Hoàngquang’s Blog

14/12/2011

Nông dân tự phỏng vấn& Chuyện chưa biết nhiều về dự án bauxite Tây Nguyên

Hoàng Kim -Nông dân tự phỏng vấn

Hoàng Kim (Đồng Tháp)
Lê Trung Thành Chuyện chưa biết nhiều về dự án bauxite Tây Nguyên
BBC Vụ kiện Vinashin ra tòa ở London Vụ Elliott Advisors, một quỹ đầu tư rủi ro (hedge fund) có trụ sở ở Mỹ, kiện tập đoàn đóng tàu nhà nước Vinashin của Việt Nam lên Tòa Thượng thẩm London đã có thể chính thức bắt đầu. TS Alan Phan: “Càng có nhiều góc nhìn càng đến gần sự thật”
NCT Chuyện “động trời” ở tỉnh Kiên Giang: Dân mất đất kêu than, “quan” biến thành địa chủ! – Kì I: Những nông dân mất đất + Kì II: Những ai là “địa chủ”?

***

Nông dân là người trực tiếp sản xuất lúa gạo. Ý kiến của nông dân xuất phát từ thực tế sản xuất.
Chính phủ chê nông dân có trình độ quá thấp, nên mọi việc về lúa gạo thường không thèm bàn bạc với nông dân, mà thảo luận với các chuyên gia, với các nhà khoa học, các nhà doanh nghiệp, thế là, Chính phủ đề ra được những chính sách lúa gạo “bất khả thi”.
Bất khả thi vì phi thực tế.
Không ai thèm hỏi nông dân, vậy nông dân tự hỏi và tự trả lời.
Hay là tự phỏng vấn để phô bày thực tế.
Đây là thực tế: thưa lãnh đạo.
Nó ngộ lắm! Nó lạ lắm!!
Xin lãnh đạo hãy rời tháp ngà mà tham quan thực tế.
Hoàng Kim

1) Hỏi: Công việc gì cần làm trước hết để giúp nông dân Việt Nam?
Trả lời:

i) Việc quan trọng nhất là Đảng và Nhà nước trả lại Hội Nông dân cho nông dân, và giúp Hội Nông dân hoạt động hiệu quả, giúp Hội Nông dân bảo vệ được nông dân trong nền kinh tế thị trường.
ii) Việc cần kíp quan trọng thứ hai là tăng lợi nhuận cho nông dân. Muốn thế, phải xóa độc quyền của các hiệp hội về nông nghiệp, phải giúp nông dân thoát khỏi sự bóc lột của các nhóm lợi ích là: Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA), Hiệp hội Phân bón và các công ty, xí nghiệp thuốc bảo vệ thực vật.
iii) Chính phủ phải tìm hiểu thực tế để đưa ra được chiến lược phát triển lúa gạo có hiệu quả, nhằm tăng thu nhập cho nông dân. Các chuyên gia trong lĩnh vực nông nghiệp phải biết thực tế, để hiểu nhu cầu của nông dân trong sản xuất, mới có thể đưa ra các giải pháp cải tiến kỹ thuật và qui trình sản xuất hợp lý cho nông dân.
2) Hỏi: Làm sao để Hội Nông dân thực sự là của nông dân?
Trả lời:

Muốn Hội Nông dân thực sự là của nông dân thì lãnh đạo Hội Nông dân là nông dân hoặc những chuyên gia lúa gạo có thiện chí với nông dân, do nông dân bầu ra và trả lương.
Xin đọc bài: “Cần thành lập hiệp hội cho những người trồng lúa” http://boxitvn.blogspot.com/2010/10/can-thanh-lap-hiep-hoi-cho-nhung-nguoi.htmlđăng trên Bauxite ViệtNam.
3) Hỏi: Nhiệm vụ quan trọng nhất của lãnh đạo Hội Nông dân là gì?
Trả lời:

Nhiệm vụ quan trọng nhất của lãnh đạo Hội Nông dân là bảo vệ mọi mặt quyền lợi của nông dân trong nền kinh tế thị trường, kế đó là đề đạt tâm tư nguyện vọng của nông dân lên Đảng, Nhà nước, phản biện và giúp Nhà nước hoàn thiện các chính sách lúa gạo.
4) Hỏi: Nếu theo cơ chế thị trường hoàn toàn thì có lợi và hại thế nào cho nông dân?
Trả lời:

Cơ chế thị trường là cơ chế mà nông dân đang mong ước.
Muốn theo cơ chế thị trường hoàn toàn phải có hai điều kiện tiên quyết:
a) Xóa bỏ độc quyền của các hiệp hội ngành hàng đối với nông dân: VFA, Hiệp hội phân bón, các công ty, xí nghiệp sản xuất và mua bán thuốc bảo vệ thực vật.
b) Hội Nông dân thực sự là của nông dân, Hội Nông dân phải bảo vệ nông dân thường xuyên và có hiệu quả, tránh cho nông dân bị các nhóm lợi ích xâm hại quyền lợi. Hội Nông dân chỉ được phép ngủ một con mắt; bất cứ lúc nào con mắt còn lại cũng phải dõi theo quyền lợi của nông dân.
Còn trong tình hình hiện nay, Hội Nông dân không bảo vệ được quyền lợi của nông dân, mà thả nông dân ra kinh tế thị trường, đẩy nông dân vào miệng của các nhóm lợi ích.
5) Hỏi: Tại sao nông dân không thể tự thành lập hiệp hội và tự hoạt động?
Trả lời:

Trong VFA, 21 doanh nghiệp mà Tổng công ty Lương thực miền Nam là nòng cốt, xuất khẩu trên 80% lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam, doanh số tính bằng tỷ đô la Mỹ.
Trong Hiệp hội Cà phê ca cao, 20 doanh nghiệp xuất khẩu khoảng 80% lượng cà phê, doanh số cũng tính bằng tỷ đô la.
Vậy chỉ cần khoảng 20 doanh nhân là họ có thể hợp lại để thành lập hiệp hội để bảo vệ quyền lợi cho họ.
Nông dân dù mỗi người có khoảng 3ha, thì thu nhập chỉ trên 100 triệu đồng, lo ăn chưa đủ, nên cả ngàn nông dân cũng chưa thế đứng ra thành lập hiệp hội.
Với lại do tâm lý thụ động, nông dân một lòng tin vào Đảng, vào Chính phủ, nghĩ rằng Đảng và Chính phủ đã lo hết cho mình nên trông chờ, mà không nghĩ đến việc thành lập hiệp hội để bảo vệ quyền lợi cho mình.
6) Hỏi: VFA mua bán lúa gạo độc quyền hay theo cơ chế thị trường?
Trả lời:

VFA mà Tổng công ty Lương thực miền Nam là nòng cốt, đang độc quyền mua bán lúa gạo của nông dân, và đang dùng sự độc quyền này để ăn cướp hết lợi nhuận của nông dân.
Xin đọc bài: “Độc quyền lúa gạo: cái ách đang quàng lên cổ nông dân” http://boxitvn.blogspot.com/2010/09/oc-quyen-lua-gao-cai-ach-ang-quang-len.html đăng trên Bauxite ViệtNam.
Đây là một thực trạng mà Đảng, Chính phủ, những nhà lãnh đạo xuất khẩu gạo, những nhà lý luận trong nông nghiệp, phải thật sự nhìn nhận, mới có thể có những chính sách lúa gạo có lợi cho nông dân.
Không thấy sự độc quyền tai hại này, thì mọi lý luận để phát triển lúa gạo đều là những lý luận nửa chừng, không thực tế, sẽ đưa ra những chính sách không khả thi như hiện nay.
Không xóa bỏ sự độc quyền của các hiệp hội ngành hàng thì nông dân sẽ bị bần cùng hóa.
7) Hỏi: Sự độc quyền của VFA tác hại như thế nào?
Trả lời:

Độc quyền khiến VFA luôn bán gạo xuất khẩu với giá rẻ nhất thế giới, mua lúa của nông dân với giá rẻ như lấy không, lại còn bày mưu tính kế mua lúa tạm trữ để ăn cướp hết lợi nhuận của nông dân.
Độc quyền khiến VFA chọn vị trí cuối cùng của khâu phân phối để ăn chênh lệch đầu tấn mà không quan tâm nâng cao giá trị hạt gạo, không tạo thương hiệu cho hạt gạo, không xây dựng kho bãi, không đầu tư nhà máy xay lúa.
8) Hỏi: Làm sao để VFA hết độc quyền trong mua bán lúa gạo?
Trả lời:

Muốn VFA hết độc quyền lúa gạo, Chính phủ phải trực tiếp điều hành xuất khẩu gạo, để phân chia lợi nhuận hài hòa cho nông dân và VFA, theo cách mà Chính phủ Thái Lan đang làm cho nông dân Thái Lan.
Muốn điều hành xuất khẩu gạo, Chính phủ phải xây dựng đủ kho bãi khoảng 7 – 8 triệu tấn, và phải hợp tác với Thái Lan ấn định cho được giá sàn bán gạo xuất khẩu.
Vấn đề này tôi đã phân tích trong bài: “Cơ chế xuất khẩu gạo nào cho nông dân Việt Nam?” http://boxitvn.blogspot.com/2010/09/co-che-xuat-khau-gao-nao-cho-nong-dan.html đăng trên Bauxite ViệtNam.
9) Hỏi: Mua lúa tạm tạm trữ có giúp gì cho nông dân không?
Trả lời:

Mua lúa tạm trữ là quỉ kế của Hiệp hội Lương thực ViệtNamtoa rập với Chính phủ để ăn cướp hết lợi nhuận của nông dân.
Xin đọc bài: “Mua lúa, gạo tạm trữ để giữ giá cái con… khỉ khô, ăn cướp thì có!!!” http://boxitvn.blogspot.com/2011/09/mua-lua-gao-tam-tru-e-giu-gia-cai-con.html đăng trên Bauxite ViệtNam.
10) Hỏi: Mua lúa đảm bảo nông dân lời tối thiểu 30% thì nông dân có đủ sống không?
Trả lời:

Trong điều kiện mua bán lúa gạo bình thường, câu nói: “Phải mua lúa bảo đảm cho nông dân lời trên 30%” là câu nói bậy bạ nhất, ngu xuẩn nhất, và gây hại cho nông dân nhiều nhất.
Với câu nói này, Hiệp hội Lương thực Việt Nam bán gạo giá 500 đô la Mỹ/ tấn, nhưng chỉ cần mua lúa của nông dân với giá qui gạo khoảng 400 đô la Mỹ/ tấn, vì giá lúa 400 đô la Mỹ/ tấn nông dân đã lời trên 30%.
Xin đọc bài: “Tại sao nông dân chỉ lời 30% so với giá thành?” http://boxitvn.blogspot.com/2010/09/tai-sao-nong-dan-chi-loi-30-so-voi-gia.html đăng trên Bauxite ViệtNam.
11) Hỏi: Tại sao nông dân và Hội Nông dân không trực tiếp bán gạo xuất khẩu mà lại cần Chính phủ điều hành giúp?
Trả lời:

Nông dân có diện tích nhỏ lẻ, quan hệ với nhau lại rời rạc, chỉ biết trồng lúa không rành chuyện buôn bán, mà đây lại là chuyện buôn bán với nước ngoài.
Chỉ có Chính phủ mới có đủ điều kiện để dự báo và ấn định giá mua bán lúa gạo.
Chúng ta đã biết Chính phủ các nước nhập khẩu gạo trực tiếp điều hành việc nhập khẩu gạo để mua gạo giá rẻ, vì thế, Chính phủ ViệtNamphải giúp nông dân ViệtNambán gạo giá cao.
Hội Nông dân của Thái Lan hoạt động rất hiệu quả, thường xuyên làm áp lực lên Chính phủ Thái Lan bằng cách dọa sẽ biểu tình phản đối khi Chính phủ Thái để giá lúa gạo xuống thấp, thế nhưng Hội Nông dân Thái Lan cũng không thể trực tiếp điều hành xuất khẩu gạo mà không bị các nhà xuất khẩu gạo chèn ép.
Vì vậy, Chính phủ Thái Lan phải trực tiếp điều hành để phân chia lợi nhuận hài hòa giữa nông dân và các nhà xuất khẩu gạo.
12) Hỏi: Nếu VFA độc quyền ép giá nông dân, tại sao nông dân không đoàn kết lại để không bán lúa cho VFA?
Trả lời:

Trước tiên, chúng ta phải xác định bao nhiêu nông dân đoàn kết lại, thì tạo được áp lực với VFA và các nhóm lợi ích khác, tôi nghĩ, sẽ cần rất đông nông dân.
Nông dân đông những rời rã, vốn liếng ít, tầm nhìn gần, cả đời chỉ muốn an bình, đủ ăn đủ xài là mừng rồi, một lòng tin vô Chính phủ, báo đài nói chi tin nấy, kêu gọi nông dân đoàn kết lại để tạo áp lực với VFA còn khó hơn lên trời.
Chỉ khi Hội Nông dân thực sự của nông dân, lãnh đạo Hội Nông dân một lòng một dạ bảo vệ quyền lợi cho nông dân, giải thích cho nông dân hiểu rõ sức mạnh của sự đoàn kết trong kinh tế thị trường, để chống lại các nhóm lợi ích, thì nông dân mới nghe theo.
Chỉ cần nông dân trữ lúa lại, không bán cho VFA một vụ thôi, tôi dám chắc VFA không còn làm thánh làm tướng như hiện nay.
13) Hỏi: Làm sao để bình ổn giá phân bón cho nông dân?
Trả lời:

Chính phủ phải xóa bỏ độc quyền phân bón của Hiệp hội Phân bón. Cũng như lúa gạo, trước mắt, Chính phủ phải trực tiếp điều hành việc nhập phân bón và giá bán cho nông dân.
Chính phủ phải ấn định mức lời hợp lý cho doanh nghiệp từ mỗi bao phân, phải kiểm tra kiểm soát giá bán phân tương ứng từ giá nhập khẩu.
Chính phủ phải bình ổn giá phân bằng cách trợ giá cho nông dân khi có biến động tăng giá đột biến theo luật bình ổn giá của Chính phủ.
14) Hỏi: Làm sao để bình ổn giá thuốc bảo vệ thực vật?
Trả lời:

Chính phủ phải ấn định mức lời hợp lý từ việc bán thuốc cho các công ty, xí nghiệp thuốc bảo vệ thực vật. Phải kiểm tra đối chiếu giá nhập khẩu các hoạt chất dùng điều chế thuốc bảo vệ thực vật, và giá bán thương phẩm.
Yêu cầu các công ty, xí nghiệp thuốc bảo vệ thực vật công bố giá bán bằng cách in giá xuất xưởng lên bao bì.
Thường xuyên cập nhật giá bán thuốc trên trang mạng qui định để nông dân biết, và thành lập cơ quan kiểm soát thuốc bảo vệ thực vật để nông dân khiếu nại khi giá thuốc tăng bất hợp lý.
Buộc các công ty, xí nghiệp thuốc bảo vệ thực vật phải giảm giá bán thuốc khi giá thuốc trên thị trường thế giới giảm, chứ không được phép tăng hoa hồng cho các đại lý có khi đến 40% giá bán như hiện nay.
15) Hỏi: Chính phủ cần làm gì để giúp nông dân có hiệu quả?
Trả lời:

Chính phủ phải tiếp xúc gần gũi với nông dân để biết quá trình sản xuất và tâm tư nguyện vọng của nông dân. Hiện nay, Chính phủ ở xa nông dân quá, nên cả Chính phủ, từ trên xuống dưới, chẳng có vị nào hiểu rành về lúa gạo, về tình trạng bi đát của nông dân cả, toàn đưa ra những chính sách bất khả thi.
Cứ có chuyện bàn về lúa gạo, Chính phủ cùng các ông chuyên gia và doanh nghiệp hợp bàn với nhau ở Hà Nội hay Thành phố Hồ Chí Minh, nhưng chẳng bao giờ mời nông dân tham dự.
Mà nếu có mời, mà mời lãnh đạo Hội Nông dân tham dự thì cũng như không, vì mấy ông lãnh đạo Hội Nông dân cũng ở tuốt ngoài Hà Nội, có biết gì về những vấn đề của nông dân Đồng bằng sông Cửu Long đâu mà nói.
Muốn giúp nông dân, Chính phủ phải đến với những người thực sự là nông dân. Đến với nông dân, Chính phủ mới biết được tình trạng sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, cũng như tâm tư nguyện vọng của nông dân.
16) Hỏi: Tại sao Quyết định số 80/2002/QĐ-TTg dù ban hành đã 9 năm nhưng không thực hiện được gì cả?
Trả lời:

Đây là bằng chứng sự xa rời nông dân của Chính phủ, nên đưa ra Quyết định chẳng thể thi hành được.
Quyết định này chỉ “khuyến khích” chứ không bắt buộc.
Được độc quyền ấn định giá mua bán lúa gạo, tức là tự để lại lợi nhuận, thì mắc mớ gì VFA lại ký kết hợp đồng tiêu thụ sản phẩm với nông dân để chịu rủi ro?
Giá gạo thế giới ổn định hoặc lên, VFA mua bán lúa gạo ăn đầu tấn, giá lúa gạo thế giới xuống thấp VFA nghỉ mua lúa, lỗ lã nông dân chịu. Vậy, mắc mớ gì mà VFA ký hợp đồng bao tiêu sản phẩm cho nông dân?
Một Quyết định của Chính phủ có lợi cho nông dân nhưng có thể gây hại cho VFA, mà Chính phủ chỉ “khuyến khích” thôi, thì đời nào VFA thực hiện!
17) Hỏi: Liên kết bốn nhà có lợi cho nông dân gì không?
Trả lời:

Liên kết bốn nhà là “chiếc bánh vẽ” do những kẻ nịnh hót Chính phủ vẽ ra. Tôi không thể nào hiểu nổi, tại sao họ lại bất chấp logic để biến Quyết định số 80/2002/QĐ-TTg thành liên kết bốn nhà, và cũng không hiểu nổi, tại sao các nhà trí thức nông nghiệp lại công nhận sự suy diễn, phóng đại vô lý này trong thời gian dài.
Vấn đề này tôi đã phân tích trong bài “Liên kết bốn nhà là gì? Tại sao Quyết định số 80/2002/QĐ-TTg không khả thi?” http://boxitvn.blogspot.com/2010/09/lien-ket-bon-nha-la-gi-tai-sao-quyet.html đăng trên Bauxite ViệtNam.
Không những không lợi ích mà còn có hại cho nông dân. Vì “chiếc bánh vẽ” này chiếm chổ của các chính sách phát triển lúa gạo hiệu quả.
Thực tế, không có liên kết bốn nhà gì cả, lúa gạo nói riêng và cả nền nông nghiệp nói chung, muốn phát triển phải dựa vào các chính sách hiệu quả của Chính phủ.
Muốn nông nghiệp phát triển Chính phủ phải có những chính sách lúa gạo hiệu quả; phải có cơ chế để các nhà khoa học giúp nông dân cải tiến qui trình sản xuất và tạo nguồn lúa giống xuất khẩu cho nông dân; phải có cơ chế để doanh nghiệp chia phần lợi nhuận thích hợp với nông dân, chứ không phải ăn cướp của nông dân như hiện nay.
18) Hỏi: Tại sao gạo Việt Nam không có thương hiệu?
Trả lời:

Vì VFA và Tổng công ty Lương thực ViệtNamđộc quyền trong việc ấn định giá bán gạo xuất khẩu và giá mua lúa cho nông dân.
Do độc quyền nên VFA và Tổng công ty Lương thực Việt Nam ăn chênh lệch đầu tấn, lợi nhuận của VFA độc lập với giá bán gạo xuất khẩu – bán gạo xuất khẩu giá rẻ VFA sẽ mua lúa của nông dân giá rẻ. Như thế, VFA không có động lực để phải tốn công, tốn của tạo thương hiệu cho hạt gạo.
Không những không tạo thương hiệu, VFA cũng không đầu tư kho bãi và nhà máy xay lúa.
18) Hỏi: Dồn điền đổi thửa có làm việc sản xuất lúa phát triển không?
Trả lời:

Việc dồn điền đổi thửa chỉ có ở miền Bắc, miền Trung, Đồng bằng sông Cửu Long không có việc đồn điền đổi thửa.
20) Hỏi: Phải chăng để phát triển việc trồng lúa cần tích tụ ruộng đất?
Trả lời:

Tích tụ ruộng đất là điều đáng mơ ước, tạo thuận lợi cho việc trồng lúa, nhưng không phải là điều kiện tiên quyết của việc sản xuất lúa.
Nông dân nào cũng tích tụ ruộng đất khi có đủ điều kiện. Vào giữa những năm 80 khi Nhà nước nghiêm cấm việc mua bán đất ruộng, nông dân vẩn bán đất cho nhau bằng cách làm giấy tay.
Đến hôm nay, những nông dân làm lúa đã sống được với nghề nông, họ không bán đất, nhưng cũng không có đủ tiền để mua thêm đất, vì giá đất bây giờ rất cao, ở địa phương tôi khoảng 400-500 triệu đồng/ ha.
Còn những người không phải nông dân, họ sẽ không mua đất để làm lúa lấy lời, vì giá đất cao nhưng lợi nhuận từ làm lúa lại thấp, và vì không thể mua nhiều đất ở cùng một nơi; còn mua chỗ này một ít chỗ kia một ít, thì sản xuất không hiệu quả.
Do trình độ canh tác của các nông dân bây giờ ngang ngửa với nhau, nên một người canh tác 30 ha và 10 người mỗi người canh tác 3 ha, thì chất lượng vẫn ngang nhau, thông thường những người có 3 ha cho ra chất lượng lúa tốt hơn, năng suất cao hơn vì họ làm kỹ hơn người có 30 ha.
Cần phải đề ra các chính sách phát triển lúa gạo từ thực trạng lô thửa hiện có, chứ đừng viển vông trông chờ vào tích tụ ruộng đất.
21) Hỏi: Cho phép tập trung ruộng đất có trở lại thời địa chủ không?
Lo ngại cho tập trung tích tụ ruộng đất sẽ sinh ra địa chủ là một lo ngại hết sức viển vông và phi lý. Có tiền nhưng chưa chắc đã mua được đất của một ấp, chứ đừng nói đất của một xã.
Cần phải định nghĩa rõ địa chủ thời nay là người có bao nhiêu ha và nói rõ hoạt động của địa chủ thời nay, chớ không nên nói địa chủ một cách mơ hồ.
22) Hỏi: Phải chăng cần phải tích tụ ruộng đất thêm nữa mới cơ giới hóa được việc thu hoạch lúa?
Trả lời:

Không phải.
Máy gặt đập liên hợp hiện nay có bề rộng làm việc khoảng 2 mét, vậy một mảnh ruộng có diện tích 300 m2 (chiều dài 30 mét bề rộng 10 mét) thích hợp để gặt bằng máy gặt đập liên hợp (chiều dài 20 mét chiều rộng 10 mét máy vẫn hoạt động được).
Đồng bằng sông Cửu Long mỗi mảnh ruộng thường lớn hơn 300 m2. Nếu nhỏ hơn nông dân có thể nhập lại.
Ở ViệtNam, việc cơ giới hóa khâu làm đất và khâu thu hoạch có thể thực hiện bằng cách nông dân có tay nghề mua máy về làm mướn cho nông dân khác, chứ không như các nước, nông dân là chủ trang trại có cả ngàn ha nên tự mua máy để cơ giới hóa.
23) Hỏi: Phải chăng đất đai của nông dân manh mún nên không cho ra chất lượng lúa gạo đồng đều nên khó xuất khẩu?
Trả lời:

Không phải.
Như trên đã nói một người có 30 ha, chưa chắc làm lúa có chất lượng cao hơn 10 người mỗi người có 3 ha, khi trồng cùng loại giống.
Muốn cho nông dân trong một vùng trồng một thứ giống, thì điều kiện tiên quyết, là giống đó phải cho thu nhập cao hơn các giống còn lại.
Kêu gọi nông dân trồng lúa thơm chất lượng cao, mà mua lúa thơm cao hơn lúa ngang vài trăm đồng/kg, khiến nông dân thu nhập thấp, thì nông dân dại gì mà trồng.
24) Hỏi: Phải chăng nông dân hiện nay không thể trồng lúa chất lượng cao?
Trả lời:

Không phải.
Nông dân có thể trồng mọi giống lúa chất lượng cao, miễn là những giống lúa này cho thu nhập cao hơn các giống còn lại.
Vụ Đông Xuân ở Đồng bằng sông Cửu Long thích hợp để trồng mọi loại lúa thơm, lúa chất lượng cao như Jasmin 85, VD 20 …
Lúa thơm trồng ở vụ Đông Xuân có chất lượng và năng suất rất cao.
Hiện nay, nông dân không trồng lúa chất lượng cao, bởi vì giá loại lúa này rất bấp bênh, khi cao khi thấp, nhiều khi cho thu nhập thấp hơn trồng lúa chất lượng thấp.
Trồng lúa thơm Jasmin 85 mà bán giá cao hơn lúa thườngOM4218 chỉ 300 đồng/kg thì ai mà thèm làm.
25) Hỏi: Làm sao để phát triển lúa chất lượng cao?
Trả lời:

Muốn nông dân trồng lúa thơm, lúa chất lượng cao, cần phải đưa ra một mức giá mua lúa hợp lý, và ổn định cho nông dân.
Lúa thơm Jasmin 85 và VD 20 của nông dân trồng chất lượng rất cao, rất thích hợp để tiêu thụ nội địa và xuất khẩu.
Chính việc trộn lẫn lúa chất lượng thấp vào lúa chất lượng cao tràn lan như hiện nay khiến cho lúa thơm không có thương hiệu rõ ràng, làm cho người tiêu thụ ở trong nước không tin dùng gạo thơm ViệtNam, làm cho người tiêu thụ nước ngoài không mua gạo thơm ViệtNam.
26) Hỏi: Việt Nam nên lập kế hoạch cơ cấu giống như thế nào?
Trả lời:

Vụ Đông Xuân nên qui hoạch trồng lúa thơm chất lượng cao như Jasmin 85 hoặc VD 20…
Vụ hè thu nên qui hoạch trồng các loại lúa thường nhưOM4218, IR 50404…
27) Hỏi: Nông dân hiện nay đang chọn giống như thế nào?
Đáp:

Nông dân đang chọn giống hên xui theo kiểu đèn cù: thấy giống nào có giá thì trồng, thấy giống nào không có giá thì bỏ, vì giá của từng loại giống lên xuống bất thường từng vụ, từng năm.
Thí dụ: Trong năm 2011 này, vụ Đông Xuân giá lúa thơm nhẹ OM 4900 cao hơn giá lúa cơm dẻo OM 4218 khoảng 400 đồng/kg, đến vụ hè thu giá lúa OM 4900 bằng với giá lúa OM 4218, nhưng ở vụ Thu Đông giá lúa OM 4900 cao hơn OM 4218 khoảng 800 – 1.000 đồng/kg.
28) Hỏi: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thường khuyến cáo nông dân cơ cấu giống từng vụ, nông dân thực hiện thế nào?
Trả lời:

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn khuyến cáo trên báo, trên đài cho vui. Còn ở dưới này, nông dân cứ hên xui mà chọn giống.
Hỏi: Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn nói lúa vụ 3 (vụ Thu Đông) ở Đồng bằng sông Cửu Long là vụ chính đúng hay sai?
Trả lời:

Sai. Vụ Đông Xuân mới là vụ chính.
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn có những quyết định nông dân không biết đường đâu mà lần. Tự dưng tuyên bố vụ 3 là vụ sản xuất chính, trong khi nông dân Đồng bằng sông Cửu Long biết chắc vụ đông xuân mới là vụ chính.
29) Hỏi: Đắp đê để làm lúa vụ 3 là chủ trương đúng hay sai?
Trả lời:

Đắp đê để làm lúa vụ 3, khiến cho cả năm độc canh 3 vụ lúa, là một chủ trương sai.
Sai ở hai mặt kinh tế và nông học.
Về kinh tế: Hiện nay, năm nào Hiệp hội Lương thực ViệtNamcũng tuyên bố không có khách hàng mua lúa gạo nên luôn mua tạm trữ lúa gạo của nông dân với giá rẻ như lấy không, vậy tại sao lại làm thêm lúa gạo?
Về mặt nông học: Độc cây lúa làm đất càng ngày càng bạc màu, nghèo dưỡng chất, khiến cho năng suất lúa giảm, trong khi sâu bệnh và dịch hại lại tăng.
30) Hỏi: Những nơi đê bao khép kín nên qui hoạch cơ cấu sản xuất thế nào?
Trả lời:

Những nơi đê bao khép kín nên trồng hai vụ lúa một vụ màu.
31) Hỏi: Nên chọn cây màu nào?
Trả lời:

Đây là vấn đề mà Chính phủ phải làm. Cụ thể Bộ Công thương phải tìm hiểu để biết nhu cầu của thế giới, như trồng bắp cho châu Phi, trồng khoai lang cho Trung Quốc, hay trồng các loại ngũ cốc chế tạo nhiên liệu sinh học…
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phải căn cứ vào đề nghị của Bộ Công thương mà qui hoạch diện tích và loại cây màu.
32) Hỏi: Giả sử chọn được cây màu thích hợp, làm sao để nông dân hưởng ứng?
Trả lời:

Cây màu phải cho thu nhập bằng hoặc cao hơn lúa.
Chúng ta đang nói đến việc phát triển cây màu ở diện tích lớn vài trăm ngàn ha, thế nên, muốn cho nông dân thực hiện, trước hết phải cơ giới hóa được các khâu sản xuất: cơ giới hóa việc gieo, trồng; cơ giới hóa việc phun thuốc; cơ giới hóa việc thu hoạch…
Chỉ dựa vào lao động thủ công, không thể trồng được cây màu.
33) Hỏi: Nông dân có nên được phép sở hữu ruộng đất hay không?
Trả lời:

Không nhà lý luận kiệt xuất nào của Đảng và Nhà nước có thể chứng minh việc Nhà nước sở hữu ruộng đất của nông dân là đúng, khi mà, hiện nay, Nhà nước cho mọi thành phần kinh tế khác được phép tư hữu về tư liệu sản xuất.
Vì vậy, nông dân sở hữu ruộng đất của mình là một việc hết sức chính đáng.
Tôi xin nhấn mạnh, Nhà nước có thể tiếp tục chiếm quyền sở hữu ruộng đất của nông dân, nhưng không thể chứng minh cho nông dân thấy rằng, việc nhà nước sở hữu ruộng đất của nông dân là đúng, là công bằng so công nhân và các thành phần kinh tế khác.
34) Hỏi: Cuối cùng, ông có muốn phát biểu gì không?
Trả lời:
Biết mà không nói thì ấm ức.
Nhưng biết: Nói cho nhiều, cũng vậy thôi?!?!?!.
H. K.
Tác giả gửi trực tiếp cho BVN.

http://www.boxitvn.net/bai/31673

Lê Trung Thành Chuyện chưa biết nhiều về dự án bauxite Tây Nguyên-Bài 6: Hai dự án thí điểm Tân Rai và Nhân Cơ, “trót sinh” thì “phải dưỡng”!

Xem lại Chuyện chưa biết nhiều về dự án bauxite Tây Nguyên Bài (1) + Bài (2) + Bài (3) + Bài (4) + Bài (5)
***
Bài 6: Hai dự án thí điểm Tân Rai và Nhân Cơ, “trót sinh” thì “phải dưỡng”!

Đây là bài cuối cùng trong chùm 6 bài của KS Lê Trung Thành điều tra hiện trạng Dự án Bauxite Tây Nguyên, dành cho Bauxite Việt Nam. Ở bài viết cuối cùng này tác giả có một phần kết in đậm, rút ra một vài nhận xét sau khi đã đi xong một vòng từ Tân Rai, Nhân Cơ, tuyến đường bộ chạy qua Lâm Đồng, Đồng Nai, tuyến đường sắt còn nằm trên giấy…cho đến cảng Kê Gà. Lời kết luận của tác giả không giấu được những tiếng thở dài ngao ngán trước một màn kịch mà hồi kết xem ra chưa thấy gì là “có hậu” dù rằng Dự án nay chỉ mới gần gần bước vào giai đoạn… “thí điểm sản xuất” mà thôi.
Đất nước ta đã trải qua bao nhiêu năm cố gắng làm ăn theo cung cách hiện đại cho đúng quy trình công nghệ mà các nước tiên tiến cũng như các nước phát triển quanh ta đều đã đi qua và để lại hết sức nhiều kinh nghiệm quý giá. Khốn thay, cứ giao cho khối kinh tế nhà nước của chúng ta thực thi là y như mọi kinh nghiệm đều đổ sông đổ bể. Và nhân dân ta hết keo này đến keo khác cứ phải è cổ gánh lấy những hậu quả tày đình, nợ mẹ chồng chất nợ con, phải xù nợ lần này rồi chắc sẽ còn lần khác, khiến đời sống của đại đa số dân chúng ngày càng xơ xác, uy tín của Nhà nước cũng giảm di, mà “cục nợ” thì không biết bao giờ mới rứt đi được. Giờ đây, cứ nghe những tiếng Vinashin, Dung Quất… là ai nấy đều hết hồn, tưởng như lưỡi hái thần chết đang lấp ló sau lưng mình, đòi nợ chính tính mệnh của mình. Nay lại thêm một cái tên Bauxite Tây Nguyên, một cái tên không còn kèm theo tâm trạng hào hứng, những lời tán dương, vồ vập– và cũng có cả những lời chửi rủa như giọng lưỡi của một Lê Dương Quang đối với nhân sĩ trí thức, khi họ chân thành kiến nghị Nhà nước xét lại cái dự án chứa nhiều hiểm hoạ ấy – mà chỉ cònlà sự thảng thốt lo lắng vì trăm món tiền không biết lấy đâu ra để tiếp tục thực thi tiến độ của cái gọi là “dự án thế kỷ” này.
Tác giả Lê Trung Thành cho biết Nhà nước đang chuẩn bị cho một dự thảo để chính thức công bố chuyển đổi quy hoạch Dự án Bauxite Tây Nguyên thành một Dự án vẫn trong “tình trạng thí điểm” nhưng là thí điểm lâu dài, nghĩa là cũng coi như tạm thời dừng lại ở mức từ nay đến 2012 sẽ đạt được và cứ cầm cự với nhau như thế cho đến 2020 có xét đến 2030, để xem mỗi năm có bớt dần con số lỗ nặng đi không chứ lãi thì cố nhiên không ai dám mơ tưởng tới.
Vâng, là những người từng đứng ra khởi xướng các bản Kiến nghị mà lần nào xướng lên cũng có đến hàng mấy ngàn người ký, yêu cầu xoá bỏ ngay từ gốc cái dự án “chết người” đó, giờ đây chúng tôi cứ tự hỏi: Tại sao một Nhà nước vì dân như Nhà nước chúng ta mà không một việc nào chịu nghe dân lấy một lần cả? Giá mà ngay từ tháng Tư năm 2009 (và có thể các tháng sau đó), các vị, những khuôn mặt chức quyền tiêu biểu– và cũng tiêu biểu cho trách nhiệmđối với dân với nước – bớt “vênh” đi một tí, chịu khóliếc nhìn vào bản Kiến nghị của chúng tôi một tí, chịu khó lật đi lật lại những tờ giấy mỏng manh mà chúng tôi thực lòng muốn lọt vào mắt các vị, và chỉ một lần thôi đặt lấy vài câu hỏi ngay thẳng cho chính lương tâm mình, rằng vì sao mà dân chúng phản đối cái dự án to tát của mình sôi nổi thế nhỉ?…Thì biết đâu…
Nhưng nói làm gì nữa khi sự đã rồi. Thôi, dầu sao thì chiếc xe đã lao xuống dốc mà nay biết phanh lại kịp thời cũng là cả một sự dũng cảm đáng mừng. Hy vọng Dự án Bauxite Tây Nguyên sẽ không đi đến cái kết quả… thê thảm là một Vinashin chưa có hồi kết, cũng không phải là dạng một tổ hợp Dung Quất mà nghe nói “bên trong còn lắm điều hay”, và trang mạng của chúng tôi mong rằng, trong một tương lai không xa,sẽ tìm được người chuyên trách và có đủ lương năng để được gặp lại độc giả xung quanh những điều đang còn đầy “bí ẩn” của cái công trình không kém tai tiếng cũng như tiền của và độ dài thời gian để rồi đến nay vẫn cứ… bảo trì và… bảo trì.
Nguyễn Huệ Chi

Trong quá trình triển khai các dự án Bauxite Tây Nguyên, công tác thăm dò quặng bauxite có vị trí khá quan trọng nhằm đánh giá chính xác trữ lượng phục vụ cho việc lập báo cáo chuẩn bị đầu tư của TKV.
Bộ Tài nguyên và Môi trường đã cấp phép thăm dò nhiều mỏ bauxite ở Đắc Nông và Lâm Đồng sau khi thẩm định hồ sơ khảo sát các Công ty cổ phần địa chất và khoáng sản (GEOSIMCO), Liên đoàn địa chất Trung Bộ, Công ty cổ phần tin học và công nghệ môi trường (VITE), Công ty cổ phần đá quý, vàng Lâm đồng… là những đơn vị tham gia thăm dò nhiều đề án ở mỏ Nhân Cơ, Gia Nghĩa, Bắc Gia Nghĩa, Đắc Song, mỏ 1-5, Quảng Sơn, Tân Rai, Bảo Lộc … Đây là những đề án nằm trong quy hoạch nên được điều tra, nghiên cứu khảo sát kỹ lưỡng và hai dự án tổ hợp alumin Tân Rai, Nhân Cơ được triển khai thiết kế nhờ vào các dữ kiện thăm dò trữ lượng và xác định thời gian khai thác của dự án khoảng 30 năm không kể tới 3-4 năm đầu xây dựng, mua sắm và lắp đặt thiết bị. Mỏ Tân Rai trải rộng trên diện tích 220 km2, tổng trữ lượng hơn 500 triệu tấn quặng nguyên khai. Phần phía Tây của mỏ có diện tích 42km2 được thăm dò chi tiết có trữ lượng gần 149 triệu tấn. Ngày 21.6.2010, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã cấp cho tổ hợp Tân Rai giấy phép khai thác trong phạm vi 1.619,5 ha, thời hạn 29 năm.
Không quá nghèo như Đắc Nông, nhưng tỉnh Lâm Đồng cũng chẳng dư dậtgiàu có gì. Ngoài du lịch, trồng rau, trồng hoa thì các ngành công nghiệp Lâm Đồng hàng năm chỉ đạt giá trị trên dưới 4.500 tỷ đồng, kim ngạch xuất khẩu ở mức 240-250 triệu USD… Chính vì vậy, khi TKV xây dựng dự án Tân Rai, lãnh đạo tỉnh Lâm Đồng hết lòng ủng hộ và phản ứng quyết liệt trước những ý kiến, những đề nghị tạm ngưng dự án. Niềm hy vọng vào khoản thuế xuất khẩu alumin, thuế tài nguyên, phí bảo vệ môi trường… xấp xỉ 700 tỷ đồng mỗi năm cộng với tin mừng sẽ có đường sắt khổ đôi từ Đắc Nông kéo xuống Bảo Lộc, Di Linh xuôi về Bình Thuận, mở ra nhiều ý tưởng mới lạ cho quy hoạch xây dựng và phát triển kinh tế của Lâm Đồng trong tương lai không xa.
Hơn thế nữa, tổ hợp alumin Tân Rai với công suất 650.000 tấn/năm hoạt động sẽ thúc đẩy dự án đầu tư xây dựng nhà máy sản xuất hydrat nhôm, công suất 300.000 tấn/năm đã được phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải chấp thuận cho TKV hợp tác với Công ty Itochu và Sumitomo Chemical (Nhật Bản) vào ngày 17.9.2008. Trước đó, ngày 17.7.2006, Thủ tướng Chính phủ cũng có văn bản đồng ý cho thành lập liên doanh giữa Tổng công ty Hóa chất Việt Nam và hai đối tác Nhật Bản là Nippon Metal và Tập đoàn Sojitz đầu tư dự án xây dựng nhà máy sản suất hydrat nhôm, ô xít nhôm công suất 550.000 tấn/năm.
Nếu các dự án này được triển khai thì Lâm Đồng có thêm 16.000 việc làm, trong có có tới một nửa dành cho những người có trình độ đại học, cao đẳng của nhiều chuyên ngành, nó đồng nghĩa với việc tập trung nguồn nhân lực cao cấp tạo điều kiện phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội nhiều thập kỳ tới. Tuy nhiên, cho đến nay, mới chỉ có dự án Tân Rai chuẩn bị hoạt động vào quí II-2012 sau nhiều lần hẫng hụt vì tổng thầu EPC-Chalieco chậm tiến độ, mà nguyên nhân rất chính đáng (?) đưa ra là vì “mưa kéo dài” mặc dù từ cuối năm 2010, người ta đã đưa thông tin “tổ hợp hoàn thành 98% công việc” rồi!
Chậm đưa tổ hợp Tân Rai vào khai thác đã làm vỡ kế hoạch rao bán 50.000 tấn alumin đầu tiên vào dịp cuối năm 2011 và bán 350.000 tấn vào năm 2012 trên thị trường alumin thế giới. Lời rao của TKV kèm theo điều kiện “ai trả giá cao hơn” thì được ưu tiên ký kết hợp đồng dài hạn. Còn xét về mặt lâu dài, TKV lại chọn Yunnan Metallurgical để ký biên bản ghi nhớ có nội dung: TKV sẽ bán cho Công ty TNHH Luyện nhôm Vân Nam (Yunnan Aluminium Industry Co.Ltd) mỗi năm từ 600.000-900.000 tấn alumin trong thời hạn 30 năm, có đàm phán giá từng giai đoạn.Điều đó có nghĩa là, về mặt nguyên tắc, toàn bộ sản phẩm của hai nhà máy Tân Rai và Nhân Cơ sẽ xuất khẩu sang Vân Nam – Trung Quốc, cho dù tại miền TâyNam tỉnh Vân Nam, họ cũng đang xây dựng một nhà máy sản xuất 800.000 tấn alumin mỗi năm. Bán, mua là chuyện bình thường, nhưng giá cả thế nào mới là việc đáng quan tâm bởi nó liên quan đến sự sống còn của hai nhà máy Tây Rai và Nhân Cơ, nó cũng sẽ là lời giải, là đáp số cuối cùng của những bài toán và giải tỏa những nghi ngờ của các nhà kinh tế, xã hội học và dư luận xã hội mấy năm nay.
Sau năm 2008, sức tiêu thụ nhôm trên thị trường thế giới bắt đầu chững lại và giảm nhanh so với 5-6 năm trước đây. Hiện nay giá bán một tấn nhôm dao động từ 2.000-2.200USD, cụ thể là giá nhôm LME chính thức ngày 8.12.2011 trên thị trường Luân Đôn (nguồn của London Metal Exchange-http//www.co.uk) như sau: Mua bằng tiền mặt: 2.059USD, mua kỳ hạn 3 tháng: 2.069USD, mua kỳ hạn 15 tháng: 2.170USD, kỳ hạn 27 tháng: 2.270USD. Nếu tính giá alumin bằng 13% giá nhôm thì giá bán một tấn khoảng 295USD.
Nếu tạm bỏ qua giá thị trường Trung Quốc thường hạ 10-12% so với giá thế giới thì với giá 295 USD một tấn, sản phẩm của TKV không mang lại hiệu quả kinh tế. Tại cuộc tọa đàm trực tuyến do báo điện tử Vnexpress tổ chức cuối tháng 10.2010, Các ông Nguyễn Mạnh Quân – Vụ trưởng Vụ Công nghiệp nặng – Bộ Công thương và ông Nguyễn Thanh Liêm – Trưởng ban nhôm-titan của KTV đã công bố chi phí giá thành một tấn alumin của tổ hợp Tân Rai là 265USD và 287USD ở Nhân Cơ. Số liệu này chưa tính đúng, tính đủ nhiều loại chi phí, đặc biệt là chi phí vận tải đường bộ và bốc xếp ở cảng. Nếu năm 2009, cước vận tải bình quân 2.000đ/1km thì đến nay đã tăng tới 3.800-4.000đ/1km. Một tấn alumin về đến Gò Dầu phải trả 800.000đ cộng với 33.000đ tiền bốc xếp xuống hầm tàu tại cảng Gò Dầu, tổng cộng xấp xỉ 40USD/tấn. Chỉ cần thêm một loại chi phí thôi, giá bán alumin (giá F.O.B) đã thấp hơn giá thành sản xuất vài ba chục đô la một tấn! Chưa hết, trong vài năm đầu tiên, sản lượng còn thấp hơn công suất thiết kế nên chi phí tăng thêm 30-40% do phải trả lãi vay thương mại, khấu hao tài sản cố định… Điều đó cho thấy ở tổ hợp Tân Rai trong những năm 2012, 2013, 2014, mỗi năm có thể lỗ khoảng 40-50 triệu USD và giảm dần khi đạt tới công suất 600.000-650.000tấn/năm. Ở tổ hợp Nhân Cơ, khoản lỗ cộng thêm 10-15% so với lỗ ở Tân Rai do cung đường vận chuyển dài hơn 60-70km.
Ngoài ra, mức độ rủi ro còn nhiều yếu tố khác, kể cả giá bán than của chính TKV đang đề nghị tăng thêm, nếu được chấp thuận giá mới, mỗi năm, với gần một triệu tấn than cám và than cục cung ứng cho hai tổ hợp Tân Rai và Nhân Cơ, chi phí sản suất sẽ tăng theo vì than chiếm tới 45% chi phí trực tiếp trong dây chuyền chế biến alumin.
Trước kia, khi còn đương nhiệm, cựu lãnh đạo TKV – Đoàn Văn Kiển hùng hồn tuyên bố, các số liệu của dự án mới là dự báo, phải làm thực tế mới biết lỗ, lãi, năm ăn, năm thua… và đời dự án kéo dài 30, 40 năm, thậm chí 50 năm nên lúc lãi, lúc lỗ là chuyện… bình thường! Đi theo ông Kiển, các quan chức Bộ Công thương liên quan và lãnh đạo TKV tiết lộ phải bỏ tiền ra mua số liệu đáng tin cậy để tự ru ngủ mình bằng “giá alumin từ 2011-2020 sẽ tăng từ 340-650 USD/tấn alumin như cơ quan nghiên cứu thị trường Metalbuleten cung cấp!
Buôn tài không bài dài vốn!
TKV đã giật gấu vá vai, đắp đổi từ nhiều nguồn vẫn không đủ tiền đầu tư xây dựng dự án nên Chính phủ đã rủ lòng từ bi vốn có để cứu hai tổ hợp Tân Rai và Nhân Cơ, đứng ra bảo lãnh cho TKV trong khi nợ công đầm đìa và hậu quả của sự kiện Vinashin “xù nợ” nước ngoài gây nhiều hệ lụy xấu cho việc đàm phán sắp xếp vốn. Tìm được nhà hảo tâm giữa lúc kinh tế thế giới suy thoái đã khó thì TKV lấy đâu ra tiền bù lỗ và thanh toán lãi và trả nợ gốc hàng năm hay lại buộc Chính phủ cho vay tiền giống như Chính phủ từng trả nợ thay cho các nhà máy xi măng???
Có lẽ đã nhìn thấy nhiều hậu quả tiêu cực và những khó khăn, phức tạp không dễ tìm giải pháp khắc phục một sớm một chiều nên Bộ Công thương đã có những chuyển biến thể hiện trong bản dự thảo Quy hoạch thăm dò và khai thác, chế biến alumin, nhôm giai đoạn tới 2020, xét đến năm 2030. Về cơ bản, Bộ Công thương giữ nguyên hai tổ hợp Tân Rai và Nhân Cơ. Khi có điều kiện thì xét đến việc mở rộng và tăng công suất của hai dự án thí điểm. Tuy nhiên, duy trì hoạt động trong điều kiện thu không đủ chi quả là một đòn cân não đối với những người tham gia quản trị và khai thác dự án. Tất nhiên, đã có quá nhiều lời cảnh báo của các nhà khoa học, những chuyên gia am tường lĩnh vực khai thác khoáng sản, những người có tâm huyết thực sự chân thành góp ý kiến trong quá trình triển khai dự án bauxite Tây Nguyên. Tiếc thay, dư luận xã hội ồn ào, gay gắt chỉ có tác dụng nhất thời, không đủ sức can ngăn các nhà lãnh đạo từ bỏ một chiến lược vốn được vạch ra một cách vội vã, duy ý chí và bảo thủ nhưng dẫu chưa trọn vẹn thì ít nhất dư luận xã hội đã có một chiến thắng “tầm trung bình” là Chính phủ chấp nhận “thí điểm hai dự án” thay cho kế hoạch phát triển tức thời 5-7 nhà máy lớn ở Đắc Nông, Gia Lai, Lâm Đồng, Bình Phước. Số vốn dự định đầu tư cũng giảm còn 1/4, 1/5… và sắp tới, sẽ có một bản quy hoạch mới khác hẳn bản quy hoạch đã được phê duyệt năm 2007.
Cũng cần đề cập một chút về vấn đề nhiều nhà khoa học xã hội, lịch sử quan tâm tới rừng đầu nguồn, tới công tác bảo tồn văn hóa bản địa Tây Nguyên… Khi triển khai Dự án Bauxite tại Đắc Nông và Bảo Lộc – Lâm Đồng, khu vực hai dự án tọa lạc trên thực tế không có rừng nguyên sinh, không có rừng phòng hộ. Ở Nhân Cơ có hơn 4 ha đất rừng sản xuất nằm trong phạm vi giải tỏa. Trong 220 hộ di dời, có 11 hộ người M’Nông, người Hoa và người Nùng di cư từ các tỉnh miền Bắc vào Nhân Cơ.
Còn vấn đề dư luận xã hội quan tâm nhất là công nhân và chuyên gia Trung Quốc ở hai vùng đất đó lâu hay mau, dài hay ngắn cứ đeo đẳng mấy năm nay. Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã nói với cử tri TP.Hồ Chí Minh là “người Trung Quốc chỉ có mặt lúc xây dựng dự án, sau khi hoàn thành, bàn giao, họ sẽ về nước hết”. Thực tế cho thấy, khi Tân Rai, Nhân Cơ hoạt động, Nhà thầu Chalieco để lại 7-10 chuyên gia kỹ thuật giúp nhân viên kỹ thuật Việt Nam theo hợp đồng đã ký kết trong thời hạn ba năm nên vấn đề an ninh quốc phòng không có gì đáng lo ngại.
***

LỜI KẾT
Quý vị đã theo dõi 6 bài viết với nội dung hệ thống hóa lại toàn cảnh Dự án Bauxite Tây Nguyên của TKV đã và đang thực hiện ở Tân Rai và Nhân Cơ.
Những mục tiêu to lớn, mang tầm chiến lược của các nhà lãnh đạo thể hiện trong bản quy hoạch 2007 đã phải giảm thiểu trước sự phản kháng mạnh mẽ của xã hội, của giới nhân sỹ, trí thức và nhiều nhà hoạt động, nghiên cứu kinh tế, lịch sử, văn hóa. Mạng lưới truyền thông chính thức của nhà nước, của cộng đồng dân cư mạng đã viết hàng ngàn bài báo nói về dự án này. Ngoại trừ một số tin bài quá khích thì phần lớn là những tiếng nói trung thực, chân thành góp ý cho Đảng và Nhà nước. Trong bối cảnh ấy trang mạng Bauxite Việt Nam ra đời và từ đó đến nay đã kiên trì, bám sát hướng đi đã chọn, trở thành nơi đăng tải những ý kiến phản biện của giới trí thức chân chính. Nhiều bản kiến nghị của tập thể, cá nhân, nhiều ý kiến chất vấn Chính phủ trên diễn đàn Quốc hội cho thấy chưa có dự án nào thu hút sự quan tâm của xã hội lớn như thế nên Bộ Chính trị và Chính phủ đã có một số điều chỉnh tích cực, quyết định chỉ làm thí điểm hai nhà máy Tân Rai và Nhân Cơ đồng thời chưa hợp tác với nước ngoài góp vốn xây dựng dự án.
Dù đã lắng nghe, dù có thay đổi một phần kế hoạch nhưng hậu quả xấu của “thí điểm” không hề nhỏ và sẽ đeo đẳng, kéo dài trong nhiều năm tới, gây tổn thất chủ yếu về tiền của, công sức và ô nhiễm môi trường. Đến bây giờ, khi chỉ còn vài tháng nữa Tân Rai bắt đầu hoạt động và sau hai năm, đến lượt Nhân Cơ khai thác… những khó khăn, những tai nạn, những thách thức sẽ lần lượt phơi bày cụ thể hơn, chi tiết hơn và báo giới còn tốn nhiều giấy mực để loan tin…
Dù thua lỗ, dù thiếu vốn, sang tháng 4, tháng 5 năm 2012 những mẻ alumin cũng sẽ xuất xưởng, được đóng gói,xếp lên xe ô tô, chở về cảng Gò Dầu tỉnh Đồng Nai xuất khẩu sang Trung Quốc – một bạn hàng khó hiểu.
Lối về cảng Gò Dầu xa hơn đường đã vạch để làm mới chừng 30-40km nhưng trong hoàn cảnh TKV không có tiền xây cảng Kê Gà và làm mới hơn trăm cây số đường bộ, dù muốn hay không (bởi quá tốn kém chi phí vận chuyển) TKV vẫn phải sử dụng trong năm, mười năm tới.
Công ty cổ phần Cảng Đồng Nai – chủ sở hữu cảng Gò Dầu A và B –mỗi năm bốc xếp 4-5 triệu tấn hàng rời, hàng bao. Cầu tàu, bến bãi đủ phục vụ bốc xếp than từ miền Bắc vào chở lên Tân Rai và ngược lại, bốc xếp alumin xuống tàu xuất khẩu.
Nếu có điều kiện, chỉ cần có vài ba chục triệu USD là hiện đại hóa cảng, tàu trọng tải 25.000-30.000 tấn ra vào dễ dàng đáp ứng nhu cầu xếp dỡ toàn bộ khối lượng hàng hai chiều của Tân Rai và Nhân Cơ khoảng 2-2,5 triệu tấn/năm, nên TKV yên tâm có cơ sở hậu cần lâu dài mà không phải lo lằng quá nhiều đến việc đầu tư xây dựng mới.
Hai dự án thí điểm chắc chắn đều thua lỗ nhưng bỏ thì thương, vương thì tội!
Âu cũng là chuyện thường tình của các doanh nghiệp nhà nước thoải mái tiêu tiền mà không cần phải suy tính thiệt hơn.
TKV đã sinh non: Tân Rai và Nhân Cơ ra đời không đủ hình hài, ốm đau, què quặt thì cha mẹ nó phải cố gượng gạo mà dưỡng dục, chờ thời…
Biết đâu, sẽ có một ngày TKV dùng nguồn điện của nhà máy thủy điện Đồng Nai 5 sẽ biến alumin thành nhôm đúc một con ngựa có tim và một ngày đẹp trời nào đó nó sẽ từ biệt hạ giới bay lên,bay xa!!!

L.T.T.
Một số hạng mục công trình đang được hoàn thiện tại dự án nhà máy Alumin Tân Rai. Ảnh tư liệu

Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải và các quan chức Chính phủ làm việc với Tập đoàn TKV và lãnh đạo chính quyền Đắc Nông, Lâm Đồng tại Nhân Cơ, Tân Rai, Kê Gà

Tác giả gửi trực tiếp cho BVN.
http://www.boxitvn.net/bai/31631

Để lại phản hồi »

Chưa có phản hồi.

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Blog at WordPress.com.

%d bloggers like this: