Hoàngquang’s Blog

27/11/2011

MARX, NHỮNG GÌ CÒN LẠI…

Filed under: TƯ TƯỞNG — hoangquang @ 1:02 chiều
Tags:

Nguyễn Hoài Vân, theo TCPT số 50


Hành trang hiểu biết về Marx còn khơi dậy trong chúng ta một ý thức quan trọng khác. Ý thức những dối trá của các chính quyền mang danh Cộng sản đến từ truyền thống Staline-Mao. Các chính quyền này đã lừa đảo mang vài khẩu hiệu thay cho một học thuyết, để phát động những cuộc đấu tranh, áp đặt một nền chuyên chế, hoàn toàn chỉ cho một mục tiêu duy nhất, là chiếm thủ quyền hành!
***
Bán mình cho quỷ dữ
Hans Röckle là một thiên tài chế tạo đồ chơi. Cửa hàng của anh đầy những búp bê tuyệt đẹp, những hoàng tử, công chúa, hiệp sĩ, người khổng lồ, chú lùn, nàng tiên, và vô số quái vật, bên cạnh rất nhiều ngựa, xe, lâu đài, bàn ghế, vật dụng đủ loại … Những món đồ chơi ấy ẩn dấu những phép màu kỳ diệu, và, trên các kệ hàng nơi chúng được trưng bày, những mối tình lâm ly, những cuộc đụng độ dữ dội, những trao đổi dí dỏm, những màn đấu phép ngoạn mục giữa các tác phẩm của Hans không ngừng diễn ra. Tuy vậy, mặc dù tài năng tuyệt vời của mình, Hans vẫn không đủ tiền để mua thức ăn hàng ngày… Anh chìm trong nợ nần, và phải bán dần các món đồ chơi màu nhiệm của mình cho Ác Quỷ. Thật là một thảm họa cho các nàng công chúa phải chia tay người yêu, rời xa cha mẹ, trao mình cho Quỷ dữ, và đau buồn thay, khi những người khổng lồ, hiệp sĩ và chú lùn phải giã từ bạn hữu để rơi vào vực xâu đen tối của địa ngục! Các món đồ chơi tìm cách thoát khỏi định mệnh hãi hùng ấy, bằng những phản ứng mạnh bạo, hay ấu trĩ, khôi hài …
Đây là một trong rất nhiều câu chuyện mà Marx ứng khẩu kể cho ba cô con gái, để vừa nghe, vừa đi bộ dạo chơi, có khi rất xa (Souvenirs sur Marx Engels – Moscou) … Có lẽ chúng mang nhiều ý nghĩa về tâm lý của ông hơn bất cứ nghiên cứu hàn lâm nào. Đại đa số các câu chuyện ấy không được ghi lại và đã biến mất … Như Hans, Marx làm ra những tác phẩm mà ít người cảm nhận được giá trị, đến độ phải bán chúng cho Ác Quỷ, tức cho những kẻ sẽ sử dụng chúng cho ý đồ đen tối của họ. Thuyết « vong thân » của ông thể hiện rõ ràng qua câu chuyện này.
Tiến trình biện chứng vô biên
Giao một tác phẩm cho nhà xuất bản là điều mà Marx luôn ngần ngại. Có khi ông lần lựa hàng chục năm, sau khi đã nhận, và tiêu sạch, tiền ứng trước. Một tác phẩm lý thuyết, đối với ông, là một thực thể sinh động, biến hóa, xoay chuyển đồng nhịp với bánh xe biện chứng như ông quan niệm. Thật vậy, biện chứng pháp đối với Marx là một tiến trình đi từ phủ định, tới phủ định của phủ định, và lại tiếp tục phủ định. Nó không có điểm dừng theo kiểu « hợp đề tối thượng » của biện chứng Hegel. Vì thế, cho xuất bản một tác phẩm lý thuyết là một nghịch lý. Vì khi vừa buông ra khỏi tay mình, nó đã cần phải cập nhật, sửa đổi.
Một lý do cụ thể hơn khiến Marx ngần ngại xuất bản một số lý thuyết của mình, đặc biệt là lý thuyết kinh tế, là ông vẫn chưa tìm ra một phương pháp toán học để kiểm nghiệm chúng. Sau 15 năm vật lộn với các phương trình [1], vào năm 1867, khi quyển đầu của Tư bản luận đã ra mắt, Marx vẫn chưa thấy được cách nào gắn liền giá trị duy nhất có thể đo lường được, là giá thị trường, với nền tảng của các quy luật kinh tế của ông, là « trị giá lao động ».
Marx dự trù sẽ viết 6 quyển Tư bản luận. Nhưng thực tế, chỉ có duy nhất quyển đầu được ông cho xuất bản, sau 20 năm thai nghén. Các quyển 2 và 3 đều do Engels góp nhặt từ những ghi chép tìm được sau khi Marx đã qua đời. Khi trút hơi thở cuối cùng, Marx đã sẵn sàng giao cho thế gian bị làm chủ bởi Ác Quỷ những suy tư sâu sắc và hệ trọng nhất của đời ông hay chưa? Trong tâm não ông, bao suy tư còn đang dang dở, còn chờ triển nở, hay đang trở thành, trong một tiến trình biện chứng vô biên …
Muốn bất cứ gì, cũng phải … làm việc !
Khi nói về quyển đầu của Tư bản luận Marx cho biết hai điều vượt trội nhất của tác phẩm này là – thứ nhất, chứng minh được rằng lao động mang hai tính chất, tùy theo nhìn nó dưới khía cạnh giá trị thực dụng hay giá trị trao đổi ; thứ nhì, phân tích « trị giá gia tăng » một cách biệt lập với các khía cạnh đặc biệt của nó như: lợi nhuận kỹ nghệ, thương mại, lãi tức tài chính, lãi tức bất động sản v.v… (Marx – Engels: thư tín)
Những điều này thoạt nghe có vẻ bí hiểm nhưng thực ra nó chỉ diễn đạt một nguyên lý đın giản mà các bậc cha mẹ thường dạy cho con cái. Đó là, muốn có bất cứ gì thì cũng phải … làm việc! Việc làm là nguồn gốc của tất cả …
Thật vậy, tiền không “đẻ ra tiền” như người ta thường lầm tưởng. Muốn tạo thêm tiền, người ta phải “đầu tư” nó vào một số yếu tố, như nguyên liệu, kiến thức, máy móc, và một yếu tố quan trọng nhất – không thể thiếu – là sức làm việc. Chính sức làm việc tạo thêm phú hữu, chứ không phải bất cứ gì khác. Sức làm việc là “món hàng” duy nhất trong tất cả các hàng hóa, có thể đều đặn tự sản sinh ra chính nó. Người lao động làm việc mệt mỏi, nhưng chỉ cần ngủ nghỉ ăn uống, là sức lực phục hồi, lại có thể tiếp tục làm việc [2]. Trong khi đó, các món “đầu tư” khác, như nguyên liệu, máy móc, kể cả những kiến thức nhất định … chỉ có thể càng ngày càng suy giảm, hao mòn, mất giá trị.
Vì thế, nhà tư bản muốn vốn liếng của mình tăng lên, thì buộc phải “mua” lao động. Người làm công không bán hàng hóa, mà bán sức làm việc của mình. Tiền lương mà anh ta nhận lãnh cho phép đảm bảo đời sống của anh ta, để anh ta có thể mỗi ngày mỗi tiếp tục tái tạo ra sức làm việc của mình. Tiền lương ấy, cộng với những đầu tư vào máy móc, nhà đất, nguyên liệu v.v… cho ra trị giá trao đổi của một món hàng, khiến một cái bàn có thể “bằng” một số bộ áo, hay một số cân gạo chẳng hạn. Nhà đầu từ thêm vào đó một khoản lợi nhuận, rồi bán món hàng ấy ra trên thị trường. Một phần lợi nhuận này được chia cho người cho vay vốn (ngân hàng), người cho thuê nhà đất, cho nhà nước (đóng thuế) v.v… Giá bán trên thị trường cũng tùy thuộc vào giá trị thực dụng của món hàng, tức những lợi ích mà nó mang lại cho người tiêu thụ, so với những món hàng khác cạnh tranh với nó.
Tức là, sức làm việc đã cho ra giá trị trao đổi và giá trị thực dụng, đồng thời với “trị giá gia tăng”, tức phần vốn được tăng lên sau khi đã bán món hàng. Vì người công nhân viên không được hưởng thụ cái “trị giá gia tăng” ấy, mặc dù chính công việc làm của anh ta đã sản sinh ra nó, nên Marx coi coi đó như một sự bóc lột. Tất cả tương quan giữa những người bán sức làm việc của mình với những người chỉ đơn thuần xuất vốn, được Marx đặt trong bối cảnh này. Trong một số giai đoạn, mâu thuẫn giữa hai loại người ấy có thể mang sắc thái hợp tác (mâu thuẫn hợp tác), nhưng cũng có thể trở thành mâu thuẫn đấu tranh.
Đề cao Tư bản Chủ nghĩa
Ngày nay, chúng ta nhận thấy trong xã hội tư bản nhiều phươg cách giảm thiểu mâu thuẫn này. Thí dụ như tách rời việc quản trị và điều khiển xí nghiệp với việc sở hữu vốn tư bản. Những người điều khiển các công ty nên là những người làm công, lãnh lương như các công nhân viên khác của xí nghiệp. Marx ví điều ấy như trong một giàn nhạc hóa tấu, nhạc trưởng nên chỉ là một nhạc sĩ như những nhạc sĩ khác mà không cần phải sở hữu tất cả các nhạc khí … (Tư bản luận, Quyển 3). Một thí dụ khác là chính sách thuế khóa, thu hồi lại một phần « trị giá gia tăng » để tái phân phối cho người làm công qua những trợ cấp và chi tiêu có lợi ích chung. Nhà tư bản rất cần « hợp tác » trong giải pháp này vì hai lý do chính yếu. Đầu tiên là họ cần xã hội ổn định, không có quá nhiều tranh chấp, để yên chí kinh doanh. Thứ đến, nhà tư bản cũng phải coi người làm công như những người tiêu thụ hàng hóa hay dịch vụ, nên cần chia lại cho những công nhân viên ấy một số lợi tức, cùng với những bảo hiểm an sinh xã hội, hưu trí v.v…, cho họ có tiền và có cảm giác an toàn để mạnh dạn tiêu thụ.
Cần nói là Marx quanh niệm Tư bản Chủ nghĩa như một tiến bộ lớn của nhân loại, một sự khai phóng đối với các giai đoạn lịch sử trước: « Mô hình sản xuất tư bản đã đưa đến sự kỹ nghệ hóa một cách rộng rãi, tăng thêm lợi nhuận cho công việc làm. Mặt khác Tư bản Chủ nghĩa khai thác những tài nguyên thiên nhiên và nhân lực một cách toàn diện, giựa trên sự phát triển của khoa học, đem lại được nhiều tiện ích chung về vật chất cũng như tinh thần (…). Đây chính là động tác to lớn của tư bản, nâng xã hội lên một trình độ văn minh vượt trên tất cả các giai đoạn trước đó, tức những giai đoạn chỉ đóng khung trong phát triển cục bộ, hạn chế, và chỉ biết sùng bái thiên nhiên ». (Marx Engels – Werke).
Tư bản Chủ nghĩa đem lại « tự do tư tưởng, tự do tín ngưỡng, tuyên dương cao trào tự do cạnh tranh trong lãnh vực hiểu biết … », trong khi giai cấp tư sản có công khích động tiềm năng của nhân loại, phá vỡ sự cô lập của các quốc gia … (Tuyên Ngôn Đảng Cộng sản).
Vì thế, chỉ đến khi nào Tư bản Chủ nghĩa, vì những mâu thuẫn nội tại, trở thành một chướng ngại cho sự tiến bộ của các xã hội loài người, thì lúc ấy mới có những điều kiện cho sự suy thoái của nó. Marx đã tiên liệu tiến trình toàn cầu hóa của Tư bản Chủ nghĩa, cùng với những chu kỳ khủng hoảng, càng lúc càng gần nhau và càng sâu đậm (xem phần sau). Tuy nhiên, nếu nhìn toàn bộ tư tưởng của ông từ luận án tiến sĩ viết năm 1841 lúc 23 tuổi, với tựa đề Khác biệt giữa triết học thiên nhiên của Démocrite và Epicure (3), thì không thể gán cho Marx niềm tin vào một tương lai tất yếu, trong đó Tư bản Chủ nghĩa sẽ dãy chết trước một Xã hội Chủ nghĩa “bách chiến bách thắng”!
Theo Marx, tia sáng của cái « trí tuệ biết dự phóng » nơi con người chiếu rọi vào thời gian trước mặt, để cho thấy, không phải là một tương lai duy nhất, mà nhiều tương lai khả hữu. Con người có khả năng chọn lựa giữa những tương lai khả hữu ấy. Xã hội Chủ nghĩa chỉ là một tương lai khả hữu. Tư bản Chủ nghĩa, sau khi đã cho hết những ưu điểm của nó, có thể đưa đến Xã hội Chủ nghĩa hay một cái gì khác (4). Thậm chị vào năm 1871, Marx đã hình dung một khả năng kéo dài Tư bản Chủ nghĩa nếu biết thích nghi với những đòi hỏi của người làm công, đặc biệt là nâng cao lợi tức của họ, như đã nói ở trên (“mâu thuẫn hợp tác” giữa lợi tức tư bản và lợi tức lao động).
Giải thích thực tiễn nhất cho các chu kỳ khủng hoảng của Tư bản Chủ nghĩa
Tuy nhiên, điều mà cũng như Marx, chúng ta đều nhận thấy, là Tư bản Chủ nghĩa luôn phải vật lộn với những chu kỳ khủng hoảng. Vậy, động cơ nguyên thủy nào cắt nghĩa được những khủng hoảng liên tục ấy? Chính ở điểm này mà cho đến ngày nay, nhiều người vẫn cho rằng không có giải thích nào rõ ràng và đın giản hın thuyết “khuynh hướng suy giảm tỷ lệ lợi nhuận” của Marx. Theo tôi nghĩ nếu phải giữ lại một cái gì đó trong tư tưởng của ông, thì lý thuyết này chắc chắn phải được chọn lựa. Xin tóm lược nó như sau:
Như đã nói, khi một xí nghiệp làm ra một món hàng, thì giá trị của món hàng ấy được coi như tương ứng với số lượng thời gian làm việc để tạo ra nó. Khi xí nghiệp ày đầu tư vào việc gia tăng năng suất để làm ra 110 thay vì 100 món hàng với cùng số lượng thời gian làm việc, thì giá trị của mỗi món hàng liền bị suy giảm và giá bán của nó cũng giảm. Số tiền thu được cho mỗi món hàng bớt đi, khiến xí nghiệp có thể không đủ thu hoạch để bù lại cho việc đầu tư vào sự gia tăng năng xuất. Giải pháp cho tình trạng này là tiếp tục đầu tư để lại tăng thêm năng suất, để cho, với số hàng sản xuất nhiều hơn nữa, vẫn trong cùng thời gian làm việc, nhà đầu tư tiếp tục tăng thu nhập để bù lại vốn đầu tư, cộng thêm lợi nhuận. Sự gia tăng năng suất mới này khiến giá trị của mỗi món hàng lại giảm thêm đi, giá bán của sụt thêm xuống, cùng với số tiền thu được. Kết quả là lại càng phải tăng đầu tư để tiếp tục tăng năng suất, tìm lợi nhuận trên nhiều hàng hóa hơn nữa, tạo nên một « vòng luẩn quẩn ». Vì thế, kinh tế thị trường là một đầu tàu không ngừng lao tới, mà không có khả năng ngừng lại. Chúng ta đều biết, một xí nghiệp sản xuất ít đi, là một xí nghiệp đang hấp hối.
Việc chạy đua sản xuất như thế khiến xí nghiệp tư bản chủ nghĩa luôn phải mở rộng thị trường, để tiêu thụ tất cả hàng hóa mà nó sản xuất ra. “Thị trường” công việc làm cũng được mở rộng một cách tương tự. Mở rộng rốt ráo đưa đến toàn cầu hóa. Sự thúc ép bắt buộc phải mở rộng tầm ảnh hưởng của mỗi xí nghiệp còn mang ý nghĩa một cuộc chiến sống còn với tất cả những gì có thể cản trở sự bành trướng ấy. Mỗi công ty phải « chiến đấu » không những với các công ty cạnh tranh, mà cả với những cấu trúc xã hội, nghiệp đoàn, chính quyền, luật pháp, và thiên nhiên, vì những yếu tố này đều có thể cản trở sự gia tăng sản xuất của nó. Đây là tình trạng mà Marx gọi « chiến tranh của tất cả chống lại tất cả ».
Bất công!
Nhu cầu gia tăng năng suất cũng khiến cho các xí nghiệp không ngừng đầu tư vào những phương tiện kỹ thuật. Máy ó cũng làm thêm được nhiều công việc thì xí nghiệp càng bớt cần đến việc làm của nhân công. Hậu quả rất dễ nhận ra là nạn thất nghiệp. Mặt khác, tăng trưởng phú hữu càng đến từ máy móc, kỹ thuật (5), thì nó càng dành riêng cho những người có đủ vốn, đủ khả năng để đầu tư vào máy móc, kỹ thuật (6). Người làm công chỉ có phú hữu đặt trên căn bản sức làm việc của mình, nên chỉ tham gia vào sự gia tăng giàu có này một cách rất khiêm nhượng, qua tiết kiệm. Đó là một trong những lý do khiến cho phú hữu càng ngày càng tập trung vào tay những người có nhiều vốn. Nghiên cứu của Moody’s Analytic gần đây cho biết 37% tiêu dùng của Hoa Kỳ tập trung trong tay 5% dân số!
Nếu chênh lệch này không được điều chỉnh bởi thuế khóa, thì những căng thẳng trong xã hội sẽ không thể tránh được. Nhà tỷ phú Warren Buffet cho biết ông trả 17,4% lợi tức cho thuế vụ, trong khi các người làm công cho ông phải đóng gấp đôi, từ 33 đến 41% thu nhập của họ. Mặt khác, cũng tại Hoa Kỳ, trong khi người ta cắt giảm các lợi ích xã hội và hưu trí của người dân, thì một phần quan trọng cổ phần của giới đầu tư lại được hưởng một tỷ lệ thuế rất thấp, chỉ 15%! (www.nytimes.com)
Một bất công khác, có thể cắt nghĩa tại sao những người giàu vẫn giàu thêm lên, dù trong giai đoạn khủng hoảng như hiện nay (7), là việc đem tiền ảo bù đắp cho tiền thật. Các cổ phần, trái phiếu, địa ốc, đều đã tăng vọt trong suốt nhiều năm qua, vượt xa sự tăng trưởng thực sự của các công ty và của trị giá địa ốc. Một phần quan trọng của những đầu tư này lại đến từ tiền đi vay. Vay của ai? Của những ng˝ời đi vay chỗ khác, những chỗ ấy lại vay theo dây chuyền từ một chuỗi những cơ chế sẵn mang đầy nợ … Đến khi bong bóng tan vỡ, thì những món tiền ảo vô cùng to lớn bị mất đi liền được các chính phủ bù vào bằng tiền thật lấy của người dân, bằng cách tăng thuế, dồn nén lương bổng, cắt giảm lợi ích xã hội, sức khỏe, hưu trí v.v… Tình trạng này kiểm chứng quy luật giá trị của Marx, cho rằng chỉ có công việc làm mới tạo ra phú hữu. Kỳ dư chỉ là lợi nhuận ảo. Nhưng khổ nỗi, lại phải coi nư thật …
Khuynh hướng gia tăng bất công xã hội này có vẻ không gì ngăn cản được, kể cả bởi những chính quyền thiên tả, như chính quyền Obama. Nó cũng được kiểm chứng ở nhiều nơi khác, mặc dù kinh tế có tăng trưởng với chỉ số phát triển « phi mã » … Theo Marx, khuynh hướng ấy đưa đến thoái trào của Tư bản Chủ nghĩa a, trong đối kháng, đấu tranh, và trong sự suy kiệt mãi lực của người tiêu thụ, làm kinh tế sụp đổ.
Tàn phá thiên nhiên
Một hiểm nguy khác cho cái đầu tàu chỉ biết lao tới này là khánh tận tài nguyên thiên nhiên và tạo ô nhiễm, tàn phá môi sinh. Kinh tế thị trường cứ lao tới, đến một lúc nào đó sẽ không còn nguyên liệu nữa, và môi trường sống của con người sẽ ô nhiễm đến mức không còn chịu đựng nổi …
Ngay cả đến lúc ấy, con tàu kinh tế thị trường cũng sẽ không ngừng lại được, vì bản chất của nó là luôn phóng mình đến trước mặt. Cái thắng duy nhất có thể quan niệm được là quyền lực chính trị đến từ các chính quyền và từ xã hội công dân. Tuy nhiên, ai cản trở nổi kinh tế thị trường khi nó chính là động cı đem cım áo đến cho đa số con người trên thế giới? Một số ít người giàu sẽ mơ tưởng đến việc bảo vệ môi sinh. Nhưng trước mặt họ sẽ là vô số người thiếu thốn, sẵn sàng làm bất cứ gì để ra khỏi vũng lầy nghèo khó, dù cho có phải sát hại Mẹ Thiên Nhiên của mình!
Cách mạng, độc đảng, nhà nước, và chuyên chế vô sản …
Giả sử Tư bản Chủ nghĩa phải bị thay thế, thì Cách mạng có cần thiết hay không? Vào tháng 5 năm 1880, Jules Guesde đến gặp Marx. Ông sửa soạn chương trình cho Đảng Thợ Thuyền Pháp tranh cử quốc hội. Marx viết cho ông phần dẫn nhập của chương trình này, trong đó con đường tranh cử được đề cao một cách rõ ràng. Cần nhấn mạnh rằng đây là tài liệu chính trị cuối cùng của cuộc đời Marx … (Archives – marxists.org). Trước đó, trong kỳ họp của Quốc Tế Thợ Thuyền vào tháng 9 năm 1872, Marx đã tái xác nhận một lập trường từng được ông đề ra. Đó là, việc tranh thủ quyền hành phải được thực hiện qua thùng phiếu, ở tất cả mọi nơi có thể được. Một năm trước đó, trả lời một cuộc phỏng vấn của báo New York World, Marx nói: « Nổi dậy là một sự điên rồ nếu đấu tranh ôn hòa đem lại mọi thành quả một cách nhanh chóng và an toàn ».
Trong nhiều phát biểu khác, khi nói về cách mạng, Marx cho rằng chọn lựa bất đắc dĩ ấy chỉ thành công khi nó được phát động trên toàn cầu, cũng như Cộng sản chủ nghĩa: « Hoạt động của giai cấp vô sản cũng như Cộng sản chủ nghĩa chỉ có thể hiện hữu trong bối cảnh lịch sử toàn cầu » (Ideologie Allemande). Một điều mà nhiều lãnh tụ nhận là Marxist sau đó đã lờ đi …
Vậy còn vấn đề độc đảng? Đối với Marx, đảng là môi trường của ý thức chứ không phải là nıi tập trung quyền lãnh đạo. Nếu không thì đảng cũng sẽ rıi vào một trường hợp vong thân. Ông chống lại một cấu trúc tập trung lãnh đạo cách mạng, vì nó « chỉ bao gồm một thiểu số (…) tuyên dương thống nhất tư tưởng và hành động, nhưng trong thực chất chính là giáo điều chủ nghĩa và tùng phục mù quáng – Perinde ac cadaver – như một xác chết … » (Marx, Engels – Th˝ tín).
Vai trò của nhà nước thì sao? « Với sự hình thành của xã hội Xã hội Chủ nghĩa, Nhà nước sẽ tự nó tan rã và biến mất » (Marx – Chỉ trích các ch˝ıng trình Gotha và Erfurt).
Còn chuyên chế vô sản? Nó phải được thực hiện trong phạm vi dân chủ, qua đa số trong một quốc hội được bầu lên một cách hoàn toàn tự do, giữa một thể chế đa đảng, không làm tổn hại đến tự do cá nhân, tự do báo chí, cũng như nguyên tắc phân quyền (tài liệu vừa dẫn). Nó « không chiếm hữu guồng máy quốc gia để phục vụ cho chính nó » (Adresses du CG de l’AIT … 1871 – Oeuvres Choisies, t.2 Ed du Progrès, 1970).
Marx ngày nay …
Bài này không có mục đích khai quật mồ mả đã yên đẹp của Marx, để mất thì giờ tranh cãi, về những khúc xương, sợi tóc (được chẻ làm tư …). Cùng với bạn đọc, chúng ta chỉ nhanh chóng gạn lọc những điều có ích cho ngày hôm nay, cho những gì chúng ta đang muốn thực hiện. Có khi đó là những hồi tưởng đau thương, những kinh nghiệm mà mọi người cần ghi nhớ. Cũng có khi đó là những cách nhìn hiện tại, bén nhạy và thực dụng …
Marx ngày nay, trước tiên là hồi tưởng lại sự phản bội tư tưởng của ông bởi những người thừa kế. Engels với quan niệm một đảng « tiên phong », Kautsky bóp méo lý thuyết kinh tế, Lénine với việc phát động cách mạng tại một nước chậm tiến, và nhất là Staline, người biến chuyên chế vô sản thành chuyên chế trên người vô sản, bóp nghẹt chính người vô sản, sau khi đã tiêu diệt các giai cấp khác! Nhiều chục triệu người đã bỏ mạng vì những phản bội ấy … Bài học cần được rút tỉa là phải luôn ngờ vực những lý thuyết toàn diện, giải thích tất cả, với mục đích cứu độ, như một tôn giáo!
Người ta cũng không quên vai trò của các Đảng Xã hội và Lao động cũng như các nghiệp đoàn Âu Châu đến từ truyền thống Quốc Tế Thợ thuyền do Marx thành lập. Các tổ chức này đã góp phần quan trọng trong việc xây dụng một « mô hình Âu Châu » trong đó những ưu tư xã hội được coi trọng. Hình ảnh những người thợ đầu tiên trong lịch sử lên đường đi nghỉ hè chính là dưới chính quyền Xã hội Leon Blum. Con đường cải tổ, tiệm tiến, cũng có những nét duyên dáng của nó …
Tư tưởng Marx ngày nay cũng là một cách nhìn kinh tế bén nhạy. Một mặt qua « thuyết giá trị, trong đó vai trò của công việc làm được nêu rõ (8), đồng thời với bản chất hư ảo của những lợi nhuận thuần tuý tài chính, đầu cơ, cũng như tính chất bóc lột của việc lấy tiền thật bù cho tiền ảo. Mặt khác, qua thuyết “suy giảm tỷ lệ lợi nhuận”, cắt nghĩa một cách nhất quán, từ hiện tượng toàn cầu hóa, cơ giới hóa, cho đến sự gia tăng chÍnh lệch giàu nghèo, hay tiến trình tàn phá môi sinh, khánh tận tài nguyên thiên nhiên, mà không thể cưỡng lại được. Điều quan trọng là tính chất “không thể cưỡng lại được”, mặc dù ý thức và thiện chí! Mọi con người đều phải nhận biết điều này – dù là để tìm cách phản biện lại.
Hành trang hiểu biết về Marx còn khơi dậy trong chúng ta một ý thức quan trọng khác. Ý thức những dối trá của các chính quyền mang danh Cộng sản đến từ truyền thống Staline-Mao. Các chính quyền này đã lừa đảo mang vài khẩu hiệu thay cho một học thuyết, để phát động những cuộc đấu tranh, áp đặt một nền chuyên chế, hoàn toàn chỉ cho một mục tiêu duy nhất, là chiếm thủ quyền hành!
Và sau hết, khi nghe chính Marx tuyên bố « tôi không phải là người Marxist », chúng ta dễ dàng nhận ra một sự gợi ý quý giá, để, cũng như ông, tự khẳng định mình không « thuộc về » tư tưởng Marx, không phải “trung thành” hay có bổn phận gì với nó. Ngược lại, tư tưởng của Marx, những khám phá và phương pháp suy luận của ông, phải phục vụ cho chúng ta, cho con đường trên đó chúng ta đang dấn thân…
N.H.V.
14 tháng 9 năm 2011
_________
Chú thích
(1) Marx từng viết một tác phẩm về phép tính tiểu phân, không xuất bản (Lafargue – Souvenirs sur Marx)
(2) Thay thế một người lao động già đi hay đau yếu không tốn kém gì cho xí nghiệp, nên đối với nhà đầu tư, sức lao động luôn vẫn luôn tự sản xuất ra nó.
(3) Marx đã đứng về phía Epicure, chống lại quan điểm « định mệnh » của Démocrite.
(4) Một khó khăn đối với ng˝ời đọc Marx, là ông phát biểu như một triết gia, đồng thời như một lãnh tụ chính trị. Ngôn ngữ của triết gia có khi không phù hợp và bị lấn át bởi ngôn ngữ của nhà chính trị …
(5) Xin ghi nhận là “khuynh hướng suy giảm tỷ lệ lợi nhuận” chỉ là một « khuynh hướng » và chỉ áp dụng cho « tỷ lệ » lợi nhuận, nên lợi nhuận của tất cả các nhà tư bản không nhất tiết phải suy giảm
(6) Marx đặt vấn đề phú hữu tạo ra bởi những phát minh, sáng chế, nhưng không khai triển. Người dân nước nghèo nên quan tâm nhiều đến phương cách tạo phú hữu này …
(7) Theo Financial Times, lợi tức trung bình của các chủ ngân hàng Âu Châu và Hoa Kỳ đã tăng 36% trong năm 2010. Jamie Dimon (JPMorgan Chase) và Lloyd Blankfein (Goldman Sachs) có thu nhập 2010 gấp 15 lần hın năm 2009. Giám đốc Barclays, HSBC, Lloyds Banking Group và Royal Bank of Scotland đều lãnh trên 26 triệu USD trong năm 2010 (atlantico.fr). Wall Street Journal cho biết trong 10 năm vừa qua 15 người đã thu được 14 tỷ USD, bằng GNP của Ivory Coast … Trong khi đó lợi tức trung bình của các gia đình Mỹ năm 2010 giảm 7% so với 1999, và số người nghèo tăng 2,6 triệu, lên đến 46,2 triệu người, mức độ cao nhất từ 52 năm nay (Census Bureau)
(8) Mặc dù Marx đã thừa nhận giới hạn của điều này, với sự tiến triển của khoa học kỹ thuật và “tổ chức sản xuất”, khi ấy : « thời gian làm việc không còn là thước đo của sự phú hữu nữa … » (Fondements de la critique de l’économie politique, t. II).

TCPT50 – Marx – Những gì còn lại…
Download TCPT50 – Bản in http://www.mediafire.com/?3xy1mjpsu2d82ou
(15MB)
Download TCPT50 – Bản thường http://www.mediafire.com/?2l7t49lsl4lg654
(6.5MB)
Download TCPT50 – Bản mini (4MB) http://www.mediafire.com/?a5xg1q5r1tn6g2x

___

http://tiengnoidanchu.wordpress.com/2011/11/22/marx-nh%E1%BB%AFng-gi-con-l%E1%BA%A1i/

Để lại phản hồi »

Chưa có phản hồi.

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Tạo một website miễn phí hoặc 1 blog với WordPress.com.

%d bloggers like this: