Hoàngquang’s Blog

30/01/2012

Dân trí… không từ trên trời rơi xuống!

Đoàn Khắc Xuyên
Phạm Hồng Sơn – Nền tảng nào cho đoàn kết?
Hạ Đình Nguyên – Suy nghĩ về đổi mới Đảng
Tiêu Dao Bảo Cự – Tôi chẳng cần bất cứ một sự lãnh đạo nào
***
ĐV: Ba Sương, những ngày trong sóng dữ (1) & (2) PGS. TS. Vũ Trọng Khải Có hay không có tội danh “lập quỹ trái phép” trong vụ án Nông trường Sông Hậu? nguyencuvinh VUI QUÁ CƠ: HÔM NAY QUÁ NHIỀU BÁO VIẾT VỀ TIÊN LÃNG

***
Đoàn Khắc Xuyên -Dân trí… không từ trên trời rơi xuống!

Theo SaiGon Times
Dân trí không từ trên trời rơi xuống. Dân trí một nước là kết quả của một quá trình hun đúc, bồi đắp lâu dài thông qua ít nhất ba con đường: giáo dục; sự thi hành luật pháp nghiêm minh, nhất quán; và sự tự kiểm soát, tự điều chỉnh của xã hội dân sự. Ở ta, cả ba con đường này đều có vấn đề, đều khiếm khuyết không nhiều thì ít.

Ngã tư, đèn đỏ, giờ tan tầm, xe kẹt cứng. Mấy thanh niên đi xe gắn máy cùng chiều với bạn, chạy sau, thay vì dừng lại ở ngã tư cho xe từ đường giao cắt quẹo qua, đợi đèn xanh rồi đi tiếp thì lại lấn trái đường lên cho sát ngã tư làm xe bên kia không quẹo qua được. Thế là kẹt lại thêm kẹt.
Hẳn không ít lần bạn đã gặp tình cảnh đó và buột miệng: Dân trí gì mà thấp kém! Đi trên đường, không ít lần bạn chứng kiến người ta vứt xác chuột chết ra đường hoặc quét tấp rác, đổ đồ ăn dư thừa xuống miệng hố ga, làm cống có thể bị nghẹt. Bạn lầm bầm: Dân trí ở đâu nhỉ? Đi mua vé tàu xe, bạn đang xếp hàng chờ tới lượt mình, bỗng mấy cô ả từ đâu sấn tới, chen lên đầu, giành quyền mua vé của mấy người sắp đến lượt ở hàng đầu. Có người phản đối; có người, nhìn vẻ bặm trợn của mấy cô ả, không dám hé môi. Bạn lại lầm bầm, bực tức: Đúng là dân trí thấp kém!
(Mời xem video này: http://ma-tvideo.france2.fr/video/iLyROoaft6es.html để hiểu người nước ngoài nhìn trật tự giao thông nước ta ra sao)
Có thể kể ra vô số trường hợp như vậy. Và bạn nghĩ không sai: Dân trí của không ít người Việt mình kém thật. Người Việt mình bây giờ đi ra nước ngoài du lịch hay làm ăn cũng nhiều hẳn đều có thể thấy ở nhiều chỗ người ta tự động xếp hàng, không ai đến sau mà tự tiện chen lên trước nếu không muốn bị nhìn như con quái vật; đến ngã tư đường gặp đèn đỏ, dù đường giao cắt chẳng có chiếc xe nào chạy và tuyệt nhiên chẳng thấy bóng dáng một anh cảnh sát, người lái xe cũng tự động dừng xe chờ đèn xanh; thậm chí vào nhà hàng ngườu ta cũng phải chờ người phục vụ chỉ định bàn tùy theo số người đi với bạn nhiều hay ít chứ không phải thích sà vào bàn nào là sà vào, một mình chiếm cả một cái bàn dành cho 5-6 người. Và trong môi trường đó dường như đa số người Việt mình đi nước ngoài cũng tỏ ra lịch sự hơn, biết tuân thủ các quy ước xã hội hơn.
Thế nhưng ở trong nước lại khác. Sống trong một môi trường mà chẳng ai thèm đếm xỉa gì đến cái chung, chẳng ai thèm nhường nhịn ai, chẳng ai buồn tuân thủ các quy ước xã hội, người ta như bị cuốn phăng đi. Và giả như bạn muốn sống đúng theo điều bạn nghĩ, muốn tuân thủ pháp luật và những quy ước xã hội tốt đẹp, hãy chuẩn bị tinh thần để đón nhận cái nhìn của đa số còn lại coi bạn như một kẻ dở hơi. Đó là một thực tế chúng ta đụng chạm hàng ngày khi đi ra đường, khi vào tiệm ăn, khi xếp hàng mua vé hoặc làm giấy tờ…
Dựa trên thực tế đó, trong không ít phát biểu của các quan chức, trong rất nhiều bài báo, sau khi đế cập đến những hiện tượng kém văn minh của người dân mình như hiện tượng chen lấn gây kẹt xe, thường kết luận về nguyên nhân của hiện tượng gỏn lọn bằng một cụm từ: kém dân trí. Ít ai chịu khó đặt tiếp vấn đề: Dân trí kém do đâu? Dân trí từ đâu ra? Dân trí không từ trên trời rơi xuống. Dân trí một nước là kết quả của một quá trình hun đúc, bồi đắp lâu dài thông qua ít nhất ba con đường: giáo dục; sự thi hành luật pháp nghiêm minh, nhất quán; và sự tự kiểm soát, tự điều chỉnh của xã hội dân sự. Ở ta, cả ba con đường này đều có vấn đề, đều khiếm khuyết không nhiều thì ít.


Nền giáo dục ở ta từ mấy chục năm qua, ngoài việc cung cấp kiến thức chuyên môn cho học sinh, chỉ tập trung giáo dục lý tưởng chính trị và đạo đức cách mạng vốn cần thiết trong giai đoạn đấu tranh giành độc lập, mà ít chú ý giáo dục đạo làm người và tinh thần công dân cần thiết cho việc xây dựng xã hội trong thời bình, nhất là một xã hội đang muốn vươn đến chỗ là một xã hội văn minh, hiện đại.

Nền giáo dục ở ta từ mấy chục năm qua, ngoài việc cung cấp kiến thức chuyên môn cho học sinh, chỉ tập trung giáo dục lý tưởng chính trị và đạo đức cách mạng vốn cần thiết trong giai đoạn đấu tranh giành độc lập, mà ít chú ý giáo dục đạo làm người và tinh thần công dân cần thiết cho việc xây dựng xã hội trong thời bình, nhất là một xã hội đang muốn vươn đến chỗ là một xã hội văn minh, hiện đại. Những đức tính như lòng trung thực, lương tâm chức nghiệp, ý thức tôn trọng của công, tôn trọng những quy ước của một xã hội văn minh không được coi trọng. Từ một xã hội bao cấp thiếu thốn đủ bề chuyển qua nền kinh tế thị trường còn đậm nét sơ khai, nhiều chuẩn mực và giá trị cũ đổ vỡ trong khi những chuẩn mực và giá trị mới phù hợp với giai đoạn mới, yêu cầu mới lại không được kịp thời xây dựng, con người như sống trong thời hoang sơ, chỉ biết làm sao thỏa mãn nhu cầu của riêng mình, bất chấp nó có ảnh hưởng gì đến xã hội, đến cái chung hay không. Việc giành đường, cướp đường nói lên rất rõ điều này, trong khi việc thi công cầu đường kém chất lượng do rút ruột công trình, làm dối, làm ẩu nói lên rất rõ sự thiếu vắng lương tâm chức nghiệp và tính trung thực của công dân trong một xã hội văn minh.
Trong khi đó, việc thi hành nghiêm minh luật pháp, một yếu tố mang tính cưỡng chế (đối với thiểu số công dân kém ý thức) nhưng có tác dụng góp phần hình thành dân trí, lại cũng có vấn đề. Luật pháp ở ta chưa đảm bảo cho người chấp hành luật nghiêm túc được bảo vệ, được an toàn, nói chi đến được tưởng thưởng; trong khi đó những người vi phạm luật, lách luật nhiều khi chẳng những không bị trừng phạt mà còn thu được lợi ích từ việc vi phạm hoặc lách luật đó. Tình trạng ấy, cộng với tình trạng ăn hối lộ để cho một số người qua mặt luật pháp đã vô hiệu hóa mọi ý đồ hoặc nỗ lực sử dụng luật pháp như một công cụ nâng cao dân trí. Từ đó dẫn đến tình trạng xem thường pháp luật tràn lan, rõ nhất là trong lĩnh vực giao thông.


Đứng trước những thách thức mới hay những nhu cầu mới đặt ra cho xã hội, thường bao giờ từ trong cộng đồng cũng xuất hiện những tập hợp tự nguyện của những công dân vì lợi ích chung của cộng đồng mà đứng ra phản ứng trước những thách thức đó hoặc đáp ứng những nhu cầu chung đó rồi bằng chính hoạt động của họ, thuyết phục, vận động mọi công dân khác cùng làm theo. Nhà nước dù mạnh đến đâu, luật pháp dù hoàn thiện đến đâu cũng không thể giải quyết được mọi vấn đề đặt ra cho xã hội.

Cuối cùng, bổ sung cho hai con đường nâng cao dân trí kể trên, nhưng không kém phần quan trọng, là hoạt động của xã hội dân sự. Đứng trước những thách thức mới hay những nhu cầu mới đặt ra cho xã hội, thường bao giờ từ trong cộng đồng cũng xuất hiện những tập hợp tự nguyện của những công dân vì lợi ích chung của cộng đồng mà đứng ra phản ứng trước những thách thức đó hoặc đáp ứng những nhu cầu chung đó rồi bằng chính hoạt động của họ, thuyết phục, vận động mọi công dân khác cùng làm theo. Nhà nước dù mạnh đến đâu, luật pháp dù hoàn thiện đến đâu cũng không thể giải quyết được mọi vấn đề đặt ra cho xã hội. Xã hội dân sự, với các tổ chức, hội đoàn đủ loại, hoạt động độc lập với nhà nước nhưng lại đóng vai trò bổ trợ cực kỳ hữu ích cho sự khiếm khuyết của nhà nước và luật pháp trong việc đảm bảo sự vận hành tốt đẹp của xã hội. Tuy nhiên, ở Việt Nam, với chế độ bao cấp (trong đó nhà nước được xem và được trông đợi là người cung cấp tất cả) kéo dài và với sự nghi kỵ chưa phải đã hết đối với tất cả những gì không được “đóng dấu” nhà nước, xã hội dân sự đã bị teo tóp đi, sáng kiến công dân không còn chỗ đứng.
Trong bối cảnh như vậy, trước những vấn nạn như vấn nạn trật tự giao thông, khi nhà nước tỏ ra bất lực, còn các hội đoàn chính thống thì thụ động vì bị hành chính hóa, giáo dục thì không thực sự sản sinh ra được những công dân trưởng thành, có đầy đủ ý thức công dân… xã hội dân sự cũng chẳng đóng góp được gì trong việc “nâng cao dân trí” vì từ lâu đã bị nghi kỵ, không được khuyến khích. Lấy vụ việc xảy ra gần đây là vụ em Nguyễn Thị Bình bị vợ chồng chủ một quán phở ở phường Nhân Chính, quận Thanh Xuân, Hà Nội hành hạ như một nô lệ trong suốt 13 năm làm thí dụ, ta thấy cả luật pháp, cả hệ thống chính trị từ tổ chức Đảng, Đoàn Thanh niên, Hội Phụ nữ, Đội Thiếu niên Tiền phong đến công an phường, cảnh sát khu vực, tổ dân phố… đều đã chẳng làm gì để bảo vệ và giải cứu em Bình. Họ còn không biết có vụ việc như vậy thì em và những người như em còn biết kêu vào đâu, trông đợi vào đâu. Em Bình đã được giải cứu chỉ nhờ vào lòng trắc ẩn và can đảm của một người phụ nữ đã 70 tuổi. Nếu xã hội dân sự phát triển, nếu có nhiều những con người tốt bụng như bà Hà Thị Bình trong những tập hợp công dân tự nguyện vì xã hội thì không ít trường hợp tương tự trường hợp em Bình có thể được ngăn chặn từ sớm. Nhiều quy ước, tập quán xã hội tốt cũng có thể nhờ những tập hợp tự nguyện đó mà hình thành.
Do vậy, muốn dân trí được nâng cao, ngoài vai trò của giáo dục có khả năng đáp ứng nhu cầu mới của xã hội, ngoài sự nghiêm minh và không thiên vị của pháp luật, phải có chỗ cho sáng kiến công dân, có chỗ cho trí tuệ và năng lực của dân được tự do hoạt động. Mỗi khi than phiền về dân trí, xin hãy chịu khó suy nghĩ thêm một chút.

http://anonymouse.org/cgi-bin/anon-www.cgi/http://danluan.org/node/2645

Phạm Hồng Sơn – Nền tảng nào cho đoàn kết?

Phạm Hồng Sơn
Theo blog pro&contra
Đoàn kết luôn là một khát khao hệ trọng của mọi lực lượng, thế lực muốn có sức mạnh tối đa, bất kể ác hay thiện, thần thánh hay ma quỉ. Nhưng có thể thấy có bao nhiêu con người, đoàn thể khác nhau, có bao nhiêu lực lượng, sức mạnh khác nhau thì cũng có thể có bấy nhiêu loại đoàn kết với những nền tảng, mục đích khác nhau. Với đoàn kết, cả một dân tộc có thể thoắt biến thành một khối thành đồng trước sự tấn công, uy hiếp của ngoại bang. Nhưng cũng nhân danh đoàn kết, người ta có thể khiến cả một dân tộc anh hùng phải im lặng, cúi đầu trong kiếp đọa đầy, nô lệ. Bằng đoàn kết, người ta có thể thu hút, qui tụ được những tài năng, khả năng khác hẳn nhau thành những sức mạnh vô song cho tiến bộ. Nhưng cũng bằng đoàn kết, người ta có thể gạt bỏ, thủ tiêu mọi ý kiến khác biệt thậm chí cả sinh mạng của những người, những cộng đồng có tiềm năng sáng tạo xuất chúng nhất.
Vậy có một nền tảng nào khiến cho mọi người có thể đoàn kết, chia sẻ, gắn bó với nhau ở mọi lúc, mọi nơi? Có giá trị nào làm nền tảng khiến cho sự đoàn kết không thể trở thành cưỡng bức, đồng lõa hay làm bình phong cho những lầm lạc, tội ác? Có nền tảng đoàn kết nào có thể tập hợp được sức mạnh, tiềm năng của tất cả mọi người nhưng không đe dọa tới sự khác biệt, tính riêng tư, khả năng độc lập của mỗi cá nhân? Có giá trị nào có thể giúp con người có thể đoàn kết nhưng không biến họ thành con tin của đoàn kết?
Lòng yêu nước ư? Cũng có thể, nhưng lòng yêu nước không chỉ hạn hẹp bởi biên giới quốc gia mà cái ác cũng có thể vận dụng được lòng yêu nước. Sự căm thù độc tài, cường quyền ư? Cũng có thể, nhưng một sự đoàn kết chỉ để lật đổ cường quyền, độc tài cũng có thể được dùng để dựng lên một cường quyền, độc tài khác. Hay sự căm ghét bất công? Cũng có thể, nhưng lòng căm ghét bất công vẫn có thể lẫn với những nhỏ nhen, tỵ hiềm.
Có lẽ không thể có nền tảng nào tốt hơn, vững chắc hơn, an toàn hơn và phổ quát hơn cho đoàn kết của con người bằng chính phẩm giá con người – đã được cụ thể hóa bằng nhân quyền – các quyền con người. Và có lẽ nhân quyền không chỉ nên là nền tảng cơ bản nhất, bao quát nhất cho mọi đoàn kết của con người mà còn là mục đích tối hậu của loài người, trừ phi con người không còn muốn là con người nữa.
Có thể nhiều người trong chúng ta đã không thể lầm lẫn bề ngoài hấp dẫn, lương thiện của những chủ nghĩa, những lãnh tụ với bản chất phi nhân của chúng nếu chúng ta trước đó đã biết, đã thấu hiểu rằng phẩm giá con người không thể tách rời những nhân quyền cơ bản – những tự do tối thiểu của con người về tư tưởng, về quyền được nói lên, được chia sẻ những gì mình nghĩ, về quyền được tự làm báo, tự xuất bản, v.v.
Có lẽ nhiều người, nhiều dân tộc chắc đã không thể bị đoàn kết, bị trói buộc với những thần tượng, những tổ chức thiếu nhân tính nếu người dân trước đó đã biết, đã hiểu được giá trị phổ quát của nhân quyền – những quyền mà tạo hóa đã ban cho mọi con người, những quyền không thể bị tước đoạt.
Nền tảng nhân quyền có lẽ cũng không chỉ giúp dỡ đi những chia cách địa lý, nguồn gốc, giai cấp, định kiến hay hận thù mà còn tạo thành những cảnh báo, những giới hạn an toàn cho những đoàn kết cục bộ, địa phương, tư lợi hay những đoàn kết tình thế của con người.
Kinh nghiệm của loài người đến nay cũng cho thấy lấy nhân quyền làm nền tảng cơ bản còn có thể đưa được sự đoàn kết của con người từ những vùng đất hạn hẹp của thân hữu, gia tộc, đảng phái, dân tộc tiến được gần hơn sự bao la của miền đất đại đồng mà không cần phải biết tới những “chuyên chính” hay “quá độ”.
Hiểu nhân quyền như giá trị nền tảng của đoàn kết cũng có thể giúp con người thoát khỏi những băn khoăn, lo lắng, hoảng sợ về mất đoàn kết khi phải đối mặt với chỉ trích, phản đối. Bởi tôn trọng nhân quyền đích thực và đầy đủ luôn đồng nghĩa với niềm tự hào rằng con người là loài vật duy nhất có khả năng phản biện và tự hoàn thiện qua phản biện.
Tuy nhiên, những suy tư, tranh luận về đoàn kết hay nền tảng đoàn kết vẫn có thể không dứt chừng nào con người còn lý tính. Nhưng đoàn kết sẽ là gì, sẽ đưa con người đi về đâu nếu nền tảng cơ bản nhất, bao quát nhất, sâu sắc nhất của đoàn kết giữa những con người với nhau không phải là nhân quyền?
© 2012 pro&contra
http://anonymouse.org/cgi-bin/anon-www.cgi/http://danluan.org/node/11463

Hạ Đình Nguyên – Suy nghĩ về đổi mới Đảng

Viết từ TP Sài Gòn

Tôi viết những lời này cho một người bạn, nhưng cũng là cho những người, và nhiều người có suy nghĩ giống bạn của tôi.
Quan hệ trong cuộc đời mênh mông mà chằng chịt, giữa lý và tình, lớn và nhỏ, chung và riêng, sau và trước. Lại có đủ ngũ vị, như một đĩa sà lách trộn trong các quán ăn…
Tôi tin là anh ăn được các món trộn, nhưng anh không hiểu rõ và không trực tiếp trộn được. Lại nữa, anh không biết người ta trộn cách nào.
Đặc biệt là những món hơi trừu tượng, trong tình trạng hỗn mang khó kiểm soát của nhiều thực phẩm ô nhiểm.
Anh nói rằng nhân quyền và ổn định chính trị có mối quan hệ hữu cơ. Đúng y là trong sách có nói vậy, nhưng dừng lại đây là không được.
Cái nào là chính, cái nào là phương tiện? Cái nào phải theo cái nào?
Anh lại cho rằng, nhân quyền hiện nay đang là một loại vũ khí đấu tranh của kẻ xấu nhằm lật đổ hay gây bất ổn cho nền cai trị.
Điều ấy là rất có thể.
Nhưng anh lại đem đổ ụp đĩa rau muống xào tỏi vào đĩa sà lách trộn mất rồi, làm sao ăn đây?
Kẻ xấu đã nhân danh nhân quyền, thế kẻ tốt nhân danh cái gì? Tránh nói nhân quyền, quay ra ủng hộ cái ổn định chính trị? Nai xào lăn, hay heo giả cầy, chẳng còn phân biệt được nữa!
Anh giao ngọn cờ chính nghĩa cho kẻ xấu nắm và anh nã pháo vào đó? Cái ổn định thật là bất ổn định!
Sự bộc phát thụ động nhưng không bất ngờ ở Tiên Lãng với ông Vươn – Hải Phòng có tính tiêu biểu về nền tảng, không bao lâu sau lời phát biểu tự kiểm điểm khá hoành tráng trong toàn Đảng của TBT Nguyễn Phú Trọng.
Tâm lý trùm chăn
Khởi đi từ chính nghĩa giành lại Nhân quyền, nay bỗng dưng vô tình quay lại khủng bố “nhân quyền” , thay vì cố công xây dựng, vun bón cho nó phát triển. Có sợi tóc nào vướng ở đây trong cái gọi là biện chứng?
Anh luyến lưu con suối có tiếng róc rách dưới ánh trăng mà dùng dằng chẳng chịu chảy ra sông, mà đại dương thì cũng rất gần. Không ra cũng được, thì cứ ở lại trong ao hồ. Nhưng không ai có thể ngăn được dòng chảy của con sông!

“Giới trẻ bây giờ thì co giò chạy táo tác khắp năm châu bốn biển để tìm dưỡng khí, để tị nạn các kiểu, chạy để kiếm ăn, để tìm đất thở, để tìm tri thức mới. Chạy như tránh bão, chạy với thân phận bần cùng, chạy như bị bọn sai nha cầm dao và mã tấu đuổi sau lưng.”
Ông Hạ Đình Nguyên

Anh không đọc, không nghe, không thấy mà chỉ “vững vàng về chính trị, tư tưởng…” theo như cách TBT Trọng nói, thì không khác như người đã trải chiếu, trùm chăn mà ngủ, gọi đó là kiên định, vững vàng, giữ chắc mí chiếu, mí mùng. Nếu có tiếng động nào làm trở giấc, thì anh hãy “hé” chăn mà nhìn, xin đừng lên tiếng. Bởi lên tiếng thì không thể trùm chăn, anh ạ, vì trong chăn, chỉ có bản năng thôi, chứ không có chân lý.
Vì lẽ, cơn gió của thời “nguyên phong” nay chẳng để lại gì, có gì chăng thì cũng vừa đủ cho anh nhâm nhi với rượu Bầu Đá là cùng, còn dư đến ai! Quá lắm, thêm nữa, là vài chiếc ghế vội vàng cho con cái, có vậy thôi.
Cho nên giới trẻ đã quay lưng. Cũng phải lắm, có còn lại gì cho nó đâu?
Vả chăng, cái khẩu vị cũng đã khác lắm rồi. Cái món nhắm nầy đã cũ, đã quá nặng mùi. Buổi tiệc đã tàn, chỉ còn lại ngổn ngang chén bát sứt mẻ, một thứ gia tài nát bét, te tua và nợ nần chồng chất, bụi bùn “lạc hậu” phủ đầy từ chân tới đầu, cả tai, cả mắt.
Kẻ no say hả hê cười với nước da láng màu hãnh tiến. Giới trẻ bây giờ thì co giò chạy táo tác khắp năm châu bốn biển để tìm dưỡng khí, để tị nạn các kiểu, chạy để kiếm ăn, để tìm đất thở, để tìm tri thức mới. Chạy như tránh bão, chạy với thân phận bần cùng, chạy như bị bọn sai nha cầm dao và mã tấu đuổi sau lưng.
Thời “nguyên phong” quả là một bản “anh hùng ca” của lịch sử dân tộc, nhưng càng ca, càng thấy xé lòng.
Anh thật sự không thấy như vậy sao? Thật đi!
Lỡ mai kia có chuyện can qua, vì phải bảo vệ Tổ quốc, các lão ông hẳn không còn đủ sức để nâng nổi cây AK47. Ngồi đấy, nhưng vẫn còn mắt nhìn, lỡ mà không nhìn được như cụ Đồ Chiểu, thì trí vẫn phải sáng, vẫn phải có một tâm thế vững vàng, không chọn hướng sai mà vùi thây con cháu một cách oan uổng, dìm dân tộc trở lại một nghìn năm bóng tối…
Chuyện gần chuyện xa
Nhìn gần thì nhột, vờ vờ cho qua, nhìn xa xa dễ nói.
Chỉ còn hai nơi: Bắc Triều Tiên thì nói gì nữa, ai ai cũng hiểu, gắng gượng lòng bảo lòng, rằng mình không như thế.
Liếc sang Trung Quốc, tiếng kêu la, nhầy nhụa máu me ở Thiên An Môn còn rành rành, tiếng thét đau đớn từ sự tra tấn của một số ( không ai có thể biết đích xác) trong một trăm triệu người của môn dưỡng sinh Pháp Luân Công, từ 2009 đến nay chưa chấm dứt, nội tạng tươi roi rói có thể cung cấp khắp thế giới cho ai cần…
Những vụ cướp đất, những vùng nô lệ kín, những trại giam bí mật, trấn áp và tham nhũng, vơ vét… Một hệ thống kèm kẹp với nhiều loại hình, đầy đủ các sắc màu.
Ta có cái nhìn với độ lệch từ tâm điểm, nên mặt trăng hóa thành mặt trời. Ta có điều gì na ná cùng một công thức. Công thức ấy đẫm máu, nhân loại đang nhìn vào, đang nguyền rủa và ghê tởm.

Lại có người sẽ nói, ta không giống như Trung Quốc.
Đúng thế, bọn cầm quyền Bắc Kinh đang kích động dân tộc họ theo chủ nghĩa Đại Hán, để an dân, để che cái ác của chúng. Ta có khác, chỉ vì ta không dám!
Nói “Dân chủ” thì sợ “Nhân quyền”, nói “Độc lập” thì ngại “Bành Trướng”, nói lý tưởng Chủ nghĩa thì nghẹn ngào không đủ lý, nên ta loanh quanh mấy chữ vô nghĩa “định hướng”, “diễn biến hòa bình”, “tư bản giẫy chết”, “kẻ xấu” không gọi được rõ tên…,
Ta lấy cái mơ hồ làm luận thuyết để nói năng, lấy bọn giang hồ làm điểm tựa.
Thân phận ta, vốn anh hùng, nay như con cá trong hồ xi măng, tạm đủ no và đủ ấm, vì có thằng bé rải cám cho, ta cứ đùa chơi với rong rêu tôm tép.
Hãy hài lòng đi, với những ngày quá khứ vất vả rủi may, đừng nghĩ gì thêm về con cháu, tạm dối gian một chút để yên lòng, bỏ qua cái nhân văn mà ta lỡ biết, dứt khoát quên đi những lời mà ta hưng phấn nói năng cạn cợt một thời, dù rằng ta đã hết lòng vì tin đó sẽ là sự thật.
Quá khứ không gì ân hận, nhưng hiện tại và tương lai, cái gì đang đáng để đón chờ ? Không vì một mảy may kích động của ai, không vì một kiếm chác mẩu bánh nào, cũng không đi tìm một tiếng vỗ tay đông hơn. Nhưng khó mà ỡm ờ cho mình là kẻ vô can.
Nhớ trong sách cũ, nhắc chuyện Khang Hy tự răn mình bằng câu khắc trong bồn tắm :
“Nhựt tân, nhựt tân, hựu nhựt tân”.
“Ngày mới, ngày mới, lại ngày mới” – đâu phải chỉ có ngày qua, đâu chỉ làm mới (sạch) thân xác bằng cách tắm mỗi ngày, mà không làm mới tinh thần, trí tuệ?
Bản lĩnh đổi mới
Quá khứ là vẻ vang, ta không hề phải sợ hãi, nhưng hiện tại phải xoay chiều ống ngắm, để biết rõ cái xấu và cái tốt, cái lạc hậu phải từ bỏ, cái cấp thiết mà toàn dân phải vươn mình tới…
Chữ Thời là một phạm trù phức tạp. Kẻ ti tiện thì bằng cách ti tiện mà nhặt nhạnh, gom góp lợi ích cho mình, hùa gió mà bẻ măng, càng nhiều càng tốt. Chữ Thời của kẻ Sĩ, của người lo cho dân cho nước thì phải khác.
Cũng chữ Thời mà Minh Trị Thiên Hoàng đưa nước Nhật tiến lên văn minh phát triển, trong khi Nhà Nguyễn, vì hướng tầm nhìn về “Bắc Quốc” mà phải ngậm ngùi ký Hiệp Ước đầu hàng Patenôtre, khởi đầu cho cuộc lệ thuộc, để sau đó Dân tộc phải đánh đổi một trăm năm xương máu.
Cũng chữ Thời mà Hồ Chí Minh và Dân tộc có mùa thu 1945, có Tuyên Ngôn Độc Lập ,và Nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, mang tầm nhìn sống động của Thời đại.
Nhắc lại một câu nói của Hegel, cái gì hợp lý thì tồn tại, cái không hợp lý thì không tồn tại.
Đúng như vậy, tự “nó” đã chứng minh, “nó” đang trên đà không còn hợp lý nữa. “Nó” đã hoàn thành một giai đoạn lich sử. Kéo lê thêm nữa chỉ là thêm những tháng ngày thoái hóa và đến điểm di căn.

“Việc kêu gào chỉnh đốn Đảng đã từng diễn ra mấy mươi năm, kết quả vẫn thế nếu không muốn nói tệ hơn.”
Ông Hạ Đình Nguyên

Điều tích cực nổi bật của ngài TBT Nguyễn Phú Trọng là nói về tiêu cực của Đảng CSVN. Ngài đã dũng cảm, vì giữa những người không dũng cảm, đã nói lên sự thật hiển nhiên, bình thường trong bối cảnh không bình thường mà ở đó có người không biết, không dám, không muốn, hoặc thậm chí muốn che dấu sự thật.
Nhưng ngài TBT đã sai lầm một điều căn bản.
Ngài đã nói lên sự thoái hóa về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, ý chí, trách nhiệm, tri thức…trong cán bộ và trong Đảng, rải đều các cấp. Ngài đã kêu gọi họ phê bình, tự phê bình, tự giác ngộ để sửa đổi.
Ngài quy lỗi cho cá nhân là một tư duy không khoa học. Có cán bộ nào mà không do Đảng bố trí cất nhắc? Có Đảng viên nào mà không do Đảng rèn luyện, từ khi họ là quần chúng tích cực, yêu nước, được đưa vào Đoàn TNCS, đưa vào Đối tượng Đảng, rồi trở thành Đảng viên, trở thành cấp ủy ở các cấp, có tổ Đảng, có Chi bộ theo sát kèm cặp và đào tạo? Tổ chức Đảng thì có đủ ban bệ : Tổ chức, Thanh tra, Kiểm tra, Văn hóa, Tư tưởng, có cả Trường lý luận chính trị, từ địa phương đến trung ương, rõ ràng không thiếu.
Không một kẻ ở phương xa nào có thể bố trí họ vào đây, hay họ đã tự thay máu cho mình lúc nào mà Đảng không biết?
Việc kêu gào chỉnh đốn Đảng đã từng diễn ra mấy mươi năm, kết quả vẫn thế nếu không muốn nói tệ hơn. Câu trả lời nằm ngay ở huyệt đạo, bằng từ ngữ rất bóng bẩy : “Lỗi hệ thống”.
Người Cộng sản Việt Nam đã đứng lên từ vũng máu, vì khát vọng Độc lập Tự do của Dân tộc. Hồ Chí Minh đã từng nói: “Độc lập mà Dân không hưởng được Dân Chủ, Tự Do… thì Độc lập chẳng có nghĩa gì”.
Lấy hạnh phúc của nhân dân làm cứu cánh, lấy dân chủ, nhân quyền làm mục tiêu, lập tức Đảng sẽ được thay máu.
Phải là một Đảng với cương lĩnh mới, hợp lý cùng thời đại, với sự cộng hưởng của toàn dân, mới là nền tảng vững chắc đưa đất nước đi lên, nhưng không phải “đi lên” theo hướng nào khác, mà về hướng Độc Lập, Dân Chủ, để biến ước mơ của Hiến Pháp 1946 trở thành hiện thực.
Sau 36 năm thực hiện một mô hình, Đảng có ở khắp nơi, nhân dân đều nhìn thấy, nhưng không có trong lòng họ.
Bài viết phản ánh quan điểm và văn phong của tác giả, nguyên chủ tịch Ủy ban tranh đấu Tổng hội Sinh viên Sài Gòn.
http://anonymouse.org/cgi-bin/anon-www.cgi/http://www.bbc.co.uk/vietnamese/forum/2012/01/120126_party_renovation.shtml

Tiêu Dao Bảo Cự – Tôi chẳng cần bất cứ một sự lãnh đạo nào

Phạm Thị Hoài thực hiện
Phạm Thị Hoài: Thưa ông Tiêu Dao Bảo Cự, khi còn là đảng viên, ông trải nghiệm sự lãnh đạo của Đảng như thế nào?
Tiêu Dao Bảo Cự: Tôi vào Đảng ở Miền Nam trước năm 1975 (lúc đó có tên là Đảng Nhân dân Cách mạng Việt Nam tức Đảng Cộng sản ở Miền Nam) trong một tình thế hoàn toàn khác với Miền Bắc hoặc cả nước sau 1975. Lúc đó chúng tôi không quan tâm và nói gì đến việc xây dựng chủ nghĩa xã hội, chỉ có đọc qua đôi chút lý thuyết về chủ nghĩa cộng sản, quan trọng là nghiên cứu 5 bước công tác vận động quần chúng và tập trung cho mục tiêu chống sự can thiệp của Mỹ, chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình.
Trước 75, trong một chi bộ bí mật, chúng tôi chỉ được quán triệt các nhiệm vụ chiến lược và cùng nhau trao đổi, bàn bạc những việc cần làm một cách cụ thể, sáng tạo giữa những người đồng chí hướng, cùng lý tưởng. Ngay sau 1975, những cuộc họp của Đảng đã được mở rộng, công khai, nghe quán triệt các nghị quyết của trung ương và trao đổi một cách tương đối dân chủ, cởi mở những việc cần làm. Giữa các đảng viên, phần lớn từ trong rừng ra và đảng viên tại chỗ, ngoài tình đồng chí còn coi nhau như trong một gia đình lớn, thường gọi nhau là anh – em, chú – cháu tùy theo tuổi tác, một cách thân ái và chân tình. Về sau nữa, các nghị quyết của trung ương có tính cách bài bản và chi tiết hơn, các địa phương chỉ rập khuôn, ít sáng tạo.
Dần dần, nghị quyết của Đảng và thực tế cuộc sống ngày càng xa cách. Tôi là một trong số rất ít đảng viên nêu thắc mắc trong khi những người khác chỉ biết “quán triệt”. Cho tới một lúc tôi thấy sự lãnh đạo của Đảng đã khác biệt quá xa với lý tưởng và hoài vọng của mình, tôi bắt đầu phản bác, chống đối nên cuối cùng bị khai trừ. Đảng và tôi đã không còn đi chung đường.
Phạm Thị Hoài: Từ khi bị khai trừ khỏi Đảng, ông có thấy mình trở thành một con người khác không?
Tiêu Dao Bảo Cự: Cuối năm 1988, Bùi Minh Quốc và tôi ở Hội Văn nghệ Lâm Đồng tổ chức chuyến đi xuyên Việt đòi tự do sáng tác, báo chí, xuất bản và đổi mới thực sự, có nhà thơ Hữu Loan cùng đi. Trên đường từ Hà Nội về Đà Lạt, tôi đã viết bản dự thảo tuyên bố ra khỏi Đảng, chung cho Bùi Minh Quốc và tôi. Anh Quốc không đồng ý, anh nói nếu cần cứ để bị khai trừ và tiếp tục khiếu nại như một cuộc đấu tranh trong nội bộ Đảng, làm rõ đúng sai, tranh thủ những người tốt trong Đảng. Trong hoàn cảnh đó, tôi không thể tách ra khỏi anh Quốc để làm một mình vì chúng tôi cùng một cảnh ngộ, cùng một cuộc chiến đấu và đang rất đơn độc. Cuối cùng, sang năm 1989, cả hai đều bị khai trừ sau một cuộc đấu tranh gay gắt trong Hội Văn nghệ Lâm Đồng và nội bộ Đảng, không chỉ ở đảng bộ địa phương mà liên quan đến tận trung ương.
Sau khi bị khai trừ Đảng, họa sĩ Lưu Công Nhân lúc đó thỉnh thoảng qua lại Hội Văn nghệ, đến thăm tôi và chúc mừng tôi đã được “giải phóng”. Ông còn nói thêm, các anh ở trong này chưa hiểu biết về cộng sản, nếu các anh ở ngoài Bắc trước đây mà làm như vậy thì đã tù mọt gông hay “giữa đường mất tích” rồi.
Dù ở trong hay ngoài Đảng, tôi chỉ là tôi, không hề là con người khác. Tôi vào Đảng là tự nguyện, chấp nhận và bị chi phối bởi những nguyên tắc, quy định của Đảng. Khi ra khỏi Đảng, tôi không còn những ràng buộc đó và có nhiều tự do để thể hiện con người đích thực của mình.
Phạm Thị Hoài: Nếu phải giải thích cho một người chưa bao giờ sống dưới sự lãnh đạo của Đảng hiểu được, ông có thể giải thích như thế nào?
Tiêu Dao Bảo Cự: Đảng lãnh đạo chủ yếu thông qua hai phương diện, tư tưởng và tổ chức.
Tư tưởng thể hiện qua cương lĩnh của Đảng, nghị quyết của trung ương và các cấp bộ Đảng mà từng đảng viên phải quán triệt để thực hiện. Tổ chức có quy hoạch đào tạo, dàn xếp, điều chuyển bộ máy lãnh đạo các cấp, các ngành từ trung ương đến địa phương của Đảng, chính quyền, đoàn thể một cách hết sức chặt chẽ. Ngoài ra còn có nguyên tắc cá nhân phục tùng tổ chức, địa phương phục tùng trung ương. Phương pháp đấu tranh phê bình, tự phê bình là một phương pháp rất có hiệu quả để bảo đảm sự thống nhất ý chí, đoàn kết trong Đảng.
Theo cảm nhận riêng của tôi, vài năm sau 1975, ở các đảng bộ tôi sinh hoạt, phương pháp này được thực hiện tương đối tốt vì các đảng viên đấu tranh thẳng thắn, không khoan nhượng những biểu hiện sai trái, lệch lạc, trong tinh thần gọi là “trị bệnh cứu người” giữa những người đồng chí.
Về sau này khi đã nắm vững quyền lực, với tư thế của một đảng cầm quyền độc tôn, lợi xen lẫn vào quyền, đi đôi với quyền, cấu kết quyền và lợi bắt đầu tạo ra sự suy thoái, sa đọa trong Đảng. Người ta không còn dám đấu tranh phê bình, tự phê bình một cách thẳng thắn, trong sáng mà nể nang, dựa dẫm nhau, “lắng nghe hơi thở của lãnh đạo”, kết bè cánh, kèn cựa hại nhau, tranh địa vị quyền lợi. Dù Đảng đã từng cảnh báo “Hãy cảnh giác với quyền lực” nhưng lời kêu gọi này không còn giá trị gì khi một đảng trở thành độc tài toàn trị, quyền lực vô biên đi đôi với lợi lộc tràn trề trong nền kinh tế thị trường hoang dã, kích thích lòng tham vô đáy của con người. Sự lãnh đạo của Đảng lúc này trở thành sự khống chế của một tập đoàn thống trị cấu kết nhau trong quyền và lợi.
Phạm Thị Hoài: Còn với giới trí thức, Đảng lãnh đạo họ thông qua công cụ gì?
Tiêu Dao Bảo Cự: Cũng thông qua tư tưởng, tổ chức. Ngoài cương lĩnh, nghị quyết chung còn có chiến lược phát triển của từng ngành do Đảng vạch ra, được triển khai trong các hội nghị, hội thảo chuyên đề. Trong điều kiện gọi là “Đảng lãnh đạo toàn diện, tuyệt đối và triệt để” và trong bộ máy lãnh đạo của Đảng không có nhiều trí thức, sự lãnh đạo này đôi khi khập khiễng, thiếu tầm, khiên cưỡng, áp đặt. Một số hình ảnh được chiếu trên truyền hình làm cho nhiều người xem cảm thấy nhục nhã khi các nhà trí thức hàng đầu của đất nước phải ngồi lắng nghe huấn thị của một cán bộ lãnh đạo Đảng về các lĩnh vực chuyên môn mà trình độ của người đó không đáng là học trò của họ. Đành rằng không có người lãnh đạo của bất cứ quốc gia nào, dù tài giỏi đến đâu, có thể thông thái về hết mọi lãnh vực, tuy nhiên người lãnh đạo đất nước nhất định phải có trí tuệ cao, tầm nhìn chiến lược, lòng hi sinh phục vụ đất nước, mới có thể nói cho người khác lắng nghe.
Phạm Thị Hoài: Ông có cho rằng giới trí thức cần sự lãnh đạo đó không?
Tiêu Dao Bảo Cự: Đặc điểm của giới trí thức là nặng tư duy, thích phản biện và sáng tạo. Nếu lãnh đạo đã đưa ra định hướng cứng nhắc, ràng buộc trí thức thì không những không giúp ích cho sự phát triển của giới trí thức mà còn làm cho họ trở nên thui chột, xơ cứng, thậm chí hèn nhát, tráo trở, gian dối để được lòng lãnh đạo. Điều này đã làm cho sinh hoạt của giới trí thức trì trệ trong nhiều năm qua, tụt hậu rất xa so với các nước khác, trên mọi lãnh vực nghiên cứu khoa học, giáo dục, văn học nghệ thuật.
Phạm Thị Hoài: Và bản thân ông?
Tiêu Dao Bảo Cự: Hiện nay tôi là một người cầm bút tự do, tôi chẳng cần bất cứ một sự lãnh đạo nào. Tôi nhìn nhận, đánh giá mọi việc theo tư duy, trí tuệ và lương tâm của mình. Tôi viết, dù là chính luận hay sáng tác văn học đều hướng về chân – thiện – mỹ, những giá trị có tính phổ quát toàn nhân loại mà tôi có thể thu nhận qua tri thức đông tây kim cổ. Tôi không cần một lý thuyết hay sự chỉ đường của bất cứ ai.
Phạm Thị Hoài: Sự lãnh đạo của Đảng hiện nay có gắn với những nội dung tích cực hoặc cần thiết trong một lĩnh vực nào của đời sống?
Tiêu Dao Bảo Cự: Trên lý thuyết, sự lãnh đạo của Đảng đề cập những vấn đề thiết yếu của đời sống nhưng vì nó chưa xứng tầm với đất nước và thời đại, cố gò vào những lý thuyết giáo điều và tư tưởng đã lỗi thời, mục đích là giữ vững độc quyền lãnh đạo, nên đã làm trì trệ thay vì phát triển đất nước, phục vụ xã hội. Trong tình hình đó, nhiều kẻ bám vào để mưu lợi hoặc theo đuổi những mục đích cá nhân là điều tất yếu.
Phạm Thị Hoài: Theo ông, không có sự lãnh đạo đó, xã hội có rơi vào hỗn loạn, khủng hoảng không?
Tiêu Dao Bảo Cự: Theo một nghĩa rộng, bất cứ quốc gia nào cũng cần có sự lãnh đạo của những người cầm quyền, thông qua chiến lược phát triển quốc gia, các kế hoạch 5 năm, 10 năm… chứ không thể để xã hội vận hành một cách tự do, không định hướng được. Hiện nay Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng duy nhất cầm quyền, dĩ nhiên Đảng tự cho mình quyền lãnh đạo. Ở đây có hai vấn đề đặt ra:
Một là Đảng có xứng tầm lãnh đạo đất nước không? Không thể chỉ vì “được lịch sử giao phó sứ mệnh” như Đảng vẫn thường tự hào, giao một lần rồi tự cho mình quyền lãnh đạo mãi mãi. Điều này không khác chế độ phong kiến ngày xưa. Ngày trước là “vạn tuế”, bây giờ là “muôn năm”, một khi chiếm được quyền lực, những người cầm quyền đều tự coi đất nước như của riêng dòng họ, đảng mình một cách vĩnh viễn. Mặt khác, không có sự lãnh đạo hay lãnh đạo sai lầm đều đưa xã hội đến chỗ hỗn loạn, khủng hoảng, gây ra nhiều tội ác, thậm chí đưa đất nước vào họa diệt vong như nhiều bằng chứng lịch sử nhân loại đã cho thấy.
Trong “Thư ngỏ gởi những người cộng sản Việt Nam” viết năm 1996 (đã công bố trên một số phương tiện truyền thông lúc đó và một số trang web sau này), gởi ban soạn thảo cương lĩnh Đại hội Đảng lần thứ VIII, trước khi đề nghị từ bỏ chủ nghĩa Mác-Lênin, chống thần thánh hóa lãnh tụ, thực hiện tự do dân chủ và đa nguyên chính trị, thực sự đoàn kết và hòa giải dân tộc, điều đầu tiên tôi đề cập là trưng cầu ý dân về vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Trước đó nữa, khi còn là đảng viên, tôi cũng đã có lần phát biểu điều tương tự trong một hội nghị của Đảng. Những người cầm quyền hiện nay chưa đủ bản lĩnh và thiện ý để làm điều này. Đó cũng là một trong những lý do làm tôi trở thành một trong hai người đầu tiên bị áp dụng nghị định 31/CP về quản chế hành chính trong 2 năm 1997 – 1999 (người kia là Bùi Minh Quốc).
Hai là bộ máy lãnh đạo quá cồng kềnh, tốn kém. Một đất nước còn nghèo đói mà có tới 3 bộ máy Đảng, chính quyền, đoàn thể “ăn” ngân sách nhà nước, chưa kể phải nuôi một lực lượng quân đội và công an hùng hậu, làm sao có đủ tiền của để lo cho nhân dân, phục vụ phúc lợi xã hội. Tinh giản bộ máy là điều đơn giản, quá dễ thực hiện nhưng Đảng vẫn không làm vì không muốn mất quyền và lợi. Ngược lại, nhân dân chẳng ai muốn phải gánh oằn lưng bộ máy cồng kềnh nặng nề này bằng mồ hôi, nước mắt của mình.
Phạm Thị Hoài: Theo ông, đảng viên có quyền và có nên phủ nhận độc quyền lãnh đạo của Đảng không?
Tiêu Dao Bảo Cự: Đảng viên phải tuân thủ điều lệ và những nguyên tắc, quy định của Đảng. Điều này được áp dụng cho bất cứ tổ chức Đảng nào, nếu ai không muốn, đừng gia nhập Đảng. Tuy nhiên chuyện độc quyền lãnh đạo, “tuyệt đối không chia sẻ quyền lãnh đạo cho ai khác” trong khi mình chẳng phải là những người ưu tú nhất, cho thấy một ý thức chiếm hữu hẹp hòi, vì quyền lợi riêng của cá nhân và Đảng chứ không phải vì quyền lợi của nhân dân, đất nước, ngược với mục đích, tôn chỉ của đảng. Do đó tôi nghĩ đảng viên nào thực sự có lý tưởng vì dân vì nước không thể không đặt ra vấn đề này.
Thực tế, đa số đảng viên hiện nay đều gắn bó với Đảng vì quá khứ, lợi quyền nên dù thấy Đảng sai lầm vẫn không công khai phản bác hay có phản bác nhưng vẫn tiếp tục ở trong Đảng, hưởng lợi quyền do Đảng mang lại. Rất ít người từ bỏ Đảng hoặc phê phán Đảng một cách triệt để (nhưng hiện tượng này đang có xu hướng ngày càng tăng). Nếu không có nhiều đảng viên như thế, Đảng sẽ đi vào thoái trào trong giai đoạn gọi là “tham quyền cố vị”, xa lạ với lý tưởng tốt đẹp mà Đảng vẫn tuyên truyền.
Phạm Thị Hoài: Nếu được khôi phục đảng tịch, ông sẽ làm gì?
Tiêu Dao Bảo Cự: “Guồng máy khi vận hành đã đè bẹp mọi lương tri hay lương tri không có chỗ trong guồng máy. Guồng máy đã trở nên vô hồn theo đà quay của nó. Mỗi người chỉ là một bộ phận, một chi tiết, một đinh ốc. Đinh ốc nào rơi ra như tôi sẽ bị nghiền nát. Không có sự phản kháng chống đối trong guồng máy vì như thế sẽ làm nó tê liệt. Chỉ có cách phá vỡ tung và làm lại theo cấu trúc mới. Có phải như vậy không?
Đúng ra tôi không nên vào Đảng. Tôi là một kẻ yêu tự do, muốn tung trời lướt gió, làm sao có thể ở trong một Đảng được. Đảng là một tổ chức, một phương tiện, tập hợp sức mạnh, ý chí và hành động của nhiều người để đạt đến một lý tưởng chung. Nhưng khi lý tưởng chung đã không còn, Đảng sẽ trở thành tù ngục và là nơi thanh toán lẫn nhau. Đảng phải thuần nhất, nếu không Đảng sẽ mất sức mạnh dù đó là sức mạnh mù quáng. Những người lãnh đạo Đảng hiểu rất rõ điều đó.
Đảng cầm quyền lại có thêm yếu tố quyền lực và quyền lợi gắn kết các thành viên. Sau bao nhiêu tổn thất, mất mát trong đấu tranh, khó ai có thể từ chối những yếu tố mới đầy hấp dẫn và lạc thú, có sức lôi cuốn mạnh hơn cả lý tưởng ngày xưa. Điều này giúp tôi hiểu thêm bản chất của con người và tính chất của guồng máy này. Lý tưởng và quá khứ với những tủi nhục và vinh quang đã ràng buộc họ vào một tổ chức, quyền lực và quyền lợi đã cố kết họ trong guồng máy.
Guồng máy này dị ứng với những người và cách phản ứng như tôi.”
Trên đây là một đoạn trích ở chương 3 nói về guồng máy trong cuốn sách Mảnh trời xanh trên thung lũng (NXB Văn Mới, Cali, Hoa Kỳ 2007), viết về suy nghĩ và tâm trạng của tôi sau bị khai trừ Đảng. Trước đây tôi vào Đảng trong một giai đoạn lịch sử đặc biệt để cùng với những người đồng chí hướng chiến đấu có hiệu quả trong một tổ chức. Bây giờ mọi chuyện đã rất khác, quá khác ngày trước, và với tình hình của Đảng như đã phân tích trên, tôi còn vào Đảng hay trở lại Đảng để làm gì?
Phạm Thị Hoài: Ông có tin rằng Đảng Cộng sản Việt Nam sẽ tự chuyển mình thành một đảng dân chủ, từ bỏ chế độ toàn trị và cùng các đảng phái khác chia sẻ trách nhiệm điều hành đất nước?
Tiêu Dao Bảo Cự: Đảng Cộng Sản Việt Nam có khả năng thích nghi rất lớn. Lịch sử Đảng cho thấy Đảng đã nhiều lần đổi tên, thay đổi đường hướng chiến lược để tồn tại và phát triển. Đảng cũng thấy rõ xu hướng hiện nay của toàn nhân loại là xu hướng dân chủ, nhưng Đảng sẽ không tự nguyện chuyển hóa về phía dân chủ vì như thế sẽ mất độc quyền lãnh đạo, có nghĩa là mất nhiều quyền lợi. Tuy nhiên xu thế lịch sử không cho phép họ tiếp tục giữ mãi độc quyền. Xu thế lịch sử ở đây không hiểu chung chung mà là ý thức dân chủ và tinh thần phản kháng của người dân ngày một lên cao, cộng với sức ép của quốc tế trên đường hội nhập. Đảng sẽ phải chuyển hóa nhưng tốc độ chuyển hóa tùy thuộc vào tác động nói trên và với sự tính toán, chuẩn bị chu đáo bằng nhiều thủ thuật, làm thế nào vẫn chiếm thế thượng phong, ít ra là thời gian đầu, trong cuộc chơi dân chủ không thể tránh được. Dù sao đó cũng là kịch bản tương đối ít gây xáo trộn, mất mát. Nếu Đảng vẫn khăng khăng quyết giữ độc tài toàn trị, đến một lúc nào đó, khi người dân không thể chịu đựng nổi, nhất định bạo loạn sẽ nổ ra, Đảng và nhân dân đều chịu tổn thất rất lớn. Trách nhiệm trước lịch sử về thảm kịch đó thuộc về Đảng.
Đối với riêng tôi, điều mong chờ lớn nhất là sự tỉnh thức, can đảm đứng lên làm chủ của người dân, đại bộ phận nhân dân, mà đi đầu là tầng lớp tinh hoa và giới trẻ. Điều này cần có thời gian. Nhưng thời gian kéo dài cũng có nghĩa là chịu đựng và khổ đau kéo dài.
Phạm Thị Hoài: Cảm ơn ông Tiêu Dao Bảo Cự.
______________
Xem thêm Tôi bày tỏ – Nhật ký trong những ngày bị quản chế 1996 –1998 Hành trình cuối đông – Bút ký về chuyến đi xuyên Việt của Tiêu Dao Bảo Cự.
© 2012 pro&contra
http://www.procontra.asia/?p=215

Để lại phản hồi »

Chưa có phản hồi.

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Tạo một website miễn phí hoặc 1 blog với WordPress.com.

%d bloggers like this: