Hoàngquang’s Blog

01/01/2012

Hoa Kỳ trở lại Châu Á – Thái Bình Dương

Filed under: Hoa Kỳ,HOÀNGSA -TRƯỜNG SA VIỆT NAM — hoangquang @ 9:50 sáng

Quỳnh Chi, Phóng viên RFA

Tổng thống Barack Obama và Thủ tướng Julia Gillard ăn tối tại Tòa nhà Quốc hội Úc ở Canberra Úc hôm 16/11/2011. White House Photo/Pete Souza

Tác giả: Richard Haass/Financial Times / Người dịch: Đan Thanh Mối đe dọa lớn nhất cho Trung Quốc đến từ trong nước

Trọng Nghĩa 2011: Năm hồ sơ Biển Đông được quốc tế hóa

Tác giả: Richard Haass/Financial Times / Người dịch: Đan Thanh Mối đe dọa lớn nhất cho Trung Quốc đến từ trong nước

***

Quỳnh Chi, Phóng viên RFA Hoa Kỳ trở lại Châu Á – Thái Bình Dương

Tổng thống Barack Obama và Thủ tướng Julia Gillard ăn tối tại Tòa nhà Quốc hội Úc ở Canberra Úc hôm 16/11/2011. White House Photo/Pete Souza

Your browser may not support display of this image.

Hải quân Hoa Kỳ vừa cho biết trong những năm tới, nước này có thể sẽ cho một số tàu tuần tra đóng tại Singapore và Philippines.

Đây là một dấu chỉ cho thấy Hoa Kỳ đang nghiêm túc thực hiện kế hoạch trở lại Châu Á – Thái Bình Dương – một trong các sự kiện được chú ý nhất trong năm qua. Quỳnh Chi tổng hợp và tường trình.

Mục tiêu kinh tế – chính trị
Vào tháng 11, nhân chuyến thăm Úc, Tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama phát biểu trước Quốc hội Úc rằng: “Với tư cách Tổng thống, với tư cách là một nước thuộc vùng Thái Bình Dương, tôi đã ra một quyết định kỹ càng và có tính chiến lược. Hoa Kỳ sẽ đóng một vai trò lớn hơn và lâu dài hơn trong việc định hướng tương lai khu vực này” .

Thậm chí, ông Obama còn khẳng định, mặc dù Hoa Kỳ đang gặp khó khăn về ngân sách, nhưng điều này sẽ không ảnh hưởng gì đến sự hiện diện của nước này ở Thái Bình Dương.

Đối với nước Mỹ thì họ nghĩ rằng nếu quay về Á Châu thì phải đạt được 2 mục tiêu, thứ nhất là mục tiêu kinh tế và thứ hai là mục tiêu chính trị và quân sự.

GS Nguyễn Mạnh Hùng

Trong năm nay, người ta bắt đầu chú ý đến sự kiện nước này tuyên bố trở lại khu vực Thái Bình Dương với những phát biểu của cả Tổng thống, Ngoại trưởng và Bộ trưởng Bộ Quốc phòng. Bài viết “Thế kỷ Thái Bình Dương của Hoa Kỳ” của bà Ngoại trưởng Hilary Clinton đăng trên Foreign Policy như phát súng đầu tiên chính thức công nhận sự trở lại của Washington ở khu vực. Bài viết khẳng định “Một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất của Hoa Kỳ trong thập niên tới là tăng cường đầu tư bền vững về mặt ngoại giao, kinh tế, chiến lược và những vấn đề khác tại vùng Châu Á- Thái Bình Dương”.

Có thể nói, sự hạ nhiệt của cuộc chiến Iraq và việc rút quân khỏi Afghanistan dần cho phép Hoa Kỳ chuyển hướng sự quan tâm của mình từ Trung Đông sang Châu Á. Tuy nhiên, đó chưa phải là lý do chính của vấn đề.

Thực tế, chính sự phát triển và ổn định kinh tế của một số nước trong khu vực, chính sự trỗi dậy khó kềm chế của Trung Quốc cùng với sự phức tạp ở biển Đông đã khiến Hoa Kỳ quyết định chuyển trọng tâm sang Châu Á, mặc dù đang gặp khó khăn ngân sách. Trong một cuộc phỏng vấn gần đây với đài RFA, GS Nguyễn Mạnh Hùng, từ khoa Quan hệ Quốc tế của trường George Mason, Hoa Kỳ cho biết:

Your browser may not support display of this image.

“Nhưng gần đây chúng ta thấy bởi vì sự tăng mạnh của Trung Quốc, so với Châu Âu một cách tương đối thì có rất nhiều vấn đề, nhất là sau cuộc khủng hoảng tài chánh năm 2008 người ta thấy Á Châu vẫn giữ được một mức độ tăng trưởng nào đó thì người ta cho rằng đây là cái trung tâm phát triển của thế giới. Và như vậy đối với nước Mỹ thì họ nghĩ rằng nếu quay về Á Châu thì phải đạt được 2 mục tiêu, thứ nhất là mục tiêu kinh tế và thứ hai là mục tiêu chính trị và quân sự”.


Trở lại để ở lại

Biển Đông là thủy lộ ngắn nhất giữa Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương và có nhiều cảng với lưu lượng tàu thuyền lớn nhất thế giới. Thực tế, hơn một nửa sản lượng dầu của cả thế giới được vận chuyển qua con đường này. Và bảo vệ tự do hàng hải nơi đây được Hoa Kỳ xem đây là lợi ích quốc gia.

Trả lời Quỳnh Chi trong một cuộc phỏng vấn gần đây, dân biểu liên bang Hoa Kỳ Loreta Sanchez cũng khẳng định:

Một vấn đề rất quan trọng nữa là vấn đề dân chủ, nhân quyền để bảo vệ tự do cá nhân. Đó hầu như là những giá trị ngoại giao của Hoa Kỳ.

Ô. Andrew Shearer

“Thực tế thì Hoa Kỳ quan ngại về sự lớn mạnh của Trung Quốc, là nhân tố lớn nhất trong khu vực Châu Á Thái Bình Dương. Đặc biệt khi nước này xâm lấn các vùng lãnh hải của Việt Nam tại biển Đông thì vấn đề lại càng gây rắc rối”.

Để thực hiện kế hoạch trở lại Châu Á của mình và cũng để khẳng định “Chúng tôi trở lại để ở lại – We are back to stay” như bà Hilary Clinton từng nói, Hoa Kỳ có nhiều hoạt động đáng chú ý.

Đầu tiên, việc Tổng thống Hoa Kỳ tham dự Hội nghị thượng đỉnh Đông Á tại Bali hồi tháng 11 được xem là một dấu chỉ cho thấy khu vực này trở nên hết sức quan trọng đối với Washington. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử, một vị Tổng tống Hoa Kỳ tham dự Hội nghị Thượng đỉnh Đông Á. Website Nhà Trắng cho biết, trong một cuộc họp giữa lãnh đạo 18 nước tham dự tại hội nghị, ông Obama khẳng định “Dù chúng tôi không phải là một nguyên đơn trong vụ tranh chấp biển Đông, dù chúng tôi không bênh vực bên nào, chúng tôi có lợi ích mạnh mẽ trong việc duy trì an ninh hàng hải nói chung, và trong việc giải quyết vấn đề biển Đông nói riêng”.

Chuyến viếng thăm Miến Điện của bà Ngoại trưởng Hilary Clinton vào tháng 11 cũng là một trong những dấu chỉ cho thấy nước này muốn can dự sâu hơn vào khu vực. Đây là chuyến viếng thăm mang tính lịch sử vì sau 50 năm, một vị Ngoại trưởng Hoa Kỳ mới thăm Miến Điện – một quốc gia nằm dưới chỉ thống trị của quân đội trong một thời gian dài.

Những dấu hiệu cho thấy Miến Điện đang dần vượt ra khỏi sự ảnh hưởng của Trung Quốc bằng những cải cách mang tính dân chủ trong thời gian gần đây, sẽ là cơ hội để Hoa Kỳ tìm cách tranh thủ sự ủng hộ của các nước Đông Nam Á, giữa lúc Miến Điện đã được chính thức chấp nhận trở thành Chủ tịch luân phiên khối ASEAN trong năm 2014.

Việc Hoa Kỳ tiến gần hơn với Myanmar có thể thấy được, nhưng có lẽ hãy còn quá sớm để khẳng định các thế tấn – thủ trong ván cờ này. Tuy nhiên, có một điều người ta có thể khẳng định, Hoa Kỳ đã đi một nước cờ lớn tại Úc trên bào cờ trở lại Châu Á – Thái Bình Dương của mình. Tháng 11 vừa qua, đón tiếp Tổng thống Hoa Kỳ, nữ Thủ tướng Úc, bà Julia Gillard đã tuyên bố bắt đầu từ năm 2012, nước này chấp nhận cho Washington triển khai 2.500 quân ở căn cứ Darwin của Úc.

Mặc dù 2.500 quân là một con số không lớn, nhưng nó là một dấu chỉ ngoại giao quan trọng cho thấy Hoa Kỳ sẵn sàng để biểu diễn trên sân khấu khu vực này hơn bất cứ lúc nào trong hơn bốn thập niên qua. Darwin chính là cửa ngõ vào Đông Nam Á trong khi tại khu vực tây Thái Bình Dương, Trung Quốc có tranh chấp về biển đảo với Nhật Bản và với 5 nước Đông Nam Á tại quần đảo Hoàng sa, Trường Sa.

Sau khi cuộc chiến tại Việt Nam kết thúc, một loạt các căn cứ của Hoa Kỳ ở Thái Lan và Philippines bị giải thể. Trừ các căn cứ Hoa Kỳ ở khu vực Bắc Á tại Nam Hàn và Nhật Bản, Darwin sẽ là căn cứ quân sự đầu tiên gần ĐNA sau khi chiến tranh kết thúc tại Việt Nam. GS Nguyễn Mạnh Hùng nói về tầm quan trọng của việc triển khai quân Hoa Kỳ tại căn cứ Darwin:

Gần đây thì Bắc Kinh có thái độ hung hăng quá, thành ra Úc bây giờ phải quyết định rõ rệt, và Úc bây giờ phải chọn rồi là phải đứng vào liên minh của Mỹ.

GS Nguyễn Mạnh Hùng

“Cho nên bây giờ thì đây là lần đầu tiên chúng ta thấy có một căn cứ mới của Mỹ ở gần Đông Nam Á hơn, còn các căn cứ kia thì ở Bắc Á (Nhật Bản và Nam Hàn), thì bây giờ ở gần Đông Nam Á hơn. Và điều quan trọng mà tôi nghĩ là chính sách ngoại giao của Úc từ xưa vẫn cứ “chơi nước đôi”, như từ khi Mỹ rút đi thì Úc muốn tự mình là một phần của Châu Á. Thế nhưng chúng ta thấy trong những năm gần đây thì Trung Quốc mạnh quá và Bắc Kinh có thái độ hung hăng quá, thành ra Úc bây giờ phải quyết định rõ rệt, và Úc bây giờ phải chọn rồi là phải đứng vào liên minh của Mỹ”.

Chào nước Mỹ lần nữa

Bắt đầu từ mấy tháng gần đây, người ta thấy có sự tăng cường và kêu gọi hợp tác giữa Washington, Ấn Độ, Úc, và Nhật Bản. Mới cách đây mấy ngày, Đô đốc Jonathan Greenert, viết trên một ấn phẩm được Học viện Hải quân Hoa Kỳ xuất bản, cho biết trong những năm tới, Hoa Kỳ có thể đưa thêm tàu tuần tra vào Singapore và Philippines – cũng là một hành động cho thấy Hoa Kỳ ráo riết trở lại Châu Á.

Your browser may not support display of this image.

Tổng thống Barack Obama và Thủ tướng Julia Gillard ăn tối tại Tòa nhà Quốc hội Úc ở Canberra Úc hôm 16/11/2011. White House Photo/Pete Souza

Việc Hoa Kỳ trở lại Châu Á là một điều không còn gì để nghi ngờ. Điều người ta thắc mắc là Hoa Kỳ sẽ mang những gì đến khu vực này. Trong bài diễn văn của Tổng thống Hoa Kỳ trước Quốc hội Úc trong tháng 11, ông Obama cho biết sẽ có 3 vấn đề Hoa Kỳ mang đến Châu Á. Hai vấn đề đầu tiên và dễ thấy nhất là “an ninh” và “thịnh vượng”. Ông Andrew Shearer, Giám đốc nghiên cứu viện Lowy (Úc) về Chính sách Quốc tế, cho biết trong một lần phỏng vấn với đài RFA về điều thứ 3 mà Hoa Kỳ sẽ mang đến Châu Á:

“Ngoài những vấn đề ấy, còn một vấn đề rất quan trọng nữa là vấn đề dân chủ, nhân quyền để bảo vệ tự do cá nhân. Đó hầu như là những giá trị ngoại giao của Hoa Kỳ. Những điều này đã được biết đến, cụ thể là tại Hội nghị Thượng đỉnh Đông Á, cũng đã có những đồng thuận về việc thay đổi dân chủ tại các nước trong khu vực này. Và dĩ nhiên là rõ ràng Hoa Kỳ sẽ đóng vai trò xúc tác trong sự thay đổi ấy”.

Những điều mà ông Andrew vừa trình bày, được ông Obama gọi chung là “giá trị con người”.

Giới quan sát cho rằng, mang được 3 điều trên đến với Châu Á Thái Bình Dương là một chương trình nghị sự đầy tham vọng của chính quyền Obama. Và thực hiện nó như thế nào, cũng như liệu Hoa Kỳ sẽ ít để lại dấu tích so với những lần trước hay không còn là một ẩn số. Tuy nhiên, cũng cần phải nói thêm rằng, với những đồng minh ở Châu Á như Nhật Bản, Nam Hàn, Úc, Philippines, Thái Lan; với những căn cứ quân sự ở Bắc Á (Nhật Bản và Nam Hàn); với việc tham gia vào các khối kinh tế như APEC, G20, TPP; và với việc vươn đến những nước như Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia, Singapore, New Zealand, Malaysia, Mông Cổ, Việt Nam, Brunei, và các nước trong vùng Đảo Thái Bình Dương… Hoa Kỳ xem như đã “bước được một chân” vào khu vực. Có lẽ chính vì thế mà giới quan sát cho rằng Hoa Kỳ thực sự chưa bao giờ rời Châu Á – TBD, như ý kiến của ông Alan Dupont, Giám đốc Trung tâm nghiên cứu về an ninh quốc tế của trường Đại học Sydney khi vào tháng trước ông từng viết rằng “Xin chào nước Mỹ lần nữa – như thể bạn chưa bao giờ ra đi”.

Q.C.

Nguồn: http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/welcome-back-america-qc-12292011110929.html

***

Tác giả: Richard Haass/Financial Times / Người dịch: Đan Thanh Mối đe dọa lớn nhất cho Trung Quốc đến từ trong nước

28-12-2011

Tôi đã qua lại Trung Hoa hơn ba thập niên, nhưng chưa bao giờ tôi chứng kiến một ban lãnh đạo Trung Quốc bất an đến thế khi nghĩ về tương lai của đất nước. Không phải là phóng đại khi nói rằng quốc gia đông dân nhất thế giới này đang ở thế rất mong manh. Không thể lờ đi điều trớ trêu này: các nhà lãnh đạo ở Mỹ và châu Á đang bận rộn thảo luận xem, làm thế nào để đương đầu tốt nhất với cái mà họ coi là mối nguy Trung Quốc; còn các nhà lãnh đạo ở Trung Quốc đang thảo luận xem làm thế nào để đương đầu tốt nhất với rất nhiều mối nguy đối với Trung Quốc, mà họ nhận thức được.

Hầu hết những nguy cơ mà người Trung Quốc nhìn nhận đối với nước mình đều đến từ trong nước. Trong suốt ba thập kỷ, Trung Quốc đã phụ thuộc vào tăng trưởng mạnh mẽ – chủ yếu có được nhờ xuất khẩu tăng mạnh hơn bao giờ hết – để duy trì tỷ lệ có việc làm cao và để nâng mức sống lên, qua đó đảm bảo ổn định xã hội. Thời kỳ này có thể đang dần chấm dứt. Nhiều năm tăng trưởng kinh tế chậm chạp ở châu Âu và Mỹ (và khả năng là sẽ còn nhiều nước nữa) đã làm hạn chế khả năng của họ trong việc tiêu thụ hàng hóa Trung Quốc. Ngoài ra, ngày càng có nhiều người phản đối chính sách của Trung Quốc kiềm chế đồng nhân dân tệ ở mức thấp giả tạo, nhằm giảm chi phí xuất khẩu hàng cho người tiêu dùng châu Âu và Mỹ.

Áp lực từ trong nước – yêu cầu phải đưa được hàng trăm triệu người Trung Quốc thoát khỏi cảnh đói nghèo, bất mãn ngày càng lớn về vấn đề bất bình đẳng thu nhập và tài sản, sự cần thiết phải duy trì tỷ lệ tăng trưởng cao, cũng đang đẩy Trung Quốc đến chỗ phải tìm ra cái gì đó để bổ sung, nếu không nói là thay thế cho, tăng trưởng dựa vào xuất khẩu. Kết quả là Trung Quốc đang ở những ngày đầu của một thời kỳ quá độ, một thời kỳ trong đó tăng trưởng kinh tế sẽ ngày càng phải dựa vào việc gia tăng nhu cầu trong nước. Giống như mọi xứ sở quá độ khác, kêu gọi tái thiết lập sự cân bằng trong nền kinh tế dễ dàng hơn nhiều so với việc tạo ra sự cân bằng đó.

Điều khiến cho việc này trở nên khó thực hiện là lạm phát và bong bóng bất động sản – hai thứ cần được kiểm soát. Những áp lực như thế biện minh cho các chính sách làm nguội nền kinh tế – vốn có ý nghĩa kinh tế dài hạn nhưng lại có rủi ro là gây ra bất ổn chính trị trong ngắn hạn. Một vấn đề khác còn phức tạp hơn thế, là Trung Quốc phải thực hiện chuyển đổi kinh tế trong lúc chuyển đổi chính trị. Thế hệ lãnh đạo tiếp theo còn một năm nữa là tiếp nhận chuyển giao quyền lực. Tới lúc đó họ sẽ phải đối diện với hàng loạt thách thức rất đáng nản, cộng với những khó khăn đã vừa đề cập: môi trường suy thoái (gần đây khi tôi đến Bắc Kinh, tôi chỉ có thể nhìn xa vài trăm mét và gần như không thở được); dân số già đi và bối cảnh chính trị ngày càng dễ đổ vỡ. Những cuộc biểu tình mới đây tại các khu làng ở phía nam – Hải Môn và Ô Khảm – chỉ là phần nổi của tảng băng chìm: Trung Quốc năm qua có hơn 100.000 cuộc biểu tình chính trị quy mô, hầu hết xuất phát từ sự bất mãn về các vấn đề như bị cưỡng chiếm đất đai, thất nghiệp, hay ô nhiễm môi trường.

Tiếp theo là tình trạng phát triển vượt ra ngoài biên giới. Chính sách ngoại giao vụng về của Trung Quốc và việc họ thể hiện những quyền đặc biệt trên Biển Đông (nguyên văn: biển Hoa Nam) đã khiến họ bị cô lập trong khu vực. Kết quả là, các nước có lợi ích lớn hơn khi hợp tác với Mỹ để cân bằng hóa Trung Quốc. Giới chức Trung Quốc cũng chẳng thích thú gì với tiềm năng chiến thắng của các lực lượng ủng hộ Đài Loan độc lập trong cuộc bầu cử tháng giêng tới đây ở Đài Loan. Trung Quốc còn lo ngại về khúc dạo đầu của phương Tây ở Myanmar. Và cái chết của Kim Jong-il ở Bắc Triều Tiên đã làm tăng khả năng có thay đổi trên bán đảo này – một việc có thể dẫn đến tình trạng người tị nạn tràn vào Trung Quốc, rồi xung đột với Bắc Triều Tiên, thậm chí sự chấm dứt tồn tại của Bắc Triều Tiên. Kịch bản cuối cùng đó sẽ tạo ra một bước thụt lùi chiến lược. Trung Quốc không hề muốn bán đảo Triều Tiên thống nhất dưới tay Seoul để rồi đi vào quỹ đạo của Mỹ.

Với một số người ở Mỹ và trong khu vực (đặc biệt với những ai coi Trung Quốc là mối nguy đang lớn dần), thì thật khó mà cưỡng lại ý muốn lợi dụng tình hình này, nhưng, cũng giống như với nhiều cám dỗ khác, ý muốn đó cần phải được kiềm chế. Cô lập Trung Quốc, hoặc kích thích mối thù hận của họ, đều không phục vụ lợi ích nào của thế giới. Thay vì thế, sẽ rất tốt cho thế giới nếu Trung Quốc hội nhập toàn cầu để điều hành kinh tế, kiểm soát biến đổi khí hậu và chống vũ khí hạt nhân. Sẽ cần đến sự giúp đỡ của Trung Quốc nếu hai miền Triều Tiên muốn được thống nhất trong hòa bình, nếu thế giới muốn ngăn chặn Iran sản xuất vũ khí hạt nhân, và Pakistan muốn không bị sụp đổ.

Không có lý do gì để phải chọc giận Trung Quốc cả. Giới chức Mỹ nên tránh lặp lại lời ngoại trưởng Hillary Clinton gọi Biển Đông là “Biển Tây Philippines”. Những phát biểu như thế chỉ kích động thêm sức ép dân tộc chủ nghĩa ở Trung Quốc, vốn đã được châm ngòi bởi hàng trăm triệu người dùng Internet. Thế giới không muốn thấy một Trung Hoa tìm cách làm nguội cơn bất mãn trong nước bằng cách mạo hiểm ở bên ngoài nước.

Một trong các mục tiêu khả dĩ nên là làm sao để Trung Quốc đáp ứng các nghĩa vụ quốc tế của họ và hành động thông qua các định chế. Chúng ta nên thực thi điều chúng ta rao giảng. Thế nghĩa là, phải xử lý những tranh chấp liên quan tới thương mại qua Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) chứ không phải thông qua các hành động đơn phương. Cũng có nghĩa là các nghị sĩ phải xem xét đến một thực tế, là dù sao đi nữa đồng nhân dân tệ cũng đã được định giá cao hơn, thặng dư mậu dịch của Trung Quốc đang giảm xuống và xuất khẩu của Mỹ vào Trung Quốc đang ở mức cao.

Cũng sẽ có ích nếu ta nhìn xa trông rộng. Trung Quốc có thể là nền kinh tế lớn thứ hai thế giới đấy, nhưng sản lượng tính trên đầu người cao nhất cũng chỉ bằng 1/5 của các nước phát triển nhất. Trung Quốc đang củng cố quân đội, nhưng chi tiêu cho quân sự có lẽ chỉ bằng 1/4 Hoa Kỳ. Việc Trung Quốc trỗi dậy không nên bị coi là một vấn đề – việc ấy là tất yếu ngay cả khi nhiều người có vẻ như đang đánh giá thấp các vật cản đối với Trung Quốc. Vấn đề là một nước Trung Hoa hùng mạnh hơn sẽ như thế nào. Tự vệ trước nguy cơ Trung Quốc có thể trở nên hung hăng hơn, là đúng, nhưng thi hành một chính sách kiềm chế họ là quá sớm và trên thực tế có thể góp phần tạo ra một mối quan hệ thù địch, chẳng có lợi cho ai cả.

Tác giả là Chủ tịch Hội đồng Quan hệ Đối ngoại.

Nguồn: Financial Times http://www.ft.com/intl/cms/s/0/9598b09e-2c9b-11e1-8cca-00144feabdc0.html#axzz1hwF7EPC5

http://anhbasam.wordpress.com/2011/12/30/moi-de-doa-lon-nhat-cho-trung-quoc-den-tu-trong-nuoc/

Trọng Nghĩa 2011: Năm hồ sơ Biển Đông được quốc tế hóa

Tình hình Biển Đông trong năm 2011 rất sôi động, với hàng loạt sự kiện. Theo Giáo sư Ngô Vĩnh Long, chuyên gia về Biển Đông tại Hoa Kỳ, việc hồ sơ Biển Đông được quốc tế hóa tại Hội nghị Thượng đỉnh Đông Á ở Indonesia ngày 19/11/2011 là sự kiện mang nhiều ý nghĩa nhất. Việt Nam cần tranh thủ xu thế Trung Quốc bị cô lập để vận động dư luận trong và ngoài nước nhằm thúc đẩy các lợi ích chính đáng của mình.

Your browser may not support display of this image.

Toàn cảnh Hội nghị Thượng đỉnh Đông Á ngày 19/11/2011 tại Bali (Indonesia). Reuters

Tình hình Biển Đông trong năm 2011 phải nói là rất sôi động, với hàng loạt hành động quyết đoán của Bắc Kinh nhằm áp đặt chủ quyền Trung Quốc trên hầu như toàn bộ vùng biển. Thái độ căng thẳng này không chỉ nhắm vào hai nước trực tiếp tranh chấp như Việt Nam và Philippines, mà còn hướng tới cả các quốc gia ngoài khu vực như Ấn Độ, hay là các hãng dầu khí quốc tế đang hợp tác với các đối thủ của Bắc Kinh.

Hành động của Trung Quốc tuy nhiên đã vấp phải phản ứng cứng rắn khác thường của Philippines và Việt Nam, hai đối tượng bị Trung Quốc lấn áp, thúc đẩy hai nước liên kết chặt chẽ hơn với Hoa Kỳ, vốn bắt đầu cụ thể hóa chủ trương “xoay trục” (pivot), hướng về Châu Á – Thái Bình Dương.

Riêng đối với Việt Nam, giới quan sát đã ghi nhận phản ứng kiên quyết hơn của Hà Nội trước các hành động bị cho là thái quá của Bắc Kinh tại Biển Đông. Trong những năm trước đây, Trung Quốc đã từng nhiều lần tấn công vào những quyền lợi của Việt Nam tại Biển Đông, nhưng phản ứng của Việt Nam tương đối chừng mực. Năm 2011 này thì khác.

Vào tháng Năm vừa qua, Việt Nam đã chính thức mở họp báo tố cáo Trung Quốc phá hoại và sách nhiễu tàu thăm dò dầu khí Việt Nam là Bình Minh 02, ngay trong vùng hải phận 200 hải lý của Việt Nam. Lần đầu tiên, chính quyền Việt Nam đã cung cấp cho báo chí hình ảnh và tài liệu về sự cố này.

Tiếp theo đó, từ ngày 05/06, trong 11 tuần liên tiếp, nhiều cuộc biểu tình chống Trung Quốc gây hấn đã liên tục được diễn ra tại Hà Nội vào ngày Chủ nhật, trước khi bị chính quyền nghiêm cấm sau khi đàm phán xong với Trung Quốc về cách thức giảm căng thẳng. Tại thành phố Hồ Chí Minh, cũng có hai cuộc biểu tình trong hai ngày Chủ nhật đầu tiên, nhưng sau đó tất cả những dự định tụ tập chống Trung Quốc đều bị ngăn chặn và trấn áp.

Sau cơn sốt giữa năm, quan hệ căng thẳng Việt – Trung trên vấn đề Biển Đông giảm nhiệt dần dần, với việc cử đặc sứ Hồ Xuân Sơn qua Bắc Kinh, kế đến là chuyến công du Trung Quốc của Tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng, và gần đây nhất là chuyến thăm Việt Nam của Phó Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình.

Điểm đáng ghi nhận nhất là lần đầu tiên nhân chuyến công du Trung Quốc của lãnh đạo đảng Cộng sản Việt Nam, ngày 11/10, hai bên đã ký kết thỏa thuận về những nguyên tắc định hướng giải quyết tranh chấp ở Biển Đông trên tinh thần tôn trọng Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển (1982) và Bản Tuyên bố về Ứng xử của các bên tại Biển Đông (2002).

Các hành động của Trung Quốc cũng đồng thời làm cho những nước thường xuyên sử dụng các tuyến hàng hải qua vùng Biển Đông lo ngại, và vấn đề “an toàn và an ninh hàng hải” ở Biển Đông ngày càng được các nước như Mỹ, Nhật, Ấn, Úc… quan tâm.

Tại Hội nghị Thượng đỉnh Đông Á ngày 19/11 ở Bali Indonesia, 15 trên tổng số 18 thành viên đã nêu bật mối quan ngại của họ về tình hình Biển Đông, bất chấp tuyên bố phản đối của Trung Quốc, cho rằng hội nghị không phải là diễn đàn thích hợp để đề cập đến hồ sơ này. Thái độ kiên quyết của các nước đã buộc Thủ tướng Ôn Gia Bảo, đại diện của Trung Quốc tại hội nghị, phải lên tiếng biện minh cho lập trường của Bắc Kinh.

Tổng kết tình hình Biển Đông năm 2011, và đối sách của Việt Nam trước các hành động ngày càng lấn lướt của Trung Quốc trong vấn đề áp đặt các đòi hỏi chủ quyền rộng khắp của họ, RFI đã phỏng vấn Giáo sư Ngô Vĩnh Long, chuyên gia kỳ cựu về Biển Đông tại trường Đại học Maine.
Giáo sư Ngô Vĩnh Long – Đại học Maine (Hoa Kỳ)

26/12/2011
by Trọng Nghĩa

Nghe (09:54)

Theo Giáo sư Long, ý nghĩa của sự kiện hồ sơ Biển Đông được quốc tế hóa tại Hội nghị Thượng đỉnh Đông Á ở Bali Indonesia rất quan trọng, và Việt Nam cần tranh thủ xu thế Trung Quốc bị cô lập để vận động cả dư luận trong nước lẫn ngoài nước để thúc đẩy các lợi ích chính đáng của mình, không chỉ trong hồ sơ Trường Sa, mà cả trên vấn đề Hoàng Sa.

Hồ sơ Biển Đông được quốc tế hóa tại Bali: sự kiện nổi bật năm 2011

1/ Cao điểm của các sự kiện liên quan đến Biển Đông trong năm là việc Biển Đông được nêu ra trước diễn đàn Hội nghị Thượng đỉnh Á châu vào ngày 19/11 tại Bali. Mặc dầu có sự phản đối của Trung Quốc, 15 nước không những đồng ý đem vấn đề ra thảo luận, mà còn đi đến kết luận là tranh chấp phải được giải quyết một cách hòa bình, tôn trọng luật quốc tế, nguyên tắc tự do hàng hải phải được bảo vệ.

Lý do chính dẫn đến việc đồng tình này là vì có thể nói là trong vài năm qua, và đặc biệt là trong năm 2011, Trung Quốc ngày càng có thái độ hung hăng, không những đối với những nước có quyền lợi trực tiếp lớn nhất trong khu vực Biển Đông như Việt Nam hay Philippines, mà còn đe dọa an ninh của các nước khác trong và ngoài khu vực…

Những quốc gia đến dự Hội nghị gián tiếp cho là những hành động đánh chiếm của Trung Quốc như Hoàng Sa năm 1974 chẳng hạn, cũng phải được giải quyết trên tinh thần tôn trọng luật quốc tế, đặc biệt là Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật biển năm 1982. Và theo tôi, họ gián tiếp nói là cái đường chữ U (của Trung Quốc) không tôn trọng luật quốc tế và phải được dẹp bỏ.

Đối với tôi, đó là một cao điểm, một thành công lớn cho khu vực.

Năm 2011: Việt Nam có tiếng nói quả quyết hơn đối với Trung Quốc

2/ Trước đây, Trung Quốc cũng rất hung hăng đối với Việt Nam, nhưng Việt Nam không có thái độ rõ ràng, không có tiếng nói quả quyết. Tuy nhiên, năm 2011 này, không những Việt Nam có tiếng nói rõ ràng, quả quyết, mà Philippines cũng làm việc đó.

Điều đó giúp cho các nước ngoài khu vực, nhưng có quyền lợi rất lớn với an ninh và an toàn hàng hải xuyên qua khu vực Biển Đông như Mỹ, Nhật, Ấn Độ, Úc, có thể hợp tác chặt chẽ hơn với những quốc gia trong khu vực.

Không có tiếng nói rõ ràng của các nước có quyền lợi lớn bên trong khu vực, thì các nước ngoài khu vực khó có thể động viên được sự ủng hộ mạnh mẽ của nhân dân họ trong việc can dự vào các vấn đề như an ninh khu vực, trong đó có an ninh khu vực Biển Đông.

Không nên trấn áp các cuộc biểu tình chống Trung Quốc gây hấn

3/ Tôi nghĩ là đây là điểm yếu của Việt Nam… Nếu cứ tiếp tục tiến hành việc này, Việt Nam sẽ khó mà giúp cho những nước muốn ủng hộ Việt Nam, trong đó đặc biệt là Mỹ, có thể vận động sự ủng hộ của dân chúng họ đối với Việt Nam.

Sự vận động này rất quan trọng, bởi vì có nhiều công ty đa quốc gia của Mỹ có lợi rất lớn trong việc buôn bán đầu tư ở Trung Quốc, (họ có thể lơ là) Việt Nam là một nước nhỏ. Nếu tiếp tục theo con đường trấn áp thì chính quyền Việt Nam sẽ gây khó khăn cho chính phủ Mỹ rất nhiều, cũng như cho chính phủ một số nước khác, cũng muốn vận động sự ủng hộ đối với Việt Nam.

Mỹ “xoay trục” (pivot) hướng về Châu Á, khu vực trọng tâm cố hữu

4/ Tôi nghĩ khái niệm ‘xoay trục’ này là một thứ chơi chữ để đối lại với từ ngữ ‘quyền lợi cốt lõi’ mà Trung Quốc sử dụng… Thật ra đối với Mỹ, khu vực Á châu Thái Bình Dương là trọng tâm của Mỹ từ lâu. Khi Obama lên làm Tổng thống, ông muốn có an ninh và an toàn trong vùng, và lập tức phái bà Ngoại trưởng Hillary Clinton qua nói với Trung Quốc rằng thế kỷ XXI là thế kỷ của Châu Á Thái Bình Dương, vì thế Mỹ muốn hợp tác với Trung Quốc để phát triển khu vực này.

Trung Quốc tưởng là ‘ngon’ nên cứ dùng cái đó để chèn ép Mỹ. Cuối cùng, khi thấy rằng thái độ nhượng bộ của mình làm cho Trung Quốc càng hung hăng lên, thì Mỹ thấy rằng phải trả lời Trung Quốc. Có thể là trong gần hai năm qua, Hoa Kỳ đã trả lời rất từ từ để xem Trung Quốc làm như thế nào, nhưng vì Trung Quốc lại hung hăng hơn, nên tôi cho là cuối cùng, chính phủ Mỹ đã nghĩ rằng họ phải có tiếng nói thẳng thắn đối với Trung Quốc.

Thế nhưng theo tôi, chính sách của Mỹ không phải là chống Trung Quốc, mà là làm sao cho Trung Quốc – vì là một cường quốc trong vùng – có trách nhiệm đối với sự an toàn và an ninh của khu vực.

Thỏa thuận Việt Trung về Biển Đông: Bước đi khôn ngoan của Việt Nam

5/ Trong năm 2011, có thể nêu bật thỏa thuận giữa Việt Nam và Trung Quốc về Biển Đông. Mặc dầu Việt Nam bị sức ép của Trung Quốc, nhưng tôi nghĩ việc ký thỏa thuận là một hành động khôn ngoan, nhất là trong việc ‘bắt’ hay là thỏa thuận với Trung Quốc là những chuyện gì riêng giữa hai bên, thì giải quyết song phương, còn những vấn đề gì chung thì phải giải quyết đa phương.

Lẽ dĩ nhiên, chuyện riêng là Vịnh Bắc bộ, thì Việt Nam với Trung Quốc giải quyết xong, một cách đàng hoàng, một cách hoà bình. Vì vậy cho nên, trên một vấn đề khác giữa Việt Nam và Trung Quốc là Hoàng Sa – mà Trung Quốc đã đánh chiếm bằng vũ lực – thì bây giờ, cũng trên tinh thần tôn trọng luật quốc tế, trên tinh thần giải quyết vấn đề song phương với Việt Nam, Trung Quốc cũng phải đem vấn đề này ra để giải quyết song phương.

Do đó, theo tôi, Việt Nam phải thúc đẩy vấn đề Hoàng Sa, đẩy mạnh vấn đề Hoàng Sa để buộc Trung Quốc phải bỏ đường chữ U.

Đường chữ U là vấn đề rất quan trọng. Nếu Trung Quốc muốn chứng minh cho thế giới là họ không chủ trương dùng vũ lực và có thái độ hoà hoãn, thì trước hết họ phải bỏ đường chữ U và sau đó giải quyết vấn đề song phương với Việt Nam.

Theo tôi Việt Nam nên tiếp tục cái đà của năm 2011 để thúc giục Trung Quốc cũng như thúc đẩy các nước khác ủng hộ Việt Nam trong các đòi hỏi kể trên.

Trong năm 2012 cần đòi thực hiện DOC để tiến tới COC

6/ Nếu muốn Trung Quốc bãi bỏ đường chũ U của họ, Việt Nam cùng với các nước Đông Nam Á, đặc biệt là Philippines, Indonesia, Malaysia, Singapore, phải thúc đẩy bản Hướng dẫn việc thực hiện quy tắc ứng xử về Biển Đông. Đây là một vấn đề thiết thực cần làm, và cần đến sự ủng hộ của các nước bên ngoài khu vực nhưng có quyền lợi rất lớn trong việc bảo vệ an ninh và an toàn ở Biển Đông…

Các nước Đông Nam Á hiện cần thúc đẩy việc hình thành ra một bộ luật ứng xử cho toàn bộ vùng có thể gọi là Biển Đông Nam Á, chứ còn trong 10 năm qua, thì mọi người đều lơ là, cứ tưởng rằng nhân nhượng Trung Quốc thì sẽ được họ đối đãi tốt hơn. Thế nhưng, trong hai, ba năm qua, thực tế cho thấy là vấn đề không phải là như vậy, đối với Trung Quốc là phải cứng rắn, phải thúc đẩy họ thực hiện những cam kết. Và các nước ASEAN cũng vậy, muốn bảo vệ quyền lợi của mình, thì phải thực hiện những cam kết.

Tôi nghĩ rằng đấy có thể là một bước mới trong quá trình xây dựng một đường lối mới cho toàn khu vực.

T.N.

Nguồn: http://www.viet.rfi.fr/viet-nam/20111226-2011-nam-ho-so-bien-dong-duoc-quoc-te-hoa

Để lại phản hồi »

Chưa có phản hồi.

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Tạo một website miễn phí hoặc 1 blog với WordPress.com.

%d bloggers like this: