Hoàngquang’s Blog

01/01/2012

Kinh tế 2011: Những con số gây sốc

Filed under: Kinh tế — hoangquang @ 9:53 sáng
Tags:

Tác giả: VEF

TTXVN VỀ HIỆP ĐỊNH ĐỐI TÁC KINH TẾ CHIẾN LƯỢC XUYÊN THÁI BÌNH DƯƠNG

***

(VEF.VN) – Lần đầu tiên tại Việt Nam 3 ngân hàng hợp nhất làm một; tỷ giá, giá vàng tăng kỷ lục nhất từ trước đến nay, lãi suất đạt đỉnh… là những con số và sự kiện gây sốc với DN và cả nền kinh tế trong năm 2011.

Diễn đàn Kinh tế Việt Nam (VEF.VN) – báo VietNamNet điểm lại 10 con số cũng dấu ấn ấn tượng nhất của những sự kiện kinh tế tác động mạnh mẽ, sâu rộng đến người dân, doanh nghiệp và cả nền kinh tế năm 2011.
Trên 18% – lạm phát hàng quán quân thế giới

Theo Tổng cục Thống kê, CPI tháng 12/2011 so với tháng trước tăng 0,53%, so với tháng 12/2010 tăng 18,13%. Năm 2011 so với năm 2010 tăng 18,58%. Đây là mức thuộc hạng cao nhất châu Á. Và như nhận định của lãnh đạo Chính phủ lạm phát Việt Nam còn thuộc hàng quán quân thế giới. Nguyên nhân của lạm phát được cho là bắt nguồn từ những bất ổn của chính sách tiền tệ. Đây là nguyên nhân hàng đầu dẫn tới bất ổn kinh tế vĩ mô.

Vì thế, Chính phủ đã có Nghị quyết 11 để kiềm chế, trong đó đặc biệt tập trung vào việc thắt chặt tín dụng và tài khoá.

Năm 2010, Quốc hội đã thông qua chỉ tiêu CPI năm 2011 không quá 7%. Đến tháng 6/2011, Chính phủ đề nghị nới lỏng chỉ tiêu CPI cả năm lên không quá 17%. Nhưng cuối cùng CPI cả năm 2011 tăng 18,13%. Năm 2012, Chính phủ đặt mục tiêu đưa lạm phát về 9%.

9,3%: mức điều chỉnh tỷ giá kỷ lục

Ngày 11/2/2011, lần đầu tiên Ngân hàng Nhà nước điều chỉnh mức tăng tỷ giá USD/VND bình quân liên ngân hàng lên 9,3%. Đây là mức điều chỉnh mạnh nhất trong lịch sử qua một lần điều chỉnh, gần với cả mức tăng của cả một năm trong những năm gần đây. Bước đi đột phá này nhằm kéo giá USD trên thị trường liên ngân hàng và thị trường tự do sát lại gần nhau.
Your browser may not support display of this image.

Để thị trường USD tự do bớt lũng đoạn, Ngân hàng Nhà nước đã ra tay dọn dẹp USD “chợ đen”, nghiêm cấm và phạt thật nặng (lên tới 500 triệu đồng) nếu niêm yết giá bằng ngoại tệ… Ngân hàng Nhà nước cũng thông báo sẽ điều hành tỷ giá theo hướng ổn định, đến cuối năm chỉ biến động tối đa 1%. Đến thời điểm cuối năm, USD vẫn tỏ ra là một thị trường ổn định. Tuy nhiên, điều lo ngại là điều gì sẽ xảy ra trong đầu 2012 khi căng thẳng tỷ giá USD/VND vẫn hiện hữu.

20% – phá trần, lãi suất lên đỉnh

Mặc dù đầu tháng 3/2011, Ngân hàng Nhà nước thông báo sẽ “tuýt còi” các ngân hàng nếu đẩy lãi suất huy động vượt trần 14%. Tuy nhiên, các ngân hàng thương mại vẫn đua lãi suất, đẩy lên 18%, 20% và thậm chí còn cao hơn. Lãi suất cho vay bị đẩy lên 24 – 25% khiến các DN gặp nhiều khó khăn.

Khi các nhà băng đã phớt lờ quy định của cơ quan quản lý, và trong suốt gần năm qua cơ chế lãi suất huy động bị biến thành một cái “chợ” bát nháo. Để dẹp yên “chợ” này, Ngân hàng Nhà nước một lần nữa phải dùng kỷ luật “sắt”, từ kỷ luật, cách chức đến mời công an vào cuộc… Sự quyết liệt này giúp giảm căng thẳng trần lãi suất huy động, nhưng lãi suất cho vay vẫn ngất ngưởng, khiến nhiều cá nhân và DN vẫn hoài nghi về hiệu quả điều hành.
Your browser may not support display of this image.

49 triệu đồng/lượng, giá vàng cao lịch sử

Theo đà tăng của thế giới, giá vàng tại Việt Nam bắt đầu leo thang từ đầu tháng 8. Ban đầu, khi giá vàng mới nhích lên 42, rồi 45-46 triệu đồng/lượng. Cơn sốt vàng thực sự bùng nổ vào ngày 23/8/2011, khi giá vàng đạt đỉnh: trên 49 triệu đồng/lượng. Cả xã hội náo loạn với vàng. Trong vòng xoáy “điên loạn” đó, nhiều người thắng đậm và ối kẻ “chết đứng”. Để hạ nhiệt cơn sốt này, Ngân hàng Nhà nước đã tung ra một lượng vàng từ dự trữ và mở quota cho nhập khẩu. Sau đó, giá vàng mới giảm dần và ổn định quanh mức 44-45 triệu đồng/lượng.

Ngoài ra, thông tin về việc dự kiến cấm sản xuất, lưu thông vàng miếng rồi lại chưa thông qua, chỉ lưu hành vàng miếng của Công ty vàng bạc đá quý SJC… cũng góp phần khiến thị trường vàng thêm bất ổn. “Cơn điên” của giá vàng trong năm 2011 thực sự là sự kiện chấn động, ảnh hưởng tới nhiều người vì tại Việt Nam, người dân vẫn có thói quen tích trữ vàng.

1.000 tấn: Số vàng cất trữ trong dân

Công bố của Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia giữa tháng 6/2011, đã công bố một con số giật mình: lượng vàng người dân nắm giữ có thể lên tới cả nghìn tấn. Con số này cũng đã được chất vấn tại quốc hội nhưng đến nay vẫn là một ẩn số. Nếu tính ra, lượng vàng này tương đương khoảng 45 tỷ USD – một số vốn lớn nằm trong két, không được đưa vào lưu thông – lại đem lại những hệ luỵ không nhỏ.

Đây là thói quen lâu đời của người dân, tuy an toàn, nhưng không sinh lời. Thói quen này cũng khiến cho mỗi khi giá vàng biến động, người dân lại đổ xô giao dịch, gây biến động lớn trên thị trường.
Your browser may not support display of this image.

Hơn 3.000 tỷ: thuế truy thu các DN ôtô

Các liên doanh ôtô lớn ở Việt Nam như Honda, Ford, Toyota và GM Deawoo… hay Nhà máy ôtô VEAM… đã từng đứng trước nguy cơ bị truy thu thuế linh kiện ôtô lên tới hàng nghìn tỷ đồng, trong đó, riêng Honda suýt bị truy thu hơn 3.340 tỷ đồng, Ford 54 tỷ đồng… với lý do không đảm bảo độ rời rạc theo Quyết định 05/2005 của bộ Khoa học & Công nghệ. Trong khi đó, theo thông tư 184/2010 của Bộ Tài chính, chỉ cần 1 linh kiện không đáp ứng tiêu chí về độ rời rạc theo Quyết định 05 thì toàn bộ lô hàng sẽ phải nộp thuế theo thuế suất của xe nguyên chiếc là từ 72-82%, tức chênh lên rất nhiều so với mức dưới 30% của thuế linh kiện.

Sau nhiều tranh cãi giữa các bộ, giữa DN với các bộ, các DN đã may mắn thoát nạn này sau khi kêu cứu lên Chính phủ, và được Chính phủ đồng ý tháo gỡ. Nhưng đằng sau câu chuyện này là bài toán chưa có lời giải: DN ôtô Việt Nam “lười” nội địa hoá trong bối cảnh công nghiệp hỗ trợ èo uột, còn các cơ quan quản lý cũng “lười” cập nhật những tiến bộ khoa học kỹ thuật về độ rời rạc của linh kiện.

Gần 50.000: DN phá sản năm nay

Theo số liệu của Bộ Kế hoạch & Đầu tư, tính đến tháng 9, có gần 49.000 doanh nghiệp đã dừng hoạt động, dừng nộp thuế, hoặc đã giải thể, phá sản, đóng cửa; trong đó, phá sản, giải thể là 5.800 doanh nghiệp. So với năm ngoái, số doanh nghiệp khó khăn, phải “đắp chiếu” này đã tăng lên 11.000 doanh nghiệp. Bình quân trước đây, mỗi năm có khoảng 5.000-7.000 doanh nghiệp phá sản, giải thể. Mặc dù Nghị quyết 11 đã có nhiều giải pháp tháo gỡ cho doanh nghiệp nhưng tình hình “sức khỏe” của doanh nghiệp vẫn xấu đi. Hơn nữa, môi trường kinh doanh của Việt Nam năm nay cũng xấu đi hơn nhiều trong đánh giá của các tổ chức quốc tế, nhà tài trợ và DN.

Tuy nhiên, cũng có chuyên gia cho rằng, đừng bi quan và hoảng hốt khi thấy số doanh nghiệp phá sản tăng lên vì đó là tín hiệu cho một cuộc sàng lọc có lợi cho tái cơ cấu nền kinh tế hiện nay.
Your browser may not support display of this image.

Hơn 50%: Nợ công vẫn an toàn

Theo cách tính của Bộ Tài chính, năm 2007, nợ công mới chỉ là 33,8% GDP nhưng đến năm 2010, đã là 56,6%, trong đó nợ nước ngoài bằng 42,2%. Dự kiến tổng số nợ công sẽ ở mức khoảng 1.375 nghìn tỷ đồng, bằng khoảng 58,7% GDP năm 2011.

Các chuyên gia cảnh báo, nếu tỷ lệ nợ công là 70% GDP, Việt Nam cũng có thể rơi vào cảnh “vỡ nợ” và khủng hoảng bởi nền kinh tế quá mong manh và nhạy cảm với các cú sốc bên ngoài. 3 rủi ro mà lớn từ nợ công của Việt Nam hiện nay là: chi tiêu và đầu tư công kém hiệu quả; một bộ phận rất lớn nợ công của các DNNN chưa được thống kê và nợ công tăng quá nhanh, trong khi thâm hụt ngân sách luôn ở mức rất cao.

Vậy, Việt Nam sẽ ứng phó thế nào với nợ công trong thời gian tới? Không có cách nào khác, đó là một cơ chế minh bạch đối với việc sử dụng các khoản vay.

10.162 tỷ đồng: Thua lỗ của EVN

Con số này được Bộ Công Thương công bố vào ngày 19/11 về tình hình kinh doanh thua lỗ tại Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) năm 2010. Đây là khoản lỗ của riêng mảng kinh doanh điện, chưa tính đến lỗ lãi tại các công ty cổ phần điện EVN góp vốn. Kết quả kiểm toán mới nhất của Kiểm toán Nhà nước đã khẳng định, EVN thua lỗ là do quản lý kém.

Mặc dù Bộ Công Thương bênh vực, cho rằng số lỗ này là do bù vào phần chi phí mua điện bên ngoài giá cao và chênh lệch tỷ giá, song, dư luận không khỏi hoài nghi: vậy số lỗ do EVN đầu tư ngoài ngành là bao nhiêu? những thất thoát trong khâu truyền tải điện tại sao chưa được tính đến?. Thua lỗ mà lương vẫn cao, tới 7,3 triệu đồng/tháng mà vẫn không đủ sống? giá thành sản xuất điện hiện nay là bao nhiêu?

Công bố thua lỗ để EVN đòi tăng giá điện. Và kết quả, EVN đã công bố sẽ tăng giá điện thêm 5% bắt đầu từ ngày 20/12/2011.

3 thành 1: Vụ hợp nhất ngân hàng đầu tiên

3 ngân hàng đầu tiên ở TP.HCM là Đệ Nhất (Ficombank), Việt Nam Tín Nghĩa (TinNghiaBank) và TMCP Sài Gòn (SCB) đã chính thức hợp nhất thành một ngân hàng, với tên gọi Ngân hàng TMCP Sài Gòn. SCB “mới” sẽ chính thức hoạt động từ 1/1/2012. Trong đó, BIDV – với tư cách là đại diện Ngân hàng Nhà nước – sẽ hỗ trợ để quá trình hợp nhất này diễn ra “xuôi chèo mát mái”.

Sự hợp nhất của 3 ngân hàng này như là “phát súng” đầu tiên trong quá trình tái cấu trúc hệ thống ngân hàng, http://vef.vn/2011-10-24-phac-do-tri-benh-cho-he-thong-ngan-hang- do Ngân hàng Nhà nước khởi động từ tháng 9/2011 và đang tích cực triển khai. Đây cũng là một trong ba nội dung chính trong kế hoạch tái cơ cấu nền kinh tế Việt Nam, gồm tái cấu trúc phân bổ vốn đầu tư, DNNN và ngân hàng – nhằm tiến tới một hệ thống ngân hàng minh bạch, vững mạnh.

http://vef.vn/2011-12-28-kinh-te-2011-nhung-con-so-gay-soc

TTXVN VỀ HIỆP ĐỊNH ĐỐI TÁC KINH TẾ CHIẾN LƯỢC XUYÊN THÁI BÌNH DƯƠNG

Tài liệu tham khảo đặc biệt

Thứ năm, ngày 29/12/2011

(Đài TNHK 24/12)

Bên lề hội nghị Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á-Thái Bình Dương (APEC) ở Honolulu vào tháng 11 vừa qua, lãnh đạo 9 nước thành viên Hiệp định Đối tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP) đã cam kết sẽ sử dụng những nguồn lực cần thiết để hoàn tất hiệp định trong thời gian nhanh nhất có thể được 9 nước tham gia hiệp định TPP hiện nay là Mỹ, Ôxtrâylia, Brunây, Chilê, Niu Dilân, Malaixia, Pêru, Xinhgapo, và Việt Nam. Trong tháng 12 này, 9 quốc gia đó vừa hoàn tất vòng đàm phán thứ 10 để xúc tiến việc ký kết hiệp định đầy tham vọng này.

Theo lời Tiến sĩ Trần Lê Anh, giáo sư kinh tế Đại học Lasell, tiểu bang Massachusetts thì đây là một diễn tiến vừa có ý nghĩa kinh tế vừa có ý nghĩa chiến lược quan trọng. Mời quý vị nghe tiếp các ý kiến khác của Tiến sĩ Trần Lê Anh về hiệp định TPP.

TNHK: Thưa ông, trong bối cảnh hiện nay hiệp định TPP mang ý nghĩa như thế nào?

– TPP bắt đầu gây chú ý nhiều hơn khi có sự tham gia đàm phán của Mỹ, cũng như những nỗ lực gần đây của chính quyền Obama trong việc thúc đẩy tiến độ đàm phán. Trong lúc tiến trình đẩy mạnh tự do hóa thương mại toàn cầu thông qua vòng đàm phán Doha của Tổ chức thương mại thế giới (WTO) đang bị trì trệ hiện nay, thì sự thúc đẩy TPP thành hiện thực của nước có nền kinh tế lớn nhất thế giới cũng là một cách để giữ cái đà cho thương mại tự do.

Đối với Mỹ, TPP sẽ góp phần thực thi Sáng kiến Xuất khẩu Quốc gia mà Tổng thống Obama tuyên bố năm ngoái là sẽ gia tăng xuất khẩu của Mỹ lên gấp đôi trong vòng 5 năm. Bên cạnh đó, trong bối cảnh Trung Quốc đang gia tăng ảnh hưởng ở Đông Á, thông qua các cấu trúc như khu vực mậu dịch tự do ASEAN-Trung Quốc và ASEAN+3 (ASEAN+Trung Quốc+Nhật Bản và Hàn Quốc) thì TPP được đánh giá là một nỗ lực cạnh tranh ảnh hưởng trong khu vực của Mỹ đối với Trung Quốc. Thông qua TPP thì Mỹ sẽ tập trung hơn nữa vào khu vực châu Á-Thái Bình Dương và nó cũng là một cơ hội để các nước có nền kinh tế nhỏ hơn trong khu vực cân bằng ảnh hưởng kinh tế của Trung Quốc.

TNHK: Trung Quốc cho tới giờ này không thấy tham gia TPP, Tiến sĩ có nhận xét gì về sự kiện này?

– Trung Quốc nói mình chưa được mời tham gia, còn Mỹ nói rằng TPP không đóng cửa đối với ai hết, nhưng nó không phải là một sân chơi mà người ta đợi được mời rồi mới tham gia.

Nhưng đó chỉ là lý do bề ngoài thôi. Thật ra thì quyền lợi của Trung Quốc và quyền lợi của các thành viên đối tác TPP, đặc biệt là Mỹ, chưa tìm ra được điểm tương đồng.

Trung Quốc biết rằng nếu tham gia thì sẽ phải đối mặt với những cam kết ràng buộc, gây khó khăn cho mô hình tăng trưởng kinh tế của mình; chẳng hạn phải tuân thủ quyền sở hữu trí tuệ khắt khe hơn và buộc phải giảm bớt hỗ trợ cho khối doanh nghiệp quốc doanh.

Còn về phía Mỹ thì trừ phi Trung Quốc đồng ý chơi công băng hơn, nếu không việc mở rộng thương mại hơn nữa với Trung Quốc là một việc khó tìm được sự ủng hộ của những thành phần có ảnh hưởng trực tiếp đến chính sách thương mại của chính quyền Obama.

Trong quan hệ thương mại hiện nay với Trung Quốc, Mỹ đã bị thâm hụt mậu dịch rất lớn, năm ngoái lên đến hơn 270 tỉ USD. Nhưng theo tôi nghĩ, một khi những cân nhắc về lợi ích chiến lược của các bên thay đổi, thì không loại trừ khả năng sau này Trung Quốc sẽ tham gia TPP.

TNHK: Hiện nay Việt Nam đang là thành viên của Khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN (AFTA), và bây giờ Việt Nam gia nhập TPP, vậy TPP sẽ khác AFTA như thế nào?

– AFTA là hiệp định giữa 10 nước Đông Nam Á mà đa số là các nước đang phát triển, còn TPP sẽ là một tập hợp có nhiều nền kinh tế phát triển với thể chế khá mạnh mà Việt Nam có thể tham khảo tốt. Hơn nữa, TPP sẽ là một hiệp định toàn diện hơn, bao gồm nhiều điều khoản truyền thống và mới nổi, vói mục đích là đẩy mạnh tự do hóa thương mại hàng hóa và dịch vụ, gắn kết các nền kinh tế thành viên, bảo vệ môi trường cũng như quyền của người lao động, và thúc đẩy phát triển theo hướng bền vững và năng động hơn.

TPP được cho Ịà một hiệp định thế hệ mới, sẽ làm mẫu cho các hiệp định thương mại tự do khác trong tương lai. Quy mô thương mại trong TPP sẽ lớn hơn, đặc biệt là khi nó cộng thêm Nhật Bản, Canada và Mêhicô.

Tham gia TPP sẽ giúp Việt Nam mở rộng thương mại hơn nữa ra bên ngoài khu vực ASEAN. Hơn nữa, cán cân thương mại của Việt Nam đối với khu vực TPP sẽ có triền vọng tốt hơn so với khu vực ASEAN. Năm ngoái, Việt Nam bị thâm hụt thương mại với các nước ASEAN hơn 6 tỉ USD nhưng lại hưởng thặng dư thương mại với Mỹ khoảng 10,5 tỉ USD.

Tôi nghĩ rằng một trong những động cơ chính thúc đấy Việt Nam tham gia TPP là vì Việt Nam muốn có quan hệ thương mại tự do với Mỹ, bởi vì ngoại trừ Mỹ và Pêru, Việt Nam đã có những thỏa thuận quan hệ thương mại tự do với tất cả các đối tác TPP hiện nay, thông qua các hiệp định khu vực và song phương khác.

TNHK: Ngoài động cơ chính đó thì khi gia nhập TPP, Việt Nam sẽ nhận được những lợi ích cụ thể nào khi TPP được thực thi?

– Ở khía cạnh căn bản nhất có thể thấy là xuất khẩu của Việt Nam sẽ tăng trưởng, người tiêu dùng trong nước có thể mua hàng nhập khẩu với giá rẻ hơn, và nền kinh tế sẽ thu hút thêm các nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, trong đó sẽ có sự dịch chuyển dòng đầu tư của các công ty xuyên quốc gia thuộc các nước TPP từ Trung Quốc sang Việt Nam.

Bên cạnh đó, khi Việt Nam thực thi các cam kết trong TPP thì tính minh bạch sẽ được cải thiện hơn, và từ đó các kẽ hở cho tham nhũng phần nào sẽ được giảm bớt.

Ở phương diện chiến lược, ta có thể thấy những lợi ích như thế này: Việt Nam có thể sử dụng TPP như một công cụ tạo ra một áp lực để đẩy mạnh cải cách thể chế. Nhưng để làm được điều đó thì cần phải có những nhà hoạch định chính sách có tầm nhìn và biết đặt lợi ích của người dân lên trên hết.

TPP cũng sẽ góp phần giúp Việt Nam đẩy mạnh đa phương hóa và thắt chặt quan hệ với nhiều nước. Quan hệ kinh tế khăng khít theo hướng đôi bên cùng có lợi là tiền đề tốt cho việc đẩy mạnh các mối quan hệ chiến lược khác.

TNHK: Bên cạnh nhũng lợi ích thì dĩ nhiên cũng có những bất lợi vậy những bất lợi mà Việt Nam sẽ đối mặt khi gia nhập TPP là gì và hướng giải pháp như thế nào là tốt?

-Rõ ràng nhất là các doanh nghiệp trong nước sẽ phải đối mặt với sự cạnh tranh gay gắt hơn về hàng hóa nhập khẩu, và nguồn thu ngân sách nhà nước từ thuế nhập khẩu sẽ giảm đi.

Bên cạnh đó, khi Việt Nam thực hiện những cam kết trong TPP thì không gian làm chính sách sẽ bị thu hẹp phần nào. Ví dụ, nếu Việt Nam cam kết bảo đảm cạnh tranh công bằng giữa doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp nước ngoài thì Việt Nam không thể dùng các công cụ chính sách thiên vị để giúp các doanh nghiệp trong nước.

Hơn nữa, khi thực hiện các tiêu chuẩn cao về vấn đề bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và môi trường thì Việt Nam sẽ phải chịu những tốn kém không nhỏ. Nhưng theo tôi nghĩ, những bất lợi đó thật sự không phải là bất lợi nếu như Việt Nam quyết hướng tới một con đường phát triển năng động và bền vững, phù hợp với xu hướng tiến bộ của thế giới. Đơn giản là vì cạnh tranh sẽ làm doanh nghiệp phát triển tốt hơn, bảo vệ môi trường sẽ giúp cải thiện cuộc sống của người nghèo, và việc giảm bớt sự can thiệp của chính phủ vào thị trường không nhất thiết là điêu tiêu cực, khi mà chất lượng làm chính sách ở Việt Nam vẫn đang là một dấu hỏi.

Thật ra vấn đề mà Việt Nam cần phải cân nhắc kỹ lưỡng nhất là tác động của TPP đối với khu vực nông nghiệp và nông thôn, bởi vì đây là khu vực dễ bị tổn thương và có ảnh hưởng đến nhiều người dân nhất. Tôi nghĩ Chính phủ Việt Nam cần phải tạo điều kiện tốt cho người dân tham gia quá trình đàm phán bằng cách tổ chức tiếp thu ý kiến công khai và sâu rộng, và cùng phải xây dụng những chính sách giúp đỡ người nông dân thích nghi tốt hơn trong tiến trình mở rộng giao thương.

TNHK: Hiện nay có vấn đề khối doanh nghiệp quốc doanh. Việt Nam đã bác bỏ đề nghị của Mỹ về việc đàm phán về những luật chơi áp dụng với khối doanh nghiệp quốc doanh. Việc này có ý nghĩa như thế nào?

– Tội nghĩ đó là một động thái bộc lộ áp lực chính trị, và đó là điều đáng tiếc. Hiện nay, một phần không nhỏ của khối doanh nghiệp quốc doanh là một gánh nặng cho nền kinh tế Việt Nam, nhưng nó vẫn được bao bọc. Tôi nghĩ Việt Nam nên cân nhắc đề nghị của Mỹ và sử dụng nó như một lá bài chiến lược trong quá trình đàm phán.

Đứng về quyền lợi của toàn đất nước nói chung thì thật ra đây là một công đôi việc rất có lợi. Một mặt, chấp nhận đàm phán để tạo đà cho tiến trình cải tổ các doanh nghiệp nhà nước một cách tích cực hơn; mặt khác, để đổi lại, Việt Nam có thể yêu cầu Mỹ và các đối tác đàm phán khác những thỏa thuận có lợi cho công cuộc phát triển của mình. Tất nhiên, để có thể làm được như vậy thì cần phải có quyết tâm chính trị từ hàng ngũ lãnh đạo cao nhất để định hướng cho phái đoàn đàm phán của Việt Nam.

Tôi nghĩ quyết định tham gia đàm phán TPP của Việt Nam là một bước tiến chiến lược khả quan, nhưng để có thể tận dụng TPP làm một bước đột phá tích cực trong quá trình hội nhập và phát triển thì Việt Nam cần phải vượt qua những khúc mắc nội tại của mình.

***

TTXVN (Óttaoa 22/12)

Theo mạng tin “ipolitics.ca” ngày 22/12, các Hiệp định Tự do thương mại (FTA) ở châu Á có thể sẽ trở thành một đối trọng với Hiệp định đổi tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP) do Mỹ dẫn đầu. Mới đây, Trung Ọuổc, Nhật Bản và Hàn Quốc đã hoàn thành một nghiên cứu khả thi cho một FTA ba bên (CJKFTA). Ba quốc gia hiện đang chiếm khoảng 20% GDP toàn cầu, đã đặt mục tiêu mở rộng bất kỳ một thỏa thuận nào có thể ký kết với những “con hổ” của ASEAN.

Khuôn khổ và thể chế của CJKFTA sẽ thúc đẩy hợp tác ba bên và phát triển theo nguyên tắc “các bên cùng có lợi”Việc đàm phán CJKFTA rõ ràng xuất phát từ cách tiếp cận rất trọng thương của Oasinhtơn trong TPP trên cơ sở đưa ra điều kiện tiên quyết yêu cầu các nước đang trong quá trình đàm phán tham gia TPP phải thực hiện, nhưng chính Mỹ lại không thực hiện những điều kiện đó.

Một bộ tích hợp các nguyên tắc hướng dẫn các cuộc đàm phán CJKFTA bao gồm: CJKFTA sẽ là một FTA toàn diện và chất lượng cao; CJKFTA phải đảm bảo phù hợp với WTO; CJKFTA phải đạt được hiệu quả cân bằng, đáp ứng nguyên tắc “các bên cùng có lợi” trên cơ sở có đi có lại.

Các cuộc đàm phán cũng được khuyến cáo cần thực hiện trên cơ sở xây dựng và tích cực, cùng với việc xem xét cụ thể các lĩnh vực nhạy cảm ở mỗi nước. Phạm vi của các cuộc đàm phán sẽ bao gồm các vấn đề về thương mại hàng hoá và dịch vụ, cũng như các lĩnh vực đầu tư khác, không đề cập đến các doanh nghiệp nhà nước (SOE), vấn đề sở hữu trí tuệ, giải quyết tranh chấp đầu tư nhà nước, các tiêu chuẩn về môi trường và lao động. Trong TPP, Oasinhtơn đang cố gắng áp đặt các tiêu chuẩn của Mỹ trong các lĩnh vực này đối với những bên tham gia còn lại.

Các thảo luận về kế hoạch và lịch trình đàm phán sẽ được tiến hành sớm – và với một cách tiếp cận thực dụng, sẽ đẩy nhanh tiến độ dẫn đến một giải pháp. Các nguyên tắc hướng dẫn được hình thành trên cơ sở tránh những mối quan tâm về chính trị – kinh tế đang nổi lên trong TPP, Chúng bao gồm các quy tắc liên quan đến xuất xứ của hàng dệt may và các sản phẩm khác, các bằng sáng chế dược phẩm, giải quyết tranh chấp đầu tư nhà nước, vấn đề tiếp cận thị trường cho các sản phẩm gạo, đường và sữa, chăm sóc y tế, giáo dục, các loại dịch vụ, các lĩnh vực mua sắm khác được chính phủ bảo hộ, Tất cả những vấn đề này sẽ làm tiến trình đàm phán TPP chậm lại và cũng nằm ngoài phạm vi các cuộc bầu cử ở Mỹ.

Trong cuộc họp ba bên tại Hàn Quốc vừa qua, các nhà đàm phán Trung Quốc đã không ngần ngại thể hiện mối quan ngại sâu sắc về đề xuất của Mỹ trong việc sử dụng TPP làm đối trọng với những tác động, ảnh hưởng ngày càng lớn của Trung Quốc ở châu Á. Trung Quốc đã chứng tỏ sức mạnh của mình trong WTO và đang đóng một vai trò lãnh đạo trong tổ chức này. Mục,đích sử dụng TPP như một phương tiện chiến lược nhằm làm giảm những tác động, ảnh hưởng của Trung ‘Quốc ở châu Á sẽ không được Bắc Kinh hoan nghênh.

Cả Hàn Quốc và Nhật Bản đều muốn là người trung gian trong cuộc chạy đua tranh giành quyền lực giữa Bắc Kinh và Oasinhtơn. Tuy nhiên, hiệp định ba bên lại có những sự hấp dẫn rất lớn. Nhật Bản sẽ không thiết tha tham gia một TPP do Mỹ thiết kế và áp đặt. Nhật Bản sẽ không hài lòng với yêu cầu thực hiện các điều kiện tiên quyết tham gia TPP (do Mỹ áp đặt). Và điều này có thể làm “nguội” ý định tham gia của Thủ tướng Nhật Ban Yoshihiko Noda và làm xói mòn sự ủng hộ từ trong nước, vốn không mặn mà, đối với việc gia nhập TPP của Nhật Bản.

Hàn Quốc đã có hiệp định tự do thương mại vói Mỹ trong KORUS FTA. Nhưng Hàn Quốc cũng tuyên bố rằng quốc gia này sẽ được hưởng lợi nhiều nhất từ FTA ba bên. Hàn Quốc mong đợi việc ký kêt CJKFTA sẽ làm tăng xuất khẩu thực phẩm của quốc gia này lên 50% và đây là điều rất cần thiết để bù đắp cho khoảng 10 tỷ USD trị giá các loại hàng hóa mà Hàn Quốc dự kiến sẽ nhập khẩu từ Mỹ theo KORUS.

Nguyên tắc xem xét kỹ càng các vấn đề linh hoạt và nhạy cảm của mỗi nước được ba bên nhất trí trong CJKFTA gợi nhớ đến cách tiêp cận thực dụng và linh hoạt của Mêhicô trong đàm phán FTA. Mêhicô không tập trung nhiều vào việc giải quyết các khó khăn. Điều đó không quan trọng đối với những thỏa thuận hoàn hảo. Việc ký kết FTA với phạm vi bảo hiểm càng rộng càng tốt. Các vấn đề khó khăn hơn sẽ được đặt sang một bên và sẽ được giải quyết trong các các cuộc họp định kỳ của các bộ trưởng.

Mối quan tâm chính của Canada trong việc tham gia TPP là việc thâm nhập thị trường của Nhật Bản, đặc biệt là thị trường nông nghiệp. Và theo dự báo, nghiệp đoàn ôtô Canada (CAW) và Detroit Three có thể sẽ phản đối sự tham gia của Nhật Bản trong TPP, giống như các ngành công nghiệp ô tô ở Mỹ. Canada cần áp dụng cách tiếp cận đàm phán của Mêhicô, chứ không tìm mọi cách để khai thông bê tăc. FTA với Hàn Quôc đã bị đình trệ trong hơn 3 năm qua do sự phản đối mạnh mẽ của ngành công nghiệp ô tô Canada, thậm chí ngay cả với việc để quay trở lại bàn đàm phán. Các thỏa thuận không tự nhiên mà đến nếu không được giải quyết thông qua đàm phán. Những người nông dân, chủ các trang” trại ở Canada sẽ làm tốt hơn trong các cuộc đàm phán FTA song phương với Nhật Bản và việc này nên bắt đầu sớm. Một thỏa thuận đối với Trung Quôc có thể còn quan trọng hơn đối với việc tham gia TPP.

Canada cũng đã đặt vấn đề với Trung Quốc trong việc nghiên cứu một thỏa thuận tự do thương mại song phương. Canada có khả năng đảm bảo nguồn cung cấp thực phẩm, các nguồn tài nguyên thiên nhiên và đó sẽ là những vấn đề hấp dẫn đối với Trung Quốc.

Có những giá trị đáng kể trong việc ký kết FTA trước khi các đối thủ cạnh tranh. Canada đã ký kết FTA với Colombia trước Mỹ là điều rất có lợi cho Canada. Tuy nhiên, khi KORUS có hiệu lực mà Canada vẫn chưa ký kết FTA với Hàn Quốc thì các nông dân và chủ trang trại (của Canada) sẽ thiệt hại khoảng trên 1 tỷ USD mỗi năm do bị mất các cơ hội và thị trường xuất khẩu.

Canada đã có FTA với ba ứng cử viên tham gia TPP. các ứng cử viên tiềm năng khác như Ôxtrâylia, Việt Nam và một số nước nhỏ với dân số thậm chí ít hơn cả dân số thành phố Toronto, hầu như không thú vị. Thay vào đó, Canada có thể tham gia các cuộc đàm phán FTA với Nhật Bản. Canada nên tập trung nhân lực trong các cuộc đàm phán và sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên để hấp dẫn Nhật Bản cũng như Trung Quốc trong các cuộc đàm phán song phương, và Canada cũng không thể bỏ qua Hàn Quốc. Canada và Hàn Quốc đã trải qua vòng đàm phán thứ 13 và còn rất ít vấn đề để thống nhất. Công việc này cần được tiếp tục. Rõ ràng ràng, thỏa thuận với Canada sẽ có lợi hơn đối với Hàn Quốc so với các điều khoản tương tự mà Hàn Quốc đã thống nhất với Mỹ trong KORUS. Tuy nhiên, sẽ không có một kết quả nào nếu cả hai bên không nối lại đàm phán.

Từ kinh nghiệm của CJKFTA, Canada cũng nên áp dụng nguyên tắc đối tác ba bên để tiến hành đàm phán mang tính chất xây dựng và tích cực với việc xem xét phù hợp các lĩnh vực nhạy cảm ở mỗi nước./.

http://anhbasam.wordpress.com/2011/12/30/hiep-dinh-doi-tac-kinh-te-chien-luoc-xuyen-thai-binh-duong/

Để lại phản hồi »

Chưa có phản hồi.

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Blog at WordPress.com.

%d bloggers like this: