Hoàngquang’s Blog

29/11/2011

Nguyễn Trường Tộ là người yêu nước một trăm phần trăm

Filed under: TƯ TƯỞNG — hoangquang @ 3:01 sáng
Tags:

Tiến sĩ, Giám mục Nguyễn Thái Hợp

Nhà chí sĩ đại tài Nguyễn Trường Tộ

Trần Hữu Tá Nguyễn Trường Tộ (1830 – 1871) – một bi kịch lạc quan

140 năm ngày mất nhà yêu nước, nhà cải cách Nguyễn Trường Tộ (28/11/1871-28/11/2011)

Nhân kỷ niệm 140 năm ngày mất nhà yêu nước, nhà cải cách Nguyễn Trường Tộ (28/11/1871-28/11/2011), Tạp chí Văn hóa Nghệ An đã có cuộc trao đổi với tiến sĩ Nguyễn Thái Hợp, Giám mục địa phận Vinh. Chúng tôi trân trọng giới thiệu nội dung của cuộc trao đổi này cùng bạn đọc.
Tạp chí Văn hóa Nghệ An

PV: Thưa tiến sĩ, Giám mục Nguyễn Thái Hợp, theo ông thì đóng góp xuất sắc nhất của Ngài Nguyễn Trường Tộ là gì?
Tiến sĩ, Giám mục Nguyễn Thái Hợp: Theo thiển ý, phần đóng góp xuất sắc nhất của Nguyễn Trường Tộ là những sáng kiến, những kế hoạch, những hoạt động cụ thể để bảo vệ và xây dựng đất nước, trong thời gian đế quốc Pháp vào xâm chiếm nước ta. Đó là năm 1859, Pháp và Tây Ban Nha đánh phá Gia Định; năm 1862 triều đình Huế phải ký hòa ước bồi thường chiến phí cho Pháp và Tây Ban Nha, nhường cho Pháp làm thuộc địa 3 tỉnh Gia Định, Biên Hòa, Định Tường; năm 1867, Pháp đem quân cưỡng chiếm 3 tỉnh Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên. Suốt thời gian ấy, chính xác là từ năm 1861 đến khi qua đời năm 1871, Nguyễn Trường Tộ (sinh năm 1830) đã đệ lên triều đình Tự Đức 58 bản điều trần nhằm giải phóng quê hương và canh tân xứ sở. Ông không chỉ đệ trình những điều trần lý thuyết, mà còn tích cực hành động góp phần giải quyết vấn đề. Điều không may cho Nguyễn Trường Tộ là “sinh bất phùng thời”, sống vào giai đoạn gặp phải ông vua Tự Đức nhu nhược và các quan lại vô trách nhiệm! Chắc chắn ông rất đau khổ khi thấy tâm nguyện và ước nguyện canh tân đất nước không được đón nhận. Và chắc chắn ông cũng mang cái tâm sự u uất của một trí thức đành bất lực nhìn vận nước suy vong, mà Cao Bá Quát đã diễn tả một cách thật sắc nét:
Thái bình vô nhất lược
Lộc lộc sỉ vi nho

(Chẳng có một sách lược cho đời được thái bình
Thẹn cho mình là một nhà nho tầm thường)
PV: Trong các điều trần của Ngài để lại, ông thấy những nội dung nào thể hiện viễn kiến sâu sắc nhất và có ý nghĩa thiết thực cho đến tận hôm nay?
Tiến sĩ, Giám mục Nguyễn Thái Hợp: Tất cả 58 điều trần của Nguyễn Trường Tộ đệ lên triều đình tạo thành một khối nhất thống nhằm mục đích duy nhất là giải phóng 3 tỉnh rồi cả 6 tỉnh Nam kỳ. Cho dù các điều trần dài ngắn hay đề tài khác nhau, nhưng đều có chung một định hướng. Do đó, khó có thể trả lời trong khối điều trần ấy “những nội dung nào thể hiện viễn kiến sâu sắc nhất…”, bởi vì Nguyễn Trường Tộ với nhãn quan thực tế, với kiến thức sâu rộng, biết mình biết người, đã đệ những kiến nghị để giải quyết những vấn đề bức xúc đương đại, trong tinh thần “Ngôi vua là quý; chức quan là trọng”. Thí dụ: Nguyễn Trường Tộ dâng điều trần “Bàn về tự do tôn giáo” (ngày 29.3.1863) là trình bày về lịch sử từ xa xưa các dân tộc đã có những tín ngưỡng và tôn giáo khác nhau. Riêng về đạo Công giáo thì từ thời Minh Mạng (1833) bị cấm triệt để. Liên quân Pháp – Tây Ban Nha mượn cớ bách hại Công giáo để mang quân vào đánh Đà Nẵng năm 1858, rồi vào chiếm Gia Định (Sài Gòn) năm 1861. Trong hòa ước 1862, điều đầu tiên là yêu cầu cho tự do theo đạo trong toàn quốc Việt Nam. Điều sau mới là cắt 3 tỉnh miền Đông Nam kỳ cho Pháp làm thuộc địa… Chính vì vậy, Nguyễn Trường Tộ điều trần xin thành thật bỏ việc cấm đạo và đặc biệt nên nhớ rằng Pháp lấy cớ bách hại tôn giáo (tuy là có thật), nhưng chủ yếu là để xâm chiếm nước ta. Nguyễn Trường Tộ là tín hữu công giáo nhưng không có mặc cảm hay hận thù, mà còn thành khẩn đệ lên triều đình hàng loạt điều trần nhằm khẩn trương cứu quốc và canh tân xây dựng vững bền cho tương lai. Tự Đức lúc đầu còn ngờ vực, sau đánh giá cao các bản điều trần của Nguyễn Trường Tộ, nên đã ra chỉ dụ: “Nay hãy đệ nạp các bản, trong đó các khoản nên chăng như thế nào, khoản nào nên làm ngay, khoản nào nên đình lại, nhất phải nói rõ (phải phác trình riêng cho biết có bao nhiêu nguyên bản, sát kiểm sơ qua các khoản để tiện xem). Lại phải tiến trình các bản chưa đóng hãy đóng chung lại kẻo mất”. Đó là chỉ dụ ngày 14.3.1868 cho Cơ mật viện gồm Nguyễn Tri Phương, Đoàn Thọ, Vũ Trọng Bình, Nguyễn Văn Phong, Phan Huy Vịnh, Phạm Phú Thứ, Trần Tiễn Thành.
PV: Ông có nhận xét gì không về phương pháp tư duy của Ngài Nguyễn Trường Tộ? Và đặt nó trong phong cách tư duy của người Việt Nam ta trong thời bấy giờ nửa cuối TK XIX ?
Tiến sĩ, Giám mục Nguyễn Thái Hợp: Phương pháp tư duy của Nguyễn Trường Tộ là phương pháp tư duy của bậc sĩ phu yêu nước nhiệt huyết và tinh hoa nhất ở cương vị chính quyền cũng như ngoài chính quyền. Cơ sở tư duy của ông luôn đậm đà bản sắc dân tộc tương tự như Võ Trường Toản hay La Sơn Phu Tử, và giàu kiến thức đông tây kim cổ khác nào Lê Quý Đôn. Tuy nhiên Nguyễn Trường Tộ sinh trưởng đúng thời kỳ đế quốc tư bản Tây phương đua nhau đi xâm chiếm thuộc địa khắp thế giới, coi dân bản xứ như bán khai hay nô lệ. Thuở thiếu thời, Nguyễn Trường Tộ đã thấm nhuần nho học qua tứ thư ngũ kinh. Nhưng ông học để biết chứ không để đi thi. Đến tuổi thanh niên Nguyễn Trường Tộ được tiếp xúc với giáo sĩ Pháp nên có dịp nghiên cứu văn minh và lịch sử Tây phương. Khi đi sang Hồng Kông và có lẽ Pênăng – Mã Lai Nguyễn Trường Tộ đã đọc thêm “tân thư” mà người Trung Hoa đã dịch từ sách Tây phương, lại được tiếp xúc trực tiếp với nhiều nhân vật trí thức Á, Âu để trao đổi và kiểm nghiệm với kiến thức và thực tế mắt thấy tai nghe. Có lẽ nhờ đó mà Nguyễn Trường Tộ biết mình biết người hơn, biết so sánh nước mình với các nước trong thiên hạ rõ ràng hơn. Thí dụ so sánh nước ta với các nước trong bán đảo Đông Dương, Nguyễn Trường Tộ nhận định: “Ở miền Nam hải có ba nước: nước ta, Miến Điện và Xiêm La. Nhưng hai nước kia còn trong tình trạng kém cỏi, còn lâu mới đuổi kịp nước ta”. Song so với các nước Tây phương – như Pháp đã chiếm 3 tỉnh của ta làm thuộc địa – thì ta quá chú trọng về từ chương và lơ là về khoa học thực nghiệm. Nguyễn Trường Tộ đệ các điều trần luôn với một tấm lòng thành khẩn, đề nghị việc gì cũng rút từ kinh nghiệm Đông Tây và từ hiện tình Việt Nam, lời lẽ dễ hiểu với người đương thời hay tại chức. Ông thẳng thắn phê bình những sai sót hay bất cập của triều đình, của giới sĩ phu và của xã hội đương đại, mà không để ai mất lòng. Ông viết điều gì cũng có tình có lý. Ngay như điều trần 10 Thảo thư gởi Tây soái để chuộc lại 3 tỉnh đã mất với lời lẽ trang trọng và lý sự vững chắc. Đây là bản dự thảo để triều đình Huế sử dụng. Khi đọc xong, Tự Đức châu phê: “Bài này lý lẽ rất mềm dẻo, không chống, không theo, cũng rất nghiêm chỉnh và trang nhã khiến cho họ biết rõ có thế cũng không ỷ thế được, thật là không thèm dạy mà dạy cho họ vậy”. Có lẽ bài dự thảo này “để trả lời một văn thư nào đó của Tây soái phiền trách việc quấy phá của dân ta trong ba tỉnh đã nhường cho Pháp”.
PV: Những bài học nào mà chúng ta có thể tiếp nhận ở Ngài Nguyễn Trường Tộ từ hôm nay và cho hôm nay, thưa ông?
Tiến sĩ, Giám mục Nguyễn Thái Hợp: Điều trần nào của Nguyễn Trường Tộ cũng nhằm mục đích giải quyết tình huống khẩn trương hay cấp bách như lấy lại những tỉnh thành đã mất, hoặc lâu dài như canh tân đất nước về mọi mặt chính trị, văn hóa, kinh tế, xã hội, ngoại giao, quốc phòng, kỹ thuật, khoa học, giáo dục, thương nghiệp, công nghiệp, khai khoáng, thủy lợi, v.v… Nguyễn Trường Tộ đệ đạt nhiều kế hoạch giải phóng vùng bị xâm chiếm, kể cả mưu tính đánh úp Gia Định mà ông đóng vai chính. Hầu như để chứng minh sự khả thi của các đề xuất, Nguyễn Trường Tộ đã chỉ đạo đào Kinh Sắt: “Bộ sai quan Tổng đốc Nghệ An là Hoàng Kế Viêm ra đào Kênh Sắt… Người viết thư cậy ông Tộ đi khám xem hình đất, thế đất, chỉ lối cho mà đào. Vì trước ông Cao Biền là quan của vua Đường bên Tàu sang làm quan Đô hộ úy nước Nam, lại vua Quý Ly nhà Hồ đã đào không xong, vì mắc nhiều đá cuội dưới đất. Ông Tộ đi xem nói rằng: Có một khúc vì có nhiều đá lớn, như bên Tây có cốt mìn thì phá đi, ta không có nên phải tránh, ông cắm nêu một hồi buổi sớm vừa xong, dân phu cứ thế mà đào thì kênh hoàn thành”. Hay như việc chỉnh trang xã thôn: “Mẹ của Nguyễn Trường Tộ là người Xuân Mỹ… Trước kia dân Xuân Mỹ ở vùng dưới chân đồi thấp, đất ruộng, cách chỗ ở hiện nay khoảng 400 thước về phía Tây. Nơi ấy gần khe suối, tới mùa mưa lụt thì lầy lội bẩn thỉu. Nguyễn Trường Tộ đã khuyên dân dời cả lên triền đồi (chỗ ở hiện nay). Ông vẽ đường chia ô cho các hộ. Dấu vết của một số đường sá còn thấy ngày nay”. Đó là chưa kể việc Nguyễn Trường Tộ cố vấn mua tàu thủy London, việc dẫn đoàn đi Pháp tìm thầy, mua máy móc, để lập trường kỹ thuật cho Huế, hay việc xây dựng nhà dòng nữ Áo Trắng (đường Tôn Đức Thắng, quận 1, TP.HCM) to tát vững vàng còn đến nay, v.v… Nguyễn Trường Tộ điều trần những giải pháp thiết thực và tiến bộ nhất đương thời nhằm khai thông tình huống cấp bách đương đại. Ngày nay, lịch sử đã nhiều lần sang trang và chúng ta đang ở vào giai đoạn toàn cầu hóa. Tuy nhiên, tinh thần canh tân xã hội hay biện pháp giải quyết tình huống của Nguyễn Trường Tộ vẫn còn là những bài học cho chúng ta ngày nay.
PV:
Tiến sĩ, Giám mục Nguyễn Thái Hợp: Nguyễn Trường Tộ là một sĩ phu yêu nước nồng nàn và cũng là một tín hữu Công giáo. Ông yêu nước nhưng theo thuyết “dân vi quý” dù “vua là quý, quan là trọng”. Dân có bổn phận công dân, vua quan có sứ mệnh quan trọng nặng nề hơn thường dân. Ông kính thờ Chúa nhưng luôn gắn bó với đất nước Việt Nam. Ông cũng phân biệt được đức tin với giáo sĩ truyền giáo. Ông kính trọng các giáo sĩ, nhưng khi giáo sĩ ngoại quốc có liên quan đến việc nước, thì ông giấu việc cứu quốc với họ. Hoặc khi thấy nhiều giáo sĩ Pháp có liên quan với thực dân, thì ông đề nghị nên xin Tòa thánh sai phái các giáo sĩ khác tới thay thế. Nguyễn Trường Tộ là người yêu nước một trăm phần trăm và cũng là tín hữu Công giáo một trăm phần trăm. Nơi ông, hai phạm trù, hai phẩm chất này không đối lập nhau mà kết hợp hài hoà với nhau.
PV:
VĨNH KHÁNH (thực hiện)
Nguồn: http://www.vanhoanghean.com.vn/van-hoa-va-doi-song/khach-moi-cua-tap-chi/3629-tien-si-nguyen-thai-hop-nguyen-truong-to-.html
http://www.boxitvn.net/bai/31162

***

Trần Hữu Tá -Nguyễn Trường Tộ (1830 – 1871) – một bi kịch lạc quan

140 năm ngày mất nhà yêu nước, nhà cải cách Nguyễn Trường Tộ (28/11/1871-28/11/2011)

Từ cuối thế kỉ XVIII, cơn lốc xâm lược từ các nước tư bản phương Tây đến các dân tộc Á Phi bắt đầu khởi phát, và đến nửa cuối thế kỉ XIX đã bùng lên đặc biệt dữ dội. Hãy nói riêng đến các nước gần gũi với Việt Nam: Singapore, Malaysia rơi vào tay thực dân Anh; Philippines bị đặt dưới quyền bảo hộ của Mỹ; Indonesia do Hà Lan làm chủ; Lào và Campuchia trở thành “Pháp quốc hải ngoại”. Rộng lớn mênh mông như Ấn Độ (bao gồm cả Bangladesh và Pakistan, 4.319.000 km2), năm 1877 cũng bị đế quốc Anh thôn tính. Ngay Trung Quốc cũng không hoàn toàn thoát khỏi hiểm họa này. Hai cuộc chiến tranh nha phiến kéo dài từ 1839 đến 1872 là cái cớ để “bát quốc liên quân” xâu xé, dốc đại binh vào Bắc Kinh, buộc triều đình nhà Thanh phải cắt hàng loạt vùng duyên hải thịnh vượng phía Đông và vùng Đông Bắc giàu có khoáng sản, làm nhượng địa cho Anh – Pháp – Mỹ – Bò Đào Nha – Tây Ban Nha, v.v.
Thế nhưng cũng trong tình thế chính trị đen tối ấy ở châu Á vẫn có những điểm sáng khác thường: Thái Lan đất không rộng, người không đông, kinh tế chưa phát triển nhưng nhờ chính sách ngoại giao khôn khéo của những người cầm quyền, đứng đầu là vua Rama I đã giúp nước này tránh được quá trình thực dân hóa của châu Âu tư bản chủ nghĩa.
Ở một đẳng cấp cao hơn, nước Nhật Bản đã có một cuộc “lột xác” ngoạn mục. Cuối thế kỉ XIX, tướng quân cuối cùng của thể chế tướng lĩnh phân quyền bị lật đổ, trả lại quyền lực tập trung cho hoàng gia, rồi liền sau đó đã có cả một chủ trương chiến lược duy tân, cải cách mạnh mẽ về chính trị, kinh tế, khoa học kỹ thuật, quân sự quốc phòng, văn hóa giáo dục. Chỉ sau mấy chục năm, đến đầu thế kỉ XX, Nhật đã trở thành một cường quốc bậc nhất châu Á.
Nửa cuối thế kỉ XIX, nước ta đứng trước hai khả năng hết sức trái ngược ấy. Và như thực tiễn bi thảm đã diễn ra, chúng ta bị Pháp thôn tính, bị xóa tên trên bản đồ thế giới ròng rã 87 năm (1858 – 1945). Các nhà sử học đã phân tích thấu đáo những nguyên nhân sâu xa dẫn đến tình trạng “quốc phá, gia vong”. Có điều nghĩ lại, trong giai đoạn lịch sử đầy biến động này, thế bế tắc của nước ta đâu phải hết khả năng tháo gỡ, hóa giải! Trương Vĩnh Ký (1837 – 1898), Bùi Viện (1835 – 1878), Nguyễn Lộ Trạch (1852 – 1895)… là những con người ưu tú, có nhân cách đáng trọng, có tư tưởng đổi mới sáng suốt, có sự tiếp cận sâu sắc với cách mạng khoa học kỹ thuật phương Tây; các vị ấy có khát vọng và có khả năng phò vua giúp nước vượt qua tình thề nước sôi lửa bỏng. Điều đau xót là ở chỗ họ không được tin dùng, “đại tài” nhưng chỉ được “tiểu dụng”, thậm chí không được đoái hoài, đếm xỉa đến. Nguyễn Trường Tộ nằm trong số những con người xuất sắc nhưng bất hạnh ấy.
Về mặt trí tuệ, ông thuộc loại người hiếm quí: đặc biệt thông minh, học một biết mười, “bác văn cường ký”, được ca ngợi là “Trạng Tộ”. Ông lại có may mắn được tiếp nhận cả hai nguồn văn hóa Đông và Tây, cổ và kim. Thuở thiếu thời, Nguyễn Trường Tộ thụ giáo các thầy trong vùng (huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An) và có được một vốn Hán học chắc chắn. Do những mối quan hệ tốt đẹp tình cờ, ông được giám mục Gauthier dạy cho tiếng Pháp và các môn khoa học phổ thông – cơ bản thôi, nhưng với Nguyễn Trường Tộ cũng như với trí thức Việt Nam lúc đó là rất mới mẻ, cần thiết. Trên cái nền tảng ban đầu ấy, ông có điều kiện mở rộng kiến văn trong những dịp đến Hồng Kông, Pháp, Ý. Ông không chỉ sưu tầm, học hỏi qua sách vở mà còn quan tâm tìm hiểu tình hình chính trị xã hội phương Tây, đồng thời rất năng nổ xông xáo tham quan nhiều cơ sở công kỹ nghệ, gặp gỡ nhiều trí thức, kỹ thuật gia, học giả châu Âu. Vì thế ngay khi bước vào tuổi 30, ông đã có một vốn kiến thức rộng và sâu cả về phương diện chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật.
Với tiềm lực chất xám rất quí như thế, nếu ông được tin dùng, được tạo điều kiện để hoạt động, tình thế có thể sẽ rất khác. Bi kịch của Nguyễn Trường Tộ, ngẫm ra là một nghịch lý khó tin nhưng có thật. Yêu nước nhưng không được giúp nước vượt qua đại họa ngoại xâm; thực sự có tài năng xuất chúng nhưng vấp phải vật cản quá lớn – sự trì trệ bảo thủ, dị ứng với chủ trương duy tân, tự cường của triều đình Tự Đức và sự nghi ngờ dai dẳng của họ với những người tin theo Kitô giáo. Bi kịch lớn lao ấy bình thường ra có thể nhấn sâu những con người nặng lòng với đất nước vào tình trạng trầm cảm, u uất, bế tắc. Với Nguyễn Trường Tộ thì không. Ông đã bộc lộ một phẩm chất đáng tôn trọng: sự kiên trì nhẫn nại – nhẫn nại đến mức phi thường. Trong vòng 10 năm (1861 – 1871), Nguyễn Trường Tộ liên tục gửi đến vua Tự Đức và triều đình Huế rất nhiều bản điều trần. Riêng linh mục Trương Bá Cần đã tập hợp được 58 bản và công bố trong tập Nguyễn Trường Tộ – con người và di thảo (nxb TP. Hồ Chí Minh, 2002). Gửi mà không có hồi âm, nhưng lại tiếp tục gửi nữa. Đề tài không lặp lại, nội dung hết sức phong phú đề cập đến hầu hết những vấn đề chiến lược ở tầm “quốc sách”. Về chính trị, Nguyễn Trường Tộ trình bày với nhà vua về chiến lược cơ bản, về những thế lớn phân và hợp trong thiên hạ ( Thiên hạ phân hợp đại thế luận, 1863) và đề xuất Kế ly gián giữa Anh và Pháp (1866); không hề ảo tưởng về dã tâm của thực dân Pháp, nhưng ông rất sáng suốt chủ trương tạm hòa hoãn với Pháp, gợi ý với nhà vua về lợi ích lớn của việc “Mở rộng quan hệ với Pháp và các nước khác” (1871).
Về quân sự, có lúc Nguyễn Trường Tộ tha thiết xin triều đình cho mình được tổ chức việc đột kích lấy lại Nam Kỳ. Không được chuẩn thuận, ông viết điều trần dâng lên Tự Đức về việc “tái tu võ bị” (1869), để sớm có một lực lượng quân sự hùng mạnh. Chi li và căn cơ, ông đề nghị trong hoàn cảnh đất nước còn nghèo, triều đình nếu cho mua những sản phẩm kỹ thuật hiện đại như tàu biển, máy móc, vũ khí thì chỉ cần mua mỗi thứ một đơn vị để nghiên cứu. Ông tin có thể căn cứ vào mẫu mã đó sẽ chế tạo mới, không những chất lượng không thua sút mà còn có những cải tiến tốt hơn.
Về kinh tế, ông có hàng loạt điều trần, thuyết phục nhà vua nhanh chóng có những chủ trương biện pháp “làm cho dân giàu nước thịnh” (Lục lợi từ – 1864). Với nông dân, cần đem lại cho họ nhiều đất canh tác hơn nữa, muốn vậy phải đẩy mạnh việc khai hoang (Khai hoang từ – 1866).
Về văn hóa giáo dục, Nguyễn Trường Tộ cũng có những đề xuất rất “khó nghe” với những đầu óc thủ cựu nhưng hết sức xác đáng, kể cả thời ấy lẫn bây giờ. Không bài bác Nho học, nhưng ông xin với vua cho những thanh niên ưu tú sang du học châu Âu, thậm chí xúc tiến ngay một việc tưởng nhỏ nhưng rất thiết thực, cần kíp, “gửi học sinh sang Singapore học sinh ngữ” (1871). Rất dũng cảm, ông đề nghị với triều đình nên ban bố chủ trương tự do tôn giáo (Giáo môn luận – 1863), v.v. và v.v.
Giờ đây trong hoàn cảnh đất nước đang quyết tâm đổi mới, tự cường, khắc phục nguy cơ tụt hậu, đọc lại tập Điều trần của Nguyễn Trường Tộ, tin rằng mỗi trí thức cao cấp cũng như mỗi độc giả bình thường đều sẽ có những cảm nhận đặc biệt. Có thể đó là sự xúc động về lòng yêu nước chân thành nồng nhiệt của người đã khuất. Dường như ông không phải viết bằng mực bình thường mà bằng máu từ chính trái tim mình – một trái tim luôn quặn thắt trước tình hình ngày càng bi đát của đất nước. Cũng có thể đó là sự sửng sốt, ngạc nhiên trước những kiến giải sắc sảo, tinh tường, đến nay vẫn còn giá trị. Những kiến giải này càng có thêm sức thuyết phục nhờ một văn phong nghị luận chuẩn mực: vấn đề được đặt rõ ràng, lập luận chặt chẽ, dẫn chứng cụ thể sống động. Nhằm lành mạnh hóa đội ngũ quan chức, Nguyễn Trường Tộ hiến kế với vua: Nhất thiết phải để họ có thể sống được bằng lương. Từ Pháp, ông viết trong Tế cấp bát điều (Về tám điều cần bàn gấp – 1867): “Tôi tính lương tri huyện mỗi ngày không qua ba, bốn thạch (mỗi thạch khoảng 60 – 70 đồng tiền), như vậy nuôi một người còn không đủ huống chi nuôi một gia đình nhà quan. Đã biết rõ thiếu hụt mà cứ đem lời suông khuyên người ta thanh liêm, như thế là ngầm để cho người ta tham nhũng”. Trên cơ sở ấy, ông đề nghị: “Lương bổng một năm, tính hết tất cả các khoản của một Lục bộ đại thần nước ta không bằng hai ngày lương của một nguyên soái nước Pháp. Một ngày lương của một Tổng đốc nước Anh tương đương một năm lương của một quan đại thần nước ta… Các nước ngoài nghe quan lại nước ta hưởng lương ít ỏi như vậy họ rất chê cười và tựa hồ họ không thể hiểu nổi tại sao lại có thể như thế được. Vì vậy tôi xin đề nghị lấy những của cải phù phiếm xa hoa trong dân gian để thêm lương cho các quan binh. Đó là lí do hết sức chính đáng (các nước phương Tây cũng tăng thu bằng cách đó để cấp cho quan binh). Nếu vậy mà họ còn tham ô mới có thể trách được”.
“Khuyên người ta thanh liêm bằng lời nói suông”. Nguyễn Trường Tộ đã chỉ ra một thói tật rất lớn của những nhà quản lý đất nước thời đó. Trước hiện tượng kỳ thị tôn giáo quá nặng nề kéo dài đã khá nhiều năm, ông lưu ý với vua về những gì đã được “thực mục sở thị” ở các nước phương Tây cũng như phương Đông: “Hễ nước nào có thanh danh văn vật, xứ nào có giao thông trù mật thì người theo đạo đông đúc. Nước càng thịnh vượng thì tôn giáo càng nhiều”. Để từ đó ông gợi ý với triều đình nên để tôn giáo được tự do phát triển, người dân được tự do tín ngưỡng hoặc không tín ngưỡng. Theo ông, nếu dùng sức mạnh để đàn áp tôn giáo nào đấy đã lan rộng tỏa sâu trong dân chúng, chỉ càng làm cho nó có sức bật, phát triển mạnh hơn dẫn đến tình trạng chia rẽ sâu sắc trong nội bộ đất nước (Giáo môn luận – 1863).
Có thể nói tập Điều trần này giúp các thế hệ hậu sinh thấu hiểu tài năng toàn diện, kiệt xuất và nhân phẩm cao quí của Nguyễn Trường Tộ. Cũng có thể cảm nhận những đặc điểm nổi bật trong nhân phẩm ấy thông qua những câu thơ, bài thơ mà ông để lại. Căn cứ vào số di cảo của Nguyễn Trường Tộ, có thể chia thơ ông thành hai mảng: những bài “tức cảnh – sinh tình” và những bài “Ngôn chí, tự tình”.
Trong cuộc đời khá ngắn của mình, Nguyễn Trường Tộ đã đi nhiều nơi, cả trong và ngoài nước. Cũng như những bậc trí giả khác, nhiều cảnh đẹp đã đem lại cho ông thi hứng. Có khi là một buổi dạo chơi núi Ngũ Hành (Quảng Nam), một đêm đậu thuyền ở Đà Nẵng, một thoáng ngắm cảnh cửa biển Cần Giờ (Nam Bộ). Cũng có khi ông cao hứng trước một danh thắng ở Quảng Đông (Trung Quốc) hoặc miên man cảm xúc trong một đêm mưa đi thuyền trên biển. Giáo sư Nguyễn Huệ Chi đã nhận xét chính xác: “Thơ ông nhìn chung mang phong cách trữ tình khoáng đạt” (Đỗ Đức Hiểu, Nguyễn Huệ Chi, Phùng Tửu, Trần Hữu Tá (đồng chủ biên), Từ điển văn học, bộ mới, nxb Thế giới, 2004, tr. 1209). Đúng thế, bức tranh phong cảnh trong thơ Nguyễn Trường Tộ thường thoáng, sáng, gây ấn tượng từ những đường nét lớn chứ không phải từ những chi tiết rậm rạp, tỉ mỉ. Thiên nhiên trên đỉnh Đèo Ngang có biết bao cảnh đáng ghi nhận, nhưng Nguyễn Trường Tộ có cách thu hình của riêng mình: không chỉ có cảnh hôm nay mà còn cả hình ảnh đau thương của quá khứ.
Nguy nga tráng lệ màu sông núi
Tuyệt đỉnh chia đôi vũ trụ hình
Chiến lũy đã tàn lưu cổ tích
Ngự bia còn đó dấu uy linh

(Lê Thước dịch)
(Nguyên tác: Nguy quan túc tráng sơn hà sắc
Tuyệt lãnh trung phân vũ trụ hình
Chiến lũy dĩ tàn lưu cổ tích
Ngự bi trường tại tác sơn linh)

Cảnh nước trời lẫn sách trong đêm đen, giữa biển khơi vần vụ không hề dễ tả. Nguyễn Trường Tộ đã phóng bút dựng bức tranh rất ấn tượng:
…Trời biển tiệp màu chung sắc nước
Mưa rơi sóng vỗ khó phân minh
Nhẹ thuyền sóng biếc cao ba trượng
Mây ám vầng trăng suốt mấy canh

(Lê Thước dịch)
(Nguyên tác: Thôn hợp hải thiên đô thị thủy
Đích sao đào lãng bất phân tranh
Thuyền khinh tự giác trào tam trượng
Vân ám trường già ngyệt ngũ canh)

Đối với những bậc trí giả luôn gắn bó với đất nước quê hương, thơ của họ không chỉ để dựng cảnh thuần túy mà gần như bao giờ cũng để gửi gắm tâm sự sâu kín của mình. Đó thường không phải là nỗi buồn riêng mà là sự chia sẻ với nỗi ưu tư, thậm chí đau khổ chung của nhân dân, dân tộc. Nguyễn Trường Tộ cũng thế. “Đêm đậu thuyền ở Đà Nẵng” ông như bị hút vào cảnh hùng vĩ của non cao, sông lớn:
Hai nhánh Tây Nam sông đổ xuống
Cửa nhìn Đông Bắc dựng non cao

(Lê Thước dịch)
(Nguyên tác: Giang tự Tây Nam song lệ hạ
Môn khai Đông Bắc lưỡng sơn cao)

Nhưng lập tức ông giật mình, nghĩ đến những hiểm họa tàn khốc sẽ xảy ra nếu có ngoại xâm – và ông chỉ đích danh thế lực xâm lược ấy:
…Tây triều vô cớ động binh đao
Một mai sát khí tràn sông nước
Vạn đại hồn oan dậy sóng gào

(Nguyên tác: Tây triều hà sự động binh đao
Nhất triêu sát khí không lưu thủy
Thiên cổ oan thanh thượng nộ đảo)

Vì vậy niềm vui, sự say mê thưởng ngoạn của Nguyễn Trường Tộ không bao giờ trọn vẹn. Tình thế đất nước cứ bị mất dần từng mảng khiến một số bài thơ ông như chứa đựng một tiếng thở dài chua xót. Đến với bãi biển Cần Giờ, cảnh trí say người đấy (Núi dựng ba tòa quanh bãi biển/Đèn cao một ngọn dẫn tàu đi), nhưng ông nhớ ngay đến thực trạng mất nước:
…Nước non như cũ hồn sông núi
Cảnh sắc rõ ràng đã đổi thay
Đất nước sơn hà ai đấy chủ?
Biết đem tâm sự hỏi trời thôi!

(Lê Thước dịch)
(Nguyên tác: Quan hà điện định nhưng y cựu
Cảnh sắc thương mang dĩ bất tiền
Như thử giang sơn thùy thị chủ?
Yếu tương tình sự vấn chi thiên)

Mảng thơ thứ hai của Nguyễn Trường Tộ lại mang sắc thái khác lạ: thơ “tự tình, ngôn chí”. Những câu, những bài loại này không nhiều và thường thấy trong những bảnĐiều trần hoặc trong thư gửi những nhân vật trọng yếu của triều đình. Trong nhiều năm liền, ông luôn canh cánh một tâm trạng bi kịch, như đã bộc lộ trong bản trần tình ngày 26/3 năm Tự Đức thứ 16 (tức ngày 13/5/1863): “Lúc trước tôi có đi với người Pháp, bất đắc dĩ phải làm cái việc thân ở Hán tâm ở Hàn. Về tình tuy không thẹn, nhưng ai thấu rõ nguồn cơn?”. Nguyễn Trường Tộ đã quá nghiêm khắc với chính mình. Ông không có gì phải thẹn về tình, mà ngay về lý cũng vậy. Như trên đã nói, có lúc ông đã khẩn thiết xin nhà vua cho mình được chỉ huy việc đánh úp lấy lại Nam Kỳ. Trong bản tấu sớ đó, ông còn cẩn thận đề nghị với nhà vua xin không để các thừa sai ngoại quốc biết được dự kiến của mình. Không nhằm thanh minh, phân trần một cách đơn giản, Nguyễn Trường Tộ muốn những người có trách nhiệm chủ yếu của triều đình nhà Nguyễn giải tỏa những nghi ngờ không đáng có về ông, để rồi hiểu chính xác tâm sự sâu kín của ông. Có thể hiểu sự khúc mắc khó lý giải này của Nguyễn Trường Tộ trong bài thơ mang tính ẩn dụ nhưng dễ cảm nhận ông gửi người bạn họ Phan đang làm tri phủ. Hoàng giáp Đinh Văn Chấp – một nhà khoa bảng nổi tiếng của Nghệ An (thân phụ của Hòa thượng Thích Minh Châu) – đã dịch nghĩa bài thơ như sau:
Đi dệt mướn ở thôn Tây không phải vì nghèo,
Vì muốn nhận thấy rõ cái cơ yếu bí quyết của nhà người
Để sau này xóm Đông nếu muốn học hỏi nghề dệt lụa cho vua
Thì sẽ đem hết đường kim mũi chỉ tỏ bày rạch ròi tử tế

(Trích Biên khảo bổ túc vào tiểu sử của Nguyễn Trường Tộ – in trong Nguyễn Trường Tộ – con người và di thảo, tr. 530)
Giải nguyên Lê Thước đã dịch thành thơ:

Dệt mướn thôn Tây chẳng phải nghèo
Khung cửi nhà người sẵn đấy theo
Gấm vóc xóm Đông mà hỏi đến
Kim vàng trân trọng nắn đường thêu

Hiểu rất rõ thái độ chưa tin cậy, thậm chí nhiều lúc nghi ngờ mình của vua Tự Đức, nhưng vì đại cục quốc gia, Nguyễn Trường Tộ vượt qua tâm trạng nặng nề và đã tha thiết bày tỏ lòng chân thành phục vụ đối với người lèo lái con thuyền quốc gia trong bão lũ:
Mặt trời tuy ngự ở trên cao cũng có chỗ không chiếu soi tới
Tấm lòng hoa quì bao giờ cũng thầm hướng về mặt trời

(Đinh Văn Chấp dịch nghĩa – Sđd tr 531)
(Dịch thơ: Mặt trời cho dẫu không soi đến
Hướng dương xin vẫn nếp hoa quì

Lê Thước dịch)
Ngày 22-11-1871, Nguyễn Trường Tộ tạ thế, hưởng dương 41 tuổi. Hoàng giáp Đinh Văn Chấp cho biết: “khi chết thổ ra một cục máu lớn”. Có thể suy đoán: nỗi niềm uất kết ấy đã tiềm ẩn, tích tụ trong hơn hai mươi năm trời, kể từ lúc thành niên. Con người bình thường khó trụ vững trong bi kịch lớn ấy. Nguyễn Trường Tộ, như trên đã nói, đã vượt qua. Động lực giúp ông có sức mạnh ấy không khó nhận ra: đó là lòng yêu nước thiết tha sâu nặng. Là giáo dân, ông kính Chúa; nhưng là công dân, ông kiên định tình cảm gắn bó với đồng bào, dân tộc của mình. Những kế sách lớn dâng vua không được chuẩn thuận, vậy thì ông làm những việc nhỏ miễn là có ích: thiết kế và chỉ đạo thi công tu viện Dòng Thánh Phaolô Sài Gòn (1863), xây cất Nhà Chung Xã Đoài (1870), tư vấn kỹ thuật trên thực địa việc đào Kênh Sắt (Thiết cảng) ở Nghệ An (1866), lập kế hoạch và trực tiếp giúp bà con vùng Xuân Mỹ (Nghệ An) thường xuyên bị úng lụt đến nơi ở mới (1869), v.v.
140 năm đã qua đi, đọc lại thơ của Nguyễn Trường Tộ, ta hiểu và trân trọng tâm sự sâu kín, cao đẹp của ông. Nghiền ngẫm 58 bản Điều trần,ta không khỏi ngạc nhiên trước sự kiên trì và về trí tuệ phi thường của ông. Những di cảo ấy giúp ta hiểu nhân cách và tài năng của một người Việt xuất sắc – Nguyễn Trường Tộ. Mặt khác, có thể nói tài sản tinh thần ấy nếu nghiên cứu chu đáo, chắc chắn sẽ vẫn có ích cho công cuộc đổi mới hôm nay.

T. H. T.
http://www.boxitvn.net/bai/31211

Để lại phản hồi »

Chưa có phản hồi.

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Blog at WordPress.com.