Hoàngquang’s Blog

14/12/2011

Trung Quốc đề nghị chia đôi Thái Bình Dương

Cu Làng Cát

Lê Diễn Đức –
Chủ nghĩa yêu nước không phải là chủ nghĩa phát xít

Nguyễn Hải Hoành
– Ai cai trị nước Mỹ?

***
Trung Quốc đề nghị chia đôi Thái Bình Dương

Nhiều người tỏ ý Trung Quốc hiện nay to lớn như thế nào? Về mặt lãnh thổ không cần bàn cãi. Trung Quốc thật sự rộng lớn. Nhưng nền kinh tế của Trung Quốc đã thể hiện cơ bắp của mình ở mức toàn cầu. Sự to lớn của Trung Quốc thể hiện ở tầm mức có thể ép Hoa Kỳ không gặp đức Đạt Lai Lạt Ma, lãnh tụ lưu vong của người Tây Tạng ở phòng Bầu Dục mà gặp ở phòng Bản Đồ. Và Trung Quốc còn chứng minh sự to lớn của mình bằng phản đối nảy lửa sau cuộc gặp đó.

Quan chức Trung Quốc muốn chia đôi Thái Bình Dương. Người Mỹ nói không, xin cảm ơn.

Sự to lớn của Trung Quốc cũng doạ được Nhật Bản sau khi nền quốc phòng Nhật Bản ra sách trắng. Trung Quốc đã lớn tiếng nói: “Nhật Bản vô trách nhiệm”…
Nhìn lại những nguyên nhân của cuộc chiến tranh thế giới thứ 2, vào thời điểm thập niên 1920-1930, Nhật Bản được điều hành bởi nhóm lãnh đạo quân phiệt và lúc đó ý định biến thành cường quốc đã đưa Nhật Bản vào tham chiến thế giới thứ hai cùng Đức-Ý. Thời buổi đó, Nhật Bản cũng khát dầu lửa cho nền kinh tế tăng trưởng chóng mặt của mình. Và đi xâm lược là nhằm chia lại thuộc địa cũng như tài nguyên. Lúc đó, nhiều phân tích vẫn còn in đậm trong các trang sách, một trong những nguyên nhân gây ra thế chiến thứ hai là một phần có nguyên căn của cơn khát tài nguyên năng lượng. Và bom đạn được đưa ra để choảng nhau. Cuộc chiến làm mất mát 62 triệu người trên toàn hành tinh, mà con số của nó hiện vẫn đang nghiên cứu.
Trung Quốc đang phát triển kinh tế với nội tâm rất khát năng lượng. Điều đó thúc dục các mũi nhọn của nền kinh tế được tuyên bố thứ hai thế giới này đi ra khắp nơi của hệ thống toàn cầu để đưa về năng lượng cho đại lục. Trong cuộc tìm kiếm này, có đưa lại một đề nghị từ phía Trung Quốc với tướng Mỹ chia đôi Thái Bình Dương, báo chí từng loan tin: “Phát biểu sau chuyến thăm Thái Lan, Hong Kong và Hàn Quốc tuần qua, Đô đốc Keating cho biết một tướng Trung Quốc đã đề nghị với ông rằng hai nước nên chia đôi Thái Bình Dương, theo đó, Trung Quốc sẽ “lo gìn giữ hòa bình từ Hawaii về phía Tây, còn Mỹ lo từ Hawaii sang phía Đông”. Nhưng Đô đốc Keating nói ông đã trả lời “No, thanks!” (Không, xin cảm ơn). Ông cũng nói tham vọng xuất xưởng hai tàu sân bay trong năm 2015 của Trung Quốc không dễ thực hiện và điều khiển hàng không mẫu hạm sẽ còn khó hơn.” (http://www.tuanvietnam.net/vn/tulieusuyngam/6249/index.aspx)
Đây như chỉ dấu cho một cuộc chiến trong tương lai bằng súng đạn để chia lại thị phần năng lượng giàu có của thế giới? Không ai dám chắc trả lời câu hỏi Trung Quốc có thế tấn công nước nào, nhưng cũng không ai dám chắc Trung Quốc sẽ đi đến đâu với những hình ảnh và tuyên bố như thế.
Có một điều chắc chắn, thế giới hết sức cảnh giác với phần còn lại của trái đất là Trung Hoa đại lục. Không ai mong muốn cuộc chiến diễn ra, nhưng lòng tham liệu có kiềm chế được Trung Quốc nói chuyện súng đạn trong tương lai theo kiểu cổ điển?
Cu Làng Cát

http://culangcat.blogspot.com/2011/12/trung-quoc-e-nghi-chia-oi-thai-binh.html

Lê Diễn Đức –
Chủ nghĩa yêu nước không phải là chủ nghĩa phát xít

Thủ đô Ba Lan Warsaw ngày 13 tháng 12 năm 1981 – Ảnh: Tư liệu

Cách đây tròn 30 năm nhà nước cộng sản Ba Lan đã ban hành tình trạng chiến tranh. Đây là một sự kiện lịch sử lớn của Ba Lan, một chủ đề gây tranh cãi không nhân nhượng suốt 20 năm nay kể từ khi chế độ cộng sản Ba Lan bị sụp đổ vào năm 1989.

Vào lúc 6 giờ sáng, ngày 13/12/1981 đài phát thanh Ba Lan đã phát đi lời của đại tướng Wojciech Jaruzelski, nhà lãnh đạo cao nhất của đảng và nhà nước cộng sản Ba Lan, công bố rằng, dựa trên quyền hiến định, Hội đồng Quân sự Cứu quốc được thành lập và theo pháp lệnh của Hội đồng Nhà nước, ông thông báo ban hành tình trạng thiết quân luật trên cả nước.

Tình trạng thiết quân luật bị đình chỉ vào ngày 31/12/1982 và bãi bỏ sau 586 ngày, vào ngày 22/7/1983.

Mùa Thu năm 1980, trước sức ép mạnh mẽ từ các cuộc tranh đấu can trường và bền bỉ của dân chúng Ba Lan, đi đầu là giai cấp công nhân, nhà nước cộng sản Ba Lan đã phải nhượng bộ và chấp nhập 21 yêu sách của phong trào Đoàn Kết, trong đó có quyền được thành lập công đoàn độc lập. Họ đòi hỏi công đoàn phải là tổ chức bảo vệ lợi ích của người lao động, chứ không thể là công cụ để chính quyền sử dụng phục vụ cho sự kiểm soát xã hội của đảng.

Công đoàn Đoàn kết Ba Lan từ đây đã ra đời và chỉ trong vòng ít tháng sau trở thành một trong những phong trào quần chúng lớn nhất trong lịch sử đấu tranh của công nhân lao động thế giới, với gần 10 triệu thành viên, đánh dấu một bước ngoặt to lớn của nhân dân Ba Lan trong các hoạt động phản kháng, chống lại chế độ cộng sản, đòi tự dân chủ và cải thiện dân sinh.

Dưới sự lãnh đạo của Công đoàn Đoàn kết, làn sóng đình công và biểu tình tiếp theo dồn dập, lan rộng trên cả nước, đã khiến chính quyền cộng sản Ba Lan lo ngại sâu sắc và phải tính đến khả năng áp đặt tình trạng thiết quân luật để ngăn chặn bất ổn xã hội và dập tắt phong trào dân chủ non trẻ.

Tuy nhiên, lý do chính thức cho việc ban hành tình trạng thiết quân luật mà nhà chức trách đưa ra là tình hình kinh tế của đất nước hết sức khó khăn, hàng hoá tiêu dùng thiếu nghiêm trọng và sẽ không đủ điện cung cấp cho mùa đông trước mối đe dọa một cuộc tổng đình công toàn quốc. Ngoài ra, sự đối đầu của xã hội leo thang có thể dẫn tới mất khả năng kiểm soát của chính quyền. Đồng thời chính quyền cũng muốn ngăn ngừa một cuộc can thiệp quân sự của Liên Xô vào Ba Lan như đã từng xảy ra ở Tiệp Khắc mùa xuân 1968.

Ngay trước nửa đêm ngày 12 tháng 12 năm 1981, chiến dịch đàn áp, bắt giam các nhà lãnh đạo và thành viên của phe đối lập đã bắt đầu.

Nếu một ai tưởng rằng, cuộc tranh đấu giành tự do của nhân dân Đông Âu nói chung và của dân tộc Ba Lan nói riêng, được tiến hành bằng phương pháp tranh đấu bất bạo động, đã làm chuyển hoá thể chế cộng sản sang thể chế tự do, dân chủ một cách êm ả, thì hoàn toàn sai lầm. Người Ba Lan đã phải trả giá đắt!

Cảnh sát, quân đội được huy động cho việc đàn áp phong trào đối lập trong giai đoạn thiết quân luật ở Ba Lan với quy mô lớn chưa từng có: 70 ngàn binh sĩ, 30 ngàn công an, 1.750 xe tăng, 1.900 chiến xa và 9 ngàn xe ô tô.

Tâm lý xã hội Ba Lan căng thẳng, ngột ngạt, bao trùm nỗi ám ảnh bị bắt bớ, tra hỏi, hành hạ bởi an ninh, mật vụ bất cứ lúc nào, và bất kỳ lý do gì nếu nhà chức trách có ý nghi ngờ. Chỉ trong năm 1981-1982 đã có gần 2.900 người Ba Lan tự tử!

Một cuộc “Exodus” không kém gì người miền Nam Việt Nam sau ngày 30 tháng Tư năm 1975. Gần một triệu người Ba Lan bằng mọi cách đã bỏ chạy khỏi đất nước. Công đoàn Đoàn kết đã phải rút vào hoạt động bí mật.

11 ngày sau khi ban hành thiết quân luật, có tới 4 ngàn người, chủ yếu là các nhà lãnh đạo và những người tham gia các cuộc đình công và biểu tình bị toà án buộc tội và kết án tù giam. Trong gần hai năm thiết quân luật con số bị nhà cầm quyền cộng sản bắt giam lên tới gần 10 ngàn người.

Năm 2006, Viện Tưởng niệm Quốc gia Ba Lan đã ước tính số tử vong trong các cuộc biểu tình, đình công là 56 người. Tổng số người chết trong năm 1981-1989, tức là từ lúc ban hành thiết quân luật tới khi chế độ cộng sản sụp đổ khoảng 100 người.

Ban hành tình trạng chiến tranh, nhà nước cộng sản Ba Lan đã đặt đất nước vào một cuộc khủng khoảng còn tệ hại hơn trước.

Một năm trước, cũng nhân dịp này, trả lời phỏng vấn của nhật báo “Polska The Times” ngày 12/12/2010, giáo sư lịch sử, chính trị học Ba Lan Atoni Dudek nói rằng, những năm 80 là thập kỷ kinh khủng nhất của Ba Lan. Các cơ sở kinh tế bị đổ vỡ không thể cứu vãn vì sản xuất tê liệt và chịu sự trừng phạt, phong tỏa kinh tế của Mỹ và phương Tây. Trong cuộc chạy đua với nền văn minh, dân tộc Ba Lan đã bị bỏ lại rất xa, với khoảng cách nhanh chưa từng thấy trước đó.

Để tồn tại nhà nước cộng sản Ba Lan đã nỗ lực vay tiền nước ngoài. Chỉ trong thập niên 80, nợ nước ngoài của Ba Lan tăng gấp đôi, từ 20 tỷ đôla lên hơn 40 tỷ đôla. Giáo sư Atoni Dudek cũng cho biết, sau hơn mười năm xây dựng hệ thống dân chủ và khôi phục kinh tế, dân Ba Lan mới té ngửa ra rằng, 4 tỷ đôla tiền tiết kiệm của họ gửi tại Ngân hàng Thương mại (Bank Handlowy) và Ngân hàng Pekao đã bị nhà cầm quyền cộng sản “giật tạm” và xài hết sạch! Nhà nước dân chủ đã phải đóng kín thông tin vào lúc đó, không dám công bố cho công luận biết sự việc động trời này, xem nó như là bí mật quốc gia, nhằm ngăn ngừa tình cảnh hoảng loạn của dân chúng.

Trong năm 2005, Tổng thống Ba Lan, ông A. Kwasniewski, từng là một cựu đảng viên cộng sản Ba Lan, đã chính thức xin lỗi nhân dân Ba Lan về việc ban hành tình trạng chiến tranh và thừa nhận việc đàn áp nhân dân của chế độ cộng sản trong thời gian này là tội ác chống dân tộc.

Thế nhưng, người đứng đầu nhà nước cộng sản Ba Lan cuối cùng, đại tướng Wojciech Jaruzelski, luôn bảo vệ quan điểm của mình. Rằng, ban hành tình trạng thiết quân luật năm 1981 ông đã tránh cho Ba Lan khỏi sự can thiệp quân sự của Liên Xô, tránh một cuộc đụng độ đẫm máu có thể xảy ra. Rằng, giữa hai cái xấu ông đã phải chọn cái ít xấu hơn. Quan điểm của ông chưa bao giờ có được đồng thuận trong xã hội và càng ngày càng ít đi số người ủng hộ sự biện minh này.

Cơ quan thăm dò dư luận xã hội Ba Lan Pentor cho thấy, trong tháng 11/2010 chỉ còn 41 % người Ba Lan nhận định việc ban hành tình trạng chiến tranh là hợp lý (tỷ lệ thấp nhất kể từ năm 1995), 33% cho rằng phi lý và 27 % không có ý kiến.

Trong năm 1995, lần đầu tiên Pentor thực hiện thăm dò dư luận về quyết định áp đặt thiết quân luật. Lúc đó có tới 49% số người nói quyết định là hợp lý, 27% là phi lý và 24% không có ý kiến. Kết quả trong năm 2002 làm nhiều người ngạc nhiên hơn: 54% hợp lý, 19% phí lý và 27% không có ý kiến.

Tổng hợp các cuộc điều tra dư luận trong suốt 15 năm qua đã chỉ ra rõ rệt rằng, để tránh một cuộc xâm lăng của Liên Xô là luận cứ cơ bản mà từ đó người Ba Lan đưa ra nhận định về sự hợp lý hay không của việc ban hành tình trạng thiết quân luật.

Trong năm 2010, tới 33% lấy lý do này, trong khi 19% cho rằng chính quyền cộng sản Ba Lan muốn “ngăn ngừa sự sụp đổ”, 12% để “hủy diệt Công đoàn Đoàn kết”, 23% vì những nguyên do khác.

Năm nay, kỷ niệm 30 năm, vào thứ Hai, ngày 12/12/2011, trong khi tướng W. Jaruzelski, ở tuổi 88, phải nhập viện chữa bệnh, thì vào buổi tối một cuộc biểu tình của vài trăm người đã diễn ra trước nhà riêng của ông, như thông lệ hàng năm từ suốt 21 năm nay, kể từ khi Ba Lan giành được tự do, dân chủ. Họ mang theo biểu ngữ: “Đả đảo cộng sản”, “Chủ nghĩa yêu nước không phải là chủ nghĩa phát xít”, “Chúng tôi vẫn nhớ”…

Đúng như thế! Không thể nhân danh yêu nước, bảo vệ đất nước và ổn định chính trị xã hội mà chính quyền lại trở thành phát xít với chính người dân của mình. Thông điệp của người Ba Lan rất rõ ràng! Cũng rõ ràng như thông điệp từ các phiên toà xét xử tướng W. Jaruzelski và những người gây tội ác với nhân dân trong thời kỳ cộng sản: Dư luận Ba Lan đồng tình rằng, việc xét xử chủ yếu nhằm mục đích bảo vệ công lý, chứ không phải là trả thù những người cộng sản; là cốt nhắc nhở để cái ác của quá khứ lịch sử không tái diễn và để lại bài học cho các thế hệ tương lai!

Cũng tối ngày 12 và trong ngày 13/12 tại nhiều thành phố Ba Lan các hội đoàn và chính quyền còn tổ chức các buổi biểu diễn văn nghệ, tuần hành và đốt nến cầu nguyện cho các nạn nhân bị chết trong giai đoạn thiết quân luật và trong suốt thời kỳ chế độ cộng sản cai trị (1944-1989).

Biểu tình trước nhà cựu lãnh đạo CS, tướng W. Jaruzelski, tối ngày 12/12/2011

Một cuộc tuần hành khác trên đường phố Warsaw, tối ngày 12/12/2011

© Lê Diễn Đức – RFA Blog
http://www.rfavietnam.com/node/941

Nguyễn Hải Hoành
– Ai cai trị nước Mỹ?

Trả lời câu hỏi Ai cai trị nước Mỹ? có lẽ nhiều người sẽ nói: chính phủ và Tổng thống Mỹ đang cai trị nước này. Câu trả lời ấy không sai nhưng chưa đi vào bản chất vấn đề. Nếu tiếp tục tìm hiểu ta sẽ thấy Ai cai trị nước Mỹ là một vấn đề phức tạp, cho tới nay vẫn chưa có câu trả lời tương đối nhất trí mà tồn tại nhiều quan điểm khác nhau.

Một số quan điểm thông thường

1. Quan điểm cho rằng mỗi quốc gia đều do một giai cấp nào đó thống trị, thí dụ các nước theo chủ nghĩa tư bản (CNTB) như Mỹ là do giai cấp tư sản thống trị.

Ở đây có hai vấn đề. Thứ nhất, khái niệm giai cấp thống trị (ruling class) quá rộng trong khi bộ phận quyết định đường lối chính sách quốc gia chỉ có thể là số ít. Trong một xã hội hiện đại, các quyết sách lớn đều rất phức tạp và cần giữ bí mật; vì thế nhà nước không thể do số đông lãnh đạo. Thứ hai, trong xã hội hiện đại các giai cấp đều bị phân hóa rất rõ ràng. Tại các nước tư bản, tăng trưởng kinh tế dẫn tới xã hội CNTB phúc lợi, giai cấp công nhân không còn là giai cấp vô sản như thời của Mác nữa, mà một bộ phận đáng kể đã chuyển lên thành tầng lớp trung lưu, hữu sản. Giai cấp tư sản cũng chia làm tư sản công nghiệp và tư sản tài chính, có vai trò khác nhau và mâu thuẫn với nhau. Tầng lớp trung lưu có số người đông nhất; qua bầu cử dân chủ và qua các tổ chức xã hội công dân, họ có tiếng nói quyết định trong xã hội. Người Mỹ cho rằng ở nước họ tất cả mọi người đều là công dân, hoàn toàn bình đẳng về cơ hội nhưng có thể không bình đẳng về kết quả; ai cũng có thể giàu hoặc nghèo tùy thuộc sự phấn đấu của mình. Căn cứ theo thu nhập, xã hội Mỹ chia làm hai tầng lớp giàu và nghèo, đều là thiểu số, và một tầng lớp trung lưu chiếm đa số. Hai đảng Cộng hòa và Dân chủ không đại diện giai cấp, chỉ là các nhóm lợi ích, lập ra để tranh nhau chức Tổng thống (TT).

2. Quan điểm cho rằng chính quyền Mỹ là do tầng lớp nhà giàu nắm giữ.

Nước Mỹ có mức độ phân hóa giàu nghèo rất rõ rệt. Số liệu năm 2007 cho thấy 1% số gia đình (thuộc tầng lớp trên, upper class) sở hữu 34,6% tài sản tư nhân cả nước; 19% tiếp theo (gồm giới các nhà quản lý, chuyên gia, chủ doanh nghiệp nhỏ) nắm 50,5%. Nghĩa là 20% số dân sở hữu 85% tổng tài sản tư; còn 80% số dân (là những người làm thuê) chỉ sở hữu có 15%. Hiện nay 46% nghị sĩ hai viện quốc hội Mỹ thuộc diện nhà giàu (hiểu là có tài sản trên 1 triệu USD; người giàu nhất là Darrel Issa, đảng Cộng hòa, có 451 triệu USD); nhưng chưa phải là giàu lắm. Nói tầng lớp giàu có nắm chính quyền cũng không chính xác, vì 1% số dân Mỹ là 3,5 triệu người, bằng một quốc gia nhỏ. Hơn nữa không ít tỷ phú Mỹ lại tránh xa quyền lực, như Bill Gates và Warren Buffett đều không tham gia chính đảng nào, họ cam kết góp gần hết tài sản cho công tác từ thiện và ủng hộ Tổng thống Obama tăng thuế đánh vào người giàu.

3. Quan điểm cho rằng bên cạnh Chính phủ Mỹ còn có một chính phủ vô hình do các nhà tư bản tài chính đứng đầu thực sự nắm quyền lãnh đạo nhà nước.

Quan điểm này thấy rõ trong cuốn Chiến tranh tiền tệ [1]. Sách trích dẫn nhiều tài liệu của phương Tây, đưa ra những tư liệu giật gân, không rõ độ tin cậy, như:

– Từ thế kỷ XIX, nền tài chính toàn thế giới thuộc quyền kiểm soát của gia tộc Rothschild (người Do Thái) có tổng tài sản tích lũy hơn 50 nghìn tỷ USD (?), gấp 4 lần GDP nước Mỹ. Rothschild Family hiện có tài sản 500 tỷ USD, đứng đầu tập đoàn tài chính quốc tế và kiểm soát tất cả các chính quyền phương Tây thông qua hệ thống ngân hàng (?);

– Cơ quan Dự trữ Liên bang FED, tức Ngân hàng Trung ương Mỹ, là một ngân hàng tư nhân!Chủ tịch FED đều là người Do Thái (gần đây là Greenspan, nay là Bernanke). FED chính l�Tổng thống vô hình đang thống trị nước Mỹ, vì FED có quyền in và phát hành đồng dollar Mỹ, còn gọi đồng tiền của FED (Federal Reserve Note); – Chính phủ Mỹ không có cổ phần ở FED. Họ phải vay tiền của FED để chi tiêu với thế chấp là tiền thuế thu nhập (khoản thu tài chính lớn nhất trong nước) do dân Mỹ nộp vào tài khoản của FED. Hiện nay nước Mỹ nợ nước ngoài 2500 tỷ USD (chủ yếu là công trái Mỹ do Trung Quốc, Nhật nắm) nhưng lại nợ FED những 44 nghìn tỷ USD;

– Nhiều TT Mỹ từng kiên quyết chống lại việc các nhà băng châu Âu muốn lập ngân hàng trung ương Mỹ do tư nhân kiểm soát để nắm quyền phát hành tiền tệ. TT Jackson từng giải tán ngân hàng tư nhân, trên bia mộ của ông khắc mỗi một câu: Tôi đã giết ngân hàng. TT Lincoln từng phát hành đồng tiền riêng của chính phủ, gọi là Tiền Xanh (greenback) nhằm phá thế kìm kẹp của đồng tiền do ngân hàng tư nhân phát hành, vì thế ông bị ám sát chết. Nhưng rốt cuộc FED vẫn được lập vào năm 1913, cho dù nhiều TT Mỹ chống lại việc đó;

– Có một Câu lạc bộ tinh hoa thống trị thế giới với nòng cốt là Hội đồng Quan hệ quốc tế Mỹ, nhóm Bilderberg và Ủy ban Ba bên (Trilaterial Commission). Ở đây tinh hoa là các trùm tài chính quốc tế, họ muốn lập chính phủ thế giới và tiền tệ thế giới (?).

Hiện nay dân Mỹ đang lên án các nhà tư bản tài chính là kẻ gây ra khủng hoảng kinh tế. Có điều khó hiểu là G. Soros một trùm tài chính người Mỹ gốc Do Thái lại ủng hộ phong trào này và phản đối việc chính phủ giải cứu các ngân hàng. Soros cũng cam kết hiến tất cả tài sản của mình cho công tác từ thiện.

Thuyết Tinh hoa quyền lực

Trong quá trình nghiên cứu vấn đề cấu trúc quyền lực ở Mỹ, xoay quanh chủ đề nước này sau Thế chiến II có tồn tại quyền lực tập trung hay không, một số học giả Mỹ cho rằng nước Mỹ là do một thiểu số ,em>tinh hoa quyền lực gồm những trùm sò của ba ngành kinh tế, quân sự, chính trị thống trị.

Chế độ phân quyền hai cấp liên bang và bang, nguyên tắc tam quyền phân lập, tập tục hai đảng thay nhau cầm quyền và cơ chế bầu cử dân chủ tạo cảm giác xã hội Mỹ là do dân làm chủ và không có vấn đề quyền lực tập trung; chính phủ Mỹ là “của dân, do dân, vì dân”. Tỷ phú David Rockefeller từng nói: Tôi tin rằng chính phủ Mỹ là đày tớ của nhân dân chứ không phải ông chủ của họ [2]. Sau thắng lợi tiêu diệt các thế lực độc tài phát xít trong Thế chiến II, nước Mỹ ở vào thời kỳ phồn vinh, phần lớn trí thức Mỹ tự hào cho rằng nước họ là đại diện của quốc gia tự do dân chủ; bất kỳ nhóm lợi ích nào cũng bị các nhóm khác cân bằng và kiềm chế; người dân qua lá phiếu bầu của mình thực hiện quyền làm chủ nhà nước, không tồn tại vấn đề quyền lực quá tập trung.

Quan điểm trên bị lung lay khi xuất hiện cuốn Cấu trúc quyền lực cộng đồng: Một nghiên cứu về các nhà quyết sách [ (Community Power Structure: A Study of Decision Makers, 1953) của Floyd Hunter v� Tinh hoa quyền lực[ (The Power Elite, 1956) của C. Wright Mills. Hai tác giả giải thích cấu trúc quyền lực theo cách khác với phái chủ nghĩa đa nguyên (pluralism) và phái Mác xít. Đây là bước thăm dò của giới khoa học chính trị về cấu trúc và sự phân phối quyền lực ở Mỹ trên tầng nấc quốc gia, hình thành lĩnh vực nghiên cứu cấu trúc quyền lực trong ngành khoa học xã hội và chính trị.

Mills cho rằng cấu trúc quyền lực ở Mỹ đã có thay đổi bản chất: quyền lực nhà nước quan trọng nhất đã tập trung vào 3 lĩnh vực kinh tế, chính trị và quân sự; 3 lĩnh vực đó hòa quyện với nhau, những người nắm 3 loại quyền lực này là các trùm tập đoàn công ty, chính khách trùm sò và lãnh tụ quân sự. Họ cấu tạo nên tinh hoa quyền lực của nước Mỹ, có lợi ích nhất trí, gắn kết nhau cùng hoạch định các quyết sách trên phạm vi toàn quốc, là một “tập đoàn nhỏ” khống chế quyền lực tập trung.

Mills vạch trần sự thật: phía sau sự phồn vinh, chế độ dân chủ mà người Mỹ tự hào đang bị đe dọa nghiêm trọng; trong thời gian chiến tranh lạnh, quyền lực của đông đảo nhân dân Mỹ đang bị mất dần. Các giám đốc điều hành (CEO) đại công ty đến nhậm chức trong chính phủ Mỹ (như sau này McNamara Chủ tịch công ty Ford Motor làm Bộ trưởng Quốc phòng), tướng lĩnh cấp cao trong quân đội chuyển sang lãnh đạo đại công ty; quyền lực đang tập trung vào tay các nhà lãnh đạo quân đội, công ty và chính khách, tức nhóm tinh hoa thống trị quốc gia. Hơn thế nữa, địa vị của giới lãnh đạo quân đội và đại công ty đang lên cao, địa vị của các nhà chính trị thì đang hạ thấp. Mills và Hunter cho rằng quyền lực thoạt tiên bén rễ trong các tổ chức chứ không phải trong các cá nhân, các hội đoàn, nhóm lợi ích và đảng phái như nhiều nhà chính trị dòng chính quan niệm, cũng không phải là các giai cấp như các nhà Mác xít nghĩ.

Mills đồng ý với 3 tiêu chuẩn phân chia các tầng lớp xã hội do Max Weber đề xuất: tiền vốn (tư bản), quyền lực và danh vọng (3 thứ này có thể chuyển hóa lẫn nhau). Ông vạch ra sai lầm của Thuyết cân bằng[ phổ biến trong nhận thức của người Mỹ. Cơ chế tam quyền phân lập nhằm ngăn chặn sự tập trung quyền lực, nhưng trong thực tế cơ chế đó bị thách thức. Dân chúng chỉ chú ý tới tầng lớp trung lưu mà mơ hồ về cấu trúc quyền lực tổng thể, nhất là tầng lớp trên và tầng lớp dưới. Tầng lớp trên ngày càng nhất thể hóa và đã xuất hiện tinh hoa quyền lực. Ông cho rằng CNTB Mỹ là CNTB quân sự; mối quan hệ quan trọng nhất giữa đại công ty với nhà nước thì xây dựng trên sự nhất trí về nhu cầu của quân đội và công ty. Sự nhất trí đó tăng cường sức mạnh của mỗi bên và làm suy yếu vai trò của các chính khách. Giới truyền thông đại chúng Mỹ giúp các nhân vật tinh hoa quyền lực có được vinh quang mà tầng lớp trên ở bất cứ nước nào cũng chưa từng được hưởng. Truyền thông đại chúng và cơ chế giáo dục ở Mỹ đã che giấu sự vô đạo đức của tầng lớp trên và việc tầng lớp này tước đoạt quyền lợi của dân chúng.

Wright Mills là nhà phê phán xã hội có ảnh hưởng nhất ở Mỹ thập niên 50. Thuyết Nước Mỹ tồn tại tinh hoa quyền lực cấu tạo bởi nhóm 3 đại gia [ (The Big Three, gồm các trùm chính quyền, quân đội, công ty độc quyền) của ông được gọi là chủ nghĩa Mills (Millsian). Nó cùng với chủ nghĩa Mác và chủ nghĩa đa nguyên tạo ra cục diện bộ ba ở Mỹ. Trong hơn 50 năm qua sách Tinh hoa quyền lực [được tái bản nhiều lần. Tuy tình hình xã hội Mỹ ngày nay khác ngày ấy, nhưng quan điểm của Mills hiện vẫn có giá trị trong việc giải thích cấu trúc quyền lực ở Mỹ.

Những người theo thuyết cân bằng và theo chủ nghĩa đa nguyên công kích thuyết tinh hoa quyền lực; họ cho rằng trải qua cuộc cách mạng quản lý, CNTB gia tộc đã suy yếu, xã hội phương Tây không còn tồn tại tinh hoa đơn nhất và tập trung (tức tinh hoa quyền lực) nữa, mà chỉ còn một quần thể tinh hoa đã phân tán về quyền lực và cạnh tranh lẫn nhau.

Phái Mác xít giải thích cấu trúc quyền lực từ điểm xuất phát là sự đối kháng giai cấp và nhấn mạnh đấu tranh giai cấp xảy ra ở mọi nơi mọi lúc; họ cho rằng việc Mills bỏ khái niệm giai cấp thống trị, đưa ra khái niệm tinh hoa quyền lực, nhấn mạnh mối quan hệ giữa tinh hoa quyền lực với thể chế là cách làm không triệt để, dễ đi tới coi nhẹ tác dụng chủ đạo quá trình quyết sách của của giới tinh hoa thương mại, hạ thấp kinh tế xuống ngang hàng với chính trị và quân sự.

Quan điểm Tinh hoa quyền lực [của W. Mills có ảnh hưởng rất lớn tới phong trào phản chiến và phong trào sinh viên ở Mỹ hồi thập niên 60. Đáng tiếc ông mất sớm (1916-1962) nên không thể tiếp tục cống hiến trên lĩnh vực này.

Phái theo chủ nghĩa phê phán (criticism) ca ngợi cách đặt vấn đề có tính phê phán của Mills; tuy không hoàn toàn đồng ý với ông nhưng họ viết khá nhiều sách phát triển học thuyết của ông.

Trong số các tác phẩm ấy, đáng kể nhất là cuốn Ai thống trị nước Mỹ? (Who Rules America?) của G.W.Domhoff xuất bản năm 1967, được xếp thứ 12 trong số 50 bestseller về xã hội học thời gian 1950-1995. Sách này sau đó lại bổ sung và tái bản, đến năm 2010 đã xuất bản lần thứ 6, có những thông tin về Barack Obama.

Tiếp đó là cuốn Ai đang thống trị nước Mỹ? [ (Who’s Running America?) của Thomas R. Dye, xuất bản năm 1976, mỗi đợt bầu Tổng thống mới lại tái bản có bổ sung, đến nay đã có bản thứ 7 (The Bush Restoration). Bản nào cũng có một chủ đề: nước Mỹ vẫn bị thống trị bởi các nhóm tinh hoa quyền lực chiếm địa vị cao trong các thiết chế quan trọng.

Nhiều năm qua, giới trí thức Mỹ không ngừng tranh luận vấn đề Ai thống trị nước Mỹ. [Trên mạng có riêng một website Who Rules America.net dành cho việc này. Hai phái chủ nghĩa đa nguyên và chủ nghĩa tinh hoa (Elitism) hăng hái tranh cãi với nhau.

Dư luận dường như nhất trí ở một điểm: nước Mỹ không do số đông (masses) lãnh đạo. [Vấn đề là nước này có tồn tại tinh hoa quyền lực hay không?

Cuốn Ai thống trị nước Mỹ: Sự biến đổi quyền lực, chính trị và xã hội[ (Who Rules America? Power, Politics and Social Change) của G.W.Domhoff bản in năm 2006 được coi là tác phẩm kinh điển nghiên cứu về tinh hoa quyền lực nước Mỹ. Domhoff khẳng định nước Mỹ bị thống trị bởi tầng lớp tinh hoa đang sở hữu và điều hành những tài sản có thu nhập lớn như ngân hàng và tập đoàn công ty, họ làm chủ cấu trúc quyền lực chính trị và kinh tế của nước Mỹ. Họ là chủ sở hữu hoặc CEO các công ty làm ra khối lượng của cải khổng lồ, là những cố vấn pháp lý của công ty… gọi chung là cộng đồng doanh nhân.

Khái niệm tinh hoa quyền lực do Mills đề ra đã làm rung chuyển giới trí thức Mỹ và gây ra cuộc tranh luận suốt hơn nửa thế kỷ qua. Cuộc tranh cãi đó động chạm tới nhận thức về các khái niệm tinh hoa, dân chủ, quyền lực, nhận định về cấu trúc quyền lực và xu thế phát triển của nó trong xã hội Mỹ, và dẫn tới các vấn đề thuộc khái niệm rộng hơn – lĩnh vực xã hội học tinh hoa (Sociology of Elites). Các nhà chính trị học nhiều nước, kể cả Trung Quốc, đang vận dụng quan điểm của Mills để xem xét vấn đề tinh hoa quyền lực tại nước mình.

Vai trò của Tổng thống

Dĩ nhiên TT Mỹ thuộc vào tầng lớp tinh hoa quyền lực, tuy rằng không ít TT xuất thân nghèo hoặc bình thường. Vì do dân trực tiếp bầu ra, nói chung các TT đều đại diện cho lợi ích của đa số nhân dân. Nhưng do chịu rất nhiều sức ép từ các lực lượng trong xã hội cho nên họ phải thỏa hiệp, không phải bao giờ cũng hoàn toàn vì lợi ích của đa số dân.

Có một sự thật không thể phủ nhận là nước Mỹ tồn tại một số nhóm lợi ích [cực đoan có những hoạt động vi phạm truyền thống dân chủ của nước này và gây khó khăn cho các TT.

Đáng kể nhất là Tổ hợp công nghiệp-quân sự [ (Military-industrial complex). Trong diễn văn từ nhiệm đọc ngày 17/1/1961, TT Eisenhower từng cảnh báo nhân dân Mỹ: Trong khi thừa nhận ngành công nghiệp và quân sự có cống hiến cho việc đảm bảo an ninh của nước Mỹ, chúng ta không thể không thấy là sự cộng tác giữa chính phủ liên bang với giới quân sự và giới lãnh đạo ngành công nghiệp tuy cần thiết nhưng lại có thể dẫn đến tệ nạn lạm dụng quyền lực. Ông khuyến cáo nhân dân Mỹ cần chú ý giám sát tổ hợp công nghiệp-quân sự [3].

Oliver Stone đạo diễn bộ phim JFK (phim về vụ ám sát TT J.Kennedy) từng nói Kennedy bị ám sát vì ông muốn chấm dứt cuộc chiến tranh Việt Nam nhưng tập đoàn công nghiệp-quân sự không đồng ý. Phát biểu của Stone làm rung chuyển dư luận, vì các báo cáo điều tra vụ ám sát Kennedy đều không nói gì tới vấn đề này. Năm 1968 Thượng nghị sĩ Robert Kennedy bị ám sát chết trong khi tranh cử TT cũng chỉ vì muốn kế tục nguyên vọng kết thúc chiến tranh Việt Nam. Về sau con trai duy nhất của J. Kennedy cũng chết trong một tai nạn máy bay bí ẩn, đúng như lời bà góa Jacqueline nói: Có những kẻ muốn tiêu diệt gia tộc Kennedy.

Thứ hai là Tập đoàn chính trị Do Thái. [Cộng đồng người Mỹ gốc Do Thái có gần 7 triệu người, chỉ chiếm 2,5% số dân nhưng có ảnh hưởng lớn tới chính trường Mỹ; chủ yếu vì họ hăng hái nhất trong việc tham gia bầu cử, hơn nữa họ giàu có và khống chế bộ máy truyền thông nước này [4]. Tuy chưa có chính trị gia gốc Do Thái nào làm TT Mỹ nhưng họ thường sử dụng chiêu vận động hành lang nghị trường để gây ảnh hưởng tới chính sách đối ngoại, khiến chính phủ Mỹ tỏ ra thiếu công bằng trên vấn đề Trung Đông. Chẳng hạn Mỹ đã viện trợ không hoàn lại cho quốc gia Do Thái Israel tổng cộng khoảng 1700 tỷ USD nhằm giúp nước này có sức mạnh kinh tế và quân sự đủ để trụ được trong vòng vây của thế giới A Rập. Thái độ thiên vị ấy đã làm người A Rập căm phẫn, hậu quả khiến nước Mỹ phải trả giá cho cuộc chiến dai dẳng chống khủng bố.

Tất cả các đời TT Mỹ đều phải đương đầu với những nhóm lợi ích nói trên. Nhiều người đã dũng cảm đấu tranh chống lại. Sáu trong số 44 TT Mỹ từng bị ám sát, trong đó 4 người chết [5], có lẽ vì họ đi ngược lại ý đồ của các nhóm ấy.

Một lực lượng nữa thường xuyên gây sức ép với chính quyền Mỹ là quần chúng nhân dân. [Ngoài việc thông qua các đại diện của mình trong quốc hội để tác động lên chính phủ, phần lớn dân Mỹ, nhất là tầng lớp trung lưu, đều ở trong các tổ chức của công dân, như các tổ chức phi lợi nhuận (Non-profit Organization, NPO, thí dụ công đoàn, các hội ngành nghề, quỹ từ thiện, đoàn luật sư, think-tank v.v..). Các tổ chức này là nơi liên kết dân chúng để thống nhất quan điểm, bảo vệ lợi ích tập thể của họ, thực hiện xã hội hòa hợp và giám sát chính quyền. Các tổ chức đó hình thành xã hội công dân [ (XHCD), một lĩnh vực tồn tại độc lập với nhà nước, thực sự là đối trọng đáng vì nể của chính phủ.

Lực lượng XHCD Mỹ rất hùng hậu. Năm 2010 nước Mỹ có hơn 1,5 triệu NPO có tính quốc tế (U.S.-based International Nonprofit Organization), giả thử Ban quản trị mỗi NPO có 10 người, thì ít nhất có 15 triệu dân quản lý NPO, nếu kể cả thành viên chính thức và không chính thức thì số người tham gia NPO có cả cả trăm triệu. Tổng tài sản của các tổ chức này lên tới 3000 tỷ USD, như Quỹ Bill & Melinda Gates có tài sản 33,5 tỷ USD, tương đương GDP quốc gia xếp thứ 82 về thu nhập, trên cả 111 quốc gia khác.

NPO tận dụng các phương tiện truyền thông, mạng Internet, nhất là các mạng xã hội, tạo ra sức ép dư luận rất lớn mà chính quyền không thể bỏ qua. NPO không chỉ nói lên ý kiến nguyện vọng của dân đối với nhà nước mà còn tổ chức các phong trào đấu tranh đòi chính quyền sửa các chính sách dân không tán thành. Thí dụ những cuộc mít tinh biểu tình rầm rộ có mấy trăm nghìn người tham gia phản đối sự phân biệt chủng tộc và chống chiến tranh Việt Nam hồi thập niên 60 đã làm chính phủ Mỹ phải thay đổi chính sách liên quan. Một số cuộc biểu tình kéo dài ngày này sang ngày khác làm chính quyền đau đầu. Những cuộc đấu tranh ấy có thể dẫn tới khủng hoảng chính trị nếu chính phủ không khéo léo giải quyết các yêu cầu của dân chúng.

Nước Mỹ gồm rất nhiều sắc tộc từ khắp thế giới đến định cư chứ không có sự thuần nhất chủng tộc (như Đức, Nhật thời xưa), quan niệm giá trị, tư tưởng chính trị của dân chúng rất đa dạng phức tạp, lại thêm giá trị cá nhân và vai trò làm chủ của công dân được đề cao thái quá, vì thế công việc của chính quyền gặp nhiều khó khăn. Thí dụ thị trấn Ojai ở bang California chỉ có 8000 dân (phần lớn là người hưu trí), trữ lượng dầu mỏ dưới lòng đất rất lớn nhưng dân ở đây đồng tâm nhất trí không cho khai thác dầu, chính phủ và các công ty cũng đành chịu.

Nhìn chung các TT Mỹ luôn ở vào thế trên đe dưới búa, phải vắt óc nghĩ cách thỏa hiệp điều hòa lợi ích của những phía gây sức ép lên họ. Các TT đều đau đầu vì phải đối phó với Quốc hội, đảng đối lập, dân chúng và các nhóm lợi ích. Chưa một TT nào giàu lên nhờ chức vụ của mình, ngược lại chỉ nghèo đi và tổn thọ [6].

***

Nước Mỹ hiện nay đang ở vào thời kỳ khủng hoảng và suy thoái kinh tế. Đây là hậu quả tất nhiên của việc chuyển đổi mô hình kinh tế và toàn cầu hóa kinh tế. Thí dụ việc chuyển những ngành công nghiệp dùng nhiều nhân lực sang các nước nghèo, việc ưu tiên phát triển công nghệ cao và dịch vụ tài chính (là những ngành dùng ít nhân công nhưng thu lợi cao) đã gây ra nạn thất nghiệp tại nước Mỹ. Đây cũng là hậu quả của lối tiêu dùng kiểu Mỹ: làm ít tiêu nhiều, vay tiền của tương lai để chi tiêu hôm nay, rốt cuộc ngập trong nợ nần. Vì toàn cầu hóa kinh tế là trào lưu không thể ngăn cản cho nên khó tránh khỏi khủng hoảng kinh tế. Hơn nữa khủng hoảng diễn ra trên phạm vi toàn cầu nên từng quốc gia rất khó vượt qua nếu không có sự phối hợp toàn cầu.

Cũng như ở nhiều nước phương Tây khác, chính phủ Mỹ tỏ ra bất lực trong việc đưa đất nước thoát ra khỏi khủng hoảng. Dân chúng (chủ yếu là tầng lớp trung lưu) nhận thấy phải tự cứu mình, họ tổ chức Phong trào Chiếm Phố Wall, [ nêu khẩu hiệu “Chúng tôi là 99%” chống lại tình trạng 1% số dân nắm giữ 40% tài sản và chiếm hơn 20% thu nhập, chống lại việc nhà nước tài trợ cứu các ngân hàng. TT Obama và một số nhà giàu Mỹ cũng ủng hộ phong trào này. Hiện nay giới tinh hoa tài chính Mỹ đang là đối tượng bị phong trào nói trên lên án, bởi họ chỉ tìm cách hợp pháp tăng thu nhập của mình trong khi thu nhập của dân bị giảm do khủng hoảng kinh tế.

Mối quan hệ tay ba chính quyền-dân chúng-nhà tư bản ngày một căng thẳng. 69% dân Mỹ không tin vào hệ thống ngân hàng và tài chính, 65% không tin Chính phủ, Quốc hội, và các đại công ty. Phong trào Chiếm Phố Wall [đang lan rộng. Nền dân chủ Mỹ bị lung lay. Khủng hoảng kinh tế có khả năng trở thành khủng hoảng chính trị.

Đại suy thoái kinh tế thế giới thập niên 30 thế kỷ XX dẫn đến sự xuất hiện những lãnh tụ tài giỏi như TT F. Roosevelt ở Mỹ, Churchill ở Anh hoặc các nhà độc tài như Mussolini ở Ý, Hitler ở Đức (do các cử tri Đức bầu lên). Cuộc tranh cử TT Mỹ vẫn đang tiếp diễn nhưng chưa đến hồi quyết liệt. Lập trường ủng hộ dân của Obama có thể làm ông gặp khó trong cuộc bầu cử năm 2012; nhưng hiện nay xem ra chưa thấy ứng viên TT nào sáng giá hơn, có khả năng cứu nền kinh tế Mỹ. Người ta chỉ có thể chờ xem.

Ghi chú

[1] Chiến tranh tiền tệ, [bản dịch tiếng Việt, Nxb Trẻ, 6/2008

[2] http://www.brainyquote.com/quotes/authors/d/david_rockefeller.html#ixzz1dMafNJNW

[3] Eisenhower warns of military-industrial complex[

http://www.history.com/this-day-in-history/eisenhower-warns-of-military-industrial-complex

http://www.tapchicongsan.org.vn/Home/PrintStory.aspx?distribution=1860&print=true

[4] Người Do Thái ở Mỹ – lực lượng quyết định chính sách của Mỹ tại Trung Đông[

http://htx.dongtak.net/spip.php?article2587

[5] Các TT Lincoln, Garfield, McKinley và Kennedy bị ám sát chết. hai TT Truman và Reagan bị ám sát nhưng không chết.

[6] Nước Mỹ áp dụng chế độ lương thấp cho viên chức nhà nước (khác với Singapore); lương TT không cao hơn giáo sư ĐH. Có 6 TT Mỹ về hưu trong nghèo túng, mắc nợ không trả được. 4 TT chết khi đang tại chức (Harrison, Taylor, Harding, F.Roosevelt)
http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=116&CategoryID=42&News=4689[

Để lại phản hồi »

Chưa có phản hồi.

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Tạo một website miễn phí hoặc 1 blog với WordPress.com.

%d bloggers like this: