Hoàngquang’s Blog

14/01/2012

CHỈNH HAY ĐỐN ?

NGÔ MINH
Phạm Đình Trọng ÂM VANG TIẾNG SÚNG ĐOÀN VĂN VƯƠN

Nguyễn Chí Phương Lấy Dân Chủ Làm Tiêu Chuẩn Sống Và Cai Trị
Nguyễn Quang A -</ bàn về tư duy dân chủ và pháp trị: Tính hiệu quả của mô tả Phạm Thị Hoài thực hiện Hoàng Hưng – Đã đến lúc chín muồi cho sự ra đời các tổ chức xã hội dân sự Phạm Hồng Sơn – Chống hòa bình, giảm bạo lực? Phạm Thị Hoài – Tội và lỗi

****
NGÔ MINH
-CHỈNH HAY ĐỐN ?

Ngày 26/12/ 2011, phát biểu khai mạc Hội nghị TƯ 4, BCH Trung ương Đảng khóa XI , Tổng bí thư ĐCSVN Nguyễn Phú Trọng nói: “Xây dựng, chỉnh đốn Đảng là công việc rất phức tạp, nhưng không thể không làm, vì nó liên quan đến sinh mệnh của Đảng và sự tồn vong của chế độ. Ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp…”. Phát biểu tổng kết Hội nghị TƯ 4, ông Trọng có kể chuyện
Bác Hồ rất chân thành :”Tôi làm điều xấu, các đồng chí trông thấy phải phê bình cho tôi sửa chữa ngay. Nếu tôi có vết nhọ trên trán, các đồng chí trông thấy lại lấy cớ “nể Cụ” không nói là tôi mang nhọ mãi. Nhọ ở trên trán thì không quan trọng nhưng nếu có vết nhọ ở trong óc, trong tinh thần mà không nói cho người ta sửa là hại người ta…”
Thế nhưng xem tivi, nhìn nét mặt và nghe giọng nói của ông Trọng , tôi thấy vẫn bình thường, giọng trầm trầm, có khi nét mặt thoáng cười cười, khi thì ngậm ngùi, không tỏ ra giận dữ, không tỏ rõ thái độ quyết liệt dứt khoát , như ông đang nói về chuyện không quan trọng nào đó, chứ không phải là chuyện cực kỳ hệ trọng là “Chính đốn Đảng”để bảo vệ “sự tồn vong của chế độ”. Dẫu sao tôi vẫn xin biểu lộ sự đồng cảm với ông TBT Trọng, vì ông đã tổ chức được một hội nghị TƯ chuyên đề về chỉnh đốn đảng ngay trong năm đầu nhiệm kỳ của mình . Chứng tỏ Đảng đã suy thoái ghê gớm lắm, bức xúc lắm. Suy thoái nghĩa là biến chất. Ông Trọng nói :” Ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp”( NM nhấn mạnh). Tôi xin bổ sung: Suy thoái đã đến mức phần lớn, đa số, chứ không phải một bộ phận không nhỏ đâu . Có thể khẳng định rằng phần lớn đảng viên có quyền có chức đang sống bằng tham nhũng, làm giàu bằng tham nhũng . Đa số đảng viên có quyền có chức trên diễn đàn thì dạy dỗ cán bộ nhân dân phải “học tấm tấm gương đạo đức Bác Hồ”, phải trong sạch, phấn đấu, cách mạng.v.v.. Dạy dỗ xong , bước xuống diễn đàn, họ lại biến thành con người khác : lo kiếm “dự án” để chia chác, bòn rút đất đai, công quỹ càng nhiều càng tốt, bất chấp đạo lý, kỷ cương phép nước để xây biệt thự “khủng” nơi này nơi khác, mua xe hơi, để có tiền gửi con đi học Anh, Mỹ. Tại sao cán bộ chức quyền lại suy thoái ghê gớm thế ? Chúng tôi cho rằng, nguyên nhân sâu xa có lẽ là do : sau sự sụp đổ của Liên Xô và hệ thống XHCN Đông Âu, những cán bộ lãnh đạo đó biết rằng, trước sau các nước XHCN khác , trong đó có Việt Nam, sẽ sụp đổ nay mai. Họ biêt CNXH là một chủ nghĩa không tưởng, không thể làm cho “dân giàu nước mạnh” được. Bởi vậy, trước khi nó sụp đổ như Liên Xô, họ phải tranh thủ vị trí của mình để vơ vét. Ngoài nguyên nhân trên, còn có không ít đảng viên có chức quyền do đầu tư tiền chạy chọt mà lên , nên phải gấp rút kiếm chác để “hoàn vốn”. Những đợt cổ phần hóa Công ty nhà nước ồ ạt, việc quản lý lỏng lẻo các Tập đoàn Kinh tế nhà nước, quy hoạch khu đô thị, cụm công nghiệp, khu công nghiệp; những dự án lớn như “Đường Hồ Chí Minh”, đường cao tốc.v.v. là những “thời cơ vàng” để chúng tham nhũng, vơ vét. Ước tính có đến 40 đến 50% vốn đầu tư từ ngân sách và vốn vay nước ngoài ( ODA) hàng năm đã vào tay bọn tham nhũng các cấp ( !?) Bọn tham nhũng vô hiệu hóa tất cả các chủ trương của Đảng. Làm cho các chủ trương đó không đi vào cuộc sống . Chúng mạnh tới mức ,đề ra và chỉ đạo thông qua nhũng chính sách, dự án có lợi cho “lợi ích nhóm” của chúng. Điều đó nhân dân đã nhận ra từ lâu, nhưng nhân dân thấp cổ bé họng…
Chuyện chỉnh đốn đảng đã nói, đã bàn mấy chục năm nay rồi, nhưng không những không “chỉnh đốn” được, mà suy thoái, tham nhũng ngày càng trầm trọng hơn, đã đến mức nức nhối, trắng trợn . Trầm trọng đến mức, lãnh đạo ai không suy thoái, không tham nhũng hay đấu tranh chống lại tham nhũng được cho là “thằng mát”, “thằng điên”. Trong dân gian có câu :” Đảng viên mà tốt” để nói rằng đã là Đảng viên nhất định là xấu. Được bầu vào chức vụ Bí thư, chủ tịch tỉnh, bộ trưởng, thứ trưởng, giám đốc sở, kể cả cấp cao hơn, việc đầu tiên họ nghĩ đến, lên kế hoạch , bày binh bố trận ngay là trong nhiệm kỳ phải “cướp cho được” bao nhiêu trăm tỉ tiền của dân của nước. Có bí thư tỉnh ủy ăn cướp đất của bà mẹ liệt sĩ để xây nhà mình. Có bí thư tỉnh ủy tham nhũng quá, nên bầu Hội đồng nhân dân tỉnh mà không trúng đại biểu; chủ tịch tỉnh ăn chơi trác táng, chơi cả gái vị thành niên , thật vô nhân đạo. “Lợi ích nhóm” trong vụ Vinashin đã ăn của nhà nước hàng trăm ngàn tỉ đồng. Việc Tổng Công ty Điện lực Việt Nam ( EVN) liên tục kêu lỗ để tăng giá điện, móc túi dân, trong lúc lương cán bộ văn phòng cao ngất trời, lương cán bộ lãnh đạo cao gấp hàng chục lần lương theo hệ số của Bộ trưởng; tổn thất điện lớn, xây dựng văn phòng 2000 tỷ đồng.v.v.. thế mà vẫn “sống khỏe” là do được “bảo kê lợi ích nhóm”.v.v..Người viết bài này đã mục sở thị ông Chủ tịch tỉnh T., trước khi lên chức chủ tịch không có xe máy để đi, đi xe đạp chân co chân duỗi, thế mà chỉ nhiệm kỳ chủ tịch tỉnh, khi về hưu liền xây ngay ba nhà lầu cao tầng cho mình, cho con trai, con gái, xây 2 khách sạn, mua ô tô vài tỷ đồng, thuê người lái, xây khu dịch vụ nhà hàng mat-xa trên khu đất phố 15.000 mét vuông, rồi đầu tư mở trường Đại học tư thục, trường mẫu giáo, tiểu học hiện đại theo kiểu nước ngoài. Tính ra ông ta trong thời gian nhiệm kỳ đã tham nhũng không dưới năm trăm tỉ đồng…, rồi vụ lãnh đạo cấp sở đánh cờ ăn thua một lần 5 tỷ v.v…và v..v.v…
Nhớ lại thời Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh với chủ trương “Nói và Làm”, được nhân dân nhiệt liệt hưởng ứng. Ông Linh ra lệnh kiểm tra hộ chiếu đỏ ( hộ chiếu được chế độ miễn trừ ), đã phát hiện ra nhiều lãnh đạo cao cấp buôn lậu hàng ngoại về sân bay Nội Bài. Nhân dân cả nước háo hức những tưởng kỳ này sẽ diệt hết bọn suy thoái, tham những trong đảng. Nhưng không, chỉ sau một thời gian, tất cả lại đâu vào đấy. Tôi nghe dư luận đồn rằng, TBT Nguyễn Văn Linh đã bị chính hệ thống của mình vô hiệu hóa, vì chúng sợ “nói và làm” đe dọa đến quyền lợi cá nhân của họ. Vậy liệu TBT Nguyễn Phú Trọng có chỉnh đốn Đảng được không ?. Khó lắm !. Vì “ suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống” đã thành bản chất của bộ máy hiện nay.
Vậy bây giờ phải “chỉnh” hay “đốn”? Rõ ràng, đã đến lúc, trước khi “chỉnh” phải “đốn” thật mạnh .Chúng tôi xin mạo muội hiến kế cho ông Tổng Bí thư mấy vấn đề như sau :
1 -Về quan điểm : Phải tuyên bố bỏ ngay ý quan niệm “đã là Đảng CS là không xấu”. Vì quan điểm này mà tất cả bài báo viết về các tổ chức đảng hay đảng viên có chức có quyền tham nhũng, suy thoái đều bị “tốp”. Bí thư, chủ tịch tỉnh “xấu” ở địa phương thì điều lên trung ương làm chức to hơn. Đảng viên có chức có quyền tham những, tiêu cực nặng nhưng chỉ bị TƯ kỷ luật với hình thức “Phê bình”, “khiển trách” rồi cười xòa với nhau. Nguy hiểm nhất là Đảng đứng trên pháp luật, nên các vị lãng đạo cao cấp đảng quản lý bị kỷ luật, chỉ xử lý trong Đảng, không chuyển sang truy cứu hình sự. Vì xử án công khai sẽ ảnh hưởng đến “uy tín” của Đảng. Nhận thức sai lầm đó là cái khiên che cho tệ nạn suy thoái, tham những càng thêm trầm trọng. Tham nhũng bây giờ đã thành “nội xâm”, chúng đang bán cả đất đai Tổ quốc để làm giàu cá nhân. Cho nên đảng viên xấu thì nói xấu, công khai trên báo chí, xử án công khai cho nhân dân biết. Có tuyên bố rõ ràng như vậy mới “đốn” suy thoái, tham nhũng được.
2- “Chỉnh đốn Đảng” mấy chục năm nay không làm được vì chỉ hô hào “gương mẫu”,“tự kiểm điển”, “tự phê bình”, “đấu tranh nội bộ”. Tổng bị thư hô hào, xong về tỉnh Bí thư tỉnh ủy hô hào. Rồi huyện ủy hô hào, xã ủy hô hào, bí thư chi bộ hô hào. Thế là xong nhiệm vụ. Không ai hành động “đốn” suy thoái, tham nhũng cả. Những đảng viên đã là “suy thoái, tham nhũng” thì phần “CON” đã chiếm hai phần tâm hồn lòng dạ rồi, phần “NGƯỜI” chỉ còn chút xíu thôi- không thể kêu gọi “cải tà quy chánh” được – đó là chân lý. Chế độ quân chủ có quan can gián vua khi vua ban hành những chỉ dụ không đứng, có hại. Lãnh đạo Đảng CS không có người can gián, lại không thực hiện “tam quyền phân lập”, lên ai muốn làm gì thì làm. “Tam quyền phân lập” là kiến thức quản lý xã hội được đúc rút từ thời Aristots, đã ngàn năm nay. Có nó mới chặn được bọn tham nhũng. Đó là căn nguyên của suy thoái và tham nhũng đang trở thành “nội xâm” trong đảng . Ví dụ : Lệnh bổ sung thêm vốn cho Vinashin bao nhiêu triệu đô-la là bổ sung ngay, không ai dám cãi, mà cãi là mất chức, dù ai cũng biết con tàu ấy sắp chìm.
3-Muốn “đốn” suy thoái thành công phải dựa vào dân. Nguyễn Trãi dạy :” Nâng thuyền cũng dân, lật thuyền cũng dân”. Đảng phát động một phong trào toàn dân tố cáo cán bộ, đảng viên, nhất là những kẻ có chức có quyền đang suy thoái, tham nhũng bằng mọi hình thức, bọn giàu bó bất thường, bất chính. TBT Nguyễn Phú Trọng phải lập có một hòm thư nóng riêng để nhân dân gửi thư tố cáo vào đó. Thư nặc danh, không nặc danh đều là nguồn tư liệu quý để tìm ra tung tích bọn tham nhũng . Từ đó mới tìm ra có chứng cớ để “đốn” bọn suy thoái. Lực lượng thứ hai quan trọng nhất là báo chí. TBT phải ký văn bản cho phép các báo công bố rộng rãi thông tin về những quan chức suy thoái, tham nhũng , nếu có những chứng cứ cụ thể , Phóng viên nào lợi dụng để vu khống thì phải chịu chế tài của Luật Báo chí. Từ nguồn tin tố cáo của nhân dân và nguồn tin trên báo, Bao Thanh Thiên sẽ vào cuộc.
4- Tổng bí thư phải tự mình chọn một đội ngũ kiểm tra, thanh tra cương trực, dũng cảm ở trong các lực lượng công an, quân đội, thanh tra nhà nước vào đội quân “chỉnh đốn Đảng” do Tổng bị thư Đảng trực tiếp lãnh đạo. Cấp “thượng phương bảo kiếm” cho họ, cử một vị tướng trong sạch trong Bộ chính trị làm Bao Thanh Thiên. Đội quân “chỉnh đốn” này không thuộc bất cứ một cơ quan công an, thanh tra nào, kể cả Ban chống tham nhũng của chính phủ ( vì Ban chống tham nhũng mà toàn những người có điều kiện và nguy cơ tham nhũng nhất, lại làm trưởng ban thì chỉ là hình thức để lòe dân, vô tác dụng) . Căn cứ tố cáo của nhân dân và thông tin trên báo chí, lực lượng Bao thanh Thiên này sẽ bí mật tiếp xúc với nhân dân ( tức không thông qua chính quyền các cấp) để điều tra, thanh tra và kết luận. Có như thể mới lôi cổ bọn tham nhũng ra ánh sáng được.
Làm quyết liệt như thế trong năm năm, nhất định Đảng sẽ trong sạch hơn bây giờ nhiều. Có thể sẽ có thế lực tìm cách chống lại, vô hiệu hóa TBT, vô hiệu hóa cuộc “chỉnh đốn đảng” như họ đã làm nhiều năm nay, nên phải cảnh giác, phải diệt trước bọn đó. Chúng tôi mạo muội mách nhỏ với TBT Nguyễn Phú Trọng một vài đặc điểm để nhận dang bọn suy thoái đang ở xung quanh mình: Bọn xấu, bọn suy thoái, tham nhũng thường là bọn muốn giữ ghế lâu dài để kiếm chác, nên chúng thường xum xoe, nịnh bợ, hay khen thủ trưởng, họp hành thì tán dương ý kiến Tổng Bí thư một cách chung chung, làu làu nghị quyết, hoặc im lặng, không bao giờ nêu ý kiến trái chiều hay phản biện. Những bọn đó hãy lặng lẽ loại dần ra khỏi bộ máy đảng và chính quyền, đặc biệt không cho chúng vào đội quân diệt suy thoái tham nhũng nói trên.
Tôi là một đảng viên vào Đảng Nhân dân cách mạng Miền Nam ở mặt trận. Đảng của tôi là đảng đã cùng toàn quân toàn dân hi sinh xương máu mấy chục năm ròng để giành giải phóng dân tộc. Đảng bây giờ không vì dân vì nước như xưa nữa, mà đa phần đảng viên cầm quyền là quân ăn cắp, quân tham nhũng để vinh thân phì gia đáng nguyền rủa. Cho nên phải “chỉnh đốn” quyết liệt, không khoan nhượng, không xuê xoa mới mong tìm lại uy tín và hình bóng xưa Đảng xưa trong lòng nhân dân.
Tôi thấy việc “chỉnh đốn” Đảng là quá cần thiết và cấp bách, nên có mấy lời để cùng suy ngẫm .
Theo blog NM
http://quechoa.info/2012/01/11/ch%E1%BB%89nh-hay-d%E1%BB%91n/

Phạm Đình Trọng -ÂM VANG TIẾNG SÚNG ĐOÀN VĂN VƯƠN

Trong vụ nổ súng làm bị thương sáu công an, bộ đội ở Tiên Lãng, Hải Phòng, Đoàn Văn Vươn không cầm súng bắn nhưng Đoàn Văn Vươn là thủ lĩnh, là linh hồn, là người tiêu biểu cho ý chí lấn biển, mở cõi, mở mang đất sống cho gia đình, cho quê hương và cho đất nước, Đoàn Văn Vươn cũng tiêu biếu cho ý chí phản kháng việc thu hồi đất như cướp trắng thành quả hàng chục năm trời lao động bằng mồ hồi và bằng máu của cả gia đình, cướp trắng toàn bộ của cải tiền bạc đầu tư vào việc lấn biển mở đất. Vì thế tiếng súng phản kháng đó chính là tiếng súng Đoàn Văn Vươn.

Tiếng súng Đoàn Văn Vươn là sự bùng nổ của mâu thuẫn đang chứa chất ở nhiều nơi trong xã hội ta hôm nay, mâu thuẫn giữa người nông dân lao động sáng tạo trên mảnh đất mồ hôi xương máu của họ với hệ thống quyền lực nhân danh Nhà nước quản lí mảnh đất đó.

Luật đất đai, điều 5: Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu. Và điều 6: Nhà nước thống nhất quản lí về đất đai. Luật đất đai như vậy đã tạo ra những đoàn nông dân hình hài gầy guộc, xiêu vẹo, gương mặt rầu rĩ, tiều tụy cầm đơn đi khiếu kiện đất đai nối dài từ Nam ra Bắc, dòng dã năm này qua năm khác suốt mấy chục năm nay. Tấc đất tấc vàng, những tấc vàng đó lại thuộc sở hữu toàn dân, tức là của chùa! Những tấc vàng của chùa dễ xơ múi quá đã làm hỏng những người được Nhà nước giao cho quyền quản lí, quyền định đoạt những tấc vàng của chùa. Mảnh đất người nông dân đổ mồ hôi, đổ máu, đổ của cải ra khai khẩn lại không thuộc quyền sở hữu của người khai khẩn mà thuộc quyền quản lí của quan lại hàng huyện thì sự quản lí sẽ vô cùng tùy tiện và việc thu hồi, cưỡng chế mảnh đất người kĩ sư nông nghiệp Đoàn Văn Vươn khai khẩn là sự tùy tiện đó.

Từ trước đến nay lệnh thu hồi đất của quan ban ra, người dân chỉ biết cay đắng nhận đồng tiền đền bù rẻ mạt rồi đau khổ giao mảnh đất của tổ tiên ngàn đời để lại, giao mảnh đất mồ hôi xương máu, mồ mả ông cha, giao mảnh đất là núm ruột chôn rau cắt rốn, là quê cha đất tổ, là gốc tích cội nguồn dòng dõi, là nguồn sống của muôn đời con cháu cho các quan để các quan tư túi kiếm lợi trên mảnh đất đó. Đây là lần đầu tiên lệnh thu hồi đất ngang trái gặp sự phản kháng bằng tiếng súng.

Mảnh đất lấn biển của người kĩ sư nông nghiệp Đoàn Văn Vươn không phải chỉ là mảnh đất mồ hôi, xương máu mà còn là mảnh đất của sự nghiệp cuộc đời, của ý chí nam nhi. Mảnh đất của sự nghiệp cuộc đời bị mất trắng là ý chí nam nhi bị đánh bại. Ý chí nam nhi đã thắng cả trời, thắng cả sức mạnh hoang dã của bão biển mà phải thua cái lệnh hành chính ngang trái của hai anh em ruột nhà quan, phía sau ông anh quan đầu huyện kí quyết định thu hồi đất thấp thoáng bóng ông em quan đầu xã, nơi có bãi đất lấn biển của kĩ sư Đoàn Văn Vươn bị thu hồi.
Đã là nông dân thì ai cũng khát đất như quan khát chức quyền. Quan xuất thân từ nông dân thì khát cả hai! Người nông dân thỏa mãn nỗi khát đất bằng đổ mồ hôi, đổ máu ra mở đất, bỏ cả chiếc ghế công chức, bỏ cả cuộc đời vào mở đất. Quan thỏa mãn nỗi khát đất bằng quyền lực.

Dời núi lấp biển, thay đổi cả cảnh quan thiên nhiên, vẽ lại bản đồ cả vùng đất là công việc của những anh hùng cái thế. Đoàn Văn Vươn là người anh hùng đó. Lấn biển, thách thức sức mạnh hoang dã của biển cả, chỉ người có chí lớn mới làm được và Đoàn Văn Vươn đã làm được. Bãi biển xã Vinh Quang, Tiên Lãng đã có từ bao đời và từ bao đời nay chỉ có sóng cuồng, bão dữ. Bão từ biển đổ bộ vào, người dân Vinh Quang phải bỏ nhà cửa ruộng vườn chạy sâu vào đất liền tránh bão thì Đoàn Văn Vươn lại tiến ra biển đắp đê ngăn sóng, trồng cây chắn bão. Nhà cửa có thứ gì bán ra tiền đều bán hết để có đồng tiền cùng với tâm trí, sức lực, cùng với mồ hội và máu đổ ra, cùng với năm tháng cuộc đời làm nên con đê ngăn sóng, làm nên rừng cây chắn bão.

Lấn biển là sự nghiệp của cả cuộc đời, của nhiều thế hệ. Nhưng mảnh đất Đoàn Văn Vươn lấn biển vừa thành bãi chuối, vừa thành đầm tôm, chuối chưa kịp ra buồng, tôm vừa quen nước thì quyết định thu hồi đất của quan huyện tùy tiện ban ra. Luật đất đai qui định thời hạn giao đất là 20 năm, quan tùy tiện chỉ giao 14 năm. Quan kí quyết định giao đất ngày 9. 4. 1997 nhưng ngày tính thời hạn sử dụng đất lại là ngày 4.10.1993, tùy tiện kéo lùi ngày sử dụng đất trước ngày kí giao đất đến ba năm rưỡi. Quyết định thu hồi đất tùy tiện trái luật đất đai bị dân kiện, quan lại tùy tiện hứa: Dân rút đơn kiện thì quan sẽ cho dân tiếp tục sử dụng đất có được từ mồ hôi, xương máu của dân. Nhưng dân rút đơn kiện năm trước thì năm sau liền có quyết định thu hồi đất cùng với lệnh cưỡng chế quyết liệt, ầm ầm kéo công an, bộ đội về đập tan ngôi nhà nơi đầu sóng của gia đình người mở đất. Người đại diện Nhà nước thực hiện lời hứa với dân như vậy không thể dùng từ nào khác ngoài từ lật lọng. Tiếng súng Đoàn Văn Vươn là tiếng súng nổ vào sự lật lọng đó!

Kí giấy giao đất, tùy tiện định thời hạn sử dụng đất gây thiệt hại cho người nông dân chân chính Đoàn Văn Vươn khai phá lên mảnh đất đó, lại vội vã, nôn nóng, quyết liệt cưỡng chế, thu hồi mảnh đất lấn biển là toàn bộ cuộc đời, cơ ngơi, sự nghiệp của người nông dân chân chính Đoàn Văn Vươn, người đại diện Nhà nước quản lí đất đai đã thiếu cái đức lo cho dân của quan cai trị dân, lại thiếu tầm nhìn ra xã hội của người quản lí xã hội. Bãi biển nơi phô trương sức mạnh của thiên nhiên hoang dã nay đã thành bãi chuối, đầm tôm có sức hấp dẫn quá lớn làm cho ông quan đại diện Nhà nước quản lí đất đai trở nên nhỏ nhen, hẹp hòi, đối lập với dân.

Nhà nước đổ tiền ngân sách, huy động sức dân đắp được con đê quai biển nhưng động mưa bão là đê vỡ, sóng biển tràn vào tàn phá xóm làng, cuốn cả người, cả tài sản ra vùi dưới đáy biển. Động mưa bão là người dân phải bỏ nhà cửa, dắt díu con cái chạy trốn sức mạnh của biển. Đoàn Văn Vươn không xin một đồng tiền ngân sách Nhà nước, chỉ đổ của cải, công sức của gia đình ra đã đắp lên con đê vững chãi, trồng lên rừng cây bền bỉ, tạo ra khoảng cách an toàn giữa sóng dữ và làng xóm hiền hòa. Dân không còn phải chạy bão, bãi lấn biển của người nông dân mở đất Đoàn Văn Vươn còn tạo thêm việc làm cho những người dân quê tham công tiếc việc, tạo thêm của cải cho xã hội, mở thêm đất sống cho quê hương, mở mang bờ cõi cho đất nước. Những lợi ích to lớn đó do người nông dân mở đất Đoàn Văn Vươn tạo ra, người dân cả xã Vinh Quang, cả huyện Tiên Lãng đều thấy, người dân Việt Nam cả nước đều thấy, chỉ riêng những người đại diện Nhà nước quản lí đất đai ở huyện Tiên Lãng không thấy.

Anh Vươn không phải người tốt. Nói đúng ra anh Vươn chẳng có công lao gì cũng chẳng phải là người đi đầu vì sử dụng hàng chục hecta (đất) và thu lời nhưng không đóng góp gì cho địa phương. Đặc biệt từ năm 2007 đến nay anh hoàn toàn ăn không. Anh đắp đê để thu lợi cá nhân chứ có ích gì cho xã hội. Câu nói của ông chánh văn phòng ủy ban Nhân dân huyện Tiên Lãng, người phát ngôn của chủ tịch huyện Lê Văn Hiền đã bộc lộ rõ sự chật chội, hẹp hòi, đối lập với dân, bộc lộ sự tha hóa của những người đại diện Nhà nước quản lí đất, quản lí dân. Tiếng súng Đoàn Văn Vươn là tiếng súng nổ vào sự tha hóa đó.

Những người nổ súng vào quyền lực Nhà nước sẽ bị pháp luật Nhà nước xét xử. Nhưng tiếng súng phản kháng quyền lực Nhà nước chỉ là cái ngọn. Cái gốc là luật đất đai đã tước đoạt quyền làm chủ của người nông dân trên mảnh đất của chính họ. Cái gốc là sự tha hóa, sự xa dân đến mức đối lập lợi ích với dân, sự lợi dụng quyền đại diện Nhà nước quản lí đất đai nhưng ứng xử với đất đai không vì lợi ích Nhà nước, không vì lợi ích toàn dân mà chỉ vì lợi ích của cá nhân và phe nhóm. Sự tha hóa của quan chức đại diện Nhà nước quản lí đất đai đã xuất hiện ở mọi miền đất nước tạo nên dòng người dân mất đất cầm đơn đi khiếu kiện nối dài trong thời gian. Nhưng sự tha hóa của quan chức trong quản lí đất đai như được dung túng. Chưa có nỗi oan khuất mất đất đai của dân nào được giải quyết thỏa đáng, chưa có sự tha hóa nào của quan chức trong quản lí đất đai được nghiêm trị và sự tha hóa cứ lan rộng, kéo dài. Trong xử lí đất đai ở bãi biển xã Vinh Quang, huyện Tiên Lãng, Hải Phòng có yếu tố của sự tha hóa đó.

Cuộc vận động học tập đạo đức Hồ Chí Minh kéo dài rầm rộ suốt nhiều năm, tốn kém không ít tiền thuế của dân nhưng chỉ ồn ào hình thức, kết quả không thấy đâu, tiêu cực tham nhũng không suy giảm mà ngày càng trầm trọng đang đe dọa sinh mệnh của đảng cầm quyền và đe dọa sự sống còn của chế độ. Vào những ngày tận cùng của năm 2011 đầy biến động, ban chấp hành trung ương đảng Cộng sản Việt Nam vừa gấp gáp họp và thống thiết phát động cuộc chỉnh đốn đảng cứu đảng, cứu chế độ thì bùng nổ tiếng súng Đoàn Văn Vươn.

Người dân phập phồng lo lắng cho số phận người hùng mở đất Đoàn Văn Vươn trước sự xét xử của pháp luật nhưng người dân cũng chờ đợi sự phán quyết của pháp luật, của cơ quan tổ chức cán bộ, của cơ quan kiểm tra đảng đối với những ông quan cai trị dân nhưng ngày càng xa dân, ngày càng đối lập với dân. Người dân chờ đợi sự phán quyết đó để xem cuộc chỉnh đốn đảng lần này có khác với cuộc vận động học tập đạo đức Hồ Chí Minh chỉ ồn ào hình thức rầm rộ suốt mấy năm qua không.

P.Đ.T.
11. 01. 2012

http://anhbasam.wordpress.com/2012/01/12/641-am-vang-tieng-sung-doan-van-vuon/

Nguyễn Chí Phương- Lấy Dân Chủ Làm Tiêu Chuẩn Sống Và Cai Trị
Dân làm chủ vừa là một tiêu chuẩn sống, vừa là kết quả của sự đấu tranh giữa chính quyền cai trị với người dân trong quá trình phát triển, nhằm định rõ quyền công dân, quyền của các cơ quan trong chính quyền, bao gồm cả quyền của một chức danh trong bộ máy Nhà Nước.
Trước hết, Dân chủ là một tiêu chuẩn sống, thể hiện trong các văn bản đã được Liên Hiệp Quốc ban hành (Tuyên ngôn Quốc tế về Quyền con người – năm 1948, Công ước Quốc tế về quyền Dân sự và Chính trị – năm 1966, Công ước Quốc tế về các quyền Kinh tế, Xã hội và Văn hóa – năm 1966, các Hiệp ước, Công ước, Thỏa thuận Quốc tế cụ thể khác liên quan đến an ninh, an toàn, sức khỏe, vệ sinh, chống khủng bố, …). Các quốc gia thành viên được khuyến khích cam kết thực hiện theo.
Các văn bản quốc tế quy định về các quyền cơ bản của một con người vốn dĩ là sản phẩm đấu tranh đòi dân chủ của người dân với chính quyền trên mọi lĩnh vực, bắt đầu từ lĩnh vực tư tưởng và nhận thức, tiếp theo là các hành động – các cuộc cách mạng. Theo nghĩa này, các thể chế dân chủ là kết quả tất yếu trong tiến trình phát triển xã hội. Thêm vào đó, khi so sánh mức độ dân được làm chủ giữa những quốc gia phát triển cao (các nước Châu Âu, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Nam Triều Tiên, …) với những quốc gia có trình độ phát triển thấp (Bắc Triều Tiên, Cu Ba, Việt Nam, Miến Điện, …), hẳn sẽ cho chúng ta thấy một thực tế: Một mặt, dân chủ là sản phẩm của phát triển; mặt khác, không có quốc gia phát triển nào mà thiếu dân chủ. Những quốc gia kém phát triển, mức độ dân được làm chủ rất thấp; chính quyền coi các thực hành dân chủ, coi việc truyền đạt lý thuyết dân chủ, … như là kẻ thù, thậm chí họ còn đặt tên cho các nỗ lực cải thiện dân chủ là một “thế lực thù địch”.
Trở lại câu chuyện về tiến trình dân chủ, trước hết về tư tưởng triết học, thế giới đã khởi tạo nó từ thế kỷ XVII: Triết gia người Anh John Locke ( 1632 – 1704 ) được cho là người khởi đầu về nhận thức, cổ vũ dân chủ, chống chuyên chế và là người có công “biến các thần dân thành công dân” bằng khuyến cáo việc xây dựng và áp dụng pháp luật bằng “lý tính” – rõ ràng, thượng tôn pháp luật,…; Montesquieu (1689-1755); Voltaire (1694 – 1778); tiếp sau này là Alexander Hamilton (1757–1804) và Tổng thống thứ hai của Hoa Kỳ là Thomas Jefferson (1743-1826), ….
Những cuộc cách mạng lấy Dân chủ làm sức mạnh và đáng kể ra nhất, có: Cách mạng Tư sản Anh (1642 – 1688 ) là cuộc cách mạng sử dụng triết lý của John Locke để tập hợp sức mạnh; sự bùng nổ của Cách mạng Mỹ và bản tuyên ngôn độc lập do Tổng thống đầu tiên của Hoa Kỳ George Washington (1732 –1799) đọc vào ngày 04/7/1776; Cách mạng Tư sản Pháp (1789-1799), …
Có thể nói rằng, những tư tưởng triết học và những cuộc cách mạng vừa nói trên đã phải trải qua những giai đoạn khó khăn, hứng chịu các tàn phá, máu đã đổ và hy sinh không ít mạng sống con người, để tạo ra các Chuẩn mực Quốc tế về dân chủ, nhân quyền. Vì vậy, các quốc gia sau này, nếu ký cam kết vào các tiêu chuẩn quốc tế về dân chủ, nhân quyền thì đơn thuần chỉ là sự thụ hưởng các thành quả sẵn có của nhân loại mà thôi.
Thật vậy, khi mà Tiêu chuẩn dân chủ đã sẵn có từ lâu, thì con đường tiến đến nền dân chủ là do từng quốc gia lựa chọn, trong số những con đường đó, con đường “phải đổ máu” không phải là lựa chọn thông minh.
Một chính quyền sẵn sàng triệt hạ mạng sống hay bắt giam những ai luận bàn về một thể chế dân chủ thì chính quyền ấy, thực chất, đã không thể bàn luận với người dân về dân chủ, dân quyền, họ vì bản thân mình, chứ nhất định không vì một thể chế dân chủ, một nền móng dân chủ.
Khi chính quyền không thể bàn luận với công dân của mình về dân chủ thì chính quyền ấy không thể sử dụng ý nghĩa có được từ “một thể chế dân chủ” làm phương tiện giải thích các hành động cai trị của mình nữa, chính quyền ấy cũng không thể “thượng tôn pháp luật” được, rất có thể chính quyền tự chọn cho mình con đường “phải đổ máu” để thiết lập một nền móng dân chủ?
Tuy nhiên, thực tế lịch sử các quốc gia trên thế giới đã chứng minh rằng “Vì cuộc sống dân chủ của bản thân, người ta sẵn sàng đổ máu”, đơn giản vì: Quyền được làm chủ, một mặt, là điều kiện không thể thiếu cho mưu cầu hạnh phúc, cho mưu sinh của các cá nhân; mặt khác, dân chủ còn là mục tiêu cuộc sống của hầu hết những công dân có ý thức xây dựng xã hội dân chủ, trong bất kỳ một quốc gia nào đã chót “mở cửa giao lưu với các chuẩn mực dân chủ quốc tế”.
Khi không thể sử dụng những ý nghĩa tốt đẹp của nền dân chủ để biện minh cho các quyết định, hành động của mình, thì chính quyền tất yếu tạo ra những hậu quả tai hại cho phát triển xã hội:
1. Chính quyền không thể chính danh, nếu thiếu bầu cử dân chủ
Khi không chính danh, rất sợ sự thật, rất sợ công khai, sợ các phản đối công khai, cho dù các phản đối nhỏ. Chính quyền sẽ phải chi tiêu rất nhiều tài nguyên quốc gia chỉ cho việc duy trì ổn định bộ máy cai trị – một lãng phí rất lớn.
2. Chính quyền không thể quản lý xã hội một cách có hiệu lực, hiệu quả
Khi một hệ thống chính quyền thiếu tuân thủ các chuẩn mực dân chủ, dân quyền thì chính quyền cấp cao nhất ở Trung ương cũng không thể giải thích thỏa đáng với người dân về các hành vi và quyết định của chính mình nữa. Khi đó, nhất định tạo ra sự thiếu thống nhất trong các quá trình ra quyết định, thiếu thống nhất và thiếu khả năng dùng lý lẽ để giải trình về hành vi và quyết định giữa các cơ quan và các cấp chính quyền với nhau:
• Các cấp chính quyền luôn tìm cách nào đó để hành động hoặc giải thích có lợi cục bộ cho cơ quan mình, cấp mình, … và tạo ra sự đùn đẩy trách nhiệm giữa các cấp, giửa các cơ quan có liên quan, hoặc gắng tìm kiếm được một tổ chức, cá nhân, hoặc tìm được một “lỗi kỹ thuật” nào đó để đổ tại nó. Chẳng hạn như vụ việc “không cho ca sĩ hải ngoại Chế Linh được trình diễn tại TP. Hồ Chí Minh” là do lỗi của Công ty Tổ chức sự kiện Bích Ngọc, do bài hát chưa được đăng ký, do…. Tuy nhiên, thực tế sẽ có nhiều sự việc không thể đổ lỗi cho ai, hay bất cứ thứ gì đã viết trong Từ điển tiếng Việt gây ra được. Ví dụ: “Bí thư lên nhầm giường vợ chủ hộ”; hay “Thẩm phán giải quyết công việc tại nhà nghỉ”; … thì biết đổ cho ai hay đổ vào đâu được?
• Người ta sẵn sàng sử dụng điều kiện cụ thể của cơ quan mình, địa phương mình để gạt bỏ đi những thực hành dân chủ. Do không tuân thủ các chuẩn mực và quy trình dân chủ, các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp đều không hề tuân thủ các quy trình cần thiết để thực hành dân chủ. Thể chế và các thực hành dân chủ phải xếp sau “danh dự và sự tồn tại của chính quyền”.
• Làm khó cho người thừa hành công vụ, đặc biệt là lực lượng công an, thi hành án. Bởi vì, mệnh lệnh của cấp trên thiếu lẽ phải, thậm chí thiếu cơ sở pháp lý, thiếu nghĩa tình. Đã có cán bộ công an phải giải thích “vì nhận lương” cho nên họ buộc phải đi bắt giam người biểu tình. Nếu vậy, hầu hết người dân đều nhận lương từ ông chủ nào đó. Giải thích như vậy, rẻ tiền và nguy hiểm quá! Nhưng không nói như thế thì biết nói ra sao ? Tuy nhiên, cả người nói và người nghe đều đã không đề cập đến ông chủ thực sự của những “đồng tiền trả lương ấy” là những người nộp thuế – người dân, chứ không phải chính quyền.
Những điều vừa nêu trên là nguồn cơn tạo ra những mâu thuẫn không có cách chữa, giữa các cấp, giữa các cơ quan trong một chính quyền chuyên chế.
3. Sự tồn tại của một chính quyền chuyên chế phải dựa trên các giả định về kẻ thù phá hoại mình
Nếu một ngày nào đó, người ta không thể trả lời được các câu hỏi về kẻ thù của mình, như: Ai, ở đâu, khi nào, như thế nào, tại sao phá hoại mình, thì đó chính là ngày chính quyền chuyên chế bị diệt vong. Một chính quyền chuyên chế luôn tự làm hạn chế cơ hội hợp tác, giao thương có lợi cho phát triển xã hội, do phải chuyển một số trong các cơ hội hợp tác thành “các thế lực thù địch”.
4. Đẩy mạnh phân quyền nhằm phi tập trung hóa quyền lực – con dao hai lưỡi?
Để tránh những lời đàm tiếu, những mũi dùi chĩa vào các cơ quan của chính quyền Trung ương, người ta tiến hành phân quyền quyết định, quyền giải thích cho các địa phương, đặc biệt là những vấn đề mà “bố của Trung ương” cũng không giải quyết thỏa đáng được. Chẳng hạn như: Chính quyền TP. Hà Nội ra quyết định thu hồi đất của Nhà thờ Lớn để làm vườn hoa, thu hồi đất của Nhà thờ Thái Hà để xây trạm xử lý nước thải cho Bệnh viện Đống Đa, … Nếu vậy, Chính quyền cấp TP. Hà Nội có quyền quyết định thu hồi đất của khuôn viên Phủ Chủ tịch để xây Bệnh viện quận Ba Đình không nhỉ?
Trong khi đó, theo Luật đất đai (13/2003/QH11) và Luật trưng mua, trưng dụng tài sản (15/2008/QH12) thì việc thu hồi đất của cá nhân, tổ chức phải là quyết định của Thủ tướng Chính phủ. Có lẽ ai cũng hiểu được rằng, Thủ tướng Chính phủ, Chính phủ Việt Nam cũng không thể hành xử theo đúng Hiến pháp, Pháp luật được, vì vậy Thủ tướng “ủy quyền” cho Chính quyền Hà Nội trực tiếp giải quyết, còn giải quyết như thế nào thì Thủ tướng đều bảo vệ. Vì vậy, nếu có chuyện gì tiếp theo thì hãy làm việc với Chính quyền Hà Nội. Chính quyền TP. Hà Nội được sử dụng như một lưỡi dao – bảo vệ uy tín cho Chính phủ.
Gần đây, trang tin điện tử yahoo.com, dantri.com,… có đưa tin về một dân phòng người Trung Quốc đã xông vào nhà một người dân và hãm hiếp vợ của chủ nhà. Có lẽ sự việc này là “kết quả” có được sau nhiều lần được “ủy quyền” làm những việc trái đạo lý, gạt bỏ thực hành dân chủ, coi thường những gì pháp luật viết, thượng tôn những gì cấp trên chỉ đạo miệng. Ví dụ về Dân phòng Trung Quốc chính là lưỡi dao thứ hai có thể làm “chảy máu tay Chính phủ”, hủy hoại uy tín của một Chính quyền.
Sẽ không có lời giải nào thỏa đáng cho một chính quyền chuyên chế, thiếu tôn trọng và thực hành dân chủ. Dân chủ là điều kiện cần cho phát triển, phải được ưu tiên hàng đầu. Vì mục tiêu dân chủ, người ta sẵn sàng đổ máu, sẵn sàng phế truốt một chính quyền chuyên chế, chứ dân chủ nhất định không thể là thứ phải tuân theo các Tiêu chuẩn cai trị của một chính quyền.
Thật vậy, trong thế giới ngày nay, một chính quyền biết “lấy dân làm gốc” cũng có nghĩa chính quyền đó phải nỗ lực kiến tạo ra một nền móng dân chủ, để dân làm chủ. Tất nhiên trình độ quản lý của chính quyền cai trị một xã hội dân chủ, một xã hội cho phép người dân sử dụng súng, vũ khí giết người,… phải hơn hẳn trình độ quản lý một xã hội thiếu dân chủ, một xã hội “chỉ biết tuân lệnh, không được hỏi tại sao”.
May mắn thay, thứ dễ thay đổi nhất của con người chính là thay đổi trình độ hiểu biết nói chung, bao hàm cả trình độ quản lý xã hội. Trình độ hiểu biết chắc chắn dễ cải tiến hơn nhiều lần những thứ không thể biết là “cải tiến hay cải lùi” do không thể đo lường, như: cái tâm, cái đạo đức; Trình độ hiểu biết thậm chí còn dễ cải thiện hơn làm thẳng một cái chân vòng kiềng, việc chuyển đổi giới tính, việc nâng cao cả vú lẫn mũi, hay tẩy bỏ một mụn ruồi “phản trang sức” trên cơ thể

01/01/2012
N. C. P.
Tác giả gửi trực tiếp cho BVN.
http://www.boxitvn.net/bai/32718

1 Phản hồi »

  1. BI KỊCH PHẠM ĐÌNH TRỌNG
    Hoàng Đức Huy
    (Cựu chiến binh)
    Tâm lý thông thường là như thế này: Có những kẻ tự phá hoại cuộc đời mình cho nó trở thành bi kịch, chìm ngập trong bi kịch đó, song khi nhìn ra cuộc đời xung quanh lại thấy cuộc đời muôn sắc ấy cũng là bi kịch. Tựa hồ như kẻ đeo kính đen nhìn cuộc đời chỉ thấy toàn màn đen. Màu đen ấy không phải của cuộc đời mà chính là màu đen của đôi mắt anh ta, thậm chí tệ hơn đó màu đen của đầu óc và tâm địa anh ta, màu đen của sự ngu dốt và sự thâm độc. Tục ngữ Pháp có câu: Cái biết quyết định cái nhìn (Le savoir decide le voir). Đó là bi kịch của Phạm Đình Trọng khi tung lên mạng bài viết đen tối nhan đề “Bi kịch Việt Nam”. Đó là bi kịch của chính Phạm Đình Trọng chứ không phải là bi kịch của Việt Nam. Bi kịch của Phạm Đình Trọng cũng là hài kịch có nguy cơ dẫn đến thảm kịch.
    Phạm Đình Trọng là ai ? Đó là một kẻ từng ở trong quân đội song không giữ được tư cách bộ đội, bị đuổi ra khỏi quân đội, từng là đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam song đã bị khai trừ ra khỏi Đảng vì vi phạm kỷ luật của Đảng, một kẻ từ nhỏ được gia đình, nhà trường, cách mạng, chế độ nuôi dạy nhưng không nên người, luôn mang ảo tưởng đối với cá nhân mình, ngộ nhận đôi chút khả năng nhỏ bé của mình là tài năng, muốn làm kẻ đốt đền thờ ông bà, tổ tiên mình, trở mặt với nhân dân, ân nhân mình để được nổi tiếng, để thực hiện tham vọng được bọn thù địch nước ngoài và bọn cơ hội trong nước vinh phong cho là “nhà dân chủ”, “chính khách ly khai”, “đối lập”, v.v..
    Đây là trường hợp “con ếch muốn to bằng con bò” trong chuyện ngụ ngôn. Hiện nay, trong nước ta cũng xuất hiện một vài kẻ ngu dốt mà ngông cuồng như thế, chứ không phải một mình Phạm Đình Trọng, nhưng anh ta là kẻ muốn làm “lực lượng mới nổi nhất” trong đám người này. Thực ra, những kẻ đi trước “nêu gương” cho anh ta cũng đã mất tăm tích, không còn lại dấu vết gì, dù cũng một thời được một vài kẻ xấu vẽ mặt vẽ mày đẩy ra sân khấu.
    Người làm sao bào hao làm vậy. Cho nên xem văn thì biết người. Mà biết người rồi thì có thể xét đến văn. Đối với “Bi kịch Việt Nam” của Phạm Đình Trọng, có thể đánh giá một lời: Đây là văn ngu dốt và phản bội của một kẻ phản bội và ngu dốt.
    Toàn bài “Bi kịch Việt Nam” là những lời vu cáo trắng trợn và chửi bới thô bỉ, bộc lộ một sự căm hờn, hằn học đối với Đảng Cộng sản Việt Nam và đối với sự nghiệp cách mạng của nhân dân, dân tộc Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, vượt qua mọi trở ngại, khó khăn, sự nghiệp này đã thắng lợi, đang thắng lợi và trên đường tiến tới những thắng lợi mới, nhằm giải phóng, bảo vệ và xây dựng Tổ quốc “Việt Nam hòa bình, độc lập, dân chủ và giàu mạnh”, “đồng bào ta ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”, để nước ta có vị trí ngày càng cao trên trường quốc tế, vĩnh viễn từ bỏ ách nô lệ thực dân, phong kiến, vĩnh viễn thoát đói nghèo, tủi nhục, thực hiện một cuộc đổi mới và phục hưng dân tộc, phát huy mọi truyền thống và giá trị Việt Nam trong lịch sử mấy nghìn năm. Đó là đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam, là mục tiêu lý tưởng của nhân dân Việt Nam, là chính nghĩa, đại nghĩa của dân tộc Việt Nam. Không một kẻ nào, thế lực nào xuyên tạc, gièm pha và phá hoại được sự nghiệp vĩ đại đó, huống hồ một tiểu tốt vô danh như Phạm Đình Trọng.
    Mơ tưởng tham gia âm mưu “diễn biến hòa bình”
    Trong đoạn mở đầu “luận văn” của mình, Phạm Đình Trọng chân thành và nhiệt thành lặp lại và hưởng ứng những chủ trương và mưu tính của các thế lực thù địch bên ngoài và các thế lực cơ hội trong nước từ lâu ấp ủ thành một “chiến lược” chính trị. Hơn 30 năm nay, từ ngày chúng ta chiến thắng đế quốc, thống nhất đất nước, cả nước cùng tiến lên chủ nghĩa xã hội, bọn này đã nhiều lần xuyên tạc, vu cáo Đảng Cộng sản Việt Nam, lên giọng tiên đoán “sự sụp đổ của Đảng và của chế độ chính trị ở Việt Nam, của chính quyền nhân dân Việt Nam”.
    Sau đây là “giấc mơ giữa ban ngày” của Phạm Đình Trọng và bè lũ phản động ngoài nước và cả trong nước ngày nay đã đổi giọng vì hy vọng ngày một lụi tàn. Lấy ảo tưởng làm thực tế, chúng rêu rao: “Chấm dứt thể chế độc quyền lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là điều đương nhiên, là tiến trình tất yếu của lịch sử…
    Chấm dứt sự đơn diễn trên sân khấu chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam là không thể đảo ngược nhưng vẫn từng mong Đảng Cộng sản Việt Nam có vai trò chủ động đứng trong tiến trình đó…
    Đổi mới Đảng Cộng sản Việt Nam để tham gia vào tiến trình dân chủ đa nguyên, để Đảng Cộng sản tồn tại bình đẳng cùng các đảng khác trong thể chế đa nguyên lành mạnh, trong xã hội dân chủ thực sự… Tham gia vào tiến trình dân chủ đa nguyên, dân chủ thực sự là hồng phúc cho dân tộc Việt Nam và cũng là hồng phúc cho Đảng Cộng sản Việt Nam…”. Phạm Đình Trọng bộc lộ “tim đen” của bọn ôm ấp ảo tưởng và âm mưu “diễn biến hòa bình”.
    Bên cạnh những lời vu cáo thô bỉ, trắng trợn, bọn này lại đưa ra những lời đường mật như trên, tưởng đâu Đảng Cộng sản Việt Nam là một đảng trẻ con, nhân dân Việt Nam ấu trĩ về chính trị, chứ không phải là một Đảng, một dân tộc dày dạn trong đấu tranh cách mạng 82 năm nay, từng quật ngã mọi tên đế quốc xâm lược sừng sỏ cùng với bè lũ tay sai gian ngoan của chúng, phá tan mọi thủ đoạn quân sự và chính trị, mọi âm mưu phá hoại và lật đổ của chúng. Điều này chính bọn đầu sỏ đế quốc đã rõ, song bọn tay sai ngờ nghệch của chúng vẫn còn ảo tưởng. Thực ra, chúng cũng có đôi chút cơ sở để ảo tưởng. Đó là hiện tượng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức của một số người trong Đảng mà bản thân Phạm Đình Trọng là một phần tử. Từ sự suy thoái của bản thân mình và một số kẻ đồng loại, Phạm Đình Trọng và những kẻ ấy hy vọng hão huyền vào sự “thay màu đổi sắc” của Đảng Cộng sản Việt Nam, giống như các nơi khác trên thế giới. Nhưng Phạm Đình Trọng không thể “suy bụng ta ra bụng người” xem người Cộng sản Việt Nam nào, nhân dân Việt Nam nào cũng mang mầm mống phản bội trong tâm địa như anh ta. Trong lịch sử cách mạng nước ta, cũng từng có không ít kẻ phản bội, chống lại chính nghĩa, chống lại Tổ quốc, song số phận của chúng thường chẳng vẻ vang gì. Tuy vậy, thời nào cũng có những kẻ đó. Có quân tử thì có tiểu nhân, có nghĩa sĩ thì có gian phi, nhất là trong thời đại ngày nay, chiến tranh gián điệp, chiến tranh tình báo, chiến tranh lật đổ là thủ đoạn thâm độc thường xuyên của bọn phản động, đế quốc, chính tình hình này dễ khuyến khích những kẻ như Phạm Đình Trọng hăng hái xông ra làm kẻ “hiến thân” ngu ngốc cho các thế lực đen tối chống lại Tổ quốc, chống lại nhân dân, làm chim mồi cho bọn phản động đế quốc, mơ tưởng trở thành “chiến sĩ” của “dân chủ, tự do”. Đã có những tấm gương nhãn tiền của những kẻ đàn anh, đàn chị của Phạm Đình Trọng như: Bùi Tín, Vũ Thư Hiên, Hoàng Minh Chính, v.v… Những kẻ đó bây giờ về đâu?
    Viết bài luận văn “chính trị” của mình tung lên mạng nhân ngày 3-2-2012, kỷ niệm sinh nhật Đảng, Phạm Đình Trọng muốn đóng vai trò kẻ ly khai để thách thức Đảng, mong nổi tiếng là “lãnh tụ” chống cộng, lãnh tụ đối lập. Thử xem trình độ của kẻ toan làm lãnh tụ này như thế nào.
    Ngu ngốc về chủ nghĩa Mác-Lênin, về lịch sử dân tộc
    Chống Đảng Cộng sản Việt Nam thì phải chống chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.
    Phạm Đình Trọng khôn ngoan biết rằng chống Hồ Chí Minh, xuyên tạc và vu cáo Hồ Chí Minh là chạm vào tình cảm và vinh dự của dân tộc, là chuốc lấy sự phẫn nộ của nhân dân, của cả những người thiện chí trên thế giới, là chống lại một vĩ nhân có uy tín tuyệt đối mang tầm cỡ nhân loại, chống lại tư tưởng Hồ Chí Minh là chống lại dân tộc, cho nên anh ta không dám nói động đến Bác Hồ. Các tiên sư, tổ phụ phản động của Phạm Đình Trọng xưa nay đều không dám làm việc đó.
    Học đòi những kẻ chống Marx trên thế giới xưa nay, Phạm Đình Trọng như con đom đóm muốn tranh sáng với mặt trời, ra sức “bác bỏ” học thuyết cách mạng của Marx. Cũng như mọi kẻ chống Marx xưa nay, Phạm Đình Trọng không thể đương diện với các luận điểm khoa học và cách mạng có tầm lịch sử thế giới của Marx, đã được giới khoa học quốc tế thừa nhận và tôn vinh là nhà tư tưởng, nhà khoa học vĩ đại của mọi thời đại và vẫn còn sức thuyết phục đối với ngày nay. Sự phát triển của khoa học hiện đại và mọi biến động của lịch sử thế giới đương đại là hòn đá thử vàng của học thuyết khoa học và lịch sử của Marx. Chỉ cần nhắc một ví dụ là nhiều nhà kinh tế đương đại ở phương Tây muốn soi sáng cuộc khủng hoảng hiện nay của thế giới tư bản bằng các nguyên lý kinh điển về chủ nghĩa tư bản của Marx, tất nhiên họ không thể thừa nhận hoàn toàn chủ nghĩa Marx vì như thế là phủ nhận chủ nghĩa tư bản, tán đồng chủ nghĩa cộng sản, trở thành người cộng sản. Nhưng điều đó chứng tỏ những kẻ như Phạm Đình Trọng và đồng bọn toan phê phán Marx chỉ là làm việc ngu ngốc, lấy nạng chống trời, lấy tay che mặt trời, là con cóc tự xưng là cậu ông trời.
    Nhưng người có chút ít kiến thức về triết học và về sử học có thể thấy trò hề phê phán chủ nghĩa Marx của Phạm Đình Trọng. Tất cả các luận điệu ngu ngốc của Phạm Đình Trọng chỉ là sự lặp lại vụng về các luận điệu của bọn “Marx học” phương Tây, mù quáng phủ nhận học thuyết phương thức sản xuất, học thuyết đấu tranh giai cấp, học thuyết hình thái kinh tế – xã hội, học thuyết hình thái ý thức xã hội (hệ tư tưởng)… Sự phủ nhận đó thường được tiến hành bằng cách xuyên tạc, bóp méo chủ nghĩa Marx một cách bất lương, vô lý rồi phê phán cái sự vô lý do chính mình bịa ra, đó là phương pháp của bọn gọi là “phê phán chủ nghĩa Marx”. Phạm Đình Trọng là học trò hạng bét của bọn phê phán Marx đó. Nhưng sự phê phán của Phạm Đình Trọng ngoài những lời thô bỉ, ngạo ngược ra, còn chứng tỏ anh ta là một kẻ vô học, chưa qua được trình độ phổ thông, chỉ tiếp thu lem nhem mấy luận điệu rác rưởi của bọn chống cộng quốc tế rồi đem ra sử dụng và vận dụng một cách có thể gọi là ngu xuẩn. Các luận điệu đó chỉ có tác dụng đối với những người cùng có trình độ ngu dốt ngang với hoặc kém hơn Phạm Đình Trọng. Điều đó cũng là tất nhiên, lấy đâu ra trí tuệ và kiến thức từ một con người có trình độ học thức như Phạm Đình Trọng?
    Hãy lấy một ví dụ về trình độ “lý luận” của Phạm Đình Trọng, người muốn vươn lên làm nhà lý luận chính trị mang tầm “chiến lược” chống lại chủ nghĩa Mác-Lênin, vạch ra “cương lĩnh” cho bọn chống cộng ở Việt Nam.
    Thay thế cho học thuyết phát triển lịch sử của chủ nghĩa Marx, Phạm Đình Trọng đưa ra “học thuyết” của mình: Anh ta so sánh sự phát triển của mỗi con người với sự phát triển của xã hội loài người. Đại khái anh ta cho rằng: con người từ tuổi ấu thơ chưa có cá nhân, chỉ có bầy đàn, đến tuổi trưởng thành mới có cá nhân, đến lúc tuổi già lại trở về bầy đàn. Xã hội loài người cũng tương tự như thế: các xã hội trước chủ nghĩa tư bản, con người chưa có cá nhân, chỉ có bầy đàn. Đến chủ nghĩa tư bản, mới có sự phát triển cá nhân. Theo lô gich của Phạm Đình Trọng thì sau chủ nghĩa tư bản, xã hội cá nhân lại trở về với bầy đàn. Vì vậy, anh ta kết án: Không có cái tôi cá nhân, chủ nghĩa Marx đưa xã hội loài người trở về bầy đàn.
    Cái học thuyết lịch sử này của Phạm Đình Trọng không cần phải có tư duy khoa học cao siêu gì cũng có thể thấy nó là cực kỳ ngu xuẩn. Nếu có chút lương tri, anh ta phải tự lấy làm xấu hổ vì tri thức “lý luận” ngốc nghếch của mình.
    Trước hết, từ khi phát sinh xã hội loài người thì con người có cá nhân và cộng đồng chứ không phải sống theo bầy đàn như con vật. Con người từ khi sinh ra đã có mối quan hệ giữa cá nhân và cộng đồng (trước hết là đứa trẻ với gia đình). Đứa trẻ bắt đầu có ý thức đã phải có ý thức về bản thân và người khác, tức là giữa cá nhân và tập thể với các cộng đồng từ nhỏ đến lớn, từ gần đến xa, ý thức về quyền lợi và nghĩa vụ, về những cái được làm và những cái không được làm, phải sống theo phong tục, tập quán, lễ nghi, đạo đức, pháp luật. Con người có tính xã hội. Qua các chế độ khác nhau, quan hệ cá nhân và cộng đồng khác nhau, tùy theo loại hình nhà nước, nhà nước là hình thức quản lý xã hội và thống trị giai cấp. Trong lịch sử, cá nhân không những có quan hệ đồng thuận với cộng đồng mà cũng có quan hệ xung đột với cộng đồng, đặc biệt giữa cá nhân và nhà nước, đại diện cho giai cấp thống trị. Xã hội không phải là tổng số (dấu cộng) những cá nhân. Mỗi con người cá nhân do điều kiện kinh tế – xã hội đều thuộc một giai cấp, giữa các giai cấp khác nhau có liên minh, hợp tác và có xung đột, đối kháng, bất cứ dưới chế độ nào cũng có sự đối kháng giữa các giai cấp đối kháng, từ đó diễn ra đấu tranh giai cấp dưới mọi hình thức. Con người thuộc về giai cấp nhất định có tính giai cấp, xã hội có quan hệ giai cấp và có đấu tranh giai cấp, nhà nước nào cũng có tính giai cấp. Lịch sử các xã hội loài người từ xưa đến nay là lịch sử đấu tranh giai cấp dưới mọi hình thức kinh tế, chính trị, văn hóa, tư tưởng, khi hòa bình khi bạo lực, khi âm thầm, khi công khai. Nếu tự mình xét mình thì Phạm Đình Trọng sẽ thấy rằng ngôn luận và hành vi của anh ta là một hành động có tính giai cấp phản động. Tính giai cấp thể hiện ngay trong tư tưởng và hành động của anh ta.
    Dưới chủ nghĩa tư bản, đấu tranh giai cấp mang tính chất toàn cầu, toàn diện, trong đó có hình thức đấu tranh áp bức dân tộc và giải phóng dân tộc; xâm lược của chủ nghĩa thực dân, chủ nghĩa đế quốc và chống xâm lược của nhân dân các dân tộc bị áp bức. Mọi biến động xã hội, lịch sử xét đến cùng đều do động lực kinh tế, đấu tranh giai cấp. Đấu tranh giai cấp không phải do Marx và những người cộng sản bịa ra mà đó là sự thật lịch sử, sự thật tại các quốc gia và sự thật toàn thế giới cho đến ngày nay. Đấu tranh giai cấp có nhiều hình thức: hòa bình và bạo lực, hợp tác và đấu tranh, đối thoại và ngoại giao, đấu tranh giữa các liên minh giai cấp, liên minh quốc gia, liên minh dân tộc, các phe nhóm kinh tế – chính trị mà phân tích đến cùng sẽ thấy động lực đấu tranh giai cấp giữa bóc lột và chống bóc lột (kinh tế) giữa áp bức và chống áp bức (chính trị) giữa xâm lược và chống xâm lược (vũ trang, ngoại giao). Nguyên lý của chủ nghĩa Marx: lịch sử loài người từ xưa đến nay là lịch sử của các cuộc đấu tranh giai cấp là quy luật khách quan, phổ biến và sinh động mà động lực cơ bản là kinh tế. Hiện thực nước ta hiện nay cũng như bức tranh thế giới ngày nay chứng tỏ Đảng Cộng sản Việt Nam lấy chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động là đúng đắn. Tất nhiên cần nhận thức sâu sắc, vận động sáng tạo, không ngừng đổi mới, điều chỉnh cho lý luận phù hợp với thực tiễn, đem lại thành công và thắng lợi trong mọi lĩnh vực.
    “Học thuyết” về phát triển con người từ nhỏ đến già đem suy vào phát triển của loài người từ xưa đến nay để lên án chủ nghĩa Marx “phủ nhận cá nhân, đưa xã hội loài người trở về bầy đàn” là một thứ ngụy biện vừa xảo trá, độc ác, vừa ngu xuẩn, dốt nát.
    Nếu trước chủ nghĩa tư bản, con người là bầy đàn, đến chủ nghĩa tư bản là con người cá nhân thì sau chủ nghĩa tư bản, con người lại trở về bầy đàn như con người về già lại trở về bầy đàn khi về hưu ? Đó là một thứ tiến hóa luận, tuần hoàn luận không thể gọi thế nào khác hơn là ngu xuẩn, dốt nát như bên trên đã nêu. Đem cái thứ ngụy luận đó để phê phán chủ nghĩa Marx thì Phạm Đình Trọng là một nhà “lý luận tuyệt luân”, các nhà lý luận chống cộng, chống Marx, chống Việt Nam có thể tôn anh ta làm thầy…dùi.
    Trên đây là lý luận của Phạm Đình Trọng về lịch sử nhân loại. Còn về lịch sử dân tộc đối với Phạm Đình Trọng thì anh ta cho rằng đấu tranh cách mạng, giải phóng dân tộc là vô ích tốn xương máu, cứ để cho chủ nghĩa thực dân, đế quốc đưa chúng ta thoát khỏi bầy đàn, trở thành những cá nhân siêu việt, như bản thân cá nhân “nhà trí thức” Phạm Đình Trọng.
    Sinh ra ở miền Bắc, sau kháng chiến chống Pháp, chưa từng làm nô lệ dưới thời thực dân, phong kiến, chưa từng thấy mặt thằng Tây thực dân, tên quan phong kiến, chưa từng biết thảm cảnh của dân tộc và nhân dân dưới ách thuộc địa, chỉ biết chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa thực dân qua bộ mặt hào nhoáng của chủ nghĩa thực dân mới và sự bái phục từ xa nền văn minh phương Tây với những luận điệu dân chủ, nhân quyền cũ rích, đầu óc Phạm Đình Trọng đặc sệt những tư tưởng phản động tiếp thu được từ các thông tin chống cộng, chống Việt Nam, mà ngày nay chính những người di tản, lưu vong ở nước ngoài cũng đã thấy rõ bộ mặt thật để từ bỏ thì Phạm Đình Trọng còn ôm lấy làm tài sản tư tưởng, làm lý tưởng chính trị của bản thân mình để nhìn lịch sử vẻ vang, anh hùng của dân tộc cũng như sự nghiệp xây dựng đất nước ngày càng tiến bộ ngày nay thành ra “bi kịch Việt Nam”.
    Phạm Đình Trọng bốc thơm chủ nghĩa đế quốc phương Tây, lấy đó làm lý tưởng, oán trách dân tộc đã đấu tranh chống lại các thế lực “cao quý” đó, giá mà cứ để chúng tiếp tục thống trị nước mình thì mọi cái đều đã thành tốt đẹp ; dân tộc mình không còn là bầy đàn nữa mà đã thành văn minh, bởi vì kỷ nguyên “chủ nghĩa tư bản văn minh là kỷ nguyên độc lập, dân tộc”, chủ nghĩa tư bản phương Tây tự khắc biến dân tộc mình thành độc lập, tự do, hạnh phúc. Chủ nghĩa thực dân phong kiến là quá khứ hoàng kim của dân tộc, chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa thực dân mới là tương lai xán lạn của nước ta theo lý tưởng chính trị của Phạm Đình Trọng
    Toàn bài luận văn của Phạm Đình Trọng mạng giọng điệu mạ lị Đảng Cộng sản Việt Nam đồng thời miệt thị dân tộc, miệt thị nhân dân, bốc thơm chủ nghĩa thực dân, chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa đế quốc, tham gia vào bản đồng ca chống cộng, chống Việt Nam đang ngày càng rối rắm, lạc điệu của bọn phản động ở nước ngoài. Bọn này ngộ nhận chủ trương tự phê bình để tự đổi mới, để xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam trở nên ngày càng trong sạch, vững mạnh, ngày càng gắn bó với nhân dân, là dấu hiệu của sự suy yếu, cho nên hí hửng cao giọng chống cộng, chống Việt Nam. Phạm Đình Trọng cũng cho rằng đây là cơ hội để xuất đầu lộ diện, múa may quay cuồng một cách lố bịch.
    Sự thật lịch sử vĩ đại là Đảng Cộng sản Việt Nam trong 82 năm qua là cội nguồn giải phóng và phục hưng dân tộc Việt Nam, đưa dân tộc ta từ thân phận nô lệ, yếu hèn trở nên nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ngày nay. Sự gắn bó giữa Đảng Cộng sản Việt Nam với nhân dân Việt Nam là sức mạnh đã, đang và sẽ làm thất bại mọi mưu mô phá hoại sự nghiệp chính nghĩa và vẻ vang của dân tộc trên con đường tiến bộ, phồn vinh, văn minh thực sự. Mọi mưu đồ ly gián Đảng với dân bằng luận điệu gian trá, lừa bịp, dù thâm độc đến đâu sẽ thất bại vì bản chất của chúng là phi nghĩa, phi chân lý, phi đạo lý. Cần phải vạch rõ cho Phạm Đình Trọng và những đồng bọn của anh ta biết một sự thật lịch sử là: Khi Pháp xâm lược Việt Nam, bọn thực dân và bọn Việt gian theo Pháp đưa ra luận điệu lừa bịp: đánh Việt Minh chớ không đánh Việt Nam. Khi Mỹ xâm lược miền Nam, bọn đế quốc cùng với bọn Việt gian theo Mỹ cũng đưa ra luận điệu: diệt Việt cộng chớ không đánh Việt Nam. Mỗi người dân Việt Nam đều biết Việt Minh là Việt Nam, kháng chiến giành độc lập, tự do ; Việt cộng là Việt Nam đánh Mỹ, giành độc lập, thống nhất. Ngày nay, bọn đế quốc, thực dân lại giở trò lừa bịp với luận điệu: đánh đổ Cộng sản Việt Nam để khôi phục dân tộc Việt Nam. Luận điệu đó có ý nghĩa gì? Phạm Đình Trọng cùng với đồng bọn phải biết rằng: chống lại Đảng Cộng sản Việt Nam, chống lại nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là chống lại Tổ quốc Việt Nam, dân tộc Việt Nam, chống lại quá khứ, hiện tại và tương lai của Việt Nam, là phản dân tộc, phản quốc. Cái mặt nạ chống cộng không che dấu được bộ mặt phản quốc của những kẻ mong bán rẻ một lần nữa Tổ quốc cho bọn xâm lược mới, lăm le cướp nước ta một lần nữa. Bọn chúng không nên mơ tưởng bằng con đường “diễn biến hòa bình” tái diễn lại trên đất Việt Nam tội ác “tố cộng”, “diệt cộng” những năm 60 của thế kỷ XX. Tình hình một số nơi hiện nay trên thế giới đang khuyến khích bọn đế quốc và bọn phản động mơ tưởng tái diễn tội ác đó. Cái học thuyết “cá nhân cực đoan” chống cộng của Phạm Đình Trọng nghe ra có mùi vị của thuyết “nhân vị cần lao” của Ngô Đình Nhu ngày xưa.
    Các luận điệu của kẻ phản động, phản quốc Phạm Đình Trọng dù núp dưới chiêu bài gì cũng nhất định thất bại và chuốc lấy sự nhục nhã trong hiện tại và tương lai. Kẻ phản bội nhất định không có số phận vẻ vang gì mà chỉ trượt dài xuống hố tự hủy diệt và sỉ nhục. Một lần nữa cần cảnh cáo Phạm Đình Trọng về cái vực sâu đang chờ anh ta phía trước. Không có “bi kịch Việt Nam” nào. Chỉ có bi kịch Phạm Đình Trọng – vừa bi kịch vừa hài kịch. Bi kịch và hài kịch đó đã đến lúc cần hạ màn sớm.
    2-2012

    Phản hồi bởi Hoàng Đức Huy — 06/03/2012 @ 2:59 sáng | Trả lời


RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Blog at WordPress.com.

%d bloggers like this: