Hoàngquang’s Blog

30/01/2012

Khi một xã hội chết lâm sàng

Trương Nhân Tuấn

(Ảnh sưu tầm trên mạng)Không ai dám nói, tất cả đều vô cảm, hèn, thì xã hội đã chết lâm sàng.

Quốc Phương-BBC Tiếng Việt GS Ngô Bảo Châu ‘tự mâu thuẫn’?
Phạm Toàn- Lực của người trí thức trong thế giới toàn trị

Jean-Francois Sabouret – Trí thức chỉ có con đường dấn thân’
Lữ Phương- Về một bài viết của nhà văn Phạm Thị Hoài

***

Nhạc sĩ Tô Hải – Xin thôi đi các vị trí thức khả kính của tôi! danluan Trí thức, tự do, và công lí Đào Hiếu – Vân Tiên ngồi núp bụi môn… Song Chi GS Ngô Bảo Châu, dư luận và tâm lý nhà cầm quyền Vũ Đông Hà: Trí thức trên bàn cờ thế sự động lung tung dlb Nếu không là cừu thì phải chọn Mai Xuân Dũng: THỬ VỚT CÁI BÌNH CỔ NGÔ BẢO CHÂU Quê choa: Thư gs Ngô Bảo Châu gửi Bọ Lập NGUYỄN QUANG LẬP- Trong nhà quan có một người dân
Trương Nhân Tuấn – Khi một xã hội chết lâm sàng
Tác giả gửi đến Dân Luận
Xã hội Nga thời Sô – Viết đã chết lâm sàng nếu chỉ có một khoa học gia Sakharov mà không có nhà trí thức Sakharov.

Khoa học gia Sakharov lẫy lừng trong xã hội Sô – viết vào thập niên 60 sau khi thành công thử nghiệm quả bom nhiệt nguyên tử đầu tiên, Tsar Bomba, với sức tàn phá 50Mt, vượt xa mọi trái bom khác hiện hữu trên thế giới. Sakharov là niềm hãnh diện không chỉ của dân tộc Nga mà còn là bằng chứng vượt trội về khoa học của xã hội chủ nghĩa đối với xã hội tư bản Tây phương.
Nhưng nếu không có một nhà trí thức Sakharov, trong thập niên 60, thì giới quân phiệt Nga đã thống lĩnh quyền hành, tất cả kỹ nghệ của Nga đã trở thành kỹ nghệ quốc phòng, thế giới đã có thể chìm dưới biển lửa chiến tranh hay ngập ngụa trong địa ngục cộng sản.
Cũng nếu không có nhà trí thức Sakharov, trong thập niên 70, thì xã hội Nga đã trở thành một quần đảo ngục tù, không chỉ ở Siberie, mà ở toàn lãnh thổ Liên bang Sô-viết. Nhưng một con én Sakharov không làm lên nổi mùa xuân. Sakharov cuối cùng bị đảng cộng sản Nga tước mọi danh dự của “người cha bom H” đồng thời giam lỏng ông này ở Gorki. Ông bị lưu đày trên chính quê hương của ông. Nhưng cũng do đó mà Liên bang Sô-viết lần hồi rệu rã, tự sụp đổ như một thân cây mục nát. Thật là thê thảm, vì đã không nghe những lời cảnh báo như là tiên tri của Sakharov từ hơn ba thập niên trước.
Giới khoa học gia sau này có thể đôi khi nhắc đến nhà vật lý Sakharov, nhưng nhân loại luôn nhớ đến một nhân cách trí thức vĩ đại Sakharov. Và dân tộc Nga hôm nay sẽ buồn biết bao nhiêu nếu không có giải Nobel hòa bình của nhà trí thức Sakharov năm 1975.
Xã hội Sô-viết đã yên mồ yên mả, nhưng điểm son trí thức Sakharov vẫn còn tồn tại mãi mãi.
Xã hội Pháp lẽ ra cũng đã chết lâm sàng, nếu vụ án Dreyfus, không có những người có uy tín như thủ tướng, dân biểu, nhà văn, nhà báo… lên tiếng bênh vực. Dreyfus, cùng với công lý, sẽ phải chết do bộ máy nghiền là tập đoàn hữu phái và giới quân phiệt Pháp thời hậu bán thế kỷ 19. Những người lên tiếng bênh vực trong vụ Dreyfus đều có địa vị quan trọng trong xã hội. Họ lên tiếng không phải vì danh tiếng, tiền bạc… ngược lại, họ bị đe dọa bắt bớ. Emile Zola phải đi tị nạn sang Anh.
Khoa học gia Sakharov vẫn chỉ là một khoa học gia, nhà báo Emile Zola vẫn là một nhà báo, nếu quí ông này chấp nhận một xã hội hoang dã cá lớn nuốt cá bé, sống chết mặc bây, công lý là ý muốn của cường quyền, bạo chúa. Vị trí trong xã hội của Sakharov thời đó được tầng lớp lãnh đạo quí trọng biết bao nhiêu. Emile Zola, Clémenceau, Léon Blum, Jean Jaurès… đều là những người có địa vị và tiếng tăm trong xã hội Pháp. Nhưng vì lương tri, những người này chấp nhận mọi hiểm nguy và mất mát cho chính đời sống của của họ. Họ lên tiếng chống lại những quyết định bạo ngược của người cầm quyền, bênh vực cho những giá trị mà họ xem là cao đẹp trong xã hội. Emile Zola cùng bè bạn khởi động phong trào trí thức trên thế giới. Xã hội nước Pháp ngày càng tiên tiến, văn minh hơn.
Thật là cao quí biết bao nhiêu hai tiếng trí thức!

Còn xã hội Việt Nam nếu không chết lâm sàng thì cũng là một xác ướp, còn phần xác mà không có phần hồn.
Khi mà “dân oan” đã trở thành một tầng lớp rộng lớn trong xã hội thì xã hội đó đã mục nát, rệu rã. Khi mà người yêu nước, bất đồng chính kiến với đảng CSVN, cho dầu chỉ mới lên tiếng một cách ôn hòa, thì bị trù dập, tù đày… xã hội đó là một xã hội đang hấp hối. Trong một xã hội, khi mà công an càng lộng quyền thì công lý của xã hội đó càng tiêu điều. Công lý thể hiện cho đạo đức, lương tri và lương tâm. Khi công lý đã chết thì xã hội đó chỉ còn là một xác không hồn. Nạn nhân của công an, bạo quyền… nói ra sao cho hết! Một nữ nhà báo, thật can đảm, vạch trần những nhơ nhớp bẩn thỉu của gia đình một đại quan công an thì bị công an bắt. Một nhà báo khác dùng thủ thuật để vạch trần những nhũng nhiễu của công an thì cũng bị công an bắt. Làm như vậy để từ nay không còn ai dám đụng đến công an. Một tờ báo nói thật bị đóng cửa; một trang web nói thật cũng bị đóng cửa. Từ đó không ai dám nói thật. Chân lý không còn thì xã hội đó là xã hội của những tên lưu manh, đểu giả.
Những người được trọng dụng với tầm cỡ Sakharov ở Việt Nam không hề thiếu. Nhưng không hề thấy ai lên tiếng.
Đâu cần đến kiến thức chuyên môn để thẩm định các việc đó đúng hay sai? Người ta chỉ cần một chút can đảm.
Người ta thẩm định một khoa học gia qua thành quả của công trình nghiên cứu nhưng người ta thẩm định một trí thức qua thái độ của người này.
Để xã hội Việt Nam không chết lâm sàng, những người có địa vị trong xã hội cần phải tỏ thái độ, cần phải lên tiếng nói khi cần thiết. Những người này không dám nói thì ai dám nói? Không ai dám nói, tất cả đều vô cảm, hèn, thì xã hội đã chết lâm sàng.
http://danluan.org/node/11433

Quốc Phương /BBC Tiếng Việt GS Ngô Bảo Châu ‘tự mâu thuẫn’?

Giáo sư Nguyễn Huệ Chi đã tham gia phản biện nhiều vấn đề xã hội trong nước
Giáo sư Nguyễn Huệ Chi, đồng chủ trì một trang mạng phản biện của giới trí thức Việt Nam, trang Bauxite Việt Nam, nói với BBC rằng Giáo sư Ngô Bảo Châu đã “tự mâu thuẫn” khi bàn về vai trò phản biện của trí thức trong một phỏng vấn đăng ở Việt Nam gần đây.
Trước đó, phát biểu trên Tuổi trẻ Online hôm 20/01, nhà toán học được trao trải thưởng Fields của Việt Nam nói ông “không đồng ý với việc coi phản biện xã hội như chỉ tiêu để được phong hàm ‘trí thức’ và cho hay, theo quan niệm của ông “giá trị của trí thức là giá trị của sản phẩm mà anh ta làm ra, không liên quan gì đến vai trò phản biện xã hội.”
Bình luận về quan điểm này của Giáo sư Ngô Bảo Châu, Giáo sư Huệ Chi cho BBC hay hôm 23/01:
“Nếu anh cặm cụi với chuyên môn của anh, để anh làm ra một loạt sản phẩm cho xã hội, thì anh mới chỉ là một người chuyên nghiệp trong một chuyên ngành nào đấy thôi, chứ không phải là trí thức, hiểu theo nghĩa là người hiểu biết và dẫn dắt xã hội.”
Theo Giáo sư Huệ Chi, đã nói tới trí thức là phải nói tới những ai có “tầm nhìn” vào xã hội và “lương tri” của trí thức phải có một “ánh sáng” để hướng dẫn xã hội.
“Muốn thế, trước những vấn đề lớn của đất nước và của cộng đồng, anh phải có ý kiến. Mà ý kiến này là một ý kiến độc lập, tự anh, chứ không phải lệ thuộc bởi một thế lực nào hết, thì đó mới là trí thức. Còn nếu không, anh chỉ là người làm chuyên nghiệp thôi.”
Chuyên gia về văn học, văn hóa Việt Nam cổ, cận đại cho rằng cách nghĩ của các trí thức “trùm chăn” hay tự giới hạn mình ở trong “tháp ngà” trong quá khứ nay không còn phù hợp nữa. Ông nói:

“Đã là trí thức thì phải là người có tầm, có trách nhiệm và nghĩa vụ xã hội. Cho nên tôi nghĩ phản biện xã hội là chức năng của trí thức, chứ không phải là chức năng của ai hết”
Giáo sư Nguyễn Huệ Chi

“Ngày xưa người ta gọi là trí thức trùm chăn. Tức là chỉ nằm trong tháp ngà, rồi nói những điều cao đạo, hoặc là chỉ làm những việc chuyên môn của mình để kiếm đồng tiền, kiếm lương. Tôi nghĩ cách nghĩ như thế không toàn diện về trí thức.”
Người từng nắm cương vị Chủ tịch Hội đồng khoa học của Viện Văn học Việt Nam khẳng định: “Đã là trí thức thì phải là người có tầm, có trách nhiệm và nghĩa vụ xã hội. Cho nên tôi nghĩ phản biện xã hội là chức năng của trí thức, chứ không phải là chức năng của ai hết.”
Không ‘sống lơ lửng’

Giáo sư Ngô Bảo Châu (phải) nhấn mạnh trước hết tới yếu tố “chuyên môn” trong công việc của người “trí thức.”
Tuy nhiên, trong bài trả lời phỏng vấn với truyền thông trong nước hôm thứ Sáu, Giáo sư Châu cũng thừa nhận tầm quan trọng của phản biện xã hội, cũng như sự trân quý đối với trí thức và những ai phản biện xã hội. Ông nói với tờ Tiền Phong:
“Mặt khác, cần trân trọng những người trí thức, hoặc không trí thức, tham gia công tác phản biện xã hội. Không có phản biện, xã hội đã chết lâm sàng.”
Song chính tại điểm này, một lần nữa, Giáo sư văn học Nguyễn Huệ Chi tiếp tục “phản biện” nhà toán học năm nay ở tuổi 40, và cho rằng Giáo sư Ngô Bảo Châu “mâu thuẫn”.
Ông nói với BBC: “Giáo sư Ngô Bảo Châu cũng đã nói đến cái phần sau là nếu không có phản biện thì xã hội chết lâm sàng. Nhưng trách nhiệm của cái xã hội chết lâm sàng ấy không đặt vào vai của trí thức thì đặt vào vai ai?”
“Cho nên tôi nghĩ chính Giáo sư Ngô Bảo Châu mâu thuẫn, bị rơi vào mâu thuẫn, chứ thực ra thì anh ấy nói cũng không sai.”

“Giáo sư Ngô Bảo Châu cũng đã nói đến cái phần sau là nếu không có phản biện thì xã hội chết lâm sàng. Nhưng trách nhiệm của cái xã hội chết lâm sàng ấy không đặt vào vai của trí thức thì đặt vào vai ai”
Giáo sư Nguyễn Huệ Chi

Người chủ trì trang mạng Bauxite Việt Nam tỏ ra tán thành với Giáo sư Châu rằng trí thức phải làm rất tốt phần chuyên môn “chuyên sâu rất chuyên biệt của anh mà người khác không thể làm được.”
Thế nhưng ông nhấn mạnh thêm một đặc điểm nhận thức luận mà ông gọi là “nghĩa vụ xã hội” và “nghĩa vụ cộng đồng” được xem là quan trọng để xác định căn cước, tư cách và vai trò trí thức trong xã hội.
“Nhưng đồng thời anh vừa là lương tri, vừa là ánh sáng của lương tri, mà vừa là nghĩa vụ mà do quá trình hình thành trí thức của anh, anh ý thức được – tức là nghĩa vụ đối với xã hội, nghĩa vụ đối với cộng đồng, thì anh phải làm việc hướng dẫn cộng đồng.
“Mà hướng dẫn cộng đồng, tất nhiên là anh phản biện. Mà phản biện thì anh phải phản biện trên tinh thần độc lập, không bị lệ thuộc vào bất cứ thế lực nào khác, thì đó mới là trí thức.”
Chuyên gia văn học Việt Nam còn lưu ý rằng “trí thức sống ở trong một cộng đồng, chứ không phải là anh ta tách rời và sống lơ lửng ở trên không trung.”
Giáo sư Huệ Chi, ngoài ra cũng đưa ra một số nhận xét đáng chú ý liên quan tới các động thái, hoạt động có liên quan tới Việt Nam trong thời gian vừa qua của ông Ngô Bảo Châu, cũng như bình luận về quan điểm của một số trí thức, nhân sỹ được BBC đăng tải gần đây trên bbcvietnamese.com xung quanh trí thức và Đảng lãnh đạo.
Phần phỏng vấn Bấm âm thanh với Giáo sư Huệ Chi sẽ được công bố trong mục Nghe xem của chúng tôi, mời quý vị đón theo dõi.
Nguồn:http://anonymouse.org/cgi-bin/anon-www.cgi/http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/2012/01/120123_vn_intelligentsia_huechi.shtml

Phạm Tòan-Lực của người trí thức trong thế giới toàn trị

Đôi lời: Một thông điệp rõ ràng về “một thông điệp hết sức sáng sủa”! “Không có phản biện, xã hội đã chết lâm sàng”, nhưng “tôi” chấp nhận cái chết đó.
Tại sao cứ bắt/muốn người ta nghĩ, làm như ta (muốn). “Người ta” đã chót dại, muốn bằng danh tiếng của mình để hòng mau chóng biến đổi xã hội cho bằng thiên hạ, nhưng giờ đã tỉnh ra rồi, chấp nhận cũng với danh tiếng, chuyên môn ấy, chỉ xin làm cái chức phận nhỏ nhoi thôi.
Tội lỗi tất cả là ở những kẻ khốn cùng quá khát khao có được người nói thay cho mình, khi có thì quá vội tin, rồi vỡ mộng. Đừng có mà nguyền rủa “người trong mộng”!
Phạm Toàn -Lực của người trí thức trong thế giới toàn trị

Tại sao một thông điệp hết sức sáng sủa, mạch lạc của giáo sư Ngô Bản Châu lại bị rất nhiều người hiểu lầm, hiện tượng tâm lý đó rất cần được phân tích.
Đây là quan điểm gốc đã được Ngô Bảo Châu nói trên Tuổi trẻ cuối tuần:
Đối với tôi, trí thức là người lao động trí óc. Cũng như những người lao động khác, anh ta cần được đánh giá trước hết trên kết quả lao động của mình. […] giá trị của trí thức là giá trị của sản phẩm mà anh ta làm ra, không liên quan gì đến vai trò phản biện xã hội.
Nghĩ rằng ý tứ của mệnh đề gốc này thế là quá rõ: trí thức là người lao động (dĩ nhiên, đó là loại lao động trí óc) – và đã là người lao động thì phải làm ra sản phẩm (dĩ nhiên, đó là loại sản phẩm của trí óc, và thuộc chuyên ngành của mình).
Chỗ gây hiểu lầm ở đây là khi Ngô Bảo Châu làm cho bạn đọc hiểu rằng giá trị của người trí thức hình như chỉ là giá trị của sản phẩm mà anh ta làm ra, và không liên quan gì đến vai trò phản biện xã hội của nhà trí thức hết. Thực ra thì người trí thức bao giờ cũng có hai trách nhiệm – một trách nhiệm nghiệp vụ và một trách nhiệm xã hội, một trách nhiệm vật chất và một trách nhiệm tinh thần.
Cũng cần nói luôn rằng, trước việc gánh vác hai trách nhiệm đó, người trí thức được hoàn toàn tự do, và mọi người cũng không nên và càng không có quyền áp đặt cho người trí thức những nhiệm vụ (công việc) theo cách nghĩ chủ quan của mình.
Có một điều thú vị là tại sao lại có cái tâm lý trong xã hội muốn lôi cuốn mọi nhà trí thức, nhất là những người như Ngô Bảo Châu, vào những công việc “phản biện” khó khăn, rắc rối, phức tạp?
Đó là tâm lý sinh ra từ nỗi sợ đã được tạo ra và nuôi dưỡng bởi một thứ quyền lực không cho phép ai được cãi. Thật vậy, bài học vẫn còn sờ sờ từ năm chục năm trước, chỉ vì những “góp ý kiến” chân thành mà vô số người đã “da ngựa bọc thây” – những tên tuổi Trần Đức Thảo, Nguyễn Mạnh Tường, Trần Dần, Phùng Quán, Nguyễn Hữu Đang … cả một danh sách dài những số phận tuẫn đạo.
Thế nhưng, cuộc sống thực có sức mạnh vô biên – trong đời sống xã hội lại vẫn cứ hình thành dần một sự bất phục tùng dân sự đối với nhiều điều bị coi là sai trái trong việc điều hành và tổ chức xã hội.
Nguyễn Văn Linh là người cán bộ chính trị đầu tiên vô tình châm ngòi cho sự bất phục tùng dân sự khiến đã nổ bùng một cao trào không chịu “bẻ cong ngòi bút” và không “ăn theo nói leo”.
Song thực ra công lao Nguyễn Văn Linh chẳng đáng gì trong việc bật nút cho nỗi đau xã hội lộ diện – Phùng Gia Lộc mới thực sự là người anh hùng đã soi bó đuốc cho thấy cái đêm hôm ấy đêm gì – cái đêm trước thời đổi mới.
Dám nói đến công lao ấy và nói rõ sự so sánh ấy, bằng chứng là Nguyễn Văn Linh hô hoán xong thì vẫn an toàn, trong khi Phùng Gia Lộc in xong bài phóng sự thì phải chui nhủi muốn chết!
Vài chục năm sau, ngay cả với sự bùng nỗ thông tin, dù có thấy đội quân phẫn nộ đã lớn, song nỗi sợ cũ vẫn còn nguyên. Viên đại tá có tấm lòng cao quý bút danh Lê Hoài Nguyên cũng chỉ rất dè dặt thận trọng gãi gãi lại vụ án Nhân văn – Giai phẩm. Nhưng hành động của anh giữ hộ rồi trao trả gia đình Trần Dần những tài liệu quý cho thấy các thày tu trung thực cũng có xoa dịu được phần nào cái tàn ác Trung Cổ.
Dẫu sao, cái ác đâu có dễ dàng xóa bỏ trong một đêm? Những nhà trí thức bất phục tùng đầu tiên của thời Internet đã nghĩ ra thuật ngữ phản biện để che chắn cho một làn sóng, đồng thời cũng tìm cách cho cái ác đỡ run sợ và đỡ làm liều trước cái thiện.
Vậy thôi, nhưng bạn Ngô Bảo Châu đã không lưu tâm tới nỗi sợ trong cuộc đời thực của từng con người trong một xã hội toàn trị. Và người ta phản pháo bạn!
Người ta không lắng nghe kỹ lưỡng thông điệp của Ngô Bảo Châu gửi đi tới đâu thì đã quá rõ: không có phản biện, xã hội đã chết lâm sàng. Xin lưu ý cách nói chết lâm sàng – nó gợi lên hình ảnh một xác chết vẫn như còn đang sống, vẫn thở khò khò như đang tập khí công, thức ăn vẫn chui vào bụng qua lỗ mũi, ấy vậy mà vẫn chưa thể triệu tập cuộc hội nghị quan trọng bàn việc phát tang.
Ngô Bảo Châu nói với cả hai phe – giới “trí thức phản biện” và nhà “lãnh đạo lương thiện” giả định là “văn minh và có bản lĩnh”:
Những người có học, có tri thức thật ra cần phải rất tỉnh táo khi tham gia việc phản biện xã hội. Học hàm, học vị không thể đảm bảo rằng cái anh nói ra là mặc nhiên đúng. Với thói quen làm việc khoa học của mình, cái mà anh có thể làm là đưa ra những lập luận vững chắc và có tính thuyết phục. Nhà lãnh đạo văn minh, có bản lĩnh sẽ biết lắng nghe những lập luận đó. Họ có thể làm theo hoặc không làm theo kết luận của anh. Trong trường hợp họ không làm theo, vẫn dưới giả thiết là lãnh đạo văn minh và có bản lĩnh, lãnh đạo sẽ phải đưa ra những lập luận ít nhất cũng vững chắc bằng những lập luận của anh để bảo vệ quyết định của mình.
Thật khó hiểu, tại sao nhiều bạn đọc không thấy Ngô Bảo Châu nói với cả hai ba bốn năm phe rằng chúng ta không phe nào được phép độc quyền chân lý.
Rành rọt đến thế mà vẫn phản ứng, tại sao? Nghĩ rằng, có lẽ đó là vì Ngô Bảo Châu đã chạm vào một sai lầm về nhận thức rất phổ biến hiện thời.
Cùng với cao trào “phản biện”, người ta kháo nhau và mở to TiVi nghe và vỗ tay rầm rầm cổ vũ cho lời nói. Có ông nghị gần suốt hai nhiệm kỳ chỉ nói những điều vô thưởng vô phạt, gần hết nhiệm kỳ bỗng uống thuốc quá liều đòi hỏi quá đáng đụng chạm vào những lợi ích phe nhóm. Thế là cái guồng máy vốn cho phép được mở miệng cũng ra lệnh bịt miệng.
Đến nước ấy rồi mà vẫn không chịu tỉnh ngộ nghe lời Ngô Bảo Châu hãy lao động và làm ra sản phẩm theo đúng chuyên môn hẹp của mình đi. Muộn rồi, bây giờ mới thấy lao động quả thật là rất khó. Sản phẩm lao động tạo ra chẳng dễ gì!
Ấy vậy nhưng trong “giới phản biện” vẫn có anh chưa tỉnh ngộ. Chứng cớ là vẫn có người chuyện gì cũng tham gia phản biện được, chẳng hạn lên tiếng định nghĩa khái niệm tự in đậm trong blog như thế này:
Trí thức là sự cảm nhận của người khác, là sự quan sát, nhận định từ bên ngoài, đánh giá một con người dựa vào những tiêu chí mà người quan sát, nhận định có sẵn trong đầu.
Không có gì siêu hình, rẻ tiền và dễ dãi hơn!
Ta có thể thích hòn sỏi hoặc không thích hòn sỏi, nhưng đâu có vì ý nghĩ của ta (hoặc vì dư luận xã hội) mà hòn sỏi mất đi thuộc tính sỏi của nó và trở thành mềm mại dễ uốn như cái lưng và cái lưỡi? Ta có thể thích hoặc không thích mắm tôm, nhưng đâu có vì “dư luận xã hội” ấy mà mắm tôm có thể dùng thay dầu gội đầu hoặc nước hoa Chanel?
Xin hãy khiêm nhường và hãy ngừng công kích Ngô Bảo Châu. Hãy để anh ấy làm việc theo cung cách với niềm tin rằng ít nhất anh ấy cũng biết cách không làm liều. Nên nhớ là tất cả mọi người vẫn đang sống trong một thế giới toàn trị vừa đầy sức mạnh vừa đầy mánh khóe. Và cái Lực của mỗi người, dù là người trí thức đấy, thì cũng mong manh như cây sậy mà thôi.
Sớm mồng Ba Tết Nhâm Thìn
P.T.
http://anhbasam.wordpress.com/2012/01/25/664-luc-cua-nguoi-tri-thuc-trong-the-gioi-toan-tri/

Jean-Francois Sabouret- Trí thức chỉ có con đường dấn thân’

Ông Jean-Francois Sabouret tin rằng đảng cộng sản Việt Nam sẽ phải thay đổi để tránh các cuộc cách mạng của quần chúng.
Một học giả của Pháp chuyên nghiên cứu về các vấn đề châu Á cho BBC hay đảng Cộng sản Việt Nam buộc phải tự thay đổi nếu muốn tránh các cuộc đấu tranh của quần chúng.
Trong cuộc trao đổi với BBC hôm 24/01/2012, Tiến sĩ Jean-Francois Sabouret cho rằng Đảng Cộng sản cần có một lộ trình rõ ràng, hàng năm, để chủ động chuyển đổi theo hướng trả lại quyền lực cho nhân dân.
Người đứng đầu Viện Nghiên cứu Thế Giới Châu Á, Institut des Mondes Asiatiques tại Paris cũng cho rằng đảng đang đứng trước sự lựa chọn nghiêm trọng hoặc là tiếp tục đóng cửa, không lắng nghe trí thức và các tầng lớp tiến bộ trong xã hội, hoặc cải cách toàn bộ để tránh sự đổ vỡ phức tạp, khó tránh khỏi.
Học giả người Pháp cũng lưu ý tới việc không riêng gì đảng cộng sản, mà theo quy luật chung, bất cứ ai “nắm quyền lực” quá lâu sẽ không tự giác “tự động” trao trả quyền lực cho nhân dân, điều được cho là một ngưỡng thách thức quan trọng đối với các lãnh đạo đảng và nhà nước ở Việt Nam hiện nay.
Bình luận về vai trò của trí thức trong quá trình biến đổi xã hội này, ông Sabouret cho rằng người trí thức “không có sự lựa chọn nào khác” ngoài dấn thân và tiếp tục dũng cảm lên tiếng vì lợi ích chung của xã hội, cộng đồng và nhân loại, dù là họ ở Pháp, ở Việt Nam hay ở bất cứ đâu.
Nói về tương lai của Đảng Cộng sản ở Việt Nam, ông Sabouret đánh giá:
“Một cách chính thức mà nói, đảng không thể nắm quyền mãi mãi được. Có nghĩa là những người nắm quyền trên cả nước từ năm 1975, ngày nay là con cháu của họ, bạn bè và đồng minh của họ đang muốn tiếp tục quyền lực lãnh đạo trong một số thời gian nữa.
“Nhưng chúng ta biết rằng những người nắm chính quyền ở Liên Xô năm 1917 chỉ có thể giữ được quyền lực trong vòng 70 năm. Còn những người nắm quyền lực ở Việt Nam từ năm 1975 tới nay, có thể còn độ 20-30 năm năm nữa, tùy vào những diễn biến cụ thể.

“Người ta chỉ có thể bắt bớ một, hay một vài người thôi, chứ làm sao có thể bắt bớ cả một dân tộc được? Điều đó là không thể!”
TS. Jean-Francois Sabouret

“Nhưng cũng có thể là ngắn hơn là bởi vì những người lãnh đạo không thể làm gì thay đổi được trước xu thế của những thế hệ trẻ, những khát vọng dân chủ, khát vọng tự do, khát vọng về tự do phát ngôn, tự do tư tưởng, tư duy.”
‘Không thể đi ngược’
Chuyên gia về châu Á này cho rằng Đảng Cộng sản sẽ không thể ‘kháng lại được những khát vọng này’ vì ông ví những nhân tố nằm trong “tư duy” con người này như nhưng lực xã hội khó có thể cưỡng lại được:
“Bạn sẽ không thể cưỡng lại được chúng, bởi vì chúng là những cơn sóng thần (tsunami) đang ập tới ở trên biển. Tư duy con người là như thế, bạn đơn giản là không thể ngăn chặn được tư duy của con người.”
Học giả người Pháp cũng nhắc tới trường hợp của Miến Điện và Bắc Triều Tiên.
Ông cho rằng, những biến đổi đã xảy ra ở Miến Điện theo chiều hướng mới về cải tổ xã hội dân chủ, cởi mở, thậm chí sẽ có thể một ngày nào đó xảy ra ở Bắc Triều Tiên, trong một thế giới khó lường như hiện nay.
“Đảng Cộng sản ở Việt Nam đã mở cửa ít nhiều. Họ đã lựa chọn việc mở cửa từng bước có kiểm soát. Tôi không nói về chi tiết. Nhưng nay họ không thể đi ngược trở lại. Họ phải mở cửa. Nếu họ cứ giữ nguyên cánh cửa đóng như thế, tình thế sẽ trở nên nguy hiểm đối với họ.”
Bình luận về điều gì mà những người trí thức ở Việt Nam cần phải làm vì tương lai của đất nước, lợi ích của cộng đồng, sau khi điểm lại những nỗ lực trong lịch sử tranh đấu của trí thức Pháp và trí thức nói chung trên thế giới, ông tổng kết:
“Những người trí thức Việt Nam phải tranh đấu thôi. Họ phải đoàn kết lại. Họ phải xuất bản những tạp chí, những trang web mà tại đó họ phải phản biện, phải có đầu óc phê phán. Đương nhiên điều đó là không đơn giản.
“Nhưng người ta chỉ có thể bắt bớ một, hay một vài người thôi, chứ làm sao có thể bắt bớ cả một dân tộc được? Điều đó là không thể!”
‘Tới lúc can đảm’

“Nếu những người cộng sản Liên Xô cũ đã hiểu quy luật về “tự do” và đã tiến hành “cải tổ”, “minh bạch” từ sớm hơn, thì có lẽ tới nay họ vẫn còn được nắm quyền lực”
TS. Jean-Francois Sabouret

Theo học giả này, đã đến lúc Việt Nam cần có những tiếng nói “can đảm” vì lợi ích chung là lựa chọn của cả quốc gia, dân tộc.
Ông nói:
“Cần phải có những người đứng lên và nói rằng đây là viễn kiến, tầm nhìn mà chúng tôi thấy phải có về Việt Nam. Chẳng hạn như một đất nước mở ra đối với nhiều đảng phái, với một nền dân chủ thực sự, với một đối lập được công nhận.
“Đó là một điều quan trọng đáng làm và những người trí thức Việt Nam phải lên tiếng. Không những chỉ khi họ ở nước ngoài vì điều đó dễ dàng. Mà ở trong nước, họ phải đoàn kết lại, xuất bản, thảo luận những tạp chí, sách vở, mở ra những hội thảo.”
Điểm qua một số bài học lịch sử gần đây, kể cả trường hợp các nước diễn ra phong trào Mùa Xuân Ả Rập, ông Sabouret tin rằng lúc đầu chính quyền sẽ “không hài lòng” nhưng sau đó sẽ có sự thay đổi nhận thức:
“Chính quyền sẽ hiểu ra rằng đó là một điều hữu ích, điều hay mà họ có thể sử dụng một cách nào đấy. Họ sẽ hiểu rằng tự do là điều tất cả mọi người đều quan tâm, đó là một quy luật.”
“Nếu những người cộng sản Liên Xô cũ đã hiểu quy luật về tự do và đã tiến hành Cải tổ (perestroika), và Minh bạch (Glasnost) từ sớm hơn, thì có lẽ tới nay họ vẫn còn được nắm quyền lực,” học giả Pháp nói với BBC.
Tiến sĩ Jean-Francois Sabouret còn là Giám đốc Mạng lưới Nghiên cứu Châu Á, Réseau Asie, thuộc Trung tâm Quốc gia Nghiên cứu Khoa học – CNRS của Pháp. Ông từng sang Việt Nam làm việc về nghiên cứu.
http://anonymouse.org/cgi-bin/anon-www.cgi/http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/2012/01/120124_vn_intelligentsia_sabouret.shtml

Lữ Phương-Về một bài viết của nhà văn Phạm Thị Hoài

1.
Đó là bài “Sự lạc quan vô tận” , xuất hiện trên BBC ngày 17.1.2012.[1] Bà Phạm Thị Hoài, đang ở Đức, tác giả bài này, viết về một nhà hoạt động văn hoá, xã hội nổi tiếng trong nước hiện nay là ông Chu Hảo, và qua ông Chu Hảo, bà Hoài nhận ra tính chất mẫu mực của một lớp trí thức gọi là “đối lập trung thành” mà bản chất vẫn gắn liền với hệ thống chính trị tư tưởng bấy lâu nay mệnh danh là “chủ nghĩa xã hội” ở Việt Nam. Bà Hoài cho rằng trong khi thực tế chỉ ra rằng hệ thống này đã trở nên bất lực và lỗi thời, thay vì thoát ra ngoài để phủ nhận từ nền móng, những nhà “đối lập” nói trên vẫn ôm ấp thứ chủ nghĩa xã hội ấy như một lý tưởng, căn cứ vào đó phản biện một số sai lầm trong thực tế lãnh đạo của Đảng cộng sản, với hy vọng cải tạo hệ thống để cứu nó khỏi sự sụp đổ.
Nhiều người làm công việc này trước đây đã bị chế độ thanh trừng nhưng hiện nay có vẻ như những người kế tục đang trở nên có giá. Họ được Đảng để cho công khai ăn nói thoải mái (kể cả lên tiếng nơi những phương tiện truyền thông bị xem là “thù địch”) chỉ có điều là ý kiến của họ thường không được Đảng quan tâm trả lời đàng hoàng. Bà Hoài vẫn tỏ vẻ kính trọng họ, có ý cho rằng vị trí của họ cao hơn nhiều lần loại người cũng thoát khỏi guồng máy như họ nhưng lại thiếu hẳn nhân cách để lên mặt dè bỉu họ. Những trí thức này cũng nhận những “mạt sát bạt mạng từ những người hùng Việt kiều ẩn danh trên mạng” nhưng bà Hoài cho rằng việc đó có thể bỏ qua, có lẽ vì không đáng để họ quan tâm.
Tuy thế, một thái độ “đối lập” trí thức như vậy lại được bà Hoài cho là có tính chất nước đôi, nghịch lý: “vừa cổ vũ cho tự do tư tưởng, vừa biện minh cho sự cần thiết của chiếc gông tròng vào cổ trí thức Việt Nam và đè nặng lên họ”, chỉ vì sự lãnh đạo của Đảng đối với trí thức (qua phát ngôn của ông Chu Hảo) vẫn còn được duy trì. Do vậy mà xét đến cùng thì điều đó chỉ mang đến cho cuộc sống tinh thần nhiều tệ hại: vẫn ảo tưởng về khả năng lãnh đạo của Đảng đối với trí thức do đó cũng còn tin rằng Đảng vẫn còn khả năng nghe theo những đề nghị của trí thức để thay đổi. Một cách khách quan bà Hoài cho rằng những phản biện như vậy chỉ mang ý nghĩa một cuộc giải phẫu thẩm mĩ cho một chế độ toàn trị xấu xí, già nua để “giúp nó tồn tại mĩ miều hơn”.
Nguyên nhân của cung cách suy tưởng này được bà Hoài quy về sự nhồi sọ của hệ thống toàn trị của Đảng: hệ thống này “đã biến đổi thành công bộ nhiễm sắc thể của các đảng viên, ‘sự lãnh đạo của Đảng’ đã ăn vào gen trong cơ thể họ và tự động phát tiết, trong cả những tình huống không phù hợp nhất”. Nói cách khác, tuy có mục đích phê phán đường lối của Đảng nhưng những trí thức “đi theo Đảng” đó mãi mãi vẫn không thoát khỏi sợi dây trói buộc về các công thức tư duy mòn sáo của Đảng. Bà Hoài cho rằng thái độ phù hợp hiện nay không phải chỉ thoát ra khỏi bộ máy để phản biện mà là rời bỏ cả hệ thống để tìm đến một thứ đối lập khác, có ích và cần thiết hơn.
2.
Khi sử dụng khái niệm “đối lập trung thành” để chỉ thị xu hướng phản biện trên đây, chắc hẳn bà Hoài đã có tham khảo và lấy nguồn cảm hứng từ một tác giả viết về đề tài này, cách đây 6 năm (2006), đó là Zachary Abuza với bài “Loyal Opposition: The Rise of Vietnamese Dissidents”, [2] trong bài viết này học giả người Mỹ nói trên đã nhắc đến khái niệm “đối lập trung thành” để nghiên cứu sự chuyển động chính trị ở Việt Nam sau thời kỳ “đổi mới”, trong đó nhiều khuôn mặt trí thức tiêu biểu đã được phân tích để chỉ ra những phần tích cực lẫn giới hạn của họ. Các thuộc tính khác nhau trong phân tích nói trên cũng có thể tìm thấy trong bài viết của bà Hoài.
Tuy vậy vẫn có điều khác là những mặt tích cực và giới hạn trong công trình của Abuza nếu được trình bày một cách khách quan, theo ngôn ngữ của một văn bản nghiên cứu thì trong bài của bà Hoài những mặt giới hạn và tiêu cực lại được chú trọng để phê phán nhiều hơn, hơn nữa sự phê phán ấy lại được làm nổi bật và gây được ấn tượng nhiều hơn vì được diễn đạt bằng một thứ ngôn ngữ cường điệu, cảm tính rất quen thuộc của một tác giả từng nổi tiếng về viết tiểu thuyết. Ở đây các nguyên nhân khách quan, lịch sử tạo nên hiện tượng cần nêu ra để lý giải đã không được nói đến mà lại được quy giản thành những huyễn hoặc tâm lý có tính chất chuyển giao thế hệ của những con người cấu thành hiện tượng.
Cách lập luận của tác giả vì vậy có nhiều điều không thuận lý lắm. Đáng chú ý hơn hết là cái cách tác giả dựa vào những phát biểu cụ thể của ông Chu Hảo khái quát cho toàn bộ xu hướng mệnh danh là “đối lập trung thành” để giảng giải, bàn luận. Trong khi đó thì thực tế cho chúng ta biết nếu có ai đó tin tưởng thành khẩn vào điều mình trình bày (giống như cách trình bày của ông Chu Hảo) thì cũng có không ít người (trong đó không loại trừ cả bản thân ông Chu Hảo) chỉ coi kiểu diễn ngôn đó, vừa như một thủ thuật để tự bảo vệ, vừa là một cách thức thích hợp để tác động vào chính guồng máy mà họ đang phải sống chung. Trong hoàn cảnh này không ít tác giả đã coi việc đề cao vai trò của Đảng như một thủ tục để lồng vào đó nhiều điều mà nếu bùi tai nghe theo, Đảng sẽ không còn là cộng sản nữa! Thử đọc Nguyễn Trung hoặc nghe Nguyễn Văn An mà xem!
Xét cho cùng, thì tất cả đều chỉ là cuộc đánh vật về những khái niệm, và do bà Hoài quá tin vào chữ nghĩa nên bà đã bị lừa về mặt chữ nghĩa để khi sử dụng khái niệm “đối lập trung thành” bà đã đương nhiên khẳng định sự tồn tại của thực tại đó trong đời sống chính trị hiện nay ở Việt Nam. Như vậy là có nhiều điều không giống với Abuza: nếu trong bài viết của mình, tác giả này chỉ coi “đối lập trung thành” như là khả năng có thể hình thành trong tương lai từ những hoạt động bất đồng chính kiến có giới hạn hiện nay, thì qua sự biện giải trong bài viết của bà Hoài, “đối lập trung thành” đã được khẳng định như một tồn tại minh nhiên, hiện thực. Khẳng định này thiếu sự chính danh nghiêm nhặt, vì trong sự diễn đạt của bà Hoài, việc xác nhận khái niệm nói trên chỉ được coi như một tu từ ở đó sự “trung thành” đã mang ý nghĩa tiêu cực của một thái độ chính trị cần phê phán.
Thật sự thì khái niệm “đối lập trung thành” đã có nguồn gốc từ nghị viện nước Anh quân chủ vào thế kỷ 19: “đối lập” ở đây là đối lập với đảng đa số đang cầm quyền, còn “trung thành” ở đây là trung thành với vị Vua đang trị vì, cho nên tên gọi đầy đủ của khái niệm là “Her (or His) Majesty’s Most Loyal Opposition” (còn được gọi là “The Official Opposition”). Nội dung này về sau đã được khái quát hoá thành một khái niệm chính trị có tính chất định chế trong các nước theo thể chế dân chủ đa đảng: các đảng thiếu số có quyên tồn tại và được luật pháp bảo vệ để tham gia nghị trường với tư cách đối lập với đảng đương quyền, qua sự phản biện các chính sách đang thực hiện, đưa ra đường lối mới hy vọng thay thế đảng đương quyền trong kỳ bầu cử sắp tới. Trung thành bây giờ không phải trung thành với bất cứ thực thể cụ thể nào mà là với những nguyên lý tạo nền cho một thể chế dân chủ đích thực.

3.
Thực thể gọi là “đối lập trung thành” với nội dung nói trên hiển nhiên không thể nào tồn tại được trong chế độ gọi là “chủ nghĩa xã hội hiện thực”. Nó hoàn toàn không thể tồn tại vì cái xã hội công dân tạo nền cho các hoạt động của các lực lượng “đối lập” mang cùng tính chất đã không được thừa nhận theo lý luận chuyên chính gọi là “vô sản” của Đảng. Tất cả mọi hoạt động xã hội đều phải do Đảng nắm chặt bằng Nhà nước cùng với hệ thống chính trị đặt nền trên đường lối chuyên chính đó. Cho rằng chủ trương này là do K. Marx đẻ ra là không thoả đáng: trong xã hội cộng sản lý thuyết do triết gia này đề xuất, nhà nước sẽ dần dà bị xã hội công dân nuốt chửng rồi sau đó nhường bước cho sự ra đời một nhân loại phổ biến chứ không thể là ngược lại như trong chế độ “chủ nghĩa xã hội hiện thực”: sau khi triệt tiêu xã hội công dân rồi nhà nước trở thành tuyệt đối và vĩnh viễn.
Cần lưu ý là trong một chế độ “toàn trị ” mang danh chủ nghĩa xã hội đó, hiện tượng người ta thường gọi là “bất đồng chính kiến” vẫn tồn tại qua mọi thăng trầm. Nhìn vào lịch sử các chế độ cộng sản thực tế hiện tượng này rất đễ dàng nhận ra, dưới nhiều hình thức và danh nghĩa, hầu hết đều diễn ra hết sức bạo liệt . Dù vậy, để duy tính cách mạng cho phê phán và tranh đấu, người ta không thể nhân danh một cái gì đó bên ngoài thứ lý luận gọi là “vận dụng học thuyết Marx-Lenin”, căn cứ vào đó phê phán những chủ trương bị xem là sai lầm trong sự vận dụng của Đảng vào việc “xây dựng chủ nghĩa xã hội”. Và hiển nhiên sự phê phán ấy đã không thể trở thành cương lĩnh của một lực lượng có tổ chức công khai được thừa nhận là “đối lập trung thành” trong một chế độ có tham vọng kiểm soát con người từ đầu cho đến chân.
Cũng cần lưu ý thêm là sự mạnh yếu, rộng hẹp của hiện tượng bất đồng chính kiến nói trên trong chế độ ấy không phải lúc nào cũng như nhau. Tất cả đều tuỳ theo tình hình chung, tuỳ theo tương quan giữa xã hội và nhà nước mà diễn ra dưới nhiều mức độ. Nếu trước đây phong trào “Nhân Văn-Giai phẩm”, “chủ nghĩa xét lại”… xét về căn bản tỏ ra khá “trung thành” với hệ thống mà vẫn bị trấn áp tàn tệ thì ngày nay, trong thời kỳ “đổi mới”, nhiều phê phán đạt đến mức “chạm trần” mà vẫn tồn tại được dưới những hình thức nào đó. Tại sao? Chắc chắn không phải do Đảng đã trở nên dân chủ hơn, khoan dung hơn để không thèm “đếm xỉa” các phản biện rất “phản động” trên đây mà chỉ vì trong thực tế đã đến lúc Đảng không còn đủ sức để lùa vào vòng kiểm soát của mình những ai không “nghĩ trong điều Đảng nghĩ” nữa. Nhìn vào những gì diễn ra ở Việt Nam sau 1986, nhất là sau sự tan rã của “phe xã hội chủ nghĩa”, có thể nhận ra điều đó dễ dàng!
Đặt vào quá trình đấu tranh dân chủ hoá xã hội ở Việt Nam, hiện tượng phản biện trên đây, dù mang trong bản thân nhiều hạn chế và những hạn chế ấy được chấp nhận như điều kiện để tồn tại, cách nói của bà Hoài, xem đó là một “cuộc giải phẫu thẩm mỹ giúp chế độ toàn trị tồn tại mỹ miều hơn” là không thoả đáng, nếu không nói là hoàn toàn phản thực tế. Vì thực tế cho chúng thấy phải hiểu ngược lại mới đúng: ra đời từ những nỗ lực cực kỳ gian khổ để dân chủ hoá đời sống xã hội, những nỗ lực trên đây, cho đến nay đang có tác dụng làm suy yếu chế độ toàn trị ngay trong sân chơi của nó, làm cho chế độ ấy mau chóng mất đi tính chính danh ngay trên chính những nguyên lý của nó. Nếu không khó giải thích việc chế độ toàn trị luôn tỏ ra rất khó chịu, bực bội với hiện tượng này, thì cũng rất dễ hiểu khi thấy trong khi không dám đối thoại sòng phẳng với những phản biện gai góc, những cái lưỡi gỗ của chế độ đã không biết làm gì để đối phó, ngoài việc nhét tất cả vào cái phạm trù gọi là “diễn biến hoà bình” và “tự diễn biến hoà bình” để quy chụp và kết án là “cơ hội”.

4.
Khi xác định vị trí tranh đấu của mình, những người phản biện từ bên trong không hề coi phương thức lên tiếng của họ là duy nhất đúng, duy nhất có ích. Đó chỉ là một chọn lựa trong nhiều chọn lựa nhưng khi đã đứng vào vị trí ấy rồi thì sự cân nhắc về tác dụng của hành động và lời nói phải trở thành điều cần thiết: chẳng hạn không thể lúc nào cũng ngang nhiên đòi “giải thể” cái này cái nọ tức khắc cho hả giận và cho sướng miệng, không phải vì sợ bị bỏ tù mà chỉ vì không thích hợp. Từ những giới hạn buộc phải chấp nhận một cách chính danh thì chỉ nên gọi như người ta thường gọi họ là những người phản biện, hoặc ồn ào hơn một chút, có thể gọi họ là những người bất đồng chính kiến – những người như vậy ngày càng nhiều thêm, thái độ của họ ngày càng mạnh mẽ, quyết liệt. Đây không phải chỉ là kết quả của một quá trình giải hoặc về tư tưởng mà chính yếu đã bắt nguồn từ cái thực tế chuyển động của xã hội đang tác động vào bản thân họ: là sự thất bại hiển nhiên của chế độ toàn trị mạo danh xã hội chủ nghĩa giao thoa với cái xã hội công dân đã bị chế độ toàn trị ấy thủ tiêu cũng mạo danh chủ nghĩa xã hội, nay đang phục hồi do sự thất bại của thứ chủ nghĩa xã hội bị mạo danh ấy.
Tất cả đã tác động đến bản thân các đảng viên với tư cách là những công dân và những con người, làm cho cả một lớp trí thức một thời “đi theo Đảng” khi nhìn lại mọi thứ, ngày càng nhận ra sự cách bức trầm trọng giữa Đảng và xã hội, cuối cùng đã chọn đứng về phía xã hội để, từ tư thế của mình, đòi hỏi Đảng phải dân chủ hoá bản thân, tiến hành những cải cách để thực hiện những thay đổi có lợi cho xã hội.
Chừng nào thì hành vi phản biện mạnh mẽ nói trên có khả năng chuyển hoá thành một xu hướng chính trị có tổ chức mệnh danh là “đối lập trung thành” theo đúng nguyên nghĩa của nó? Không thể biết được nhưng chắc chắn đó là điều thật đáng mong mỏi. Nhưng để điều đó trở thành thực tế thì bản thân chế độ toàn trị phải có sự chuyển hoá thật mạnh mẽ về chất, sự chuyển hoá ấy cốt yếu phải được thúc đẩy bởi sự lớn mạnh của cái xã hội công dân hiện diện bên ngoài sự tồn tại của Đảng: không có sự lớn mạnh của xã hội công dân này thì mọi sự chuyển biến trong Đảng, có tính tới áp lực nội tại của thành phần phản biện nói trên, vẫn chỉ loay hoay trong những hứa hẹn, nếu không mị dân để đối phó thì cũng hoang tưởng, nửa vời.
Xét về logic của sự chuyển hoá hoà bình có thể khẳng định rằng chỉ có một xã hội công dân đã trưởng thành về mọi mặt (kinh tế, văn hoá lẫn chính trị) mới có khả năng hạn chế các chính sách chuyên chế của Đảng, từng bước tác động vào Đảng, mang đến cho những trí thức của Đảng nhiều tính chất dân chủ hơn trong những đề xuất cải cách, qua đó dọn đường dần dà cho sự hoá thân của Đảng, từ một đảng toàn trị thành một đảng dân chủ. Logic thì như vậy và mong ước cũng là như vậy. Nhưng thực tế hiếm khi đi theo logic của sự suy tưởng lý tính, trong trường hợp này, bạo lực có thể sẽ lại lên ngôi một lần nữa, bạo lực cách mạng và cả bạo lực phản cách mạng. Mọi sự bàn luận về thực thể gọi là “đối lập trung thành” bây giờ sẽ mất hoàn toàn ý nghĩa, không cần thiết.

Lữ Phương

________________________________________
[1] http://www.bbc.co.uk/vietnamese/forum/2012/01/120117_phamthihoai_vn_intelligentsia.shtml).
[2] http://asiaquarterly.com/2006/01/28/ii-35/

Tác giả gởi ngày 25-1-12
http://www.viet-studies.info/LuPhuong/LuPhuong_VePhamThiHoai.htm

1 Phản hồi »

  1. Ong Pham Toan va Ong Ngo Bao Chau la THIEN TRI THUC

    Phản hồi bởi Vo Nhat Vat — 01/02/2012 @ 2:21 sáng | Trả lời


RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Tạo một website miễn phí hoặc 1 blog với WordPress.com.

%d bloggers like this: