Hoàngquang’s Blog

18/01/2012

Hội nghị San Francisco với vấn đềchủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa

Filed under: HOÀNGSA -TRƯỜNG SA VIỆT NAM,TƯ LIỆU — hoangquang @ 11:25 chiều
Tags:

Tạp chí Xưa và Nay
Số 360, tháng 7 năm 2010
PHẠM NGỌC BẢO LIÊM
Nguyễn Xuân Nghĩa – Việt Báo Ngày 20120115 -Chuyện Gì Đang Xảy Ra Tại Trung Quốc?
cuaran – BĂN KHOĂN!

anhbasam 38 năm trước, Trung Quốc đã cưỡng chiếm trái phép Quần đảo Hoàng Sa như thế nào? (Dân Trí). – Hồi ký xúc động của những người từng ở Hoàng Sa‎ Hoàng Sa – nơi tôi đã sống Kỳ 1 Quãng đời đặc biệt Kỳ 2: Mấy mươi năm nghẹn ngào Kỳ 3: Những ngày tháng không bao giờ quên Kỳ cuối: Tiếng chim cuốc Hoàng Sa (RFA).
Câu chuyện của người lính VNCH trấn giữ Trường Sa đến ngày cuối cùng –

***
PHẠM NGỌC BẢO LIÊM- Hội nghị San Francisco với vấn đề chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa

Về Hội nghị San Francisco (9-1951)
Đầu tháng 9-1951, các nước Đồng Minh trong Thế chiến hai tổ chức Hội nghị ở San Francisco(1) (Hoa Kỳ) để thảo luận vấn đề chấm dứt chiến tranh tại châu Á-Thái Bình Dương và mở ra quan hệ với Nhật Bản thời hậu chiến. Tham gia Hội nghị gồm phái đoàn của 51 nước. Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và Trung Hoa Dân quốc không tham dự Hội nghị do Mỹ và Liên Xô không thống nhất được ai là người đại diện chính thức cho quyền lợi của Trung Hoa.

Trong hội nghị này, vấn đề chính là thảo luận dự thảo Hiệp ước Hòa bình giữa các nước trong phe Đồng Minh với Nhật Bản do Anh-Mỹ đưa ra ngày 12-7-1951 nhằm chính thức kết thúc Thế chiến hai ở châu Á-Thái bình Dương.
Ngày 8-9-1951, 48 quốc gia tham dự hội nghị đã ký một Hiệp ước Hòa bình với Nhật Bản(2). Hiệp ước này đã chính thức chấm dứt Thế chiến hai ở Viễn Đông cũng như đánh dấu chấm hết cho sự tồn tại của chủ nghĩa quân phiệt Nhật.

Vấn đề chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa
Theo lời mời của Chính phủ Hoa Kỳ, với tư cách là thành viên của khối Liên hiệp Pháp, Thủ tướng Quốc gia Việt Nam(3) đã tham dự Hội nghị. Ngày 7-9-1951, phát biểu tại Hội nghị, trưởng phái đoàn Quốc gia Việt Nam, Thủ tướng Trần Văn Hữu nêu rõ: “Chúng tôi cũng sẽ trình bày ngay đây những quan điểm mà chúng tôi yêu cầu Hội nghị ghi nhận (chứng nhận)…”(4). Về vấn đề chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, tuyên bố của phái đoàn Việt Nam khẳng định: “Và cũng vì cần phải thành thật lợi dụng tất cả mọi cơ hội để dập tắt những mầm mống các tranh chấp sau này, chúng tôi xác nhận chủ quyền đã có từ lâu đời của Việt Nam trên quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa”(5).
Lời xác nhận chủ quyền đó của phái đoàn Việt Nam không hề gây ra một phản ứng chống đối hoặc yêu sách nào của 51 quốc gia tham dự Hội nghị(6).
Về nội dung, Hiệp ước Hòa bình với Nhật Bản được ký kết tại San Francisco ngày 8-9-1951 quy định Nhật Bản phải rút lui khỏi những nơi mà nước này đã dùng vũ lực để chiếm đóng trong Thế chiến hai(7). Riêng đối với quần đảo Trường Sa (Spratly Islands) và quần đảo Hoàng Sa (Paracel Islands), Điều 2 – khoản (f) của Hiệp ước quy định: “Nhật Bản từ bỏ tất cả quyền, danh nghĩa và đòi hỏi với quần đảo Trường Sa (Spratly Islands) và quần đảo Hoàng Sa (Paracel Islands)”(8).
Hiệp ước quy định Nhật Bản từ bỏ tất cả quyền, danh nghĩa và đòi hỏi đối với quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa mà không nói rõ lực lượng hay chính quyền nào sẽ tiếp nhận chủ quyền của hai quần đảo này đã gây ra những ngộ nhận. Sự thiếu rõ ràng ấy của Hiệp ước San Francisco đã bị những quốc gia sau này tranh chấp chủ quyền với Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa khai thác, lấy làm cớ để cho rằng phải “trao trả” lại hai quần đảo trên cho họ.
Đối với Trung Quốc – nước không tham dự hội nghị San Francisco(9) – thì Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa không đưa ra tuyên bố phản đối nào tại Hội nghị San Francisco vì không tham dự Hội nghị. Tuy nhiên, ngày 15-8-1951, Ngoại trưởng Chu Ân Lai lên tiếng về bản dự thảo Hiệp ước Hòa bình với Nhật Bản do Mỹ – Anh soạn thảo(10).
Đòi hỏi cho quyền lợi của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa trong Hội nghị San Francisco đối với quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa được phái đoàn Liên Xô nêu lên trong phiên họp khoáng đại ngày 5-9-1951 của Hội nghị. Phát biểu trong phiên họp này, Andrei A. Gromyko – Ngoại trưởng Liên Xô – đã đưa ra đề nghị gồm 13 khoản tu chính để định hướng cho việc ký kết hòa ước thực sự với Nhật Bản. Trong đó có khoản tu chính liên quan đến việc “Nhật nhìn nhận chủ quyền của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đối với đảo Hoàng Sa và những đảo xa hơn nữa dưới phía Nam”(11). Với 48 phiếu chống và 3 phiếu thuận, Hội nghị đã bác bỏ yêu cầu này của phái đoàn Liên Xô.
Nhận định về việc Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa viện dẫn việc Trung Hoa Dân quốc thừa lệnh Đồng Minh tiếp quản quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa năm 1946(12) để cho rằng chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa thuộc về Trung Quốc, tạp chí Quê hương năm 1961 đã viết: “Nhật Bản đã lấy danh nghĩa gì để chuyển giao chủ quyền cho họ (Trung Hoa Dân quốc – TG). Khi Nhật Bản giao miền Bắc Đông Dương cho Trung Hoa chiếm đóng, có phải là họ đã nhường chủ quyền trên đất Trung Hoa, một điều có bao giờ Trung Hoa thừa nhận? Vậy không thể viện lẽ rằng quần đảo Nam Sa do Nhật chuyển giao mà cho rằng mình có chủ quyền trên (các) đảo đó”(13).
Về phía Việt Nam – nước tham gia Hội nghị San Francisco với tư cách là thành viên của khối Liên hiệp Pháp(14) – tuyên bố của phái đoàn Quốc gia Việt Nam về chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trong Hội nghị mà không có sự phản đối nào của các nước tham gia cũng chính là sự thừa nhận của các nước Đồng Minh về chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo này.
Hơn nữa, Điều 2 của Hiệp ước Hòa bình với Nhật Bản có hiệu lực đã tái lập sự toàn vẹn lãnh thổ cho những quốc gia bị quân Nhật chiếm đóng trong Thế chiến hai. Do đó, việc Nhật Bản tuyên bố từ bỏ tất cả các quyền, danh nghĩa và đòi hỏi đối với quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa cũng có nghĩa là Nhật Bản trả lại chủ quyền của hai quần đảo mà nước này chiếm đóng trong giai đoạn 1939-1946 cho Việt Nam. Chủ quyền đối với hai quần đảo này do vậy hiển nhiên thuộc về Việt Nam.
Dựa trên những tư liệu đã được công bố, có thể khẳng định rằng (muộn nhất) từ thế kỷ XV đến đầu thế kỷ XIX, quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa đã thuộc chủ quyền Việt Nam. Đến cuối thế kỷ XIX, những Hòa ước ký kết giữa Việt Nam với Pháp đã quy định rằng chính quyền Pháp ở Đông Dương thay mặt Việt Nam gìn giữ chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo đó. Đồng thời, Chính quyền Đông Dương cũng đã thi hành mọi biện pháp để khẳng định sự chiếm hữu cũng như các biện pháp quản lý hành chính đối với quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa.
Đến giữa thế kỷ XX, tuy quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa bị quân đội Nhật Bản tạm thời chiếm đóng từ năm 1939 đến năm 1946 nhưng với Hòa ước San Francisco (9-1951), Chính phủ Nhật Bản đã chính thức tuyên bố từ bỏ mọi quyền, danh nghĩa và đòi hỏi đối với hai quần đảo này. Do đó, Việt Nam tất nhiên đã khôi phục lại được chủ quyền vốn có của mình đối với hai quần đảo đó.
Giá trị pháp lý về tuyên bố chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa trong Hội nghị San Francisco không những được khẳng định đối với các quốc gia tham dự Hội nghị mà còn đối với những quốc gia cũng như chính quyền không tham dự Hội nghị bởi những ràng buộc của Tuyên cáo Cairo(15) và Tuyên bố Potsdam(16). Việc khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa trong Hội nghị San Francisco là sự tái lập/tái khẳng định một tình thế đã có từ trước. Thêm nữa, Hội nghị Geneve năm 1954 bàn về việc chấm dứt chiến tranh ở Đông Dương với sự tham gia của những quốc gia không có mặt tại Hội nghị San Francisco cũng đã tuyên bố cam kết tôn trọng chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam(17).
Một vài nhận định
Việc quốc gia Việt Nam dưới sự bảo trợ của Pháp, tham gia Hội nghị San Francisco (9-1951) và tuyên bố chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa là sự kiện có ý nghĩa quan trọng trong chuỗi các sự kiện minh chứng cho sự xác lập chủ quyền từ sớm (về pháp lý cũng như sự chiếm hữu một cách hòa bình trên thực tế) đối với quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa của Việt Nam.
Tuyên bố của phái đoàn Quốc gia Việt Nam trong hội nghị San Francisco về chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo này là cơ sở pháp lý quan trọng để Việt Nam tiếp tục đưa vấn đề tranh chấp ở quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa hiện nay ra các hội nghị, diễn đàn quốc tế. 51 nước tham dự Hội nghị San Francisco thừa nhận tuyên bố của Việt Nam cũng chính là sự công nhận của quốc tế về chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa. Sự thừa nhận này sẽ làm yếu đi luận điểm cũng như thái độ muốn giải quyết những tranh chấp ở Biển Đông hiện nay thông qua đàm phán song phương. Ghi nhận tầm quan trọng của Hội nghị San Francisco đối với việc thiết lập hệ thống các quan hệ quốc tế mới sau Thế chiến hai ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương cũng chính là sự thừa nhận có tính pháp lý tuyên bố về chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa. Trong xu hướng “hòa hợp” hiện nay, việc làm có ý nghĩa là toàn thể dân tộc Việt Nam tập hợp dưới cùng một ngọn cờ đoàn kết, và chỉ có như vậy mới tạo ra được sức mạnh đủ để giữ gìn và đấu tranh cho sự toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc.
… TUYÊN BỐ CỦA PHÁI ĐOÀN QUỐC GIA VIỆT NAM TRONG HỘI NGHỊ SAN FRANCISCO VỀ CHỦ QUYỀN VIỆT NAM ĐỐI VỚI HAI QUẦN ĐẢO NÀY LÀ CƠ SỞ PHÁP LÝ QUAN TRỌNG ĐỂ VIỆT NAM TIẾP TỤC ĐƯA VẤN ĐỀ TRANH CHẤP Ở QUẦN ĐẢO HOÀNG SA VÀ QUẦN ĐẢO TRƯỜNG SA HIỆN NAY RA CÁC HỘI NGHỊ, DIỄN ĐÀN QUỐC TẾ…
CHÚ THÍCH:
(1) Còn được gọi là Hòa hội Cựu Kim Sơn, diễn ra từ ngày 5 đến 8-9-1951.
(2) Còn gọi là Hiệp ước San Francisco (Treaty of San Francisco) hay Hiệp ước Hòa bình San Francisco (San Francisco Peace Treaty). Hiệp ước bắt đầu có hiệu lực từ ngày 28-4-1952. Do những bất đồng nên Liên Xô, Tiệp Khắc, Ba Lan không tham gia ký kết Hiệp ước này.
(3) Quốc gia Việt Nam là một thực thể chính trị tồn tại trong giai đoạn 1949-1956, ra đời sau Hiệp ước ngày 8-3-1949 giữa Pháp và cựu vương Bảo Đại (Hiệp ước Elysee). Cuối năm 1955, Ngô Đình Diệm – lúc này là Thủ tướng Quốc gia Việt Nam – lên làm tổng thống sau cuộc “Trưng cầu dân ý” ngày 23-10-1955. Đến năm 1956, Quốc gia Việt Nam “cải đổi” thành Việt Nam Cộng hòa, công bố Hiến pháp mới (26-10-1956). Như vậy có thể nói Quốc gia Việt Nam là “tiền thân” của Việt Nam Cộng hòa.
(4) Trần Đăng Đại (1975), Các văn kiện chính thức xác nhận chủ quyền Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa từ thời Pháp thuộc tới nay, Tập san Sử Địa – số 29, tháng 1-3-1975, Sài Gòn, tr.284.
(5) Nguyên văn tiếng Pháp như sau: “Et comme il faut franchement profiter de toutes occasions pour estouffer lé germes de discorde, nous affirmons nos droits sur iles Spratly et Paracels qui de tout temps ont fait partie du Viet-Nam”. In trên Tạp chí France – Asia, số 66-67, tháng 11-12-1951, tr.505 – dẫn theo Trần Đăng Đại, Tlđd, tr.286.
(6) Lãng Hồ (1975), Hoàng Sa và Trường Sa, lãnh thổ Việt Nam, Tập san Sử Địa – số 29, tháng 1-3-1975, Sài Gòn, tr.103.
(7) Năm 1938, Nhật Bản chiếm đóng quần đảo Hoàng Sa và đổi tên thành Hirata gunto. Năm 1939, quân đội Nhật Bản đổ bộ lên đảo Itu Aba (đảo Ba Bình, thuộc quần đảo Trường Sa). Ngày 31-3-1939, Bộ Ngoại giao Nhật Bản tuyên bố rằng ngày 30-3-1939 Nhật Bản quyết định đặt quần đảo Trường Sa dưới sự kiểm soát của Nhật Bản. Ngày 19-8-1939, Bộ Ngoại giao Nhật Bản tuyên bố quyết định đặt quần đảo Trường Sa – dưới tên gọi Shinnan gunto – trực thuộc đảo Đài Loan. Về những sự kiện này, Chính quyền Đông Dương đã nhiều lần lên tiếng chính thức phản đối Chính phủ Nhật Bản. Dẫn theo: Lãng Hồ, Tlđd, tr.100; Quốc Tuấn (1975), Nhận xét về các luận cứ của Trung Hoa liên quan tới vấn đề chủ quyền hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, Tập san Sử Địa – số 29, tháng 1-3-1975, Sài Gòn, tr.222; Nguyễn Nhã (2002), Quá trình xác lập chủ quyền của Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, Luận án Tiến sĩ Lịch sử, Đại học Quốc gia TP HCM, Trường Đại học KHXH&NV, tr.107. Về chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa, “ngày 14-10-1950, Chính phủ Pháp chính thức chuyển giao cho Chính phủ Bảo Đại (Quốc gia Việt Nam – TG) quyền quản lý các quần đảo Hoàng Sa. Thủ hiến Trung phần là Phan Văn Giáo đã chủ tọa việc chuyển giao quyền hành ở quần đảo Hoàng Sa” – Nguyễn Nhã (2002), Quá trình xác lập chủ quyền của Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, Tlđd, tr.110.
(8) Nguyên văn: “Japan renounces all right, title and claim to the Spratly Islands and to the Paracel Islands” – Treaty of Peace with Japan, CHAPTER II (Territory) – Article 2 – f. Source: United Nations Treaty Series 1952 (reg. no. 1832), vol. 136, p.p.45 – 164, http://www.vcn.bc.ca.
(9) Riêng với Trung Hoa Dân quốc, ngày 28-4-1952, Trung Hoa Dân quốc ký riêng rẽ một Hiệp ước Hòa bình với Nhật Bản. Trong bản tuyên bố ngày 5-5-1952 về Hiệp ước này, Ngoại trưởng Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa Chu Ân Lai không nói gì đến quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa mặc dù hai quần đảo này đã được đề cập một cách mập mờ trong Điều 2 của Hiệp ước: “Điều 2 – Hai bên nhìn nhận là theo Điều 2 Hòa ước với Nhật Bản ký ngày 8-9-1951 tại Cựu Kim Sơn (San Francisco) ở Hoa Kỳ, Nhật Bản đã khước từ mọi quyền, danh nghĩa hay đòi hỏi liên quan tới Đài Loan (Formosa) và Bành Hồ (The Pescadores), cũng như quần đảo Trường Sa (Spratly Islands) và Hoàng Sa (Paracel Islands)” (Source: Chen Yin-ching (1975), Treaties and Agreements between The Republic of China and other powers, Sino-American Publishing Service, Washington D.C., p.p.454 456). Nghĩa là Nhật Bản và Trung Hoa Dân quốc chỉ nhắc lại việc khước từ chứ không nói là Nhật Bản trao hai quần đảo này cho Trung Hoa Dân quốc – Quốc Tuấn, Tlđd, tr.231.
(10) “Chính phủ Nhân dân Trung ương nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa một lần nữa tuyên bố: Nếu không có sự tham dự của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa trong việc chuẩn bị, soạn thảo và ký một hòa ước với Nhật Bản thì dù nội dung và kết quả của một Hiệp ước như vậy có như thế nào, Chính phủ Nhân dân Trung ương cũng coi hòa ước ấy hoàn toàn bất hợp pháp, và vì vậy vô hiệu” – (Toàn văn bản tuyên bố ngày 15-8-1951 đăng trong People’s China, T.IV, số 5, ngày 1-9-1951, phụ trương ngày 1-9-1951, tr.3 – 6 dưới nhan đề Foreign Minister Chou En – lai’s Statement on the US British Draft Peace Treaty with Japan – dẫn theo Quốc Tuấn, Tlđd, tr.221).
Trước đó, ngày 4-12-1950, Ngoại trưởng Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa tuyên bố: “Nhân dân Trung Hoa rất ước muốn sớm có một hòa ước liên hợp với Nhật Bản cùng với các quốc gia Đồng Minh khác trong thời kỳ Thế chiến hai. Nhưng căn bản của hòa ước phải hoàn toàn thích hợp với bản Tuyên cáo Cairo, Thỏa ước Yalta, bản Tuyên bố Potsdam và các chính sách căn bản đối với Nhật Bản sau khi nước này đầu hàng được quy định trong các văn kiện này” (Toàn văn bản tuyên bố ngày 4-12-1950 đăng trong bán nguyệt san People’s China, Bắc Kinh, T. II, số 12, phụ trương ngày 16-12-1950, trang 17-19, dưới nhan đề Chou En lai’s Statement on the Peace Treaty with Japan – dẫn theo Quốc Tuấn, Tlđd, tr.220).
Như vậy Tuyên bố ngày 15-8-1951 đã đi ngược lại tinh thần tuyên bố ngày 4-12-1950 của chính Trung Quốc vì thực chất, Hội nghị San Francisco được tổ chức nhằm “hiện thực hóa” những thỏa thuận được quy định trong Tuyên cáo Cairo, Thỏa ước Yalta và Tuyên bố Potsdam.
(11) Nguyễn Nhã, Tlđd, tr. 110.
(12) “Sự thực thời tướng Hà Ứng Khâm (Trung Hoa Dân quốc) đã thừa lệnh Đại tướng Mac Arthur để tiếp nhận sự đầu hàng của Okamura Yasutsugu là Tổng tư lệnh quân đội Nhật Bản tại chiến trường Trung Quốc” – xem thêm bài của Lãng Hồ, Tlđd, tr.101-102.
(13) Tân Phong (1961), Vấn đề chủ quyền trên nhóm quần đảo Tây Sa và Trường Sa, Tạp chí Quê hương số ngày 27-9-1961 – dẫn theo Lãng Hồ, Tlđd, tr.102.
Về việc tiếp quản quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa từ tay Nhật Bản của lực lượng Trung Hoa Dân quốc, tác giả Lãng Hồ viết: “Sự thực thời đó đâu phải là một cuộc tiếp thu chính thức theo quốc tế công pháp (mà) chỉ là một hành động trong khuôn khổ Trung Hoa Dân quốc đã thừa lệnh Đồng Minh đến nhận sự đầu hàng của quân Nhật mà thôi” – Lãng Hồ, Tlđd, tr.101
(14) Ngày 29-6-1950, Pháp chính thức công nhận Quốc gia Việt Nam là thành viên của khối Liên hiệp Pháp.
(15) Tuyên cáo ngày 26-11-1943 của Hội nghị Cairo (tổ chức từ ngày 23 đến 27-11-1943 tại Cairo, Ai Cập), gồm đại diện của ba nước là Hoa Kỳ (Franklin D. Roosevelt), Anh (Winston Churchil) và Trung Hoa Dân quốc (Tưởng Giới Thạch).
(16) Hội nghị Potsdam được tổ chức ở Potsdam (Đức) từ ngày 17-7 đến ngày 2-8-1945 gồm đại diện 3 nước: Liên Xô (Joseph Stalin), Mỹ (Harry Truman) và Anh (Winston Churchil, sau đó được thay bởi Clement Attlee) . Ngày 26-7–1945, W. Churchil, H. Truman và Tưởng Giới Thạch đưa ra Tuyên bố Potsdam vạch ra những điều khoản đầu hàng đối với Nhật Bản.
(17) Chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa được thể hiện rõ trong Điều 12 – Tuyên bố cuối cùng của Hội nghĩ Geneve ngày 21-7-1954 mà Trung Quốc cũng đã tham dự, đó là “Trong quan hệ với Cao – Miên, Lào và Việt Nam, mỗi nước tham gia Hội nghị Geneve cam kết tôn trọng chủ quyền, độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của những nước trên và tuyệt đối không can thiệp vào nội trị của những nước đó” – Vụ biên soạn, Ban tuyên huấn Trung ương (1979), Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam – trích văn kiện Đảng, T.II: 1945-1954, Nxb SGK Mác-Leenin, Hà Nội. tr.360.

* Bài được đăng trên trang Ba Sàm từ 12/8/2010, nhưng bị tin tặc phá blog xóa mất, nay đăng lại.
http://vietsuky.wordpress.com/2012/01/17/49-hoi-nghi-san-francisco-voi-van-de-chu-quyen-cua-vn-doi-voi-quan-dao-hsts/

Nguyễn Xuân Nghĩa – Việt Báo Ngày 20120115 -Chuyện Gì Đang Xảy Ra Tại Trung Quốc?

Quân Đội Đảo Chánh? Trí Thức Bần Thần?

* Đẩy sóng ra khơi?... *

Chúng ta đã vào những ngày cận Tết Nhâm Thìn, mà người Hoa thì không quen đùa giỡn kiểu Tây phương về tin vịt vào ngày mùng một Tháng Tư (trò vui gọi là “Cá Tháng Tư”). Trong hoàn cảnh đó, có hai tin rất lạ khiến người ta phải hỏi rằng chuyện gì đang xảy ra tại Trung Quốc?

Dù không dễ vì chế độ kiểm duyệt thông tin, người viết xin cố theo thứ tự trước sau – mà chưa chắc thấy ra tương quan nhân quả – để tường thuật vào buổi cuối năm, trước khi ăn Tết!

Tuần qua, giới phân tách tình hình Trung Quốc phác giác dấu hiệu của 1) một âm mưu đảo chánh quân sự trong những ngày đầu năm dương lịch và 2) sự bất mãn của giới trí thức trong đảng qua một vụ thủ tiêu phúc trình. Xét về nội dung vấn đề, chuyện thứ hai mới là biến cố đáng chú ý và có khi phản ảnh nhiều mâu thuẫn còn gay gắt hơn ngay trên thượng tầng chính trị của Trung Quốc, mà họ gọi là “bẫy xập cải cách”.

Vì vậy, dù biết rằng người người đều bận bịu với chuyện tết nhất, bài này vẫn ghi lại một số chi tiết có khi báo hiệu sự lạ trong năm Nhâm Thìn.

***

CHUYỆN ĐẢO CHÁNH

Hôm Chủ Nhật mùng tám, một bài tường thuật trên mạng lưới của giới phân tách chuyện Trung Quốc cho biết vài chi tiết sau đây.

Gần Tết Dương lịch, các sĩ quan của hai đơn vị Không quân bị câu lưu vì nghi ngờ là liên hệ đến một âm mưu đảo chánh. Cùng lúc đó, một tiềm thủy đĩnh nguyên tử đang tuần duyên ngoài khơi được khẩn lệnh phải trở về căn cứ vì trên boong có nhiều sĩ quan dính dáng đến âm mưu đó. Chưa thấy nội dung bài tường thuật được các nguồn tin khác xác nhận, nhưng dường như chuyện âm mưu này lại phản ảnh sự kiện là vào tháng 12, Đại tá Hải quân Đàm Lâm Thuật (Tan Linshu) bị tống giam vì tội danh là “phá hoại”.

Thoạy kỳ thủy, ít ai tin rằng một vụ đảo chánh quân sự có thể xảy ra tại Trung Quốc, nơi mà từ khi Cộng hòa Nhân dân Trung Quốc ra đời, đảng vẫn lãnh đạo quân đội. Theo lý luận Mao Trạch Đông, quân đội chỉ là khẩu súng trong tay đảng.

Nhưng cũng thời Mao, Thống chế Lâm Bưu đã từng lập kế hoạch đảo chánh để lên làm lãnh tụ, và bị mất mạng vào Tháng Chín năm 1971 vì mưu thuật phản đảo chánh của Mao. Thế rồi, trong vụ khủng hoảng Thiên an môn vào năm 1989, khi nội bộ lãnh đạo có sự bất nhất, Đặng Tiểu Bình hết tin tưởng vào các tư lệnh quân sự tại thủ đô mà phải kín đáo tìm viện binh ở nơi khác vào Bắc Kinh nã súng dẹp loạn.

Khi ấy, nếu các tư lệnh quân khu mà cùng lắc đầu thì tình hình Trung Quốc đã xoay về đâu?

Chi tiết thứ hai là các lãnh tụ cách mạng, từ Mao đến Đặng Tiểu Bình, đều là sĩ quan cao cấp của Giải phóng quân Trung Quốc và thời lập quốc thì quân đội và đảng quả thật là một. Qua thế hệ lãnh đạo thứ ba và thứ tư, cả Giang Trạch Dân và Hồ Cẩm Đào đều là đảng viên dân chính, dù có làm Chủ tịch của hai cơ chế chỉ đạo quân đội có cùng một tên là Quân ủy Trung ương, trong đảng và guồng máy nhà nước.

Khi lên lãnh đạo – sau vụ thảm sát Thiên an môn năm 1989 – Giang Trạch Dân vừa khéo mua chuộc các tướng vừa đẩy lui ảnh hưởng của quân đội. Ông bãi bỏ hệ thống quân doanh – cơ sở kinh doanh của tướng lãnh – nhưng đền bù bằng ngân sách quốc phòng và nhiều dự án hiện đại hóa quân đội. Đáng chú ý nhất là kể từ năm 1997 trở đi không sĩ quan nào được ngồi vào cơ chế quyền lực tối cao là Thường vụ Bộ Chính trị.

Lâm thế yếu ngay từ đầu do ảnh hưởng quá mạnh của “cánh Thượng Hải” và tay chân thân tín còn lại của Giang Trạch Dân, Hồ Cẩm Đào nương tựa vào hậu thuẫn của tướng lãnh và từ đó quân đội đã có thêm sức nặng trong nhiều chọn lựa mang tính chất chiến lược về đối ngoại.

Việc Hồ Cẩm Đào bị lúng túng đầu năm ngoái khi đón tiếp Tổng trưởng Quốc phòng Mỹ Robert Gates mà không biết gì về vụ thử nghiệm chiến đấu cơ tàng hình (“Tiêm kích J-20”) không là tin đồn. Người nói đến trạng thái lạc lõng ấy của họ Hồ là chính ông Gates, trước đây từng chỉ huy cơ quan CIA!

Ngày nay, khi thế hệ lãnh đạo thứ tư – Hồ Cẩm Đào, Ngô Bang Quốc cùng Ôn Gia Bảo… – sẽ chuyển giao quyền lực cho thế hệ thứ năm, tầng lớp lãnh tụ đang lên cũng trông cậy nhiều hơn vào hậu thuẫn của quân đội và các tướng. Họ là Tập Cận Bình, Lý Khắc Cường, Bạc Hy Lai, v.v… Đa số là con cháu công thần và có quan hệ gắn bó với nhiều tướng lãnh cũng thuộc nòi cách mạng, trong “Thái tử đảng”.

Dù bản thân hay cha mẹ có là nạn nhân của Mao và cuộc Đại văn cách đẫm máu ngày xưa, thành phần thái tử đỏ này vẫn gắn bó với chế độ, và chuẩn bị toả sáng.

Chúng ta đang ở giữa giai đoạn chuyển giao đó, cho đến Đại hội 18 vào Tháng 10 tới đây và trong những tháng kế tiếp, khi lãnh tụ dân sự phải củng cố ảnh hưởng trong cả ba cơ chế là đảng, nhà nước và quân đội: Tổng bí thư đảng, Chủ tịch nước và cầm đầu Trung ương Quân ủy hội.

Nhưng dù sao sự kiện các tướng đang có trọng lượng cao hơn vào lúc chuyển quyền này cũng không thể giải thích được một âm mưu đảo chánh của quân đội.

Khi ấy, ta chỉ có thể đưa ra hai giả thuyết về tin đồn đảo chánh.

Một là nhiều sĩ quan cao cấp trong hai quân chủng ưu tú và tiên tiến về kỹ thuật là Hải quân và Không quân đã có dấu hiệu sốt ruột. Họ muốn tăng cường thế lực quân sự của Trung Quốc nên có gây va chạm với lãnh đạo dân sự qua một số quyết định liều lĩnh. Cho nên, họ được gián tiếp nhắc nhở về kỷ luật và phương châm sinh tử: đảng mới lãnh đạo quân đội!

Tức là lãnh đạo đảng cũng sốt ruột vì sự sốt ruột của một số tướng tá!

Giả thuyết thứ hai, ly kỳ không kém, là lãnh đạo đảng đang gặp mâu thuẫn nặng nên ai đó đã nhân cơ hội tung tin đồn để gieo thêm sóng gió bên trong. Khi các lãnh tụ dân sự đều chật vật xoay trở với bài toán kinh tế quốc dân và những tính toán chính trị cho Đại hội 18, loại tin đồn như vậy là điều cực bất lợi cho cả chế độ.

Phải chăng, đó là “Hội chứng Titanic”?

Đúng trăm năm trước, “du-thuyền-vĩ-đại-không-thể-chìm-nổi” là chiếc Titanic bỗng nhiên bị một lỗ toang hoác vào giữa đêm. Và mất nhiều ngày hấp hối.

Hãy tưởng tượng là vào lúc thập tử nhất sinh, ở boong trên cùng, Thuyền trưởng và đại diện thủy thủ đoàn cùng chủ đầu tư, tổng quản trị và trưởng ban giao tế (vụ “lễ tân” kiêm tuyên truyền và quảng cáo!) bỗng dưng cãi vã om xòm – và có kẻ tung tin nhảm! Còn các du khách hạng sang ở dưới thì bận giành ghế trong tiếng nhạc tiếng pháo tưng bừng! Hoả châu lại tưởng pháo bông.

Hay ngược lại!

***

CHUYỆN BẪY XẬP

Chúng ta bước qua chuyện thứ hai, lần này thì không phải là tin đồn nữa.

Cũng hôm Chủ Nhật mùng tám (khi xuất hiện bài tường thuật về âm mưu đảo chánh), nhóm Nghiên cứu Phát triển Xã hội của Phân khoa Xã hội học trong Đại học Thanh Hoa công bố phúc trình “Thăng tiến Xã hội”. Chủ nhiệm công trình khảo cứu này là Giáo sư Xã hội học Tôn Lập Bình. Đáng chú ý nhất, họ Tôn là học giả của chế độ, cố vấn của Phó Chủ tịch Tập Cận Bình, người có đầy hy vọng ngồi ghế chủ tịch sau Đại hội 18.

Hôm đó, tờ Thanh niên Nhật báo tóm lược nội dung bản phúc trình của Đại học Thanh Hoa và đưa lên trang nhà. Sau đó, nhiều tờ báo điện tử khác, kể cả Nhân dân Nhật báo, cũng niêm yết bài tóm lược. Nhưng chỉ mấy tiếng sau thì ai đó đã hô “biến”. Và ngần ấy bài ở ngần ấy nơi đều cùng biến mất!

Chuyện gì đã xảy ra?

Cho đến nay, chưa thấy ai nói đến hoặc phiên dịch cả bản phúc trình hình như là tội lỗi đó, người ta chỉ kịp bắt lấy một phần của bài tóm lược – mà cũng đủ nhức đầu!

Dù là cận Tết, ta cần ngược dòng lịch sử để hiểu ra vài khái niệm được bài tóm lược này trình bày.

Khi đảo ngược tình hình và tiến hành cải cách kinh tế từ đầu năm 1979, Đặng Tiểu Bình được ngợi ca là thực tế và quả cảm lần chân xuống nước để tìm các tảng đá vững mà bước qua sông. Thành ngữ “qua sông” hay “quá hà” là nói đến việc tìm hướng thay đổi mà không chết đuối.

Báo cáo của Giáo sư Tôn Lập Bình nói đến nỗi sợ… “không dám qua sông” – “bất tưởng quá hà”. Mà không dám vượt sông khi đã ở giữa dòng thì nhiều phần sẽ chết đuối. Vì rơi vào thế “chuyển hình hãm tịnh”, nôm na là lọt “bẫy xập của sự chuyển tiếp”. Đó là tựa đề của bài tóm lược.

Sau đó là một bản cáo trạng!

Qua ba thập niên, Trung Quốc đã có 10 năm cải cách, 10 năm úp mở rồi 10 năm sau cùng –
trùng với thập niên đầu của thế kỷ 21 – là thập niên củng cố. Nhưng là củng cố đặc quyền đặc lợi của những tập đoàn quyền lực mà bản báo cáo gọi là “ký đặc lợi ích tập đoàn”. Bây giờ, xứ này bị nguy cơ rơi vào bẫy xập!

Giới kinh tế quốc tế thì nói đến bẫy xập của các nước đang phát triển khi đạt lợi tức đồng niên ở mức trung bình mà không vượt lên được và còn tuột vào khủng hoảng. Nhóm nghiên cứu xã hội của Đại học Thanh Hoa nói đến cái bẫy khác: việc cải cách khựng lại và đẩy lui.

Nguyên do chính là sức cản của các tập đoàn lợi ích để xứ sở đình đọng trong trạng thái họ gọi là “hỗn hợp”, hầu chiếm lĩnh tối đa đặc lợi. Hậu quả là những biểu hiện dị hình về phát triển kinh tế xã hội và những vấn đề tích lũy về kinh tế và xã hội.

Vì không là sự phán đoán của thế giới bên ngoài mà là của người trong cuộc, chúng ta nên chú ý đến lối phân tách này.

Lập luận của phúc trình là từ đã lâu, lãnh đạo Trung Quốc nhấn mạnh đến khảo hướng tiệm tiến của cải cách – thận trọng như người khoắng chân tìm đá dưới sông rồi mới tiến từng bước. Ngày nay, phép tiệm tiến đó có nguy cơ đưa cải cách vào bẫy xập vì từng bước tạo cơ hội trục lợi cho một số người khiến họ trì hoãn, và còn định chế hóa – chữ của bản phúc trình là “định hình hóa” – hệ thống truy tìm đặc lợi.

Nghĩa là các tập đoàn lợi ích không muốn nhấc chân ra khỏi những tảng đá vững chắc của chế độ đặc lợi nên chẳng những trì hoãn mà còn đẩy lui việc cải cách! Và đẩy xứ sở vào bẫy xập….

Bản báo cáo còn nêu ra và phân tách năm triệu chứng của bẫy xập.

Triệu chứng đầu tiên là tình trạng phát triển vừa xốp – không đồng bộ – vừa dị dạng! Xốp là khi tư nhân hay “động lực của dân gian” bị kềm hãm, tiểu thương và doanh nghiệp loại trung bình và nhỏ bị điêu đứng, yêu cầu phát triển các tỉnh nghèo thì vẫn nguyên vẹn, thành phần bần cùng vẫn nằm dưới đáy. Trong khi ấy, kinh tế lại có những biểu hiện hiếu động và dị hình nhờ sự kích thích của nhà nước. Đó là nỗ lực ào ạt xoá và xây các công trình nguy nga vĩ đại, là việc tổ chức những sinh hoạt… hoành tráng, thậm chí tô tượng huy hoàng.

Việc thực hiện các dự án lớn lao ấy là biểu hiện của chứng bệnh gọi là “tăng lượng ỷ lại bệnh”: ỷ lại vào lượng tư bản để lập thành tích mà người ta gọi là phát triển. Nôm na là hóa dại về kinh tế!

Triệu chứng thứ hai của tình trạng xập vào bẫy là người ta hoài nghi sự cải cách. Người ta ở đây không chỉ là một số lãnh đạo mà cả quần chúng. Bản báo cáo phân tách hiện tượng lạ này như sau: nếu chỉ có một thiểu số cưỡng chống việc chuyển hướng trước sự khát khao của đám đông thì vấn đề tương đối còn dễ.

Khó khăn ở đây là các tập đoàn đặc lợi đã định chế hóa chế độ mập mờ hỗn hợp này và nhân danh cải cách để trục lợi. Kết quả là họ biến chuyện cải cách thành một quái thai dị hình – và sơ cứng vì được định chế hóa – khiến cho ngày càng có nhiều người bị dị ứng với cải cách và chuyển hóa! Một thí dụ được nêu ra trong bản phúc trình là chế độ bảo hiểm y tế – mà người viết xin miễn nhắc tới vì còn nêu ra triệu chứng thứ ba của bẫy xập.

Không chỉ có nạn cải cách bị sơ cứng mà cả xã hội cũng bị sơ cứng trong trạng thái phân cực đầy bất công. Người ta đã định chế hóa bất công xã hội!

Bản báo cáo nói đến sự phân cực trong xã hội giữa thiểu số “cừu phú” – mà ta có thể hiểu là “trọc phú” theo quan niệm phổ biến của mình – và bọn bần cùng bị nghi ngờ ở dưới, họ gọi là “hiềm bần”. Khía cạnh thứ hai của trạng thái bất công đó là sự tuyệt vọng của nhiều thành phần xã hội, như nông dân, dân công (người lưu tán kiếm việc ở nơi khác) và những kẻ cùng khốn ở dưới đáy tầng xã hội. Vì vậy mà xung đột lại càng dễ bùng nổ.

Nhưng phần phân tách xã hội của bản nghiên cứu có chi tiết còn đáng chú ý hơn thế. Đó là mặc dù kinh tế có tăng trưởng và mức sống có cải tiến, xã hội Trung Quốc đang có trạng thái bạc nhược và mất năng động tính. Chẳng lẽ quần chúng của đảng lại tuyệt vọng đến vậy?

Triệu chứng thứ tư là tinh thần và chánh sách thận trọng đến bại xuội vì phản ứng cầu an. Nói cho dễ hiểu là muốn bảo vệ sự ổn định, người ta kịch liệt đến tê liệt vì đánh giá sai biến động của kinh tế thị trường và động loạn hay mâu thuẫn xã hội. Có lẽ phần phân tách này mới là lý do khiến bản báo cáo bị thủ tiêu!

Từ nhiều năm nay, quả là mâu thuẫn xã hội có gia tăng, một phần là do những biến động của kinh tế thị trường, mà phải chăng lãnh đạo không hiểu, và dù sao cũng không thể đe dọa nền móng của chế độ. Nhưng nhiều người – hàm ý lãnh đạo chính trị – lại suy xét sai và dựng lên ảo giác bất ổn. Mượn lại một thành ngữ y học của Trung Hoa, chúng ta có thể nói đến hiện tượng “huyết biến vi tà”, máu huyết có bệnh nên nhìn đâu cũng thấy ma.

Và lại mượn một thành ngữ của Tây, “chính là sự sợ hãi của ngươi mới làm ta hãi sợ”, một số đảng bộ địa phương đã quá sợ mất ổn định mà ra tay đàn áp người khiếu kiện, kẻ biểu tình, hoặc thẳng tay giải tỏa chung cư, giải tán cư dân. Đó là triệu chứng thứ năm.

Nó cho thấy đảng bị tuột tay. Quyền lực mù quáng khiến xã hội không cón có thể duy trì được công lý và sự công bằng. Kết quả là xã hội bị tụt đáy, luân lý suy sụp và hiện tượng phổ biến là người ta mất dần tính chất chuyên nghiệp và nhất là mất đạo tắc, quy tắc đạo lý, trong nghề nghiệp!

Xuất phát từ thành phần trí thức của chế độ, bản báo cáo có nội dung của một cáo trạng xã hội, nhưng cũng xoi thẳng vào một vấn đề chính trị. Chế độ hiện hành đang đẻ ra một thành phần “quan đảo”, nói cho dễ hiểu là quan lại ăn cướp!

Xin tạm kết về lời phê phán của giới trí thức nay đã bần thần về tương lai: mô hình Trung Quốc kết hợp kinh tế thị trường với quyền lực chính trị. Kết cục là tầng lớp “quan đảo” có quyền lực chính trị đã thẳng tay trục lợi trong hầu hết mọi lãnh vực kinh tế – và làm xã hội bị suy đồi…

***

Ăn Tết xong, có khi ta tìm hiểu xem các chuyên gia Trung Quốc đề nghị những gì trong báo cáo mà lại bị kiểm duyệt. Trong bốn loại biện pháp được gọi là cần thiết và không thể tránh lại có rất nhiều điều cấm kỵ. Cũng nguy hiểm như khi họ rờ vào cái vẩy ngược của con rồng!

Nhưng, sự kiện những người có súng hoặc có óc lại cùng nhúc nhích vào buổi đầu năm khiến ta nên đặt câu hỏi rất thời sự là: “chuyện gì đang xảy ra tại Trung Quốc?” Dù chưa ai biết được câu trả lời, người Việt mình cũng nên nhân đó nghĩ lại xem. Rằng đấy có là cơ hội giải ảo cho Hà Nội hay chưa?

Còn lời chúc đầu năm là gì thì có lẽ người Việt nào cũng biết: đừng xếp hàng sau Trung Quốc rồi cũng không dám mò chân xuống nước để tìm ra con đường sáng cho đất nước.
http://dainamaxtribune.blogspot.com/2012/01/chuyen-gi-ang-xay-ra-tai-trung-quoc.html

cuaran -BĂN KHOĂN!
Những ngày này cách đây chẵn 38 năm (17-19 tháng 1 năm 1974)”Láng giềng gần” ăn cướp Hoàng Sa.
Xin được đăng lại chuyện kể về cái ngày ấy khi mình đang ở Quảng Nam. (Chuyện này mình đã đăng hồi tháng 7 năm 2011.)

Tháng giêng năm 1974

Bọn mình đang đánh nhau ở Tiên phước Quảng Nam. Suốt ngày L19 vè vè trên đầu kêu gọi cán binh Cộng sản bỏ súng quay về Bắc với cha già vợ dại con thơ. Rồi tiếng ru con eo éo, tiếng trẻ con khóc u oa… cải lương lâm li… ong ong bên tai. Điên hết cả người!

Một hôm không thấy ru eo éo, không thấy u oa, không thấy cải lương… mà lại thấy bản tin đặc biệt: Hỡi các cán binh cộng sản! Bọn giặc Trung Cộng đã ngang nhiên xâm lược nước Việt nam, ngang nhiên dùng vũ lực đánh chiếm Hoàng sa… Chính phủ “…” bán nước công nhận Hoàng sa là của… Trung cộng. Là người Việt Nam cùng nhau lên tiếng bảo vệ chủ quyền đất đai Tổ quốc.

Cánh lính mình đều nghe thấy hết. Nhưng không đứa nào dám hỏi gì. Phải đến vài hôm sau mình mới mạnh dạn hỏi chính trị viên. Lão ta bảo: thằng ngụy nó nói bậy, tin thế chó nào được.

Mấy hôm nữa thì chính ủy trung đoàn xác nhận là có thật cái việc Trung quốc chiếm Hoàng sa. Nhưng ông này nói thêm: các đồng chí Trung quốc giúp ta lấy Hoàng sa, sau này sẽ giao lại cho mình. Lo cái gì. Đây là việc làm mang tầm chiến lược.

Mình là thằng lính trơn, tuổi mới hai mươi chẳng biết thế nào là chiến lược chiến thuật nhưng nghe vậy thì tin ngay vì “Việt nam Trung Hoa núi liền núi sông liền sông” Trước khi đi bộ đội mình thấy khối nhà còn treo ảnh Mao Trạch Đông, Lưu Thiếu Kỳ bên cạnh ảnh Cụ Hồ. Sinh hoạt đại đội vẫn có thằng đứng lên hát “Ra khơi nhờ tay lái vững làm cách mạng nhờ tư tưởng Mao Trạch Đông” Ta hai jang xing kháo tua sâu oản ù sâng tì quó thi thái jang (giữa đại dương lướt sóng chắc tay chèo lái…)Và Chính ủy đã nói là phải đúng.

Năm 1975 không thấy nó trả Hoàng sa. Mình nghĩ chả nhẽ Chính ủy nói phét. Năm 1976 cả đơn vị phải đi đánh nhau biên giới Tây Nam, rồi 1979 thằng Tàu đánh biên giới phía Bắc. Lúc bấy giờ lại thấy Chính ủy bảo Trung quốc là kẻ thù trực tiếp và nguy hiểm!

Thì ra các ông ở trên cũng dớ dẩn…

Năm 1988 nó xả súng giết 64 chiến sĩ tại Trường Sa.

Mấy năm sau lại thấy khẩu hiệu đồng chí Bốn tốt mười sáu chữ vàng!

Rồi thấy bắt giam những người biểu tình bày tỏ Hoàng sa Trường sa là của Việt Nam. Vào mạng Bauxit và một số trang hô hào Hoàng sa Trường sa của Việt Nam thì lại bị ngăn tường lửa.

Vừa rồi vụ biển Đông, giặc Tàu xâm phạm chủ quyền các báo nhà nước ú ớ nói chả ra đầu ra đũa. Xem trên ti vi cái cô Phương Nga Phương Ngiếc vừa phản đối vừa làm duyên mặt tươi như người mẫu trình diễn áo tắm. Chắc là nói mấy câu cho qua lượt.
Được mỗi hôm rồi lại im thin thít.

Mình hỏi mấy ông bí thư chi bộ… có biết chuyện biển Đông vừa rồi không. Ông nào cũng không biết, ông nào cũng há hốc mồm nghe, xong lại còn hỏi ngược lại thật á thật á chả có nhẽ… sau đó lại khen phim trạng sư Mộng Cát của Tàu hay thật(!)

Hôm nay nghe Phi lip pin gọi hẳn Đại sứ quán Tàu quở trách. Cái anh Phi vậy mà gớm! Chả như mình.

À phải rồi. Đã lâu không thấy đài báo nói đến cụm từ “dân tộc Việt Nam anh hùng”. Ừ nhỉ. Chỉ thấy phim Tàu, tin Tàu tràn ngập ti vi từ Trung ương đến cấp tỉnh và người Tàu thì nhan nhản mọi nơi trên đất Việt Nam. Nhiều đến nỗi nếu có tai nạn như vụ Dìn Kí thì Ba Tàu cũng góp mặt số đông…

Chợt nhớ một cái đề cho học sinh điền vào dấu ba chấm (…)

Hỡi sông Hồng tiếng hát bốn ngàn năm.
Tổ quốc ta có bao giờ… thế này chăng.

Sao mà ra đề ác thế, khó thế!!! Điền không đúng ý thì liệu thần hồn!

7/2011
http://cuaran.blogspot.com/2012/01/ban-khoan.html

Để lại phản hồi »

Chưa có phản hồi.

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Tạo một website miễn phí hoặc 1 blog với WordPress.com.

%d bloggers like this: