn hệ thống chính trị phải nói và làm theo chỉ đạo của Huyện ủy, không nghe luận điệu của các phần tử xấu có sự xúi giục, dàn dựng của các thế lực thù địch!… Như thế là tất cả những ai phê phán sai trái của chính quyền Tiên Lãng đều là “kẻ xấu”, là bị “các thế lực thù địch kích động, xúi giục”… Họ đã không hiểu hay cố tình không hiểu rằng chính họ mới đang phá hoại Đảng, phá hoại chế độ ác liệt hơn bất kỳ kẻ địch nào.
Có nhiều nhân vật giấu mặt, nhưng bản chất của họ vẫn lộ ra. Đó là Bí thư Huyện ủy huyện Tiên Lãng, ở hậu trường chỉ đạo mọi chủ trương, biện pháp; đó là hàng loạt quan chức ở Hải Phòng, cả tháng trời lờ đi như Tiên Lãng chẳng có chuyện gì, chờ nghe báo cáo… Khi Trung ương nói toẹt ra sẽ xử lý nghiêm… thế là tíu tít, ríu rít kéo nhau về Tiên Lãng “lắng nghe dân”, “gặp các lão thành cách mạng” và trương ra cái biển họp báo rất hoành tráng, trả lời rất “cởi mở”, “thẳng thắn”, “nghiêm túc kiểm điểm”…
Tất cả những biểu hiện tâm lý nói trên của quan chức Hải Phòng, Tiên Lãng, phân tích sâu xa về mặt tâm lý là do bị điều khiển bởi cái nhân tố sâu kín nhất, vi diệu nhất, khó thấy nhất, đó là ĐỘNG CƠ HÀNH ĐỘNG. VÌ CÁI GÌ mà họ đã làm như vậy?
Nếu vì phép nước, vì lợi ích chung thì họ phải căn cứ vào luật pháp và luôn nhất quán, công khai, minh bạch, sao phải gian giảo?
Nếu vì lợi ích của dân thì họ phải họp bàn với dân, nghe dân, làm theo nguyện vọng của dân, làm đàng hoàng chứ sao phải làm như kẻ cướp?
Thế thì vì cái gì mà họ hăng hái, quyết tâm, liều mình đến thế? Cụ Nguyễn Bỉnh Khiêm, quê Kiến An Hải Phòng đã tổng kết: “Thớt có tanh tao ruồi mới đậu/ Ang không mật mỡ kiến bò chi”. Thế là có thể chẩn đoán: các đồng chí Tiên Lãng thấy mấy chục ha đất của anh Vươn khai phá suốt 15 năm ấy cứ ngày càng lồ lộ ra “tanh tao” quá, “béo, ngọt” quá không dằn lòng được, nhiệm kỳ thì có hạn, phải mau “thu hồi vốn”, nên mới đồng tâm, nhất trí, quyết làm mau lẹ! Nhưng không học hết chữ ngờ…
Công bằng mà nói trong mỗi con người đó cũng có nghĩ đến đảng, đến dân, đến đất nước, danh dự… chứ. Nhưng lý thuyết động cơ hiện đại nghiên cứu hay lắm: Trong hệ thống thứ bậc nhiều động cơ đan xen nhau, thì động cơ mạnh nhất, cấp thiết nhất sẽ chiếm ưu thế, lấn át hết các động cơ khác. Cái động cơ ưu thế đó sẽ điều khiển, chi phối mọi hoạt động tâm lý của con người, giống như anh yêu si mê ấy mà, bất chấp tất cả!
Theo tâm lý học Phật giáo thì có thể nói cái tham lớn quá, như lửa cháy thiêu đốt tâm can, che mờ hết phật tính dẫn đến hành động vô minh, tăm tối, gây ra cả ý nghiệp, khẩu nghiệp, thân nghiệp… Tham, sân, si là nguồn gốc của hành động tội lỗi…
Cụ Hồ thì nói đức là gốc. Mất gốc rồi thì chủ nghĩa cá nhân trỗi dậy dẫn đến tham ô, hủ hóa, biến chất…
Với những phẩm chất tâm lý như thế, làm sao những người này có phẩm chất của người lãnh đạo là nêu gương, thu phục, dẫn dắt dân chúng theo những giá trị cao đẹp của dân tộc và nhân loại?

Một điều thú vị khác là “vụ Tiên Lãng” cũng làm xuất hiện một phong trào liên kết rộng lớn của những người tử tế trong xã hội (có nhiều người tử tế nhưng không tham gia vào), đồng loạt lên tiếng bênh vực anh Vươn, phê phán chính quyền Tiên Lãng. Có thể nói trong xã hội đã hình thành hai trận tuyến: Cái Thiện quyết liệt truy kích cái Ác trên mọi mặt trận; cái Ác ngoan cố, bị động đối phó điên cuồng nhưng cuối cùng cam chịu thất bại một bước. Trên trận tuyến “cái Thiện” đã xuất hiện hàng loạt những chân dung tâm lý hết sức sinh động, tự nhiên, dấn thân không kém phần quyết liệt. Đó là hàng loạt nhà báo đã bất chấp đám xã hội đen ở xã Vinh Quang, đến tận nơi lấy tin tức, đưa bài, ảnh kịp thời, tố cáo những sai trái của chính quyền… Lực lượng blogger đông đảo đưa tin nhanh từng phút, truyền đi những bình luận thức tỉnh lòng người.
Ấn tượng nhất là Đại tướng Lê Đức Anh, nguyên Chủ tịch nước. Không ngờ Cụ già yếu, bệnh tật vậy mà vẫn theo dõi rất sát sao tình hình vụ Tiên Lãng, có những nhận định, phân tích rất chính xác, cụ thể. Sự anh minh, quyết đoán của Cụ trong vấn đề Tiên Lãng có sức mạnh trong dư luận xã hội. Giờ đây nhiều người dân lại cầu mong cho Cụ khỏe mạnh, sống lâu, minh mẫn… Nhiều quan chức đã nghỉ hưu, hiểu rõ nội tình chính quyền và lòng dân đã không ngần ngại lên tiếng chỉ rõ những sai trái trong vụ Tiên Lãng, như: ông Phạm Thế Duyệt, Đặng Hùng Võ, Nguyễn Minh Thuyết, Lê Hiếu Đằng, v.v.
Cảm động nhất là những người tự đứng ra kêu gọi quyên tiền giúp đỡ gia đình anh Vươn, anh Quý. Họ có sự thấu cảm sâu sắc với người dân, đầy lòng trắc ẩn và dũng cảm, thông minh, sáng tạo, như Nguyễn Xuân Diện, Nguyễn Quang Vinh… Họ chẳng quen biết gì gia đình anh Vươn, những người đưa tiền ủng hộ cho họ từ Việt kiều, nhà khoa học, người công nhân, người hưu trí, anh xe ôm, chị bán hàng rong… đều tuyệt đối tin tưởng ở họ; những người tử tế gặp nhau trong mục đích chung, tình cảm chung thật tốt đẹp. Cái tốt đẹp có sức gắn kết mọi người trong xã hội lại một cách hoàn toàn tự nguyện, tự giác, tự nhiên… Một nét tâm lý xã hội mới, tốt đẹp giữa những người tốt với nhau, có trách nhiệm xã hội (hoặc là đươc tái hiện trở lại) từ những cuộc biểu tình chống Trung Quốc tại Hà Nội cuối năm 2011, nay phát triển dưới hình thức mới sâu rộng hơn, linh hoạt hơn… Internet quả là phương tiện tuyệt vời để kết nối nhưng công dân mạng này, mở ra triển vọng đầy tốt đẹp.

Thứ hai là hiện tượng tâm lý xã hội rất quan trọng là nhóm cố kết trong hệ thống chính trị ở cơ sở cũng bộc lộ rõ qua “vụ Tiên Lãng”. Có thể nói toàn bộ hệ thống chính trị ở huyện Tiên Lãng và xã Vinh Quang đều cố kết với nhau trong việc làm sai trái, không chỉ quay lưng mà còn bức hại người dân lương thiên như anh Vươn. Dưới sự chỉ đạo của Huyện ủy, toàn bộ máy của hệ thống chính trị: Từ UB, tuyên huấn, công an, tòa án, quân đội, mặt trận, thanh niên, phụ nữ, hội nông dân, hội cựu chiến binh… đều quán triệt tư tưởng và hành động theo chỉ đạo, không tổ chức nào trong hệ thống còn khả năng phản biện, bênh vực anh Vươn. Không những thế họ còn bố trí cho tay chân “tố” anh Vươn nhiều “tội” để đưa lên đài, báo địa phương; bố trí người giả danh cán bộ lão thành cách mạng viết thư lên báo đăng tin xuyên tạc… Về bản chất, bài bản họ làm vẫn giống như từ hồi Cải cách ruộng đất vậy. May mắn cho anh Vươn, thời nay đã khác rồi.
Trong hệ thống đó có nhiều người biết chính quyền làm sai trái, nhưng họ không thể phê phán; nhiều dân địa phương không đồng tình nhưng đều bị khống chế. Nhớ lại vụ bà Ba Sương ở nông trường Sông Hậu: hơn 500 người ký đơn kêu oan cho bà, 200 người ký đơn xin đi tù thay cho bà… Nhưng sau đó chính quyền đã khống chế, khiến họ phải rút kiến nghị, thậm chí có người quay lại tố bà Ba Sương… Toàn hệ thống chính trị đã nhất quán thì cá nhân nào trong đó nếu chống lại sẽ bị “nghiền nát”, với người dân càng như thân phận con ong, cái kiến, không trông cậy gì được vào pháp luật. Pháp luật nằm trong tay hệ thống chính trị, do tổ chức đảng lãnh đạo toàn diện và tuyệt đối. Trường hợp đó chỉ còn trông cậy ở cấp trên và bên ngoài. Cấp trên Yên Lãng là Thành ủy, UB Hải Phòng, coi vụ Tiên Lãng là chuyện nhỏ, chờ địa phương xử lý, báo cáo. Có hai ông xuất hiện là Thoại và Ca thì đều một giuộc bênh che cho với cấp dưới. Cuối cùng anh Vươn phải trông nhờ từ bên ngoài, tức là tác động của các lực lượng xã hội và từ trên xuống.
Tóm lại hệ thống chính trị Tiên Lãng và xã Vinh Quang là nhóm cố kết vì lợi ích cục bộ, có tính chất băng đảng xã hội đen! Hoàn cảnh tạo ra con người, trong quá trình con người tham gia vào nhóm xã hội đó. Nhóm đã tha hóa thì cá nhân trong đó cũng khó tránh khỏi hư hỏng.
Với cơ chế như vậy nên lâu nay học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh là vô nghĩa với họ. Một câu đơn giản “việc gì có lợi cho dân phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân phải hết sức tránh”, họ cũng chẳng nghe theo, làm theo!
Với cơ chế như thế, nguyên tắc “Đảng lãnh đạo, nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” ở đây là phá sản!
Với cơ chế như thế, “phê bình và tự phê bình” là quy luật làm phát triển, trong sạch Đảng ở đây cũng phá sản!
Với cơ chế như thế công cuộc đấu tranh chống tham nhũng và sự tha hóa trong Đảng và bộ máy chính quyền là không hiệu quả.
Thực ra cái cơ chế này đã dẫn đến sai lầm trong CCRĐ, trong cải tạo tư sản, trong công cuộc hợp tác hóa nông nghiệp… Ngày nay bản chất của cơ chế này vẫn thế những nó biểu hiện mềm dẻo, đa dạng, tinh vi hơn mà thôi.
Vì vậy Đảng cần chủ động, sớm nghĩ đến những phương án thay đổi cơ chế này, cần có hệ thống phản biện, giám sát dân chủ, công khai minh bạch triệt để.
9/2/2012
M.V.T.
Tác giả gửi trực tiếp cho BVN

http://www.boxitvn.net/bai/33221

TS Nguyễn Sỹ Phương, CHLB Đức- Nhà nước có tim?

Từ trước Tết Nhâm Thìn tới nay, ở ta sự kiện Tiên Lãng cưỡng chế gia đình anh Đoàn Văn Vươn bị dư luận lên án sôi sục chưa từng có, đang hừng hực từng ngày, chưa thể lường trước hồi kết, thì ở Đức một sự kiện chấn động tương tự, cuộc đấu tranh nóng bỏng tại Tiểu bang Niedersachsen đòi quyền ở lại cho một gia đình người Việt, sống ở xã Hoya, bị cưỡng chế về nước 3 tháng trước gây phẫn nộ dân chúng, bất bình chính trường, hội đoàn phản đối kịch liệt, sau 83 ngày đã kết thúc thắng lợi. 10 giờ 55 phút, ngày 31.1.2011, ông bà Nguyễn (45 tuổi), cùng 2 con (lên 9 và 6 tuổi) được đón trở lại Đức sinh sống, xuống sân bay Hannover – Langenhagen, Đức, trong vòng vây hơn ba chục người Đức, đại diện các tổ chức, cơ quan, trường học, hội đoàn, vì lương tri và lòng bác ái từng sát cánh tổ chức đấu tranh đòi quyền ở lại cho gia đình, cùng cô con gái đầu, 20 tuổi, tới đón, ôm hôn thắm thiết, dương biểu ngữ, tung bóng bay, tặng hoa, mừng mừng, tủi tủi, sôi động, phấn khích, như trong phim trường, trước hàng chục ống kính, quay phim, chụp ảnh, phỏng vấn, của các đài truyền hình, truyền thanh, báo chí. Khó ai cầm nổi nước mắt trước cảnh tái đoàn tụ của một gia đình 5 thành viên đã phải trải qua một thảm kịch tan đàn xẻ nghé bởi chính quyền tiểu bang, xảy ra 3 tháng trước lúc 3 giờ 15 phút sáng ngày 8.11.2011.
Đêm đó sương mù dày đặc, ông bà Nguyễn cùng 3 con bị đánh thức dậy bất ngờ. Lực lượng cảnh sát tới ra lệnh cho cả nhà, ngoại trừ cô con gái đầu theo luật định đủ tiêu chuẩn được hưởng quyền ở lại Đức, trong vòng 1 giờ rưỡi, phải thu dọn nhà cửa, gói gém hành lý, lên xe để chở ra sân bay Frankfurt trục xuất về Việt Nam.
Lịch sử vụ trục xuất khởi đầu từ năm 1992, đầu tiên là người chồng mang tên giả, tiếp đến năm 1998 tới lượt người vợ, nhập cư bất hợp pháp vào Đức, lần lượt đệ đơn xin tỵ nạn, đều bị từ chối; rồi kiện ra toà theo luật định cũng bị bác bỏ. Khi có lệnh đòi trục xuất, cả hai liền bỏ trại, sống lưu vong. Sau 3 năm, họ nhập trại lại, lấy tên thật đệ đơn lần nữa. Lúc này ông bà Nguyễn đón cả con gái đầu sang Đức, và tiếp đó sinh thêm 2 con. Trải qua quá trình hàng năm trời xét đơn, kiện ra 2 cấp toà án, tới năm 2006 vẫn bị bác bỏ. Khi bị đòi trục xuất lần 2, gia đình phải trốn tránh bằng cách vào nhà thờ xin tỵ nạn tôn giáo. Một năm sau, ông bà Nguyễn trở lại trại tỵ nạn, để đệ đơn theo luật định, khiếu nại lên Quốc hội xin chiếu cố quyền ở lại, kết qủa bị bác bỏ, đệ tiếp lên Ủy ban cứu xét các trường hợp đặc biệt cũng bị từ chối với lý do từ quá khứ, ông Nguyễn lạm dụng quy chế tỵ nạn chính trị, khai tên giả, sống lưu vong, đưa con gái vượt biên, kết cục gia đình ông lại bị đòi trục xuất lần 3. Hết mọi cơ sở pháp lý chống đỡ, không còn biết bấu víu vào đâu, gia đình ông bà Nguyễn sau gần 20 năm lưu lạc xứ người, trầy trật vật lộn tìm cách ở lại, đành tuyệt vọng buông xuôi, phó mặc cho số phận, cam chịu trục xuất.
Vụ trục xuất hoàn toàn đúng quy trình pháp lý, như bất kỳ trường hợp xin tỵ nạn nào, chỉ thi hành, sau khi họ đã kiện ra toà án từ sơ thẩm tới phúc thẩm bị xử thua, đệ đơn lên Quốc hội khiếu nại bị từ chối, viện tới Ủy ban cứu xét các trường hợp đặc biệt, bị bác bỏ, nhưng trong trường hợp ông bà Nguyễn đã đánh vào lương tri, lòng nhân đạo, tính bao dung của mỗi con người trước nỗi khốn cùng của đồng loại. 20 năm tìm cách ở lại cũng là 20 năm, dài tới 1/5 đời người, gia đình ông bà Nguyễn đã gắn bó với bản địa chẳng khác gì người Đức, làm việc chăm chỉ với đồng nghiệp Đức trong công ty Đức, nộp thuế, đóng bảo hiểm cho nhà nước Đức, tham gia mọi hoạt động xã hội địa phương, làm từ thiện chăm sóc một cụ bà Đức đơn côi như ruột thịt, con cái sinh ra, lớn lên và học hành ở đây, mảnh đất này đã trở thành quê hương của chúng, được nhà thờ, các hội đoàn và dân chúng địa phương mến mộ, coi như hàng xóm của mình. Họ không thể làm ngơ trước tai họa trục xuất ập xuống đầu hàng xóm họ. Một làn sóng phẫn nộ chưa từng có xưa nay, nhắm vào Bộ trưởng Nội vụ được pháp luật quy định chịu trách nhiệm pháp lý đối với vụ trục xuất, dấy lên rộng khắp, phản đối vụ trục xuất gia đình ông bà Nguyễn đồng nghĩa với trục xuất chính người Đức ra khỏi quê hương bản quán họ. Hiệp hội giúp đỡ người tỵ nạn Früchtlingsrat Tiểu bang chỉ trích dữ dội Chính phủ theo đuổi chính sách không khoan dung, mở một chiến dịch kêu gọi công dân lên tiếng phản đối bằng email gửi trực tiếp cho Thủ hiến và Bộ trưởng Nội vụ Tiểu bang. Báo chí, truyền thông đưa tin dồn dập phản đối. Đài truyền hình vùng Bắc Đức NDR vào cuộc, tường thuật tỷ mỉ vụ trục xuất với sự tham gia của cô con gái đầu ông bà Nguyễn. Học sinh cùng lớp con ông bà Nguyễn viết thư tập thể gửi lên Bộ trưởng Nội vụ Tiểu bang kiên quyết chống lại. Tổ chức Nhà thờ Tiểu bang đe doạ sẽ từ chức khỏi Ủy ban cứu xét những trường hợp đặc biệt. Đảng đối lập FDP, và SPD cho rằng những gì Bộ trưởng Nội vụ khẳng định đúng luật đều vi phạm quan niệm cơ bản về nhân đạo của đa số dân chúng Tiểu bang. Bản thân đảng CDU cầm quyền Tiểu bang, từ Chủ tịch, Phó Chủ tịch đảng bộ điạ phương Hoya, tới Trưởng đoàn Nghị sỹ đảng CDU Tiểu bang, Nghị sỹ Liên bang thuộc khu vực bầu cử tại điạ phương, cựu Phó Chánh án Toà án Hiến pháp Liên bang đều lên tiếng phản đối, thậm chí có đảng viên CDU rút khỏi đảng. Chính quyền Huyện Nienburg, nơi thực thi lệnh trục xuất, ra tuyên bố, giá như Bộ Nội vụ không chỉ thị, thì họ đã cấp giấy phép lưu trú cho gia đình ông bà Nguyễn, và cùng với Hội đồng nhân dân gửi thư đòi Thủ hiến nhanh chóng đưa gia đình ông bà Nguyễn trở lại Đức.
Chỉ sau 3 ngày bị công luận nhất loạt phản đối, theo đề xuất của nhóm nghị sĩ đảng Linken, Quốc hội Tiểu bang cho mở phiên chất vấn Bộ trưởng Nội vụ, đòi phải đón gia đình ông bà Nguyễn trở lại, yêu cầu sửa đổi Luật Lưu trú từ thực tế này. Bộ trưởng giải trình, theo trình tự pháp lý, gia đình ông bà Nguyễn đã đệ đơn đến các toà án từ thấp lên cao, đến Quốc hội, đến Ủy ban cứu xét, tất cả đều bị bác bỏ; Bộ ông với chức năng thực thi luật pháp, không thể làm khác.
Nhưng vụ trục xuất đã không còn nằm ở pháp luật mà ở tính người. Trước áp lực công luận, chính trường, gia tăng từng ngày, đến ngày thứ 3 tiếp theo, Bộ trưởng Nội vụ Schünemann phải nhượng bộ, tuyên bố đón gia đình ông bà Nguyễn trở lại Đức. Lúc này Schünemann mới tỏ ra thấm thía, lý giải quyết định mang tính người đó, trước công luận: “Bộ trưởng cũng có tim, không thể nhắm mắt trước nỗi khốn cùng của con người“. Có nghĩa dù nhân danh nhà nước, đầy “quyền sinh, quyền sát“, thì bộ trưởng vẫn là một con người, mang tính người, không thể thực thi nó bất chấp vận mệnh, cuộc sống con người. Nếu không, đó là một nhà nước không tim; lịch sử loài người đã từng chứng kiến như thế với nhà nước diệt chủng Đức Quốc xã hay Khơme đỏ.
Hai vụ cưỡng chế gia đình ông Nguyễn ở Đức và ông Vươn ở Tiên lãng cùng xuất phát từ lệnh của quan chức chịu trách nhiệm hành chính cao nhất, cũng diễn ra sau một thời gian dài tranh chấp pháp lý, nhưng ở Đức do pháp luật bắt buộc, bằng biện pháp hành chính; dù không phải công dân họ, đối tượng vẫn được đảm bảo cuộc sống, hộ tống an toàn khi trục xuất, cấp từ vé máy bay tới bảo hiểm y tế, tiền chi tiêu dọc đường; và khi đón trở lại cũng vậy, bảo đảm toàn bộ chi phí di chuyển, nơi ăn chốn ở, con cái học tập, nhu cầu sinh hoạt, làm việc bình thường cho cả gia đình, ổn định chỉ sau 1 tuần. Trong khi đó, Tiên Lãng cưỡng chế công dân mình bằng biện pháp vũ trang, huy động cả quân đội vốn sinh ra để chiến đấu chống xâm lược; không do pháp luật bắt buộc, mà theo lệnh người đứng đầu, nhằm thu hồi hoặc tịch thu, hoặc triệt tiêu toàn bộ những gì đối tượng đã làm ra hay đang sử dụng, bất biết liệu họ có thể tồn tại được hay không khi mất cả chốn nương thân, lẫn mọi phương tiện sinh hoạt. Liệu người đứng đầu chính quyền Tiên Lãng “cũng có tim“ như Bộ trưởng Đức phát biểu?
Trong lúc Tiểu bang Niedersachsen từ các đảng phái, hội đoàn, tới chính quyền các cấp trực thuộc, từ nghị sỹ tiểu bang, tới nghị sỹ Liên bang ứng cử khu vực đó, đều lên tiếng phản đối người đứng đầu chính quyền họ, không cần Liên bang phải can thiệp, thì ở Tiên Lãng ngược lại, huy động toàn bộ công, dân, chính, đảng, ra sức bảo vệ sai phạm của mình; nếu cả nước không „đứng lên“ phản đối, chính quyền trung ương không can thiệp, thì chính quyền Tiên Lãng không tim chưa biết sẽ còn trượt tới đâu và đến mức nào với những công dân thấp cổ bé họng của họ cả về pháp luật lẫn đạo lý ? Ở đây không còn là vấn đề riêng của chính quyền Tiên Lãng vốn một khi vi phạm đã có pháp luật xử lý, mà liên quan tới toàn xã hội và thể chế. Liệu Tiên Lãng đã đủ gây sốc, làm bừng tỉnh cả xã hội lẫn chính quyền cả nước?
Cơ chế nào đã biến một cấp nhà nước vốn được sinh ra chỉ do dân vì dân và của dân, bỗng trở nên không tim với chính công dân mình, tới mức không thể tự điều chỉnh – thuộc tính bắt buộc phải có của một nhà nước dân chủ, như chính quyền Đức sau vụ trục xuất ông bà Nguyễn. Hy vọng Hiến pháp sửa đổi tới sẽ đặt nền móng giải quyết nó. Nhưng trong trường hợp vụ cưỡng chế gia đình ông Vươn có liên quan trực tiếp đến tư duy, chính sách và pháp luật đất đai ở ta, qua bao lần cải cách, vẫn không đoạn tuyệt được dấu ấn của nền kinh tế quản lý tập trung trước đây, vốn chỉ thích nghi với nền kinh tế đó – một nền kinh tế chỉ nhằm hoàn thành kế hoạch nhà nước, theo nguyên lý, tư liệu sản xuất, nhà máy, đất đai đều thuộc sở hữu toàn dân, do nhà nước thống nhất quản lý. Chuyển sang nền kinh tế thị trường, một nền kinh tế theo đuổi mục đích lợi nhuận, làm giàu, mọi tư liệu sản xuất làm ra giá trị gia tăng đều được quyền sở hữu tư nhân, để phục vụ cho mục đó; nhưng riêng đất đai lại không, biến cấp quản lý nhà nước về đất đai trở thành chủ đất trên thực tế (với cá nhân trước kia gọi là điạ chủ), gây nên bao hệ luỵ bất công và bất ổn xã hội, mà Tiên Lãng là bằng chứng của một giọt nước tràn ly. Không thể bao biện cho quyền sở hữu nhà nước về đất đai bằng lập luận, đất đai coi như lãnh thổ thuộc sở hữu toàn dân, nên nhà nước phải quản lý để thu hồi, cấp, chia, phân bổ, phục vụ cho lợi ích chung. Phục vụ cho lợi ích chung đó, không một quốc gia hiện đại nào trên thế giới phải viện tới độc quyền sở hữu đất đai cả, nhưng khi bắt buộc cần, họ vẫn có thể quốc hữu hoá không chỉ đất mà cả tài sản cá nhân, thông qua đền bù có lợi cho chủ sở hữu, được điều chỉnh bằng hiến pháp và các văn bản lập pháp (chứ không phải lập quy) và do hệ thống toà án phán quyết nếu tranh chấp. Đất đai dù đóng vai trò gì đi nữa, thì trong nền kinh tế thị trường cũng chỉ được coi là hàng hoá, định giá bằng tiền. Một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh không thể nào phân chia nổi đất đai hay tài sản sao cho công bằng, mà chỉ có thể phân chia đồng tiền. Nước Đức hiện đại hàng đầu thế giới, với trên 80 triệu dân cũng chỉ có 5.180.000 nhà riêng (năm 2008), số còn lại thuê nhà. Nhưng nước họ không một ai không chỗ ở, hay thiếu điện nước, chữa bệnh, sinh hoạt phí tối thiểu, kể cả công dân nước ngoài cư trú ở họ, tất cả đều xuất phát từ nền tảng chính sách tài chính, tức là tiền, chứ không phải đất!

N.S.P.
http://www.boxitvn.net/bai/33224

Đào Tuấn – Để luật không phải là cạm bẫy
Theo blog Đào Tuấn
Trong cuốn “Lịch sử khẩn hoang Miền Nam”, nhà văn Sơn Nam đã điểm lại hai vụ án nổi tiếng: Vụ Ninh Thạch Lợi, xảy ra ở Rạch Giá năm 1927 và vụ đồng Nọc Nạn, xảy ra ở Bạc Liêu năm 1928 để đưa ra một nhận xét chung: Nạn nhân là những người chí thú làm ăn…và chỉ muốn bảo vệ phần đất ruộng mà họ đã khai thác từ lâu. Trước khi bạo động xảy ra, họ cũng đã tìm đủ mọi cách để kêu nài trong mức cố gắng tối đa của họ.
Những vụ án Ninh Thạch Lợi và Nọc Nạn đẫm máu bấy giờ, chứng tỏ những bất cập mà chính sách về ruộng đất, một chính sách mang tính chất cướp đoạt, cùng sự hà hiếp của bộ máy chính quyền địa phương buộc người nông dân phải đứng dậy trong thế cùng quẫn và “tuyệt nhiên không có những người làm chánh trị xúi dục”. Sự thống nhất tuyệt đối về mặt dư luận bấy giờ, là còn bởi: “Luật lệ mà thực dân bấy lâu đưa ra về vấn đề khẩn đất chỉ là những cạm bẫy để cho kẻ lương thiện sụp xuống dễ dàng”.
Trong vụ án Cống Rộc xảy ra sau đó gần một thế kỷ, người nông dân Đoàn Văn Vươn cũng như những chủ Chọt, Biện Toại, Mười Lương… cũng chỉ muốn bảo vệ phần đất mà họ đã đổ mồ hôi và máu mới có được. Cũng kêu oan với báo chí, cũng kiện ra tòa, tức là cũng đã tìm đủ mọi cách, một cách hòa bình và được pháp luật cho phép để giữ đất, trước khi sử dụng mìn tự chế và sung hoa cải. Một cách phản kháng giống hệt với sự tự sát. Chỉ thiếu một cuộc bốc thăm như anh em Biện Toại đã làm cách đây 1 thế kỷ, để đi tới tận cùng của sự tuyệt vọng.
Nhưng dẫu sao, “tiếng súng Hoa Cải” cũng là cơ hội để chúng ta nhìn nhận một vấn đề bức xúc từ chính sách đất đai, liên quan đến hàng triệu nông dân.
Hôm qua, 1,2 triệu hộ nông dân và dư luận cả nước đặc biệt quan tâm và chờ đợi ý kiến kết luận cuối cùng của người đứng đầu Chính phủ, đặc biệt đối với số phận khu đầm 40ha của nông dân Đoàn Văn Vươn. Không quan tâm sao được khi bất cứ ai trong họ cũng nhãn tiền phải đối diện với việc bị thu hồi, bị cưỡng chế, bị tước đoạt mảnh đất khi “5 quyền đối với ruộng đất” của họ còn hay mất phụ thuộc nhiều khi vào chỉ một cái nhíu mày của một ông Chủ tịch huyện. Không lo lắng sao được khi 1,2 triệu hộ, dù có sổ đỏ, đang bước đến, đang leo lên giờ G: năm 2013, khi thời hạn giao đất đã hết, trong khi chính quyền Hải Phòng đến giờ vẫn khẳng định việc thu hồi- khi hết thời hạn- là không sai.
Trước cuộc làm việc của Thủ tướng, lần đầu tiên đã có sự xuất hiện ý kiến của một số quan chức trấn an dư luận với những khẳng định: Nông dân không phải lo lắng về thời hạn năm 2013. Trên một tờ báo của ngành Công an, ông Nguyễn Khải, nguyên Vụ trưởng Vụ Đất đai (Bộ TN-MT) khẳng định: “Ai đó nói rằng tới năm 2013, Nhà nước sẽ thu hồi lại đất là hoàn toàn sai”. Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của Quốc hội Mai Xuân Hùng cũng cho rằng: “Bản chất là giao lại chứ không phải thu hồi”.
Tuy nhiên, sự lo lắng của người dân là có thật khi cũng chính vị quan chức của Quốc hội cũng nói đến việc “Chia lại”: “Hình thức chia lại như thế nào thì đang nghiên cứu. Trên cơ sở đề xuất của Chính phủ, Quốc hội sẽ cho ý kiến, sau đó mới ra Nghị quyết để thực hiện”. Hơn nữa, việc tiếp tục được sử dụng mảnh đất 20 năm mồ hôi xương máu hay không, phụ thuộc vào Chính quyền, khi những kẽ hở của Luật đất đai (sửa đổi) 2003 đang vô tình giao cho chính quyền một thứ quyền hạn quá lớn: Quyền định đoạt đối với mảnh đất mà người nông dân đang sử dụng. Thực tế Tiên Lãng cũng đã cho thấy trong vụ án Cống Rộc, chính quyền đã hành xử với mảnh đất của nông dân theo một cách thức không thể tồi tệ hơn: Cưỡng chế thu hồi mà hoàn toàn không có phương án đền bù, không đối thoại với dân, và thu hồi cũng không biết để làm gì khi thậm chí phương án sử dụng sau đó cũng không có.
Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Vũ Đức Đam, hôm qua, đã thông báo ý kiến có tính chất kết luận cuối cùng của người đứng đầu Chính phủ. Theo đó, Quyết định thu hồi đất của UBND huyện Tiên Lãng đối với ông Đoàn Văn Vươn là trái luật. Điều 38- Luật đất đai (sửa đổi) 2003 quy định 5 trường hợp thu hồi đất, nhưng gia đình ông Vươn không nằm trong 5 trường hợp trên. Và quyết định thu hồi đã sai thì quyết định cưỡng chế thu hồi cũng đương nhiên sai.
Kết luận của Thủ tướng, dù không làm thay đổi tình trạng pháp lý của người nông dân lấn biển, tuy nhiên, công lý phần nào đã được trả lại cho ông. Công luận, qua kết luận cuối cùng này, dường như càng thông cảm hơn với nỗi tuyệt vọng và sự khốn quẫn của người nông dân khi bị chính quyền tước đoạt một cách trái luật và trắng trợn mảnh đất của mình.
Số phận của người nông dân Đoàn Văn Vươn có lẽ đã rẽ theo một hướng hoàn toàn bi thảm sau khi quả bom tự tạo đầu tiên phát nổ, sau khi viên đạn hoa cải đầu tiên được bắn ra khỏi nòng. Nhưng người đẩy ông vào tình thế tuyệt vọng, không ai khác, chính là quan chức trong bộ máy chính quyền Tiên Lãng.
Nhưng vụ án Cống Rộc hoàn toàn chưa khép lại. Nó mới chỉ vạch ra vấn đề đang nhức nhối nhất ở nông thôn: Đó là tình trạng một nông thôn mà dân chủ cơ sở tồn tại rất mờ nhạt. Đó là một nông thôn nơi chính quyền gần như đối lập với dân. Và nguyên nhân của mọi nguyên nhân là những bất cập trong chính sách đất đai. Không thể không nhắc lại là Luật đất đai đã phải sửa tới 4 lần, có tới 200 văn bản hướng dẫn thi hành. Nhưng đó là một bộ luật có quá nhiều kẽ hở để chính quyền địa phương có thể “tự giải thích luật” theo ý muốn chủ quan của mình.
Hàng triệu triệu nông dân, những người đứng trước nguy cơ mất trắng đất đai như ông Đoàn Văn Vươn, khi thời hạn 2013 đang đến rất nhanh, giờ có lẽ đã có thể tạm yên tâm để tiếp tục đổ mồ hôi trên mảnh đất của mình. Kết luận cuối cùng của người đứng đầu Chính phủ, có lẽ, ngay lập tức sẽ tạo hiệu ứng như một “tiền lệ pháp”- một tiền lệ trong lĩnh vực hành chính, để người nông dân dùng để bảo vệ quyền hợp pháp của họ trước sự hà hiếp của chính quyền.
Vụ án Cống Rộc cũng cấp thiết đặt ra việc sửa đổi luật Đất đai. Và để Luật đất đai không còn là “cạm bẫy” đối với nông dân, có lẽ, việc sửa đổi sẽ không thể chỉ dừng ở vấn đề thời hạn 20 năm, 50 năm hay 99 năm, mà phải đặt ra cái gốc: Chế độ sở hữu.
http://danluan.org/node/11603

Để lại phản hồi »

Chưa có phản hồi.

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Tạo một website miễn phí hoặc 1 blog với WordPress.com.

%d bloggers like this: