Hoàngquang’s Blog

08/02/2012

Cốt lõi Luật đất đai

Nguyễn Minh Nhị
Nguyên Chủ tịch tỉnh UBND An Giang
LS Nguyễn Tiến Lập – Đất đai – không gian sống
Nguyên Ngọc – Đất và nông dân

NguyenXuan Dien VỤ TIÊN LÃNG: 6 KIẾN NGHỊ CÁCH CHỨC GỬI THỦ TƯỚNG
+ CHÚNG TÔI ĐỀ NGHỊ ĐƯỢC THAM GIA BUỔI LÀM VIỆC VỚI THỦ TƯỚNG culangcat Công an Hải Phòng triệu tập Lê Văn Hiền Nguyễn Quang Vinh VỤ TIÊN LÃNG- KỲ 1:CHUYỆN CON CHÓ ƯỚT SŨNG LÔNG VÀ CĂN NGUYÊN ĐỐI ĐẦU Ở TIÊN LÃNG Kỳ 2 TRẠI? HAY LỀU? KỲ 3- CÁ MẤT, TÀI SẢN MẤT, NHÀ DÂN BỊ PHÁ NÁT, KHỞI TỐ AI?
Trương Duy Nhất Những Tiên Lãng khác
***
Nguyễn Minh Nhị -Cốt lõi Luật đất đai

BVN nhận được bài viết sau đây của ông Nguyễn Minh Nhị do GS Phạm Xuân Yêm gửi từ Pháp về cho Ban biên tập. Xin lấy lá thư của người gửi làm Lời dẫn nhập để bạn đọc thấy trí thức hải ngoại quan tâm đến những vấn để thiết cốt của đất nước với tấm lòng trong sáng và sự thiện chí như thế nào. Họ đâu phải là «những phần tử thù địch» luôn luôn tìm mọi cách phá hoại chính sách của Đảng CSVN như câu nói đầu miệng của đủ loại các quan (tham) mà chúng ta nghe mãi đã nhàm, và thường chỉ có một cách là bật cười rồi bỏ qua trước những lời lẽ cứ lặp đi lặp lại như một đoạn kinh hình như lúc nào cũng phải tụng lên thì mới trấn an được các thứ ám ảnh nào đó trong tâm lý của một lớp người nào đấy.
6-2-2012
Kính gửi anh Nguyễn Huệ Chi,
Xin gửi anh bài sau đây của ông Nguyễn Minh Nhị vừa mới viết.
Năm 1999, ông Nhị là Chủ tịch UBND tỉnh An Giang, đã đưa tôi đi thăm những kênh đào mở rộng kênh Thoại Ngọc hầu ở Châu Đốc (anh Nguyễn Văn Hiệu ở Viện Khoa học Việt Nam đưa tôi đi).
Đó cũng là lần đầu tôi trao đổi với một quan chức chính quyền địa phương và thấy ông ta rất tâm huyết, chân thành, khác hẳn với thành kiến mà tôi thường có với đảng viên ĐCSVN.
Tôi nhớ vụ bùn đỏ bên Hung, ông Nhị đã ký tên vào Kiến nghị của boxitvn và tỏ rõ thái độ của một đảng viên tốt, điều không làm tôi ngạc nhiên.
Nay vụ Tiên Lãng cũng thấy vậy nên xin chuyển đến anh. Nghe đâu ông Nhị là em ông nguyên Chủ tịch nước Triết ?
Thân quý

Phạm Xuân Yêm

Tôi làm Phó chủ tịch phụ trách “Tam Nông”, dự hội nghị đóng góp Luật đất đai 1993 và tiếp theo, khi làm Chủ tịch UBND tỉnh thì thực hiện luật 2003. Nói vậy để nói lên hai việc: Các đại biểu đóng góp sửa luật khi còn dự thảo không được tiếp thu, nên những vấn đề cốt lõi, các từ ngữ, khái niệm và cách diễn đạt vẫn giữ gần như nguyên; từ đó dẫn đến việc thứ hai là thực hiện vô cùng khó khăn và phức tạp – hiểu và làm sai là khó tránh khỏi và “vận dụng” làm bậy thì cũng rất dễ dàng. Cái cốt lõi của vấn đề là ở chỗ: quyền làm chủ trực tiếp của nông dân (người dân) thì ít và mơ hồ – là “quyền sử dụng”; trong khi nhà nước (các cấp chánh quyền) thì quyền hạn mênh mông, chồng chéo lên nhau, cả 4 cấp và 4 Bộ (TN-MT, NN-PTNT, Kế hoạch – Đầu tư, Tài chánh – Vật giá) đều có quyền: quyền sở hữu, quyền đại diện và nhất là toàn quyền sử dụng – định đoạt. Đã có đến 700 văn bản dưới luật và hướng dẫn thi hành mà đến nay vẫn còn chưa ổn thì đủ thấy cái rắc rối này như “ma trận”.
Một thời gian dài sau khi nước nhà thống nhất, tính đến 1993 là 18 năm, chúng ta quản lý đất nước mà không có “luật về đất” và “luật về nước” là hai thứ tài nguyên cơ bản, sống còn của mọi quốc gia, nếu thiếu nó thì dân tộc và ngay cả con người cũng không tồn tại. Và mọi sự rắc rối giữa con người và các cộng đồng với nhau, thậm chí là chiến tranh cũng xuất phát từ đó. Lý do không có luật là vì ta không chấp nhận kinh tế thị trường. Năm 1986 bắt đầu “Đổi mới”, chấp nhận kinh tế thị trường nên mới thấy cần có Luật đất đai, vậy mà bàn mãi đến 1993 mới có. Cái khó “trằn trọc” là nông dân có quyền sở hữu hay không đối với đất của họ?
Kinh tế thị trường cho dù chúng ta có gắn cái bánh lái “Tư bản chủ nghĩa” hay “Xã hội chủ nghĩa” gì thì các khái niệm, phạm trù,quy luật của nó như: Hàng hóa, hàng hóa sức lao động, giá trị, giá trị thặng dư, cạnh tranh, cung cầu… vẫn vận hành theo nó. Dùng quyền lực chính trị, hành chánh cưỡng ép nó theo ý muốn là có hậu quả trước mắt hoặc lâu daì là tất nhiên – vì nó là qui luật mà!. Trong đó, vấn đề cốt lõi là qui luật giá trị và qui luật cạnh tranh tồn tại có tính tất yếu của kinh tế thị trường. Hai qui luật nầy lại chi phối quyền dân chủ và quyền tự do của mổi cá nhân. Có dân chủ mới có sáng tạo ra giá trị, có tự do mới có cạnh tranh. Giá trị lao động sáng tạo là tài sản, kể cả sản phẩm trí tuệ; người sáng tạo ra nó phải có quyền sở hữu và quyền định đoạt. Thị trường cạnh tranh là cạnh tranh cái sở hữu sáng tạo ấy. Ứng vào đất đai, thị trường bất động sản nói chung thì đất và cả nước do con người đầu tư cho sinh hoạt và sản xuất cũng đều là hàng hóa, cho dù đất đai là hàng hóa đặc biệt đi nữa. Đất và nước của quốc gia thuộc sở hữu toàn dân là do tổ tiên của cả dân tộc lao động, chiến đấu, sáng tạo và giữ gìn, là của chung, là sở hữu toàn dân. Đất (từng thửa cho dù hàng trăm héc-ta) do người khai phá, hoặc do người dùng giá trị lao động cá nhân sáng tạo làm vật ngang giá trao đổi (mua – bán) thì phải là sở hữu của họ, họ có quyền định đoạt và quyền được nhà nước bảo vệ. Trong quyền sở hữu tư nhân ấy, tất nhiên có sở hữu toàn dân trong đó như qui luật “cái chung có trong cái riêng”. Nhà nước “thu hồi đất” cá nhân vào việc chung, thực chất là mua mới đúng nghĩa, bởi cái của người ta sáng tạo ra thì nhà nước không thể chiếm đoạt được, chỉ thu hồi đất cho thuê, cho mượn mà thôi. Cái quyền của “cái chung” là nhà nước có quyền mua lại của “cái riêng” mà người dân bắt buộc phải bán; đó là đương nhiên và cũng là thông lệ của các nhà nước pháp quyền. Ngược lại, đất do nhà nước quản lý, kể cả đất hoang, hải đảo và vùng biển quốc gia là sở hữu của quốc gia, người dân cũng có quyền sở hữu và quyền bảo vệ như qui luật “cái riêng nằm trong cái chung”. Đức Thánh Trần nói: Có đức công mới lớn, có người đất mới linh. Trong Hịch tướng sĩ Người nói (ý): Khi bị giặc Nguyên Mông xâm chiếm, chẳng những Thái ấp của ta bị giặc chiếm mà đất đai của các ngươi cũng không còn. Của Người là của Vua cấp, trong đó có cả những thửa khai hoang của từng người dưới trướng. Lịch sử từ xa xưa, đất đai đã từng có đa sở hữu rồi. Chúa Nguyễn và các Vua nhà Nguyễn thì rất rạch ròi các loại đất, trong đó có công nhận đất riêng do cá nhân khai khẩn nên mới có động lực tạo ra mảnh đất Phương Nam. Về “cái chung cái riêng” trong mối quan hệ sở hữu đất đai từ xa xưa cha ông ta, dù chế độ xã hội khác xa bây giờ nhưng xử lý vấn đề rất nhân bản, hợp lòng dân nên nước mạnh và giữ gìn, mở mang bờ cõi được như hôm nay.
Trước khi viết, tôi đọc lại Luật đất đai 2003 và các văn bản dưới luật của Chánh phủ và Bộ TN-MT, thật tình là quá rối rắm, hiểu không hết nổi. Cốt lõi của cái khó là nói sao để tránh cái “quyền sở hữu” của người dân nên mới có cấu trúc văn bản phức tạp mà không người nông dân nào hiểu hết khi đọc các văn bản ấy. Quyền sử dụng lâu dài, về thực chất như quyền thuê đất 20 năm mà thôi. ND có công cách mạng mà chỉ có 20 năm, trong khi các doanh nghiệp, kể cả DN nước ngoài thì 50 năm vậy có cách mạng và công bằng không?. Ngay như điều 105 và các điểm b,c,d của điều 114 qui định các quyền của đối tượng sử dụng đất vì tránh “sở hữu” nên hài ra dài, thiếu và khó hiểu. Nếu công nhận quyền sở hữu thì đương nhiên là có các quyền ấy rồi. Đất đai nên đa sở hữu và do vậy mới nên cần có luật để điều chỉnh các mối quan hệ sở hữu ấy. Cái cốt lõi của luật đất đai cần sửa có lẽ là chỗ đó, vừa hợp lòng dân vừa phù hợp với hội nhập quốc tế. Như luật 1993 và 2003 thì đúng ra đó là những qui định về sử dụng đất nên có nhiều chi tiết không phải là luật, các khái niệm, ngôn ngữ phải có giải thích riêng chớ không có thông lệ quốc tế. Trong thực tế, tôi từng chủ trì giải quyết các tranh chấp đất đai, nhiều vụ thành nhưng không phải là ai cũng thỏa mãn, nhiều vụ gay gắt xử hoài không xong, có vụ xử bên nào thắng cũng là đúng,… Đặc biệt, có vụ tranh chấp nhà đất ở huyện Tân Châu năm 1968 giữa vợ một Thiếu tá Sài Gòn bên nguyên do Tòa án chế độ cũ xử thì bên bị là gia đình có công cách mạng thắng vì có “quyền lưu cư thâm niên”, tòa của ta xử ngược lại, họ thua mới đau! Nói thế để thấy luật của ta như một rừng chữ, nhưng trong đó có quá nhiều đường quanh, nẻo tắt; người ngay vận dụng là quá khó khăn, kẻ cơ hội, tham nhũng thì tha hồ kiếm chác. Điển hình như chánh quyền huyện Tiên Lãng nói: Thu hồi thì cứ thu hồi, còn giao lại cho ai thì chưa tính, đó là quyền của nhà nước. Mồ hôi, công sức, tiền của của người dân mà nói tưng tửng như vậy thì chỉ có trời mới hiểu, dân không hiểu thì phải “thay trời hành đạo” như trường hợp Đoàn văn Vươn! Năm 2013 là hết hạn 20 năm có “quyền sử dụng đất” của đại đa số nông dân, rồi vấn đề gì sẽ xảy ra nếu không sửa cái “thời hạn” và cả “hạn điền”?
Nhân đây xin được nói thêm về hạn điền và thời hạn “sử dụng đất”. Hạn điền 3 héc-ta là cấp đất không thu tiền, còn chứng nhận việc sang nhượng, mua sắm mà cũng hạn điền là không lên sản xuất lớn, không cạnh tranh. Nông dân Sáu Đức ở Lương An Trà (An Giang) phải nhờ người đứng tên giùm để mua lại cả trăm héc-ta sản xuất theo mô hình trang trại; vậy ai dám chắc là sẽ không có chuyện lôi thôi giữa những người đứng tên giùm sẽ tranh chấp với Sáu Đức? Vì thực tế đã từng xảy ra rồi. Còn qui định thời gian (20 năm) và cả 4 cấp chánh quyền đều có quyền về đất như hiện nay là kẽ hở cho tham nhũng đầm đìa. Vụ Tiên Lãng là một báo hiệu cho sự cấp bách sửa luật và cũng là một tín hiệu gởi đến hội nghị TW Đảng lần thứ 4 khóa 11 vừa qua về sự gắn bó giữa Đảng với dân và sự nguy hiểm của chứng “nan y” quan liêu, tham nhũng, bất tuân pháp luật, cát cứ, vô cảm trong không ít cán bộ, công chức các cấp bộ máy công quyền… đang càng chống càng tăng mà Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã cảnh báo tại HN TW 4 vừa qua. Đặt vấn đề sửa Hiến pháp, sửa luật đất đai (và các luật quan trọng khác có liên quan tới quyền dân chủ tự do của người dân) thiết nghĩ Trung ương đã rất sáng suốt đặt vấn đề giải quyết trong cái tổng thể “Cái cách thể chế” và phân công đồng chí UVBCT, Chủ tịch nước chủ trì.
Long Xuyên, ngày 02/02/2012.
N.M.N.
Nguồn: http://dttl-nguoilotgach.blogspot.com/2012/02/cot-loi-luat-at-ai.html
http://www.boxitvn.net/bai/33095

Luật sư Nguyễn Tiến Lập – Đất đai – không gian sống

Hầu như đa số các quốc gia không có cái gọi là Luật Đất đai như chúng ta đang có. Thay vào đó, nhà nước ban hành Luật Địa chính để quản lý hành chính các mảnh đất là đối tượng của các giao dịch dân sự. Ngoài ra, để quản lý nhà nước về đất đai trong quá trình phát triển kinh tế, một loạt các công cụ khác được các quốc gia sử dụng như Luật quy hoạch, Luật Xây dựng, Luật Môi trường và Luật Bảo vệ tài nguyên.
Thấy gì qua vụ “Đoàn Văn Vươn” ở Tiên Lãng, Hải Phòng

Vụ cưỡng chế của chính quyền huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng vào những ngày đầu năm 2012 với sự tham gia của lực lượng vũ trang nhằm thu hồi đất do ông Đoàn Văn Vươn sử dụng, cùng với sự chống trả quyết liệt của gia đình ông Vươn đã và đang trở thành một trong những sự kiện thời sự nổi bật. Hành vi vi phạm pháp luật của ông Vươn cũng như các sai phạm về cả pháp luật và đạo lý của cơ quan chính quyền trong vụ việc này đến nay đã trở nên rõ ràng với dư luận.

Câu chuyện bi thảm này, tuy nhiên, sẽ không thể được lý giải “tận gốc” và toàn diện nếu không trả lời được một câu hỏi có tính logic và hiển nhiên là: Tại sao ông Vươn, một người có học vấn, từng trải, đã tham gia bộ đội, lại dám liều mình và liều cả sinh mạng của gia đình mình vào cuộc đối đầu “một mất một còn” với chính quyền chỉ vì lý do liên quan đến chấm dứt một hợp đồng thuê đất sản xuất kinh doanh? Có phải ông Vươn và cả gia đình đã mất hết lý trí nên không ý thức được hậu quả các hành vi của mình? Tình huống này được chứng tỏ không phải. Vậy, phải chăng chỉ có một nguyên nhân chủ đạo và hợp lẽ tự nhiên, đó là ông Vươn và gia đình đã dường như cảm thấy bị dồn đến “đường cùng” cả về đời sống vật chất lẫn tinh thần, do vậy buộc phải phản kháng trong nỗi tuyệt vọng đến mức sẵn sàng chấp nhận mức độ cao nhất của sự hy sinh.

Cách lý giải nói trên có thể không dễ dàng được chia sẻ bởi những người ngoài cuộc. Bởi đối với họ, khu đất và diện tích đầm, hồ mà gia đình ông Vươn khai phá và sử dụng, cho dù tới hàng chục hecta đi nữa, cũng chỉ là một loại phương tiện sản xuất đi thuê của nhà nước nhằm kinh doanh sinh lời, hết thời hạn thuê thì phải trả lại để tính một bài toán làm ăn khác vẫn cho mục đích kiếm sống và làm giàu. Và theo cách giải thích của đại diện cơ quan chính quyền sở tại, việc gia đình ông Vươn phải trả lại đất sau khi hết hạn hợp đồng thuê là đương nhiên, cho nên nếu hành xử khác đi thì vấn đề còn lại chỉ đơn giản là “vi phạm pháp luật đất đai” và tất yếu phải bị “xử lý”…

Hãy tạm gác các vấn đề chi tiết liên quan đến sự việc này sang một bên để tập trung vào khía cạnh sâu, gốc của câu chuyện “đất đai”, và hãy đóng vai là người trong cuộc để tự trả lời câu hỏi rằng khi nào thì mỗi chúng ta sẽ cảm thấy bị dồn đến “bước đường cùng”? Chắc chắn đó là khi ta cảm thấy rằng toàn bộ công sức, tâm huyết cả đời bỏ ra và các thành quả mang lại từ đó cùng với cả khát vọng, tình yêu và niềm đam mê đến mức như lẽ sống của ta bỗng chốc biến mất do bị ai đó tước đoạt. Và một khi tất cả những điều căn bản và thiêng liêng nhất của đời sống đó gắn liền với đất, vốn ban đầu từng là “sỏi đá” nay qua “sức người” đã biến “thành cơm”1, hay còn hơn thế như nhà thơ Chế Lan Viên đã khẳng định:

“Khi ta ở chỉ là nơi đất ở ,
Khi ta đi đất bỗng hóa tâm hồn” .2

Đặt vấn đề như thế để muốn nói rằng: Phải chăng chúng ta đã vô tình tầm thường hóa đất đai? Và tầm thường hóa đất đai chính là tầm thường hóa đời sống con người?

Sai lầm căn bản trong nhận thức và cách tiếp cận về đất đai

Gần đây, khi phát biểu về vụ việc “Đoàn Văn Vươn”, cựu Đại biểu Quốc hội, Giáo sư Nguyễn Minh Thuyết đã chỉ ra nguyên nhân gốc rễ là chế độ sở hữu toàn dân về đất đai. Chế độ sở hữu này bắt đầu được thực hiện từ năm 1980 khi Nhà nước bằng Hiến pháp mới tuyên bố quốc hữu hóa đất đai và coi sở hữu toàn dân (được thực hiện thông qua người chủ thực tế là Nhà nước với tư cách là “đại diện của chủ sở hữu toàn dân”) như là một hình thức duy nhất về sở hữu đất đai tại Việt Nam. Nhìn lại chiều dài lịch sử xuyên suốt của dân tộc, hành động đó có lẽ là đầu tiên và duy nhất. Những hệ quả và hậu quả của việc làm này diễn ra trên thực tế mấy chục năm qua đã và đang được xem xét, đánh giá theo nhiều chiều và dưới nhiều góc độ khác nhau. Tại thời điểm hiện tại, bên thềm của các thảo luận về sửa đổi Hiến pháp và qua sự kiện “Đoàn Văn Vươn”, chúng ta có cơ hội và dữ kiện để bàn sâu, rộng thêm về vấn đề này.

Sai lầm thứ nhất: tách rời quyền sở hữu và quyền sử dụng đất.

Khi tuyên bố đất đai thuộc sở hữu toàn dân thì Nhà làm luật đã bỏ qua một việc cần làm rõ: đất đai là gì và “nhân dân” là ai? Trên thực tế, không có “đất đai” chung chung mà chỉ có các thửa đất, khu đất cụ thể mới là đối tượng của quyền sở hữu. Còn “nhân dân”, đó chỉ là khái niệm mà không phải chủ thể của quyền sở hữu, nói một cách khác, chủ sở hữu phải là những con người cụ thể. Xin lưu ý rằng, sau đó Luật Đất đai đưa Nhà nước vào làm chủ thể của quyền sở hữu này thì cũng chỉ là một sự biến tướng theo kiểu chơi chữ mà thôi, vì câu hỏi tiếp theo sẽ là “Nhà nước là ai?” v.v.. và v.v..3

Vấn đề ở chỗ dù có thể tuyên bố thế nào chăng nữa thì thực tế và sự thật vẫn là các thửa đất và khu đất phải do ai đó cụ thể chiếm hữu và sử dụng. Khác với các đối tượng vật chất khác, việc chiếm hữu và sử dụng đất thể hiện một nhu cầu và đòi hỏi có tính đặc thù đó là tính ổn định về cả không gian và thời gian, chẳng hạn: không ai có thể di chuyển đất đi đâu được, cũng như không thể “sử dụng nhanh” một mảnh đất. Ngoài ra, giá trị của đất không phải là chính nó mà phụ thuộc vào bất động sản gắn liền với đất. Bất động sản (bao gồm mọi công trình xây dựng hoặc canh tác) đương nhiên do người sử dụng đất tạo ra. Mọi lao động sáng tạo như vậy đều gắn liền với các động cơ, mục tiêu và lợi ích nhất định. Thế nhưng, người sử dụng đất với tư cách là chủ thể duy nhất biến mọi mảnh đất thành vật có giá trị cho đời sống của họ lại không có quyền sở hữu đất. Nói một cách khác, các quyền của họ liên quan đến đất hay tài sản gắn liền với đất, có hay không, có đến bao nhiêu và như thế nào đều do một người khác định đoạt. Việc này có nghĩa rằng vể bản chất, người sử dụng đất đã không còn quyền được làm chủ thật sự đối với các giá trị do mình tạo ra gắn liền với đời sống và cuộc đời của họ. Và đó chính là mâu thuẫn và sự phản cảm lớn nhất khi nói tới câu chuyện này.

Sai lầm thứ hai: chỉ coi đất đai là phương tiện sản xuất và tài sản vật chất.

Trong suốt một thời gian dài (cho tới khi chuyển sang kinh tế thị trường và thị trường bất động sản bắt đầu bùng nổ), đất đai chủ yếu được nhìn nhận như một loại “phương tiện”, (bên cạnh các loại phương tiện khác của đời sống do con người có thể tạo ra) dù đó là phương tiện để sinh hoạt hay sản xuất, kinh doanh. Do đó, để bảo đảm và duy trì quản lý phương tiện quan trọng này, chúng ta đã phân chia ra các loại đất khác nhau theo mục đích sử dụng, mỗi loại đất lại là đối tượng của một cơ chế quản lý riêng khác nhau (đất ở, đất nông nghiệp, đất công nghiệp, đất thương mại v.v..). Thậm chí, cùng một mục đích nhưng đất đai có thể được phân loại tiếp nữa tùy theo chủ thể sử dụng (trong nước, ngoài nước, quốc doanh, tư nhân v.v..). Sự bất hợp lý nằm ở chỗ, khác với các loại phương tiện của đời sống khác mà con người có thể làm ra được, không ai có thể sáng tạo ra đất. Và vì đất đai thuộc về tự nhiên và luôn luôn có giới hạn, con người không thể làm gì khác hơn là tạo ra sự luân chuyển về mục đích, tính chất và chủ thể sử dụng. Điều này, tuy nhiên, lại rất khó thực hiện bởi phụ thuộc vào các rào cản giấy phép của cơ chế hành chính. Do đó, các tình huống “lạm dụng” và “lách luật” đã diễn ra và trở thành phổ biến.

Đến thời kỳ bùng phát của thị trường bất động sản, cùng với quá trình đô thị hóa và công nghiệp hóa rộng khắp, đất đai không còn đóng vai trò là phương tiện chủ yếu như trước mà nhanh chóng được coi là loại tài sản có giá trị đặc biệt (bởi đơn giản nó không “nở ra” trong khi người thì đông lên). Do đó, xu hướng buôn bán đất, đầu cơ đất đã tự nhiên hình thành và thậm chí được hợp thức và khuyến khích bởi một loạt các cơ chế chính sách và pháp luật về cái gọi là “thị trường bất động sản”. Như một quy luật tự nhiên, việc phát triển các bất động sản cùng với quyền tự do kinh doanh đã tạo nên thị trường cho loại hàng hóa này. Tuy nhiên, việc quá nhấn mạnh đất đai là tài sản đã làm biến tướng thị trường thông thường này, làm cho nó trở thành “thị trường đất đai” trên thực tế. Đồng thời, bởi đất đai tự nó không phải là hàng hóa, do đó, các nghịch lý, mâu thuẫn đã diễn ra và một cuộc khủng hoảng về thị trường này xảy ra đương nhiên là điều không tránh khỏi.

Sai lầm thứ ba: bỏ quên nguyên lý đất đai là không gian sống.

Quay trở lại vụ việc “Đoàn Văn Vươn” chúng ta thấy một chân lý được tái khẳng định, đó là con người không thể sống thiếu đất hay tách rời khỏi đất. Đất không chỉ là “phương tiện” hay “tài sản”, mà hơn thế, nó là không gian sống theo cả ý nghĩa vật chất lẫn tinh thần. Không gian sống đó không chỉ là hiện hữu mà còn bao gồm đầy đủ cả ba chiều kích về thời gian: quá khứ, hiện tại và tương lai. Đối với văn hóa người Việt, đất đai còn đồng nghĩa với “hương hỏa” tổ tiên và dòng họ. Chúng tôi đã chứng kiến một vụ việc tranh chấp ở một địa phương đang công nghiệp hóa, trong đó, một gia đình nông dân đã lập luận với chính quyền rằng họ chấp nhận cho “chủ đầu tư” sử dụng mảnh đất của gia đình để xây nhà máy cho thời hạn 30 năm theo chủ trương của Nhà nước, với điều kiện sau khi kết thúc thời hạn đó phải hoàn trả cho họ để bảo tồn được đất của ông, cha để lại.

Duy trì hình thức sở hữu nhà nước duy nhất về đất đai sẽ dẫn đến sự mất quyền kiểm soát của chính nhà nước về đất đai trên thực tế cho các mục tiêu quốc kế dân sinh, đồng thời tạo môi trường thuận lợi cho sự phát sinh các tiêu cực như lạm dụng, thao túng của các nhóm lợi ích cũng như quá trình tư nhân hóa đất đai một cách không minh bạch.

Theo ý nghĩa này, mặc dù coi hành động phản kháng của gia đình Đoàn Văn Vươn là một trường hợp cực đoan và nhất thời, chúng ta vẫn phải thừa nhận một tình trạng khác khá phổ biến đang diễn ra, đó là sự rỗi việc, trống rỗng, mất thăng bằng của nhiều gia đình và đi theo sau là các tệ nạn đang lan rộng tại các làng quê ven đô thị hoặc bên lề các khu công nghiệp sau khi đất đai bị lấy đi. Tại sao lại có hiện trạng này? Để trả lời sẽ có người lý giải cho rằng: người nông dân sau khi bị lấy mất đất để làm công nghiệp hay xây dựng khu đô thị sẽ được đền bù một khoản tiền lớn, và nguyên nhân của các tệ nạn phát sinh như đề cập ở trên đơn giản là do thiếu công ăn việc làm và không biết sử dụng tiền đúng cách. Điều đó đúng nhưng sẽ là không đủ cho một sự lý giải thấu đáo, bởi khi lấy đất để làm công nghiệp và đô thị chúng ta chỉ coi đất của người nông dân là “phương tiện” và “tài sản” mà quên rằng toàn bộ đời sống với các thói quen, tập quán và văn hóa lâu đời của họ đã bị đảo lộn vì không còn đất, cho dù đó có thể là ngôi nhà, khoảnh sân, mảnh vườn hay thửa ruộng cày cấy. Và nếu cho rằng sự đảo lộn đó nhằm hướng tới một sự phát triển đi lên theo ý nghĩa biến người nông dân thành công nhân công nghiệp và biến các làng quê thành đô thị thì liệu rằng người nông dân cùng với gia đình, dòng mạc và cộng đồng làng xã của họ có chấp nhận và thích nghi được chăng? Nhất là một khi quá trình thay đổi đó diễn ra nhanh chóng dưới sức ép của các quyết định hành chính như thời gian vừa qua?
Đất đai, nhìn từ góc độ khác, không chỉ là biểu trưng cho thói quen, tập quán và văn hóa mà còn là nguồn gốc và con đường sống của con người. Đó chính là khi người dân tự mình khai phá đất hoang, đất mới để tạo dựng cơ nghiệp và đời sống mà trường hợp của ông Đoàn Văn Vươn là một điển hình. Các mảnh đất sau khi được khai khẩn, cải tạo và phát triển với mồ hôi và cả xương máu của những con người như vậy sẽ không chỉ là không gian tồn tại mà còn là chính là cuộc sống của họ.

Cần trả lại đất đai về với con người

Chấp nhận cách nhìn nhận và đặt vấn đề như trên, chúng ta hãy bắt đầu một quá trình nhận thức lại sau 30 năm quốc hữu hóa đất đai và thi hành Luật Đất đai. Trong một cuộc hội thảo khoa học (mở rộng) bàn về sửa đổi Luật Đất đai và Luật kinh doanh bất động sản do Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam tổ chức tháng 11 năm 2011 tại Hà Nội, nhiều luật sư tham dự đã phát biểu rằng các Luật Đất đai được sửa đổi trong suốt giai đoạn vừa qua đã đi theo hướng ngày càng phức tạp và rắc rối, trong đó đỉnh cao là Luật Đất đai năm 2003 với các khái niệm và phạm trù mới khó hiểu và khó thuộc với ngay cả chính các luật sư.

Bình tĩnh suy xét, chúng ta có cần phải có một Luật Đất đai rắc rối và phức tạp đến như vậy không? Và thậm chí có thực sự cần phải có cái Luật Đất đai đó hay không?

Quốc gia nào cũng có đất đai và họ phải đối mặt và giải quyết tất cả các vấn đề giống nhau liên quan đến đất đai trong đòi hỏi sự phát triển mạnh mẽ về kinh tế, ổn định về chính trị và hài hòa, phong phú về xã hội. Tuy nhiên, hầu như đa số các quốc gia không có cái gọi là Luật Đất đai như chúng ta đang có. Thay vào đó, nhà nước ban hành Luật Địa chính để quản lý hành chính các mảnh đất là đối tượng của các giao dịch dân sự. Ngoài ra, để quản lý nhà nước về đất đai trong quá trình phát triển kinh tế, một loạt các công cụ khác được các quốc gia sử dụng như Luật quy hoạch, Luật Xây dựng, Luật Môi trường và Luật Bảo vệ tài nguyên. Câu hỏi đặt ra là phải chăng sự khác biệt của Việt Nam là ở chỗ chúng ta có sở hữu toàn dân hay sở hữu nhà nước về đất đai? Sự thực không phải vậy bởi sở hữu nhà nước (hay sở hữu công, sở hữu của chính quyền) về đất đai vốn tồn tại ở khắp mọi nơi. Do đó, chúng là chỉ có một sự khác biệt đồng nghĩa với sự bất hợp lý, đó là tồn tại một loại hình sở hữu duy nhất về đất đai. Trong tự nhiên cũng như xã hội loài người không có cái gì được coi là duy nhất tồn tại. Nếu điều đó có sẽ đồng nghĩa với sự ngụy tạo. Duy trì hình thức sở hữu nhà nước duy nhất về đất đai sẽ dẫn đến sự mất quyền kiểm soát của chính nhà nước về đất đai trên thực tế cho các mục tiêu quốc kế dân sinh, đồng thời tạo môi trường thuận lợi cho sự phát sinh các tiêu cực như lạm dụng, thao túng của các nhóm lợi ích cũng như quá trình tư nhân hóa đất đai một cách không minh bạch.

Cải cách hệ thống quản lý về đất đai cần bắt đầu bằng tư duy từ con người và vì cuộc sống của con người. Thế giới đang đổi thay trong quan niệm phát triển. Thay vì nhấn mạnh công nghiệp hóa hay tăng trưởng kinh tế, người ta đang nói về bảo vệ và cải thiện môi trường sống. Đó là lối tư duy nhân bản, lấy đời sống con người làm trung tâm. Chính sách và pháp luật đất đai của nước ta cần sửa đổi sao cho đất đai thật sự gắn bó với con người, để cho mỗi con người ngày càng yêu quý và trân trọng đất đai hơn như yêu không gian sống và cuộc đời của chính họ. Có lẽ chính điều này là bài học sâu xa nhất rút ra từ vụ việc “Đoàn Văn Vươn”.
Tháng 2/2012

1. Ý thơ của nhà thơ Hoàng Trung Thông trong “Bài ca vỡ đất”.

2. Hai câu trong bài thơ “Tiếng hát con tàu”

3. Xin xem them quan điểm và phân tích của tác giả về vấn đề sở hữu đất đai trên Tạp chí Tia sáng, Bộ Khoa học và Công nghệ ngày 19/10/2010.
Nguồn: http://www.tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=116&News=4874&CategoryID=42

Nguyên Ngọc
– Đất và nông dân

Trung bình mỗi năm, cả nước mất khoảng 50.000 ha đất nông nghiệp cho các nhu cầu phi nông nghiệp

Nông dân, tức là đất. Từ đất sinh ra, mọc lên, lăn lộn trên đất mà sống và nuôi sống xã hội, đất là sức mạnh duy nhất, là vũ khí duy nhất của nông dân. Không có đất của riêng mình thì người nông dân như con bệnh bị mất hết sức đề kháng, không còn gì để chống đỡ với các lực lượng dữ dằn của thị trường, mà lại là thị trường hoang dã như chúng ta đang có.
Người ta rất thường có bệnh hay quên. Hồi kết thúc kháng chiến chống Pháp, trở về thành phố, về thủ đô, Tố Hữu đã ngậm ngùi nhắc: “…Nhà cao còn nhớ núi đồi nữa chăng?…”. Vậy mà rồi nhà cao khiến người ta chẳng còn nhớ thật.

Vừa qua lần quên thứ nhất, lại đến quên lần thứ hai.

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa, và thoát được khỏi khủng hoảng lương thực đến khốn khổ, ta lại chẳng mấy nhớ đến nông thôn, nông dân, những người không những đã nuôi ta suốt những năm dài gian nan nhất, mà còn từng là “chủ lực quân” của công cuộc biến cải xã hội to lớn, và kỳ diệu thay cũng lại là ngòi nổ dũng cảm và sáng tạo của công cuộc đổi mới đã cứu đất nước ra khỏi cơn khủng hoảng không hề ngắn… Để đến hôm nay nhiều người đã phải nói lên một sự thật đã tới hồi không còn có thể quay mặt làm ngơ nữa: nông dân chán ruộng, nông dân chán nông thôn. Nghĩa là về cả hai mặt quan trọng, sống còn nhất trong đời sống con người đã khủng hoảng thật quá sâu: về kinh tế, người lao động trên ruộng đồng đã chán cả mảnh đất ngàn đời máu thịt của mình; về văn hóa thì cái nơi vốn là gốc rễ của văn hóa dân tộc ấy đã chán chường đến mức người ta không còn muốn sống ở đấy nữa, mặc dầu bỏ ra đi thì sẽ là lao vào một cuộc phiêu lưu cũng thật mịt mùng!

Ai cũng biết quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa của nước ta trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập là một cuộc thách thức to lớn, như chưa từng có, về mặt nào đó còn nghiêm trọng, sâu sắc hơn cả chiến tranh. Thách thức ấy chắc chắn nông dân, nông thôn chịu đựng gay gắt hơn cả. Chủ nghĩa tư bản đã phải bỏ cả ba trăm năm để đi qua, và đi qua với “từng lỗ chân lông thấm máu”, tất nhiên là máu nông dân, ta học mãi rồi, cái thời “cừu ăn thịt người” ấy. Ta định đi qua trong vài ba chục năm. Mà trong cuộc đi qua ấy, vũ khí chủ yếu của người nông dân chính là đất. Nông dân, tức là đất. Từ đất sinh ra, mọc lên, lăn lộn trên đất mà sống và nuôi sống xã hội, đất là sức mạnh duy nhất, là vũ khí duy nhất của nông dân. Không có đất của riêng mình thì người nông dân như con bệnh bị mất hết sức đề kháng, không còn gì để chống đỡ với các lực lượng dữ dằn của thị trường, mà lại là thị trường hoang dã như chúng ta đang có. Họ từng làm chủ lực quân vô cùng kiên cường ấy bỗng trở nên lúc nào cũng nơm nớp lo sợ: sợ mất đất, cái mảnh đất vốn đã không phải là của họ, họ cứ như được cho sống nhờ, bất cứ lúc nào cũng có thể bị “thu hồi”, bị “chuyển đổi”, bị đoạt mất. Cái thứ đất quen thân, thống thiết, máu thịt với họ thế, mà bỗng trở nên rất đỗi kỳ lạ, ở trong tay họ, khi họ bị tước đi thì giá chỉ có mấy đồng, nhưng chỉ cần chuyển sang tay doanh nghiệp nào đó, một ông nước ngoài xa lạ, sang trọng nào đó thì bỗng có giá hàng nhiều tỷ!…

Nông dân, thời nào cũng vậy, xưa nay đều vậy, là cái nền của xã hội. Và cái nền thì không ồn ào, không hào nhoáng, không huênh hoang, nhưng chính vì là cái nền nên xã hội sẽ không thể yên nếu cái nền không yên. Mọi sự phát triển, mọi bước đi tới sẽ chông chênh, nếu không đổ vỡ.

Và cách củng cố, trả sức lại cho cái nền ấy là vô cùng quan trọng nhưng không khó, chỉ cần dám dứt khoát làm mỗi một việc: trả toàn quyền có đất thật sự lại cho từng người nông dân. Khi nông dân đứng chặt chân trên mảnh đất thật sự của họ, của riêng họ thì chẳng ai chiến thắng nổi họ. Xã hội sẽ bền, đất nước sẽ vững chãi trong cuộc đi tới đầy sóng gió.

Và cũng nên biết rằng mọi nhũng nhiễu trên con đường đi tới của chúng ta, trong đó có đại họa tham nhũng nếu không được khắc phục sẽ phá từ bên trong, bằng cách này cách khác, đều có liên quan đến đất, đất của nông dân. Chỉ khi đất là của nông dân, thật sự, lâu dài, đời kiếp, thì mọi sự mới ổn, để mà đi tới, để mà hội nhập, với toàn cầu hóa.
(Bài đã đăng trên Tia Sáng năm 2008)
Nguồn: http://www.tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=116&CategoryID=42&News=4880

Để lại phản hồi »

Chưa có phản hồi.

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Blog at WordPress.com.

%d bloggers like this: