Hoàngquang’s Blog

16/11/2011

Milovan Djilas – Giai cấp mới (Kì 1-Kì 6)

Filed under: TƯ LIỆU,TƯ TƯỞNG — hoangquang @ 2:39 chiều
Tags:

Phạm Nguyên Trường dịch

Milovan Djilas – Giai cấp mới (Kì 1)
Phạm Nguyên Trường dịch

Lời người dịch: Milovan Djilas, nhà hoạt động chính trị Nam Tư, sinh ngày 12 tháng 6 năm 1911 tại làng Podbishtre, gần thành phố Kolashin, Montenegro. Ông học luật và văn chương tại trường tổng hợp Belgrad, vào Đảng cộng sản vào năm 1932, lúc vừa tròn 21 tuổi. Ngay trong năm đó, ông đã bị chính quyền bắt tù vì tổ chức biểu tình. Ông tiếp tục hoạt động sau khi được tha vào năm 1935 và gặp Tito vào năm 1937, rồi trở thành một trong những người bạn chiến đấu thân cận nhất của Tito trong thời chiến tranh thế giới thứ hai. Sau chiến tranh Milovan Djilas được bầu làm Phó tổng thống Nam Tư. Năm 1948, khi Nam Tư xung đột với Moskva về ý thức hệ, ông được giao phụ trách công tác tư tưởng với nhiệm vụ chứng minh cách hiểu chủ nghĩa cộng sản của Tito là đúng.

Nhưng cuộc đời thật trớ trêu, chính việc phân tích một cách khoa học chế độ cộng sản ở Nam Tư đã cho thấy những mặt trái của nó và suy rộng ra là mặt trái của chế độ chuyên chính vô sản nói chung. Vì những hoạt động lí luận “ngược dòng” của mình, năm 1954 Milovan Djilas bị khai trừ khỏi Đảng, bị tước hết các chức vụ, và năm 1955 thì bị xử tù án treo. Tháng 12 năm 1956, Milovan Djilas bị xử ba năm tù giam vì đã ủng hộ cuộc khởi nghĩa ở Hungari. Bản thảo tác phẩm Giai cấp mới được Milovan Djilas hoàn thành trong tù, được bí mật gửi ra nước ngoài và xuất bản ở New York năm 1957. Vì vụ này ông bị kết án bảy năm tù giam. Milovan Djilas được tha trước thời hạn vào năm 1961. Ngay sau đó ông cho xuất bản từng phần tác phẩm Nói chuyện với Stalin, và vì vậy năm 1962 lại phải ra toà một lần nữa. Năm 1966, Milovan Djilas được ân xá và được chính phủ cấp lương hưu vì có công trong cuộc kháng chiến chống phát xít, nhưng vẫn bị cấm xuất bản trên lãnh thổ Nam Tư, cấm phát biểu với giới báo chí trong thời hạn 5 năm. Song điều đó không ngăn được ông tiếp tục sáng tác. Trong thời gian từ 1970 đến 1986 ông bị cấm xuất ngoại. Năm 1982 ông lên tiếng ủng hộ Công đoàn Đoàn kết Ba Lan, và trong những năm 1990 ông liên tiếp lên án chính sách của chính quyền Milosevich. Trong số các tác phẩm của Milovan Djilas xuất bản từ năm 1966 có thể kể thêm: Xã hội không hoàn hảo, xuất bản năm 1969;Hồi kí của một nhà cách mạng, xuất bản năm 1973 và Tito: chuyện nội bộ, xuất bản năm 1980.

Milovan Djilas mất ngày 20 tháng 4 năm 1995, thọ 84 tuổi.

Giai cấp mới được dịch sang tiếng Nga và được xuất bản trước hết theo lối Samizdat từ đầu những năm 60 của thế kỉ trước, sau đó in trong tập sách dưới nhan đề: Bộ mặt của chế độ toàn trị cùng với hai tác phẩm: Nói chuyện với Stalin và Xã hội không hoàn hảo.

Lời nói đầu

Tất cả những điều trình bày ở đây có thể được viết theo một cách khác. Có thể được viết như câu chuyện về một trong những cuộc cách mạng của thời hiện đại, hay như sự trình bày một quan điểm, và cuối cùng như sự phản tỉnh của một nhà cách mạng.

Vì vậy bạn đọc chớ lấy làm ngạc nhiên khi thấy tất cả những điều đó, mỗi thứ một ít, trong những trang dưới đây. Đây có thể là sự tập hợp không đầy đủ những yếu tố vừa nêu – các câu chuyện, các nhận định và hồi kí cá nhân, nhưng đấy chính là ý định của tôi: sử dụng nhiều cách tiếp cận để vẽ lên mặt thật của chủ nghĩa cộng sản trong một tác phẩm sao cho vừa ngắn gọn vừa đầy đủ nhất. Khía cạnh hàn lâm có thể bị thiệt hại nhưng bức tranh lại đầy đủ hơn, sống động hơn.

Ngoài ra, hoàn cảnh của tôi rất bấp bênh, tôi chỉ có thể làm chủ một phần bằng cách không khuất phục nó mà thôi, cho nên tôi buộc phải vội vã viết ra những điều mình đã thấy và đã suy tư, nếu có điều kiện làm việc một cách cẩn trọng hơn thì có thể bổ cứu, có thể sửa đổi cả một vài kết luận nữa.

Nhận thức rõ tính vĩ đại của những xung đột trong thế giới ngày nay, một thế giới đang quằn quại đổi thay và đang hợp nhất, tôi không nghĩ rằng mình có thể phán những lời thông thái hay đưa ra những bản kết án cuối cùng. Thiển nghĩ không người nào, không nước nào có thể làm được việc đó. Tôi cũng không kì vọng hiểu cái thế giới bên ngoài thế giới cộng sản mà tôi có may mắn hay là không may được sống trong đó. Và khi tôi nói đến những lĩnh vực nằm ngoài biên giới của mình thì chỉ là để mô tả cái bên trong một cách rõ ràng hơn mà thôi.

Tất cả những điều trình bày ở đây đã được nói đến ở đâu đó, bằng những từ ngữ khác từ trước rồi. Cuốn sách này có thể chỉ là một cách làm mới lại màu sắc, không gian và có thể bất ngờ làm nảy sinh một tư tưởng độc đáo nào đó. Công việc của tôi chỉ là: nói theo cách của mình những điều người khác đã biết, đã cảm hoặc có thể đã nói theo cách của họ từ rất lâu rồi.

Để đọc những dòng này, độc giả không cần một kiến thức triết học hay xã hội học đặc biệt nào, ngay cả ở những chỗ tôi buộc phải sử dụng biện pháp khái quát hoá. Mục đích của tôi là dùng khái quát hoá để mô tả thế giới cộng sản chứ không phải là để triết lí về nó.

Tôi cho rằng tư biện là phương pháp tốt nhất và cũng phù hợp nhất cho việc trình bày các tư tưởng của mình. Mặc dù những trang ghi chép dưới đây không chứa nhiều các dẫn chứng, số liệu và sự kiện, không có nghĩa là các kết luận được dẫn ra không thể chứng minh được bằng cách ấy. Tôi muốn vừa thảo luận vừa trình bày các quan sát của mình để đi đến kết luận. Đấy cũng là do ước mong làm cho tác phẩm ngắn hơn và đơn giản hơn, điều đó cũng phù hợp với câu chuyện và cách tư duy của cá nhân tôi.

Tôi, một trí thức đã đi trọn con đường mà một đảng viên cộng sản có thể đi. Từ những chức vụ thấp nhất, từ các tổ chức cơ sở cho đến quốc gia và quốc tế; từ việc thành lập một đảng cộng sản chân chính, chuẩn bị cách mạng, đến việc tham gia xây dựng cái gọi là chế độ xã hội chủ nghĩa. Không ai buộc tôi phải tham gia hay từ bỏ chủ nghĩa cộng sản cả. Tôi đã tự quyết, theo niềm tin của mình, một cách tự do. Tôi không coi mình là người thất vọng, tuy cũng có lúc như thế. Không, tôi đã tham gia một cách có ý thức, đã trình bày bức tranh và đi đến những kết luận trong cuốn sách này. Càng rời xa chủ nghĩa cộng sản, tôi càng tiến gần đến lí tưởng của chủ nghĩa xã hội dân chủ. Cuốn sách nhất định thể hiện sự phát triển tư tưởng của chính tôi, nhưng đây tất nhiên không phải là mục đích của tác giả.

Tôi cho rằng phê bình chủ nghĩa cộng sản như là một tư tưởng là một việc làm không cần thiết. Tư tưởng bình đẳng và bác ái tồn tại cũng lâu như chính loài người, được chủ nghĩa cộng sản ủng hộ trên lời nói, vốn mang trong mình nó sức hấp dẫn vĩnh hằng đối với những chiến sĩ tranh đấu cho tự do và tiến bộ. Sức hấp dẫn mang tính nhân bản của những lí tưởng đó đã làm cho việc phê phán chúng trở thành không chỉ phản động mà còn trống rỗng và vô nghĩa nữa.

Tôi cũng không đi sâu vào chi tiết trong việc phê phán các lí thuyết cộng sản mặc dù tôi nghĩ rằng đấy là việc có ích và cần làm lúc này. Trong tác phẩm tôi chỉ tập trung mô tả đặc trưng của chủ nghĩa cộng sản hiện đại, nếu có nói đến lí thuyết thì cũng chỉ ở những chỗ chẳng đặng đừng.

Dễ hiểu là trong một tác phẩm ngắn như thế này thật khó mà trình bày hết những điều đã quan sát và những kết luận đã rút ra được. Việc phải dẫn ra nhiều khái quát cũng là đương nhiên.

Như vậy là, từ phía mình tôi đã trình bày những điều cần thiết nhất trước khi bắt đầu câu chuyện, dù điều đó có thể khó hiểu đối với độc giả sống trong một thế giới khác, thế giới phi cộng sản, nhưng lại là dễ hiểu đối với người sống trong lòng chế độ cộng sản. Cả những điều được mô tả trong cuốn sách cùng ý tưởng của nó đều không phải là công của tôi. Tất cả đều là sản phẩm của thế giới mà tôi đang sống và tôi đang phê phán. Tôi đã thấy và đã trình bày tất cả mà không ngượng ngùng khi thú nhận rằng mình đã là sản phẩm của nó, có lúc đã là người tham gia xây dựng nó và bây giờ là người phê phán nó.

Sự không nhất quán chỉ là bề ngoài. Trước đây, cũng như hiện nay, tôi luôn đấu tranh để làm sao cuộc sống được hoàn thiện thêm mỗi ngày. Dù cuộc đấu tranh của tôi không cho kết quả như ý: tôi vẫn tiếp tục đấu tranh và trung thành với chính mình.

Nguồn gốc

1.

Chủ nghĩa cộng sản, như ta đã biết, có nguồn gốc sâu xa từ trong quá khứ, mặc dù “cuộc đời thực” của nó chỉ bắt đầu cùng với sự phát triển nền công nghiệp hiện đại ở Tây Âu.

Cơ sở của lí thuyết cộng sản – vật chất có trước và tất cả đều vận động – được kế thừa từ những nhà tư tưởng giai đoạn trước đó không lâu. Nhưng chủ nghĩa cộng sản càng kéo dài, càng mạnh lên thì vai trò của những nguyên lí nói trên càng nhỏ đi. Điều đó cũng là dễ hiểu: sau khi nắm được “tay lái”, nó chỉ còn đo thế giới bên ngoài bằng chính cái thước của mình và không còn muốn vận động, không còn muốn thay đổi nữa.

Biện chứng pháp, chủ nghĩa duy vật và sự biến đổi của thế giới không phụ thuộc vào ý chí của con người, đấy là những hòn đá tảng của chủ nghĩa cộng sản, của chủ nghĩa Mác cổ điển.

Các lí thuyết gia cộng sản, trong đó có Marx và Engels, không phát minh ra bất kì nguyên lí nào của học thuyết. Tất cả các nguyên lí đều được “lấy từ bên ngoài” và được liên kết thành một hệ thống đặt cơ sở cho một thế giới quan mới.

Luận điểm vật chất có trước được kế thừa từ các nhà duy vật Pháp thế kỉ XVIII. Các nhà tư tưởng trước đó cũng đã nói đến nó, thí dụ Democrit của Hi Lạp cổ đại cũng từng trình bày học thuyết này, dĩ nhiên là dưới một hình thức khác. Luận điểm về sự vận động như là kết quả của cuộc đấu tranh giữa các mặt đối lập, hay như ta vẫn gọi là biện chứng pháp, được kế thừa từ Hegel. Nhưng ngay cả điều này cũng đã được Heraclit nói đến ngay từ thời cổ đại.

Không đi vào chi tiết những sự khác biệt nhất định phải có giữa chủ nghĩa duy vật lịch sử và biện chứng pháp mac-xit, cũng cần phải chỉ rõ rằng khi đưa ra luận điểm về sự vận động, Hegel đã coi các qui luật tối thượng, gọi là “tư tưởng tuyệt đối”, là không thay đổi, là bất biến. Đấy là luận điểm về những qui luật bất biến và không phụ thuộc vào ý chí của con người, nói cho cùng thì đấy là những qui luật điều khiển tự nhiên, xã hội và con người.

Mặc dù Marx và Engels luôn luôn bảo vệ luận điểm về sự vận động, nhưng đồng thời các ông cũng nhấn mạnh rằng các qui luật của thế giới khách quan, thế giới vật chất là những qui luật bất biến và không phụ thuộc vào ý chí của con ngưới. Theo Engels, Marx tin tưởng rằng ông đã phát hiện ra những qui luật chủ yếu liên quan đến đời sống và vận động của xã hội, tương tự như Darwin đã phát minh ra các qui luật của đời sống các loài sinh vật vậy.

Không nghi ngờ gì rằng Marx đã tìm ra một số qui luật vận động của xã hội, đặc biệt là những biểu hiện của chúng trong giai đoạn đầu của chủ nghĩa tư bản.

Nhưng sự kiện đó, dù đúng đến mức nào, cũng không biện minh được cho niềm tin của những người cộng sản rằng Marx đã tìm ra được tất cả các qui luật vận động của xã hội. Lại càng khó biện minh hơn sự ngoan cố của họ trong việc thực hiện công việc cải tạo xã hội theo những qui luật đó, tương tự như những người dựa vào các qui luật do Lamark và Darwin phát hiện để tạo ra những giống loài mới vậy. Vì trong xã hội loài người luôn luôn có những nhóm và những con người riêng lẻ đầy năng động và sáng tạo hoạt động một cách có ý thức, đấy không phải là thế giới sinh vật vô tri.

Việc chủ nghĩa cộng sản hiện đại hợm hĩnh cho rằng dù chưa phải là tuyệt đối nhưng chủ nghĩa duy vật và biện chứng pháp đã là những phát minh khoa học vĩ đại, hàm chứa mầm mống chế độ độc tài một khi họ nắm quyền. Các tác phẩm của Marx, dù ông không thể tưởng tượng là điều đó lại xảy ra, đã có sẵn cơ sở cho thói kiêu ngạo, hơm hĩnh nêu trên.

Dĩ nhiên là chủ nghĩa cộng sản hiện đại không phủ nhận trật tự pháp chế khách quan, đặt nền tảng trên những qui luật ổn định. Nhưng sau khi giành được quyền lực, trên thực tế cộng sản đã hành xử với xã hội và con người hoàn toàn khác. Quyền của nó đến mức nào thì nó sẽ hành xử như thế ấy.

Như đã nói bên trên, tin rằng họ và chỉ có họ mới nắm được các qui luật vận động của xã hội, những người cộng sản đã rút ra một kết luận vừa đơn giản vừa phản khoa học là họ có toàn quyền can thiệp vào các tiến trình xã hội, có toàn quyền điều khiển các tiến trình đó. Đấy là khuyết tật đầu tiên của hệ thống cộng sản.

Hegel coi chế độ quân chủ chuyên chế Phổ là hiện thân của “tư tưởng tuyệt đối” của ông. Người cộng sản có cách hành xử hơi khác. Họ tự coi mình là đại biểu cho những khát vọng khách quan của xã hội. Đấy không chỉ là sự khác nhau giữa họ với Hegel mà còn là sự khác nhau giữa họ với chế độ quân chủ chuyên chế, chế độ quân chủ chuyên chế chưa bao giờ tự hợm hĩnh về mình đến như thế. Vì vậy mà chế độ ấy cũng chưa tuyệt đối chuyên chế như chế độ cộng sản sau này.

2.

Theo thiển ý, chính Hegel cũng phải lấy là kinh ngạc với những phát minh của mình: nếu tất cả đều biến đổi thì tư tưởng của chính ông và xã hội mà ông muốn bảo vệ sẽ còn lại gì? Ông không thể, và như một giáo sư phục vụ hoàng gia, không có quyền đưa ra kết luận trực tiếp liên quan đến số phận của xã hội.

Marx lại là một trường hợp khác. Ngay từ khi còn trẻ ông đã có cơ hội theo dõi cuộc cách mạng năm 1848. Ông có thể và phải đi đến cùng với những kết luận rút ra được từ tư tưởng của Hegel đem áp dụng cho các nhu cầu của xã hội. Chả phải là cuộc đấu tranh đẫm máu giữa các mặt đối lập, một cuộc đấu tranh vì những điều mới lạ, cao cả hơn đã vừa làm rung chuyển cả châu Âu đó ư? Đúng thế, dường như không chỉ Hegel – cái ông Hegel được Marx “dựng dậy” đó, mà chính tất cả các triết lí cũ đã chẳng còn ý nghĩa và chẳng cần cho ai nữa vì khoa học đã phát minh ra những qui luật, trong đó có qui luật xã hội, với một tốc độ nhanh chưa từng có.

Chủ nghĩa thực chứng của Comte đã được coi là phương pháp khoa học; trường phái chính trị kinh tế học Anh (Smith, Ricardo…) đang nổi lên như cồn; các môn khoa học tự nhiên đầy rẫy những phát minh mang tính thời đại; nền công nghiệp, dựa vào hướng dẫn kĩ thuật của các nhà nghiên cứu, đang lao lên phía trước với tốc độ chóng mặt; sự đau khổ và những cuộc chiến đấu đầu tiên của giai cấp vô sản đã cho thấy một cách rõ ràng “tật bệnh” của chế độ tư bản non trẻ. Vương quốc của khoa học, ngày đăng quan của nó tưởng như đã cận kề, tưởng như chỉ cần dẹp bỏ cái rào chắn cuối cùng, dẹp bỏ hình thức sở hữu tư bản chủ nghĩa là nhân loại sẽ bước vào thiên đường của hạnh phúc và tự do.

Tất cả đếu đã “chín muồi” cho một phát kiến vĩ đại. Marx có đủ, cả ý tưởng sâu sắc và lòng dũng cảm nữa. Lực lượng xã hội mà ông có thể dựa vào cũng đã sẵn sàng, thậm chí đang ở kề bên.

Marx vừa là một nhà bác học vừa là một nhà tư tưởng. Như một nhà khoa học, ông có nhiều phát minh, đặc biệt là tгоng lĩnh vực xã hội học. Nhưng với tư cách một nhà tư tưởng ông còn giành được những thành tích to lớn hơn rất nhiều: Marx đã trang bị tư tưởng cho những phong trào với rất nhiều thành viên và sức mạnh, đầu tiên là ở châu Âu và nay đã lan sang tận châu Á nữa.

Chính Marx-nhà-bác-học hiểu rõ sự phù phiếm của những dự định kiểu ấy, ông không bao giờ nghĩ đến việc tạo ra một hệ thống triết học và tư tưởng bao trùm lên tất cả như thế. “C’est qu’il y a de certain, c’est que moi, je ne suis pas marxiste” (“Chắc chắn rằng tôi không phải là người mac-xít rồi” – ghi chú của người dịch) – chính ông đã nói như thế. Tính khoa học của các luận điểm của Marx là sự ưu việt của ông so với những người xã hội chủ nghĩa trước đây, trong đó có Owen, Fourier, v.v… Việc ông không có ý định coi hệ thống triết học của mình là tuyệt đối đúng cho đến muôn đời sau, không coi nó là một hệ tư tưởng vạn năng lại là một ưu việt so với những đồ đệ của ông sau này, những người, trong trường hợp tốt nhất cũng chỉ có thể được coi là các nhà tư tưởng chứ thật khó mà gọi được là các nhà khoa học (Plekhanov, Labriola, Lenin, Kautsky, Stalin, v.v…). Hệ thống hoá những điều Marx viết, đưa chủ nghĩa Marx thành một cấu trúc chặt chẽ chính là niềm đam mê của họ: kẻ càng ít hiểu triết học, càng không quan tâm đến triết học thì càng đam mê hơn. Thế vẫn chưa hết. Cùng với thời gian những người kế tục Marx đã coi và đã trình bày học thuyết của ông như một hệ thống khép kín, như một thế giới quan toàn năng; họ tự xưng là những người kế tục sự nghiệp của Marx, những người đã đưa các tư tưởng của ông vào thực tiễn. Khoa học càng ngày càng nhường chỗ cho tuyên truyền. Điều đó lại cho phép tuyên truyền khoác lên cho mình cái mặt nạ khoa học.

Là con đẻ của thời đại mình, Marx không công nhận triết học như nó vốn là. Engels, người bạn gần gũi nhất của ông có lần đã cảm thán rằng cùng với sự phát triển của khoa học, triết học đã cáo chung. Không phải chỉ mình Engels có tư tưởng như thế. Cái gọi là triết học khoa học đã trở thành hiện tượng thời thượng, nhất là sau khi chủ nghĩa thực chứng của Comte và chủ nghĩa duy vật của Feuerbach được phổ biến rộng rãi.

Dễ hiểu vì sao Marx lại có quan điểm tiêu cực đối với sự cần thiết, thậm chí khả năng tồn tại của một hệ thống triết lí hữu dụng nào đó. Nhưng tại sao những đồ đệ của Marx lại cố gắng biến những luận điểm của ông thành một hệ thống triết học thống nhất, bao trùm lên tất cả, tạo ra từ đấy một hệ thống triết học duy nhất đúng, thì khó hiểu hơn. Trong khi phủ nhận mọi hệ thống triết học khác, trên thực tế họ đã “sáng tác” ra hệ thống giáo lí “siêu” khoa học và “duy nhất đúng” như họ thường nói. Người cộng sản đại diện cho những giai tầng, do vị trí xã hội của mình, không chấp nhận bất cứ một quan điểm chính thống nào, lại xuất hiện vào đúng giai đoạn khi khoa học trở thành nỗi đam mê của mọi người, khi khoa học đang xâm nhập vào tất cả các lĩnh vực của sản xuất và đời sống, họ chỉ còn mỗi một cách: trở thành những người duy vật, trở thành những “đại diện duy nhất” của những quan điểm và phương pháp “duy nhất” khoa học để biến những quan điểm đó thành hiện thực.

Nếu Marx được “tiếp năng lượng” từ “tinh thần” thời đại cộng với sự đam mê khoa học của một nhà-cách-mạng-bác-học ước mơ tạo cho phong trào công nhân một cơ sở khoa học tương đối hoàn bị, thì trong khi biến những quan điểm của Marx thành giáo điều, các đồ đệ của ông đã hành động trong những điều kiện khác và với những mục đích khác hẳn.

Nếu lí thuyết được gọi là triết học mác-xít (chủ nghĩa duy vật biện chứng) không thể hiện nhu cầu của phong trào công nhân châu Âu lúc đó, một phong trào đang rất cần một hệ tư tưởng mới, một triết lí khép kín, thì nó cũng sẽ bị xếp xó vì thiếu độc đáo và không thật sự sâu sắc. Điều đó chắc chắn đã xảy ra mặc dù tác phẩm của Marx được xếp vào loại những tác phẩm vĩ đại nhất về kinh tế và xã hội học và có thể cũng rất hấp dẫn về mặt văn chương nữa.

Không phải tính khoa học mà trước hết là mối liên hệ với một phong trào và hơn nữa lại dựa trên tính khả dĩ của những biến đổi xã hội đã làm cho triết học mác-xít có sức mạnh như thế. Triết học này giải thích và khẳng định rằng trật tự thế giới nhất định sẽ thay đổi. Trước hết, và nhất định phải như thế, vì nó tự sinh ra cái đối lập với chính mình, sinh ra kẻ đảo mồ chôn mình. Và thứ hai: giai cấp công nhân muốn và có đủ sức thực hiện những thay đổi đó. Ảnh hưởng của triết lí nhất định phải ngày một tăng; bên trong cũng như bên ngoài giai cấp công nhân đã xuất hiện ảo tưởng rằng đấy là một triết lí bách chiến bách thắng. Nhưng hoá ra nếu không có các điều kiện phù hợp thì dù giai cấp công nhân ở đấy có phát triển và phong trào công nhân có mạnh đến đâu (Anh, Mĩ) thì ảnh hưởng của nó vẫn gần như không có.

Bó hẹp trong những luận điểm của Hegel và chủ nghĩa duy vật, triết học mác-xít có giá trị khoa học không lớn như người ta cố tình gán cho nó. Nó chỉ có ý nghĩa thời đại trong vai trò của một hệ tư tưởng của những giai cấp bị áp bức, đặc biệt là của các phong trào chính trị. Ban đầu, ở châu Âu nó có nghĩa là một hệ tư tưởng và một phong trào chính trị, còn sau đó, ở Nga và châu Á nó là một phong trào chính trị và một hệ thống.

3.

Marx cho rằng sự cáo chung của xã hội tư bản sẽ diễn ra trong cuộc quyết đấu giữa hai giai cấp: tư sản và vô sản. Đối với ông thì điều đó là đương nhiên, hơn nữa trong chủ nghĩa tư bản thời kì đó sự phân biệt giàu nghèo là rất rõ rệt, tạo ra những thái cực đối lập gay gắt và cứ khoảng chục năm lại xảy ra những cuộc khủng hoảng kinh tế chu kì làm rung chuyển toàn bộ xã hội.

Nói cho cùng thì học thuyết của Marx chính là sản phẩm của cách mạng công nghiệp và cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân. Không phải vô tình mà cảnh nghèo khổ đến cùng cực và điều kiện sống không khác gì súc vật của quần chúng kèm theo sự bùng nổ trong công nghiệp được Marx mô tả một cách đầy xót xa trong nhiều trang của cuốn Tư bản luận, một tác phẩm quan trọng nhất của ông. Một loạt các cuộc khủng hoảng, đặc trưng cho chủ nghĩa tư bản thế kỉ XIX, tình trạng nghèo khó và sự gia tăng dân số đã đưa Marx đến kết luận hoàn toàn có cơ sở rằng lối thoát duy nhất chính là cách mạng. Nhưng ông cũng cho rằng cách mạng không nhất thiết phải xảy ra, nhất là đối ở những nước, nơi mà các thể chế dân chủ đã là một truyền thống. Có lần ông đã chỉ rõ các nước như: Hà Lan, Anh và Mĩ. Nhưng dù sao về tổng thể thì điều đặc biệt nhất trong quan niệm của ông chính là học thuyết về tính tất yếu của cách mạng. Ông tin vào cách mạng, kêu gọi cách mạng, ông là một nhà cách mạng.

Các luận điểm cách mạng của Marx mới chỉ là giả định và hoàn toàn không phải là bắt buộc đối với mọi nước, mọi nơi; Lenin đã biến các luận điểm đó thành nguyên lí tối thượng và vạn năng. Trong tác phẩm Bệnh ấu trĩ tả khuynh trong phong trào cộng sản, một tác phẩm ít tính giáo điều nhất của mình, Lenin đã “phát triển”, nói cách khác, đã sửa luận điểm của Marx ngay đối với các nước vừa bên trên. Lenin khẳng định rằng điều Marx nói về nước Anh đã không còn đúng nữa vì trong thời gian chiến tranh (chiến tranh thế giới thứ nhất) nước này đã trở thành quân phiệt và vì vậy, giai cấp công nhân Anh chỉ có một lựa chọn: làm cách mạng. Sai lầm của Lenin không chỉ vì ông đã không nhận thức được rằng “chủ nghĩa quân phiệt Anh” chỉ là hiện tượng nhất thời, do chiến tranh để lại. Sai lầm lớn nhất chính là quan niệm sai về sự phát triển của nước Anh và những nước phương Tây khác, những nước đang tiến theo con đường dân chủ hoá và tiến bộ kinh tế. Lenin cũng không hiểu được bản chất của phong trào công nhân Anh, một mặt ông đánh giá quá cao những tư tưởng “khoa học nhất” của mình, cũng có nghĩa là của Marx, và mặt khác không thấy hết những khả năng khách quan của phong trào công nhân và vai trò của giai cấp công nhân trong xã hội. Dù không tuyên bố công khai nhưng chính Lenin đã bắt đầu coi lí thuyết của mình cũng như kinh nghiệm của cách mạng Nga là vạn năng, có thể áp dụng cho tất cả mọi hoàn cảnh.

Theo quan điểm của Marx thì cách mạng sẽ diễn ra trước hết ở các nước tư bản đã phát triển. Kết quả của cách mạng sẽ là xã hội xã hội chủ nghĩa, nơi con người sẽ có nhiều tự do hơn chế độ gọi là chế độ tư sản tự do. Dễ hiểu là tuy phủ nhận “kiểu” chủ nghĩa tư bản đó, nhưng chính Marx lại là sản phẩm của thời đại tự do tư sản.

Chia sẻ quan điểm của Marx về việc chế độ tư bản phải được thay thế bằng không chỉ chủ nghĩa xã hội, một hình thái kinh tế – xã hội cao hơn mà còn tự do hơn, những người dân chủ-xã hội có toàn quyền tự nhận là đồ đệ của Marx. Ít nhất thì họ cũng có quyền ngang với những người cộng sản, những người cũng dựa vào Marx, nhưng chỉ khác là họ luôn luôn khẳng định rằng việc thay thế chủ nghĩa tư bản chỉ có thể được thực hiện bằng con đường cách mạng. Nhưng cả hai, cả cộng sản lẫn xã hội-dân chủ, khi trích dẫn Marx, đều không phải là những đệ tử chân truyền của Marx. Họ chỉ dùng Marx làm tấm bình phong che đậy cho những hoạt động thực tiễn trong những hoàn cảnh đã khác thời Marx rất xa.

Cùng trích dẫn và cùng dựa vào những tư tưởng của Marx, phong trào cộng sản và phong trào dân chủ xã hội đã phát triển theo những hướng hoàn toàn khác nhau. Nơi nào mà sự tiến bộ về chính trị và kinh tế bị ngăn chặn, nói một cách khác, nơi nào vai trò khách quan của giai cấp công nhân yếu thì nơi đó nhu cầu hệ thống hoá và giáo điều hoá học thuyết của Marx lại tăng. Đã từng xảy ra như sau: ở một vài nơi, khi mà lực lượng kinh tế và quan hệ xã hội càng chưa sẵn sàng cho phát triển công nghiệp (thí dụ như Nga, sau đó là Trung Quốc) thí khía cạnh cách mạng của học thuyết mac-xít lại càng được vồ vập và sau đó thì biến thành giáo lí. Cánh cách mạng xuất hiện và sau đó chiếm thế thượng phong trong phong trào công nhân. Chủ nghĩa Marx đóng vai trò nòng cốt và sau thắng lợi của các mạng thì trở thành hệ tư tưởng chính thống.

Còn nơi mà sự tiến bộ về chính trị và kinh tế khắc phục được nhu cầu phải làm cách mạng (thí dụ như nước Đức) thì khía cạnh kia, khía cạnh dân chủ của chủ nghĩa Marx thắng thế. Đòi hỏi cải cách, và cùng với nó là xu hướng phi giáo điều hoá trong tư tưởng và trong chính trị, là những đòi hỏi được chấp nhận và được thực hiện từng bước một. Cánh cải cách xuất hiện và chiếm thế thượng phong trong phong trào công nhân.

Trường hợp thứ nhất, dù chỉ là hình thức, mối liên hệ với Marx ngày càng trở nên gắn bó hơn; sự phân li với Marx đã diễn ra rất nhanh trong trường hợp thứ hai.

Trước hết là sự phát triển xã hội rồi sau đó mới đến quan hệ với tư tưởng đã đưa phong trào xã hội chủ nghĩa châu Âu đến sự phân liệt không khoan nhượng và không thể nào khắc phục được. Đại để là sự thay đổi của các điều kiện chính trị và kinh tế trùng hợp với sự thay đổi diễn ra trong tâm trí các lí thuyết gia xã hội chủ nghĩa đã làm cho họ hiểu và lí giải chính hiện thực, dù là tương đối, nghĩa là chưa đầy đủ và phiến diện.

Lenin ở Nga và Bernstein ở Đức, đấy chính là hai thái cực, thể hiện sự khác biệt hoàn toàn cả trong lĩnh vực phát triển kinh tế xã hội lẫn phong trào công nhân.

Chủ nghĩa Marx “khởi thuỷ” chẳng còn để lại gì: ở phương Tây người ta đã quên hoặc gần như thế; ở phương Đông, sau khi cộng sản giành được quyền thống trị thì biện chứng pháp và chủ nghĩa duy vật mác-xít đã chỉ còn là hình thức và trở thành giáo điều, được dùng để củng cố quyền lực, được dùng để biện hộ cho sự đàn áp và nô dịch về tư tưởng. Chủ nghĩa Marx thực chất cũng đã bị vất bỏ ngay cả ở phương Đông, nó càng ngày càng trở thành một giáo lí xơ cứng. Đối với phần này của thế giới, nó đã không còn là tư tưởng nữa, nó đã trở thành một thứ quyền lực mới, một nền kinh tế mới, một hệ thống xã hội mới.

Dù Marx hay lí thuyết của ông có ảnh hưởng như thế nào thì chính ông cũng không thể ngờ và không nghĩ rằng bước ngoặt như thế lại có thể xảy ra. Tương tự như những người khác, nhà khoa học lớn, người lí giải các qui luật vĩ đại đã bị lịch sử “đánh lừa”.

Sau Marx mọi sự dẵ diễn ra như thế nào?

Trong các nước đã hoàn thành cách mạng công nghiệp (Đức, Anh, Mĩ, v.v…) ngay từ những năm 70 của thế kỉ XIX đã bắt đầu quá trình hình thành các công ty cổ phần và các tập đoàn độc quyền, mà đỉnh điểm của nó kéo dài đến tận đầu thế kỉ XX. Điều đó đã được Gilferding, Gobson và những người khác nghiên cứu, những điều dự đoán của Lenin trong tác phẩm Chủ nghĩa đế quốc, giai đoạn tột cùng của chủ nghĩa tư bản hoá ra là sai.

Sự bần cùng hoá một cách tương đối và tuyệt đối giai cấp công nhân đã không diễn ra ở chính những nước mà Marx nghiên cứu. Luận điểm của Marx lại được khẳng định ở những nước nông nghiệp Đông Âu, điều này đã được Hew Siton-Wotson nhắc tới trong tác phẩm Từ Lenin đến Malenkov (xuất bản ở New York năm 1953). Nếu Tây Âu đánh giá Marx chủ yếu vì vai trò lịch sử và những đóng góp khoa học của ông, thì tại phương Đông, ông được coi ông là nhà tiên tri của thời đại mới, còn học thuyết của ông thì trở thành “thuốc phiện”, trở thành một loại tôn giáo mới.

“Khi Engels đến Manchester vào năm 1842 ông đã thấy cảnh 350 ngàn công nhân chen chúc trong những khu nhà ổ chuột ẩm thấp và bẩn thỉu, họ thở bằng bầu không khí đặc quánh như nước trộn với than vậy. Ông đã nhìn thấy trong hầm lò những người phụ nữ cởi trần làm lụng không khác gì súc vật. Những đứa trẻ phải đóng và mở những chiếc cửa thông gió trong tiếng gầm xé tai của đủ loại động cơ. Có đứa còn phải làm cả những việc nặng hơn. Trong những xưởng thêu sự bóc lột còn khủng khiếp đến mức ngay những đứa trẻ bốn tuổi đã phải làm việc để chỉ nhận đồng lương chết đói” [1]

Engels cũng đã thấy nước Anh, một nước Anh nghèo khó, nhưng khủng khiếp hơn và quan trọng là bức tranh còn đen tối hơn, đấy là sự nghèo khó ở Nga, ở Ban Căng, chưa nói tới châu Á và châu Phi.

Xét về mọi khía cạnh, những sự thay đổi trong sản xuất do kĩ nghệ tạo ra ở phương Tây là sự kiện vô tiền khoáng hậu. Những thay đổi đó đã dẫn đến việc hình thành các tập đoàn kinh tế độc quyền và phân chia thế giới hành những khu vực ảnh hưởng của các tập đoàn đó cũng như của các nước đã phát triển. Đấy là lí do dẫn đến cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất và Cách mạng tháng Mười Nga.

Nhưng sự bùng nổ trong lĩnh vực công nghiệp, công cuộc khai thác các thị trường mới và những nguồn nguyên liệu mới đã tạo ra sự thay đổi căn bản trong địa vị của giai cấp công nhân. Lí tưởng cách mạng đã nhường chỗ cho những phương pháp hữu hiệu hơn, có ý nghĩa hơn, trước hết là các phương pháp nghị trường, các phương pháp nhằm cải cách và cải thiện điều kiện vật chất của giai cấp công nhân. Cách mạng đã trở thành vô nghĩa và không thực tế.

Các nước có nền công nghiệp lạc hậu, trước hết là nước Nga, có hoàn cảnh khác hẳn. Họ chỉ có một sự lựa chọn: công nghiệp hoá hay rút khỏi vũ đài lịch sử và trở thành miếng mồi ngon cho các nước đã phát triển và các tập đoàn tư bản độc quyền. Kết quả không thể tránh khỏi được sẽ là sự thoái hoá. Tư sản địa phương, các giai cấp, các đảng phái ở đó đều quá yếu, không thể nào giải quyết được vấn đề công nghiệp hoá đất nước. Cách mạng trở thành tất yếu, thành nhu cầu sống còn của dân tộc. Chỉ có giai cấp vô sản và đảng của nó là có đủ tinh thần và lực lượng để tiến hành cuộc cách mạng này mà thôi.

Tham gia vào việc hoàn thiện và mở rộng sản xuất là qui luật thường trực, nếu không nói là qui luật duy nhất của mọi xã hội, mọi cá nhân. Muốn không bị lạc hậu họ phải trực diện với các xã hội khác, trực diện với mâu thuẫn ngay trong nội bộ của mình. Quá trình phát triển và mở rộng sản xuất nhất định sẽ gặp phải những trở lực, cả trở lực tự nhiên lẫn trở lực do giai đoạn phát triển cụ thể của xã hội đó gây ra. Đấy là những trở lực do hình thức sở hữu, do các quan hệ pháp lí và quan hệ quốc tế cùng nhiều quan hệ khác tạo ra. Xã hội buộc phải loại bỏ dần những trở lực do tự nhiên gây ra. Tương tự như vậy, xã hội, hay đúng hơn, những lực lượng đại diện cho các trào lưu phát triển và mở rộng kinh tế nói trên phải hành động nhằm loại bỏ, biến cải và phá vỡ những trở lực sinh ra từ bên trong hay đưa đến từ bên ngoài. Các giai cấp, các đảng phái, các tư tưởng và hệ thống chính trị, tất cả đều là những biểu hiện của những quá trình vận động hay ngưng trệ.

Không có xã hội hay dân tộc nào đồng ý để sản xuất dẫm chân tại chỗ vì đấy là hiểm hoạ cho sự sống còn của chính họ. Lạc hậu là tự sát. Nhân dân không bao giờ tự nguyện chết, để loại bỏ những trở lực của quá trình sản xuất, nghĩa là loại bỏ những hiểm hoạ đối sự tồn vong của mình, nhân dân sẵn sàng chịu đựng mọi hi sinh.

Hoàn cảnh, các yếu tố vật chất và tinh thần đóng vai trò quyết định xem sự phát triển và mở rộng sản xuất sẽ được thực hiện bởi lực lượng nào và bằng phương tiện gì cũng như hậu quả của tiến trình ấy. Nhưng quá trình sản xuất được hoàn thiện và mở rộng dưới ngọn cờ nào, với sự tham gia của lực lượng nào thì ít phụ thuộc vào con người cũng như việc hình thành xã hội hay dân tộc vậy. Để có thể tồn tại, xã hội và dân tộc sẽ tìm được các lãnh tụ phù hợp với mục đích mà họ có trách nhiệm hoàn thành và có thể hoàn thành trong giai đoạn đó. Tư tưởng cũng vậy mà thôi.

Chủ nghĩa Marx cách mạng xuất hiện tại phương Tây phát triển, trong giai đoạn gọi là chủ nghĩa tự do tư sản đã “di cư” sang phương Đông (nước Nga, Trung Quốc, v.v…) lạc hậu của thời kì chủ nghĩa tư bản độc quyền. Về nguyên tắc, điều đó cũng phù hợp với trình độ phát triển của phương Đông và phương Tây, phù hợp với hoàn cảnh của phong trào công nhân những nơi đó. Phong trào xã hội chủ nghĩa bắt đầu bằng việc tập trung và chỉnh đốn (Quốc tế II) và kết thúc bằng sự chia rẽ thành cánh xã hội-dân chủ (cải cách) và cánh cộng sản (cách mạng), với sự thành công của cách mạng ở Nga và việc thành lập Quốc tế III.

Trong những nước, nơi mà các biện pháp tiến hành công nghiệp hoá hoàn toàn thiếu vắng, cách mạng cộng sản lại xảy ra do những nguyên nhân đặc thù của các dân tộc đó. Cách mạng không thể nào xảy ra được nếu không có những nguyên nhân đặc thù này. Tại nước Nga nửa phong kiến, phong trào cách mạng đã nổi lên trước những người mác-xít cả nửa thế kỉ. Để cách mạng bùng nổ cần phải có một số điều kiện cụ thể, đặc biệt về kinh tế, chính trị và quốc tế nữa. Nhưng ở những nơi từng diễn ra cách mạng (Nga, Trung Quốc, Nam Tư) thì điều duy nhất cần lại là nhu cầu thiết yếu nhất, tức nhu cầu cải tạo công nghiệp.

Phong trào xã hội chủ nghĩa ở châu Âu sau Marx không chỉ mang tính duy vật và mác-xít mà trên cơ sở đó đã xuất hiện và ngày càng phát triển nhận thức về sự độc tôn tư tưởng của mình, đấy cũng là tất yếu lịch sử. Bên phía kẻ thù là tất cả các lực lượng của xã hội cũ: tầng lớp tăng lữ và các nhà khoa học, giới thượng lưu và những kẻ cầm quyền, nhưng quan trọng nhất là bộ máy đàn áp, vì thường xuyên xảy ra chiến tranh nên bộ máy này lúc nào cũng sẵn sàng.

Nếu một người nào đó có ý định “lật nhào” cả thế giới này thì trước hết phải tìm cách giải thích nó đã. Nếu sự độc tôn về tư tưởng là điều cần cho mọi phong trào mới nổi thì đối với cách mạng nó lại là biện pháp duy nhất có thể đưa tới chiến thắng. Nhưng nếu phong trào giành được chiến thắng thì điều đó chỉ càng củng cố thêm niềm tin của nó vào chính mình và tư tưởng của mình. Nếu thắng lợi của các cuộc bãi công và đấu tranh trong nghị viện đã củng cố sức mạnh của cánh cải cách trong phong trào xã hội-dân chủ ở Đức và ở một vài nước khác thì với giai cấp vô sản Nga, những người không thể nào tưởng tượng được rằng họ có thể nhận thêm dù chỉ một xu mà không cần đổ máu, lối thoát sẽ chỉ còn là: chiến đấu không khoan nhượng, đấy là cách duy nhất để giải thoát con người ta khỏi nỗi tuyệt vọng và chết đói.

Phần còn lại của Đông Âu như Ba Lan, Tiệp, Hung, Rumani, Bulgari không rơi vào hoàn cảnh như thế. Các nước đó không trải qua cách mạng, Hồng quân Liên Xô đã áp đặt hệ thống cộng sản cho các nước đó. Các nước này không cần, càng không cần phương pháp cộng sản trong việc cải tạo công nghiệp, hơn nữa một vài nước trong số đó đã hoàn thành cải tạo công nghiệp từ trước rồi. Cách mạng đã được du nhập từ bên ngoài vào và từ trên xuống bằng báng súng ngoại bang và bộ máy đàn áp cũng do chính những báng súng đó lập nên. Phong trào cộng sản ở các nước đó, trừ Tiệp, vốn không có sức sống. Vì yếu, chế độ cộng sản ở các nước này phải sao chép Liên Xô cả về hình thức lẫn nội dung. Liên Xô áp đặt cho họ hệ thống của mình, còn cộng sản địa phương thì hồ hởi tiếp thu. Nơi nào mà phong trào càng yếu thì sự sao chép, bắt chước “anh cả”- chế độ cộng sản bá quyền Nga – lại càng cẩn thận, tỉ mỉ hơn.

Các nước như Pháp và Ý, là những nước đã trải qua cách mạng công nghiệp nhưng đảng cộng sản ở đó vẫn tương đối mạnh là do tình hình khó khăn của những nước này, họ không muốn rơi vào tình trạng lạc hậu so với các nước phát triển khác và vì vậy phải trực diện với một số rối loạn xã hội. Nhưng chính vì họ đã trải qua quá trình dân chủ hoá và công nghiệp hoá và phong trào cộng sản ở đó cũng khác với Nam Tư, Nga hay Trung Quốc nên cách mạng ở những nước này không có và sẽ không bao giờ có cơ may thành công. Sống và đấu tranh trong điều kiện của nền dân chủ, chính lãnh đạo các đảng cộng sản đó không thể thoát khỏi được “ảo tưởng” của chế độ đại nghị, còn khi nói đến cách mạng, nếu vần đề ấy xuất hiện, thì họ lại nghĩ ngay đến phong trào cộng sản quốc tế và sự giúp đỡ của Liên Xô chứ không hi vọng dựa vào lực lượng của chính mình. Trong khi cử tri cho rằng các đảng này là đại diện cho những hi vọng, nỗi đau khổ và sự tức giận của mình thì họ cũng lại ngây thơ tin rằng đấy chính là các chiến sĩ đấu tranh cho một nền dân chủ rộng lớn hơn.

Xuất hiện trong giai đoạn đầu của quá trình hình thành một nền công nghiệp tiên tiến, chủ nghĩa cộng sản đã rút khỏi vũ đài hoặc tắt dần ở những nơi mà quá trình này đã hoàn thành, nhưng nó hưng thịnh và phát triển, trở thành thực tiễn ở những nơi mà quá trình ấy sẽ phải diễn ra.

Vai trò vừa nói của chủ nghĩa cộng sản trong những nước kém phát triển xác định tính chất của những cuộc cách mạng cộng sản đã thành công tại các nước đó.

[1]Andre’ Moreau, Lịch sử nền chính trị Anh Quốc, Zagreb, 1940, trang 557-558.
Nguồn: Bản tiếng Nga, tại http://dzhilas-milovan.viv.ru/index.htm

http://phamnguyentruong.blogspot.com/2011/11/milovan-djilas-giai-cap-moi-ki-1.html
Milovan Djilas – Giai cấp mới (Kì 2)
Phạm Nguyên Trường dịch

Đặc điểm của cách mạng

1.

Những ai đã từng biết, dù không nhiều, lịch sử của các nước đã từng diễn ra các cuộc cách mạng cộng sản đều thấy rằng ở đấy từng tồn tại nhiều đảng phái không hài lòng với hiện tình của đất nước. Nổi bật nhất là nước Nga, nơi đảng thực hiện thành công công cuộc cách mạng không phải là tổ chức cách mạng duy nhất vào thời điểm đó.

Đảng cộng sản không chỉ có thái độ cách mạng đối với hiện tình đất nước mà còn là lực lượng tỏ thái độ kiên quyết nhất, nhất quán nhất của tư tưởng cải tạo xã hội theo hướng công nghiệp hoá. Trên thực tế, đấy chính là việc tiêu diệt một cách triệt để quan hệ sở hữu cũ – lực cản trên đường dẫn đến mục đích đã được lựa chọn. Không có đảng nào có thái độ quyết liệt như vậy đối với quan hệ sở hữu, không có đảng nào có xu hướng công nghiệp hoá đến như vậy.

Nhưng ta vẫn chưa thể hiểu tại sao các đảng đó phải ghi vào cương lĩnh của mình là các đảng xã hội chủ nghĩa.

Trong điều kiện lạc hậu của nước Nga Sa Hoàng, sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa không những không có khả năng tiến hành công nghiệp hoá mà còn là lực cản đối với quá trình công nghiệp hoá. Vì quan hệ sở hữu này đang nằm trong một nước với những di sản năng nề của chủ nghĩa phong kiến và trong một thế giới, nơi các nước tư bản chủ nghĩa không muốn nhả khu vực nguyên liệu rộng lớn và một thị trường đầy tiềm năng khỏi tay mình.

Phù hợp với quá khứ của mình, nước Nga Sa Hoàng không bắt kịp cuộc cách mạng công nghiệp. Nga là nước duy nhất ở châu Âu không biết đến phong trào Cải cách tôn giáo và Phục hưng, không có các thành phố châu Âu trung cổ. Và cái đất nước lạc hậu ấy, cái đất nước nửa nông nô với chính quyền độc tài chuyên chế và chế độ tập trung quan liêu ấy đã bị ném vào vòng xoáy của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa thế giới, vào mạng lưới của các trung tâm tài chính quốc tế.

Lenin trong tác phẩm Chủ nghĩa đế quốc, giai đoạn tột cùng của chủ nghĩa tư bản đã đưa ra các số liệu chứng tỏ rằng ba phần tư tài sản của các ngân hàng lớn nhất tại Nga là do tư bản nước ngoài kiểm soát. Trotsky trong tác phẩm Lịch sử cách mạng Nga nhấn mạnh rằng người nước ngoài nắm giữ 40% cổ phiếu của nền công nghiệp Nga, mà trong các lĩnh vực quan trọng thì tỉ lệ này còn cao hơn. Rõ ràng là người nước ngoài cũng nắm giữ phần cốt yếu trong các ngành kinh tế chính của Nam Tư nữa. Bản thân những thí dụ này không chứng tỏ được điều gì nếu không có sự kiện là trong khi tư bản nước ngoài buộc các nước này đóng vai trò nguồn cung cấp nguyên liệu và nhân công rẻ mạt lại làm mọi cách nhằm ngăn chặn các nước đó phát triển. Trên thực tế người ta đã tiến hành chính sách giữ cho các nước đó ở mãi trong tình trạng chậm tiến, thậm chí làm thoái hoá cả một dân tộc.

Như vậy là, một đảng nào đó nhận trách nhiệm tiến hành cách mạnh, thì về mặt đối nội nó phải tiến hành chính sách chống tư sản, và về đối ngoại phải chống đế quốc.

Tư sản dân tộc còn rất non yếu, chỉ đóng vai trò tay sai, đóng vai kẻ thừa hành chính sách của tư bản nước ngoài mà thôi. Gắn bó máu thịt với cuộc cách mạng công nghiệp hoá không phải là giai cấp tư sản mà chính là giai cấp vô sản, giai cấp xuất hiện do việc bần cùng hoá ngày càng nhiều tầng lớp nông dân. Nếu việc tiêu diệt sự bóc lột dã man là vấn đề sống còn của những người đã trở thành vô sản thì công nghiệp hoá lại là vấn đề sống còn của những người nông dân đang sắp trở thành vô sản. Để có thể đồng thời thể hiện được quyền lợi của cả hai nhóm này, phong trào phải đưa ra những tư tưởng, khẩu hiệu và lời hứa có xu hướng chống tư sản, nghĩa là xã hội chủ nghĩa. Ngoài ra, đảng cách mạng không thể tiến hành cách mạng công nghiệp hoá mà không tập trung vào tay mình toàn bộ nguồn nội lực, mà trước hết là những nguồn lực thuộc quyền sở hữu của tư bản địa phương đang bị quần chúng căm ghét vì bị bóc lột thậm tệ và bị đối xử một cách vô nhân đạo. Đảng cách mạng cũng phải có thái độ tương tự đối với tư bản ngoại quốc.

Các đảng phái khác không có và cũng không thể có cương lĩnh tương tự như vậy. Tất cả các đảng phái này đều bị quá khứ đè nặng, đều muốn giữ lại các quan hệ đã trở nên trì trệ hoặc trong trường hợp tốt nhất thì cũng chỉ muốn tiến lên một cách chậm chạp, một cách hoà bình mà thôi. Các đảng có xu hướng chống tư bản, thí dụ những người xã hội-cách mạng Nga kêu gọi quay trở lại với đời sống nông nghiệp bán khai. Còn cương lĩnh của những người xã hội chủ nghĩa, thí dụ như những người menshevik Nga, cuối cùng cũng chỉ là loại bỏ bằng vũ lực những rào cản cho sự phát triển tư bản chủ nghĩa vì họ cho rằng chỉ có chủ nghĩa tư bản phát triển mới tạo tiền đề để tiến lên chủ nghĩa xã hội. Nhưng ở đây vấn đề lại hoàn toàn khác: đối với các nước này việc quay trở lại hay phát triển tư bản chủ nghĩa đều không thực tế, đều không thể thực hiện được.

Chỉ có đảng cổ động cho cuộc cách mạng chống tư bản và tiến hành công nghiệp hoá nhanh chóng đất nước mới có cơ may giành được thành công. Đấy rõ ràng phải là đảng hành động theo những nguyên lí của chủ nghĩa xã hội. Trong những điều kiện có sẵn như thế, đảng này, về mặt tư tưởng phải dựa vào học thuyết, một mặt, nhấn mạnh rằng công nghiệp hoá là tiến bộ và không thể đảo ngược được và mặt khác nhấn mạnh rằng cách mạng nhất định sẽ nổ ra. Lí thuyết ấy đã có sẵn rồi, chỉ cần cải biến nó cho phù hợp là xong. Đấy là chủ nghĩa Marx, khía cạnh cách mạng của chủ nghĩa Marx. Dựa vào chủ nghĩa Marx cách mạng cũng như phong trào xã hội chủ nghĩa châu Âu đối với đảng ấy là điều tự nhiên cũng như sau này, trong quá trình phát triển của cách mạng và sự biến đổi về cơ cấu trong các nước tư bản phát triển, nó nhất định sẽ li khai với các đảng xã hội chủ nghĩa châu Âu vì các đảng này đã chuyển sang con đường cải cách. Để tiến hành cách mạng và công nghiệp hoá một cách nhanh chóng phải cần rất nhiều hi sinh, cần phải có những cuộc thanh trừng dã man, lí trí không thể nào tưởng tượng nổi, để buộc người ta tin vào lời hứa “xây dựng thiên đàng trên trái đất”. Tiến theo nguyên tắc chung đó, theo con đường có ít chống đối nhất đó, rời bỏ những quan điểm mác-xít và xã hội chủ nghĩa, những người thực thi cách mạng và công nghiệp hoá vì mục đích thực tiễn đã quên các nguyên lí đó, đã thay chúng bằng những điều ngược lại, nhưng cũng không chối bỏ hoàn toàn được chúng.

Chiến thắng của những người cộng sản (bolshevik) Nga không có liên quan gì đến tính khoa học của những quan điểm của họ. Nếu tính khoa học là sự nhận biết xu hướng phát triển của cách mạng và công nghiệp hoá thì phải nhận rằng đảng bolsevik đúng là một đảng có quan điểm khoa học. Nhưng như thế thì cũng phải nói rằng bất cứ đảng nào nắm được xu thế phát triển cũng đều là đảng có quan điểm khoa học cả.

Chủ nghĩa tư bản, các quan hệ tư bản chủ nghĩa là những hiện tượng tất yếu, phù hợp với mức độ phát triển của xã hội, cũng như bất kì hình thức nào khác mà nhờ đó xã hội thể hiện được những nhu cầu thường trực cũng như khát vọng mở rộng và hoàn thiện nền sản xuất của mình. Tại nước Nga, chủ nghĩa tư bản đã cản trở qui luật này, trong khi ở nước Anh nửa đầu thế kỉ XIX nó chính là lực lượng bảo đảm cho qui luật đó vận hành. Ở Anh muốn đưa nền sản xuất lên một tầng cao mới giai cấp tư sản bắt buộc phải thủ tiêu tầng lớp nông dân, nhưng ở Nga thì chính các chủ doanh nghiệp (nghĩa là các nhà tư sản) lại là nạn nhân. Qui luật vẫn bảo toàn dù hình thức thể hiện có khác và với những diễn viên khác.

Chủ nghĩa xã hội, trong hệ tư tưởng là các khẩu hiệu, những hứa hẹn và những lời có cánh, còn trên thực tế là một hình thức quyền lực và sở hữu đặc thù, trong những hoàn cảnh cụ thể, ở mức độ phát triển sản xuất cụ thể, tự đứng ra nhận trách nhiệm tiến hành cuộc cách mạng công nghiệp hoá, nhận trách nhiệm cải tiến và mở rộng sản xuất cũng là một sự kiện tất yếu.

2.

Tất cả các cuộc cách mạng trước đây xảy ra là để phá bỏ hệ thống chính trị cản trở sự phát triển của những quan hệ sản xuất đã trở thành chủ đạo trong xã hội. Các cuộc cách mạng đó không thực hiện điều gì khác ngoài việc phá vỡ những cơ cấu chính trị lỗi thời và dọn đường cho các lực lượng và quan hệ sản xuất đã phát triển đầy đủ trong lòng xã hội cũ. Trong những trường hợp khi các nhà cách mạng (những người Jacobin, đứng đầu là Robespierre và Saint-Just trong cách mạng Pháp) định dùng những phương tiện bạo lực để tạo lập những quan hệ kinh tế – xã hội mới, thì hành động của họ không tránh khỏi thất bại và chính họ cũng sẽ nhanh chóng bị loại bỏ.

Trong tất cả các cuộc cách mạng trước, sự đàn áp và vũ lực chỉ là hậu quả, là phương tiện trong tay của các lực lượng và quan hệ kinh tế – xã hội đã nắm quyền chủ đạo; và nếu trong cao trào của cách mạng họ có sử dụng vũ lực một cách thái quá thì cuối cùng họ cũng buộc phải trở về với thực tế và khuôn khổ cho phép. Đàn áp và khủng bố dù có vai trò tất yếu thì cũng chỉ là hiện thượng có tính nhất thời.

Theo những điều đã trình bày ở trên, cũng như do những hoàn cảnh riêng biệt đặc thù, tất cả các cuộc cách mạng, dù được tiến hành từ “dưới lên” như ở Pháp hay từ trên xuống như dưới trào Bismark ở Đức, thì cuối cùng các cuộc cách mạng ấy nhất định phải dẫn tới dân chủ về chính trị. Dễ hiểu là vì sao: “công việc chủ yếu” của các cuộc cách mạng đó là phá vỡ hệ thống chính trị chuyên chế lỗi thời, nghĩa là tạo dựng lên những quan hệ chính trị phù hợp các nhu cầu kinh tế và các nhu cầu khác vốn đã chín muồi, phù hợp với nền sản xuất hàng hoá tự do.

Các cuộc cách mạng cộng sản hiện đại được tiến hành trong một hoàn cảnh khác hẳn.

Chúng được thực hiện không phải như một cuộc chuyển tiếp sang – ta gọi là quan hệ kinh tế xã hội chủ nghĩa – những quan hệ đã chín muồi, còn quan hệ tư bản thì đã “chín nẫu” rồi, mà ngược lại, được tiến hành ngay khi chủ nghĩa tư bản còn chưa phát triển, chưa sẵn sàng cho công cuộc công nghiệp hoá toàn bộ đất nước.

Tại Pháp, chủ nghĩa tư bản đã nắm thế thượng phong trong kinh tế, trong các quan hệ xã hội và ngay cả trong nhận thức của người dân từ rất lâu trước khi cách mạng nổ ra. Không thể nói như thế về sự chín muồi của chủ nghĩa xã hội ở Nga, ở Trung Quốc hay Nam Tư được.

Ngay các lãnh tụ cách mạng cũng nhận thức được điều đó. Ngày 7 tháng 3 năm 1918, giữa cao trào cách mạng, Lenin đã nhắc đến chuyện này tại đại hội bất thường lần thứ VII của Đảng cộng sản Nga như sau:

“… Một trong những khác biệt chủ yếu của cách mạng tư sản và cách mạng xã hội chủ nghĩa là đối với cách mạng tư sản vốn thoát thai từ chủ nghĩa phong kiến, trong lòng của chế độ cũ đã hình thành dần dần các tổ chức, các tổ chức đó biến đổi một cách từ từ tất cả các mặt của chế độ phong kiến… Trong khi thực hiện nhiệm vụ này, mọi cuộc cách mạng tư sản chỉ làm mỗi một việc: đẩy nhanh sự phát triển của chủ nghĩa tư bản.

Cách mạng xã hội chủ nghĩa ở một vị thế hoàn toàn khác. Do những dích dắc của lịch sử, đất nước tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa càng lạc hậu thì giai đoạn chuyển tiếp từ quan hệ tư bản chủ nghĩa sang quan hệ xã hội chủ nghĩa sẽ càng khó khăn…

Sự khác nhau giữa cách mạng xã hội chủ nghĩa và cách mạng tư sản là trong trường hợp sau đã có sẵn các hình thức quan hệ tư bản chủ nghĩa, còn đối với chính quyền Xô Viết, chính quyền vô sản thì những quan hệ này chưa có sẵn, nếu không kể đến các hình thức quan hệ tư bản đã phát triển, thực ra những quan hệ này mới bao trùm phần chóp bu không đáng kể của nền công nghiệp, nó hoàn toàn chưa đụng chạm gì đến ngành nông nghiệp cả”.

Tôi trích dẫn Lenin, nhưng tôi cũng có thể trích dẫn bất kì lãnh tụ cách mạng cộng sản nào, cũng như có thể trích dẫn rất nhiều học giả khẳng định một chuyện hiển nhiên: chưa hề có “các quan hệ” cho chế độ mới. Chính quyền Xô Viết phải xây dựng những quan hệ đó.

Nói chung, những người cộng sản giành được chính quyền ở các nước phải mất nhiều công sức thuyết phục, thảo luận và cố gắng “xây dựng chủ nghĩa xã hội”, xây dựng những mối quan hệ mới mà ta tạm gọi là xã hội chủ nghĩa để làm gì nếu những quan hệ này đã chín muồi trước khi cách mạng cộng sản giành được thắng lợi?

Phân tích như thế, chúng ta đi đến kết luận, sau này mới thấy là có vẻ vô lí: nếu những điều kiện cho xã hội mới chưa chín muồi thì làm cách mạng làm gì? Làm sao cuộc cách mạng ấy lại có thể xảy ra được? Làm sao nó lại có thể đứng vững được mặc dù các quan hệ xã hội mới chưa hề tồn tại trong lòng xã hội cũ?

Cho đến lúc đó chưa có một cuộc cách mạng nào, chưa có đảng nào đặt ra cho mình nhiệm vụ xây dựng các mối quan hệ xã hội, nghĩa là xây dựng một xã hội hoàn toàn mới. Nhưng đây lại chính là tiền đề của các cuộc cách mạng cộng sản.

Về những qui luật chi phối sự phát triển của xã hội, các lãnh tụ cộng sản cũng chẳng biết nhiều hơn những người khác, nhưng lại phát hiện ra rằng tại đất nước mà họ có thể tiến hành cách mạng cũng có thể tiến hành công nghiệp hoá, nghĩa là có thể thực hiện công cuộc cải tạo xã hội vì nó phù hợp với những giả thuyết của họ. Cách mạng đã thành công trong những “điều kiện chưa chín muồi” là một minh chứng. Xây dựng chủ nghĩa xã hội thì cũng vậy mà thôi. Nếu không cho rằng họ có ảo tưởng là nắm được các qui luật vận động của xã hội thì ta thấy rõ ràng là họ đã thiết kế ra một xã hội mới và bắt đầu công cuộc xây dựng, dù có khi thay đổi, có khi bỏ bớt một số chi tiết thì nói chung họ vẫn tuân thủ thiết kế chính.

Công nghiệp hoá là bắt buộc, là qui luật của xã hội, kết hợp với phương pháp tiến hành, phương pháp cộng sản chủ nghĩa.

Nhưng cả hai điều đó, cùng đồng thời phải phát triển, lại không thể thực hiện trong ngày một ngày hai được, lại cần một khoảng thời gian dài. Sau cách mạng phải tiến hành công nghiệp hoá. Ở phương Tây thì đấy là những lực lượng kinh tế, nằm ngoài chính trị, đấy là chủ nghĩa tư bản. Các nước cộng sản không có những lực lượng như thế, vai trò ấy được đặt lên vai các cơ quan cách mạng, lên vai chính quyền mới, lên vai đảng cách mạng.

Trong những cuộc cách mạng trước đây, bạo lực cách mạng biến thành trở lực của phát triển kinh tế ngay sau khi trật tự cũ đã bị đập tan. Trong cách mạng cộng sản bạo lực là điều kiện cần thiết cho phát triển, thậm chí cho sự tiến bộ của cách mạng. Các nhà cách mạng trước đây coi bạo lực là cái ác, là vũ khí cần thiết của cách mạng. Nhưng người cộng sản lại nâng nó lên thành bái vật và mục đích cuối cùng. Đối với xã hội cũ thì các giai cấp và lực lượng cấu thành đã tồn tại từ trước khi nổ ra cách mạng. Cách mạng cộng sản phải tạo ra cả xã hội mới cũng như lực lượng cấu thành xã hội ấy.

Ở phương Tây, sau những “lầm lẫn” và “lệch lạc” cách mạng nhất định sẽ dẫn đến dân chủ, nhưng ở đây, tại phương Đông, cách mạng sẽ kết thúc bằng chế độ độc tài. Những biện pháp đàn áp, khủng bố, các nhà cách mạng và các đảng cách mạng trở thành thừa, thành vật cản đối với phương Tây sau cách mạng. Phương Đông có quan điểm hoàn toàn ngược lại.

Nếu ở phương Tây nền độc tài đi kèm theo cách mạng dù sao cũng chỉ là hiện tượng tạm thời, thì ở phương Đông nó phải kéo dài “tới muôn đời sau”. Điều đó không chỉ bởi vì không thể tiến hành công nghiệp hoá trong một thời gian ngắn mà như ta sẽ thấy trong phần trình bày sau, nó còn kéo dài ngay cả sau khi công nghiệp hoá đã thành công.

3.

Giữa cách mạng cộng sản và những cuộc cách mạng đã diễn ra trong quá khứ, ngoài những điều đã trình bày, còn có một loạt khác biệt quan trọng nữa như sau.

Các cuộc cách mạng trong quá khứ, mặc dù đã chín muồi trong kinh tế và trong nhận thức xã hội, đã không thể nào xảy ra được nếu không có sự trùng hợp nhất định của hoàn cảnh. Khoa học về căn bản đã xác định được những điều kiện cần cho sự bùng nổ và chiến thắng của cách mạng. Phải nhấn mạnh rằng bên cạnh những điều kiện chung, mỗi cuộc cách mạng còn có những đặc điểm riêng, nếu không tính đến và không nắm được những điều kiện đó thì cách mạng không thể xảy ra và không thể thành công được.

Đối với những cuộc cách mạng xảy ra trong quá khứ, chí ít là đối với những cuộc cách mạng lớn nhất, chiến tranh, hay nói đúng hơn, sự phá vỡ quốc gia, không phải là điều kiện kích hoạt bắt buộc. Đối với cách mạng cộng sản thì đây là điều kiện căn bản, đảm bảo cho chiến thắng. Kết luận này đúng với cả trường hợp Trung Quốc: cách mạng ở đó đã bắt đầu trước cuộc xâm lược của Nhật, nhưng đã kéo dài cả thập kỉ và chỉ thu được thắng lợi khi chiến tranh kết thúc. Cách mạng năm 1936 ở Tây Ban Nha có thể đã trở thành một ngoại lệ, nhưng cuộc cách mạng này đã không phát triển thành cách mạng cộng sản và không thu được thắng lợi chung cuộc.

Cách mạng cộng sản cần chiến tranh, cần phá huỷ bộ máy nhà nước cũ là vì, như đã nhấn mạnh ở trên, sự chưa chín muồi về kinh tế và xã hội. Để một nhóm nhỏ, dù có được tổ chức tốt và có kỉ luật đi nữa, có thể nắm được chính quyền thì cần phải phá bỏ toàn bộ hệ thống, đặc biệt là bộ máy nhà nước cũ, cần phải tiến hành chiến tranh. Xin nói thêm: chiến tranh với cơ cấu quyền lực cũ và với hệ thống quản lí nhà nước cũ, vốn đã trở thành người thua cuộc.

Trong Cách mạng tháng Mười, Đảng công nhân xã hội dân chủ Nga chỉ có khoảng 200 ngàn thành viên. Năm 1941 Đảng cộng sản Nam Tư có khoảng 10 ngàn đảng viên. Rõ ràng rằng để có thể giành được chính quyền thì bao giờ cũng cần sự ủng hộ tích cực của một bộ phận dân chúng, nhưng trong mọi trường hợp, khi một đảng tiến hành cách mạng và giành chính quyền lại có số lượng đảng viên không nhiều thì nó chỉ có thể kì vọng vào những điều may mắn “từ trên trời rơi xuống” mà thôi.

Nói chung, một đảng như thế khi chưa nắm được quyền lực thì không bao giờ có thể là đảng có đông đảng viên được.

Phá huỷ hoàn toàn trật tự xã hội cũ và xây dựng một trật tự mới khi những điều kiện về kinh tế và xã hội chưa chín muồi là một nhiệm vụ cực kì khó khăn và có vẻ không thực tế, cho nên đảng đó chỉ có thể lôi kéo được rất ít người, chỉ những người tin tưởng một cách mù quáng vào khả năng biến nó thành hiện thực mới ra nhập đảng mà thôi.

Những hoàn cảnh đặc biệt và một đảng đặc biệt chính là đặc trưng cơ bản của các cuộc cách mạng cộng sản.

Mọi cuộc cách mạng, cũng như mọi cuộc chiến tranh, đều đòi hỏi sự tập trung toàn bộ sức mạnh. Theo Matieza, thì cách mạng Pháp là cuộc cách mạng đầu tiên mà “tất cả nguồn lực của nhân dân: con người, lương thực, vật tư được tập trung vào tay chính phủ”. Cách mạng cộng sản, một cuộc cách mạng “chưa chín muồi” còn đòi hỏi sự tập trung hơn thế nữa: trong tay của đảng không chỉ là những giá trị vật chất mà còn cả các giá trị tinh thần, ngay đảng cũng chính trị hoá và được tổ chức một cách tập trung ở mức độ cao nhất. Chỉ có những đảng cộng sản đã cố kết về mặt chính trị và đoàn kết xung quanh trung ương, không có chia rẽ về mặt tư tưởng mới có khả năng tiến hành cách mạng.

Nếu tiền đề chiến thắng của mọi cuộc cách mạng là sự tập trung tất cả lực lượng và phương tiện cùng với một sự thống nhất nhất định về chính trị của đảng cách mạng thì đối với cách mạng cộng sản điều đó còn có ý nghĩa hơn nữa bởi vì ngay từ đầu nó đã loại trừ mọi nhóm hay chính đảng độc lập tham gia như đồng minh của đảng cộng sản, đồng thời nó còn đòi hỏi chính những người cộng sản một sự thống nhất hoàn toàn về chiến lược và sách lược cũng như quan niệm triết học và cả đạo đức nữa. Sự kiện là những người xã hội-cách mạng cánh tả tham gia vào Cách mạng tháng Mười, cũng như những người không đảng phái và các nhóm thuộc các đảng phái khác nhau tham gia vào cách mạng Trung Quốc hay Nam Tư không những không phủ nhận mà còn khẳng định kết luận trên: những nhóm đó chỉ là tay sai của cộng sản và đến một lúc nào đó họ sẽ phải tự giải tán hoặc bị săn đuổi. Những người xã hội-cách mạng đã bị săn đuổi ngay khi có ý định hoạt động độc lập, còn những nhóm không cộng sản ủng hộ cách mạng ở Trung Quốc và Nam Tư thì trong thực tế đã tự ý thôi hoạt động chính trị ngay từ trước rồi.

Những cuộc cách mạng trước đây không phải là “đặc quyền” của một nhóm duy nhất nào. Trong cao trào của cách mạng, những nhóm khác nhau có thể chèn ép hoặc tiêu diệt lẫn nhau nhưng cách mạng không phải là sự nghiệp của một nhóm duy nhất và cũng không kết thúc bằng việc thiết lập quyền thống trị lâu dài của nhóm đó. Những người Jacobin ở Pháp chỉ có thể nắm giữ chế độ chuyên chế trong một thời gian ngắn. Nền chuyên chế của Napoleon, sinh ra từ trong cách mạng, đồng thời cũng là sự cáo chung của cách mạng và báo hiệu giai đoạn nắm quyền của những tập đoàn tư bản lớn. Nếu trong các cuộc cách mạng trước kia, một đảng đóng vai trò chủ đạo, các đảng khác vẫn tiếp tục hoạt động, cho dù một số có bị cấm đoán và bị săn đuổi thì điều đó cũng không thể kéo dài vì không ai có thể tiêu diệt được họ. Điều đó chỉ xảy ra trong các cuộc cách mạng cộng sản hiện đại về sau này mà thôi. Ngay Công xã Paris, những người cộng sản vẫn coi đây là một cuộc diễn tập của họ, thực chất là một cuộc cách mạng đa đảng phái.

Nếu một đảng nào đó trong những giai đoạn nào đó của cách mạng có đóng vai trò chủ đạo hay vai trò đặc biệt đi nữa thì nó cũng không tập trung hoá về tổ chức và tư tưởng như đảng của những người cộng sản. Ngay những người Thanh giáo ở Anh hay những người Jacobin ở Pháp cũng không bắt buộc phải có quan điểm thống nhất về tư tưởng và triết học, mặc dù Thanh giáo là một tổ chức tôn giáo. Về mặt tổ chức thì Jacobin chỉ là liên hiệp những câu lạc bộ, đối với Thanh giáo thì ngay một liên hiệp như vậy cũng không tồn tại. Chỉ có các cuộc cách mạng cộng sản thời hiện đại mới làm cho sự thống nhất về tư tưởng và tổ chức của đảng trở thành qui luật.

Một điều không thể chối cãi được là: trong tất cả những cuộc cách mạng trước đây, sau khi nội chiến và can thiệp từ bên ngoài kết thúc thì các phương pháp cách mạng cũng như các đảng cách mạng đã không còn cần thiết nữa, đảng có thể bị giải tán. Cách mạng cộng sản thì ngược lại, họ tiếp tục sử dụng những hình thức và biện pháp cách mạng, còn đảng cộng sản thì trở nên tập trung hoá hơn bao giờ hết, tư tưởng của đảng trở thành duy nhất đúng.

Lenin đặc biệt nhấn mạnh điều này trong tiến trình cách mạng (Trong Luận cương Hội nghị thứ II Quốc tế cộng sản, phần “Điều kiện kết nạp vào Quốc tế Cộng sản”):

“Trong giai đoạn nội chiến khốc liệt hiện nay đảng cộng sản chỉ có thể thực hiện được nhiệm vụ của mình nếu được tổ chức một cách tập trung nhất, trong đảng phải có kỉ luật sắt, bên cạnh kỉ luật thời chiến, nếu ban chấp hành trung ương là cơ quan quyền lực có uy tín, được giao quyền lực rộng rãi và nhận được sự tin cậy của các đảng viên”

Stalin còn nói thêm:

“Trong điều kiện cuộc đấu tranh trước khi giành được chính quyền chuyên chính, kỉ luật đảng đã là như thế. Sau khi giành được chính quyền kỉ luật đảng càng phải được nâng cao hơn nữa” [1] .

Tinh thần cảnh giác cách mạng, những đòi hỏi cấp bách về sự thống nhất về mặt tư tưởng, tính đặc thù về chính trị và tư tưởng, chủ nghĩa tập trung, tất cả những điều đó đã không biến mất sau khi giành được chính quyền, mà ngược lại, ngày càng trở thành gay gắt hơn, trầm trọng hơn.

Trong những cuộc cách mạng trước, giai đoạn áp dụng những biện pháp nghiêm khắc, giai đoạn tập trung quyền lực và độc quyền tư tưởng chỉ giới hạn trong khoảng thời gian xảy ra những sự kiện cách mạng. Đối với cuộc cách mạng cộng sản thì đây chỉ là bước khởi đầu của một nền chuyên chế toàn trị của một nhóm người, của một nền thống trị không có hồi kết.

Bạo lực của những cuộc cách mạng trước, ngay cả trong thời kì gọi là Khủng bố trong Cách mạng Pháp, dù không phải lúc nào cũng công chính, nhưng chỉ nhằm trừ khử những kẻ thù thực sự chứ không phải để loại bỏ những người có thể trở thành kẻ thù. Nếu không kể những cuộc chiến tranh tôn giáo thời Trung cổ, việc tiêu diệt hay săn đuổi những tầng lớp xã hội nhất định chỉ là những hiện tượng cực kì hãn hữu. Cộng sản thì khác, nhận thức được rằng cả về lí thuyết và trên thực tế họ xung đột với tất cả các giai cấp và các hệ tư tưởng khác cho nên họ chiến đấu không chỉ chống kẻ thù đã bị lật đổ nhưng vẫn còn sức sống mà họ còn phải chống lại cả những kẻ thù giả định nữa. Tại những nước vùng Ban-tich người ta lập danh sách những người mà họ cho rằng trước đây từng có cảm tình với những đảng phái khác và chỉ trong vài ngày hơn một ngàn người đã bị đàn áp. Việc giết hại hàng ngàn sĩ quan Ba Lan trong khu rừng ở Khatưn cũng nhằm mục đích như thế. Sau khi cách mạng đã xảy ra hàng chục năm, cộng sản vẫn tiếp tục áp dụng những biện pháp đàn áp, với hình thức có vẻ tinh vi hơn, nhưng có thể còn trên diện rộng hơn cả trong những ngày cách mạng (thí dụ như cải cách ruộng đất). Sau cách mạng, sự bất dung về tư tưởng càng ngày càng tăng thêm. Nâng cao vai trò của tư tưởng Marx-Lenin đối với đảng cầm quyền là một xu hướng thường trực ngay cả khi nó tự ý hay buộc phải giảm nhẹ những biện pháp đàn áp trực tiếp.

Khi cuộc trấn áp cách mạng chấm dứt thì các cuộc cách mạng trước đây, đặc biệt là cách mạng tư sản, liền hướng sự chú ý sang việc khẳng định quyền tự do cá nhân. Ngay những người cách mạng cũng coi việc đảm bảo các quyền công dân là một sự nghiệp có ý nghĩa trọng đại. Sự độc lập của toà án luôn luôn được coi là thành quả của cách mạng. Chế độ cộng sản ở Liên Xô cũng như ở bất kì quốc gia cộng sản nào khác sau bốn mươi năm tồn tại cũng chưa hề nghĩ tới điều đó.

Nếu coi việc nâng cao quyền công dân và việc người dân được pháp luật bảo vệ là thành quả của các cuộc cách mạng trước đây, thì điều đó không hề xảy ra trong cách mạng cộng sản.

Cuối cùng, còn một sự khác biệt lớn nữa giữa những cuộc cách mạng trước đây và cách mạng cộng sản thời hiện đại.

Những cuộc cách mạng trước đây, đặc biệt là những cuộc cách mạng lớn, nổ ra trong quá trình đấu tranh của các tầng lớp lao động, nhưng thành quả thì lại thuộc về một giai cấp khác, thuộc về giai cấp lãnh đạo thực hiện việc lãnh đạo về mặt tinh thần và thường là cả về mặt tổ chức của cách mạng. Thành quả của cuộc đấu tranh của những người nông dân và vô sản Pháp bị giai cấp tư sản – cách mạng chính là biểu hiện quyền lợi của giai cấp này – chiếm đoạt. Quần chúng cũng tham gia vào cách mạng cộng sản. Nhưng thành quả lại không thuộc về họ mà thuộc về tầng lớp quan liêu. Tầng lớp quan liêu không phải ai khác mà chính là cái đảng vừa thực hiện xong cuộc cách mạng. Trong các cuộc cách mạng cộng sản, các phong trào tiến hành cách mạng không biến mất. Các cuộc cách mạng cộng sản cũng “ăn thịt những người con của mình”, nhưng không ăn thịt tất cả.

Thực ra, ngay sau khi cách mạng cộng sản thành công, nhất định phải xảy ra giai đoạn thanh toán nhau khốc liệt, đầy phản trắc giữa các nhóm, các trào lưu có những quan điểm khác nhau về con đường tiến lên của cách mạng. Sự kết án lẫn nhau luôn luôn diễn ra xung quanh việc chứng minh một cách giáo điều rằng ai phản cách mạng một cách “khách quan” hoặc “chủ quan” hơn, hoặc ai là tay sai của kẻ thù “bên trong” hay tư bản quốc tế. Dù cách giải quyết những cuộc tranh luận có như thế nào đi chăng nữa, chiến thắng vẫn thuộc về phía những người theo đuổi quá trình công nghiệp hoá theo những nguyên lí của chủ nghĩa cộng sản – buộc nền sản xuất phải phụ thuộc hoàn toàn vào đảng và các cơ quan nhà nước – một cách kiên trì nhất và kiên quyết nhất. Trong khi ăn thịt những đứa con của mình, cách mạng cộng sản có chừa lại một ít, đặc biệt nó không động đến những người quan trọng, những người cần thiết cho quá trình công nghiệp hoá trong tương lai. Thường thì những nhà cách mạng tin tưởng một cách ngây thơ vào những khẩu hiệu và tư tưởng của cách mạng, tin vào khả năng thực hiện những khẩu hiệu đó bị tiêu diệt trước. Xu hướng coi ý nghĩa của cách mạng là củng cố chính quyền như công cụ của quá trình công nghiệp hoá theo nguyên lí của chủ nghĩa cộng sản là xu hướng thắng thế.

Trong cách mạng cộng sản, lần đầu tiên trong lịch sử một nhóm những người tham gia, những đại diện của cánh lãnh đạo đã thọ được sau thắng lợi, đã sống sót sau khi những người đồng chí của mình bị thủ tiêu. Trong các cuộc cách mạng trước đây nhóm này nhất định bị tiêu diệt. Cách mạng cộng sản là cuộc cách mạng đầu tiên được thực hiện “vì lợi ích” của một nhóm trong số những người cách mạng. Họ và bộ máy quan liêu, tụ tập xung quanh họ, là những người được hưởng thành quả của cách mạng. Đấy chính là lí do để cho họ cũng như đông đảo quần chúng giữ mãi ảo tưởng về sự độc đáo của cách mạng, một cuộc cách mạng trung thành với chính mình, với những khẩu hiệu được viết trên những là cờ của mình. Chẳng phải là chính những người đó hay phần lớn trong số họ với những tư tưởng và khẩu hiệu cũ hay đã biến dạng một phần, vẫn lãnh đạo đảng được trui rèn trước cách mạng và nay là những người đứng đầu chính quyền giành được trong cách mạng đó ư?

4.

Ảo tưởng về mục đích và khả năng thực sự mà cuộc cách mạng cộng sản tạo ra không thể có sức mạnh và sức sống hơn ảo tưởng của những cuộc cách mạng trước đây nếu như nó không đồng thời hé mở cho người ta thấy một cách giải quyết hoàn toàn mới về quan hệ sở hữu, nói một cách khác, nếu kết quả của nó không phải là một hình thức sở hữu mới. Tất cả những cuộc cách mạng trước đều ít nhiều tạo ra những biến động về quan hệ sở hữu. Nhưng lúc đó chỉ là một hình thức sở hữu tư nhân này đã chén ép một hình thức sở hữu khác. Bây giờ khác hẳn: đã xảy ra một sự biến đổi căn bản, triệt để, sở hữu tư nhân bị một loại sở hữu trước đó chưa hề tồn tại, sở hữu tập thể lấn át.

Ngay trong tiến trình cách mạng các điền trang lớn cũng như các tập đoàn tư bản kếch xù, nghĩa là những sở hữu có sử dụng lao động làm thuê đã bị tịch thu. Điều đó tạo ra niềm tin rằng lời hứa của những người cách mạng về việc tạo dựng một thiên đàng của công bằng và bình đẳng không phải là những lời nói suông. Đảng và chính quyền do đảng lãnh đạo đồng thời tiến hành những bước tiến mạnh mẽ theo hướng công nghiệp hoá, điều đó càng củng cố thêm lòng tin của người dân: giờ giải phóng cho dân nghèo đã điểm. Không cần phải giấu giếm, chuyên chế và bạo lực hiện diện khắp nơi. Nhưng đấy chỉ là hiện tượng nhất thời, trong khi các giai cấp bị tước đoạt còn kháng cự, trong khi còn đủ mọi loại “phản động”, trong khi chưa cải tạo xong công nghiệp mà thôi!

Quá trình công nghiệp hoá đã có một số thay đổi. Công nghiệp hoá một đất nước lạc hậu lại không được sự trợ giúp, ngược lại, còn bị bên ngoài cản trở, đòi hỏi phải tập trung trong tay nhà nước tất cả mọi nguồn lực. Quốc hữu hoá các điền trang lớn, các tập đoàn tư bản lớn mới chỉ là bước đầu trong việc tập trung tài sản vào tay chính quyền mới.

Vấn đề chưa kết thúc ở đây. Và cũng không thể kết thúc ở đây được.

Tài sản mới được hình thành, những người cộng sản thường gọi là tài sản tập thể hay tài sản xã hội chủ nghĩa, đôi khi họ gọi là tài sản nhà nước, nhất định sẽ mâu thuẫn với những hình thức sở hữu khác. Tài sản mới này phải gánh vác nhiệm vụ chính của quá trình công nghiệp hoá và vì vậy mâu thuẫn sẽ càng ngày càng gay gắt thêm. Tài sản của thợ thủ công, công nhân, nông dân, người buôn bán nhỏ, nghĩa là tại những cơ sở không hề sử dụng lao động làm thuê hoặc sử dụng không đáng kể cũng sẽ bị tập trung. Việc tịch thu tài sản của những chủ sở hữu nhỏ không có liên quan gì đến nhu cầu kinh tế, nghĩa là việc thay đổi hình thức sở hữu không nâng cao được hiệu quả kinh tế.

Khi tiến hành công nghiệp hoá người ta đã tịch thu tài sản của cả những tầng lớp không có biểu hiện chống phá, thậm chí còn giúp đỡ cách mạng nữa. Nhà nước đã trở thành chủ sở hữu, trở thành người quản lí cả những tài sản nhỏ đó nữa. Tài sản tư nhân đã không còn hay đã bị thu nhỏ đến mức vai trò của nó trở thành không đáng kể, đối với những người cầm quyền mới thì việc tiêu diệt hoàn toàn sở hữu tư nhân chỉ còn là vấn đề thời gian.

Trong nhận thức của những người cộng sản và một số quần chúng thì đấy chính là việc thủ tiêu hoàn toàn các giai cấp, là thực hiện lí tưởng xã hội phi giai cấp. Đúng là cùng với việc hoàn thành công nghiệp hoá và tập thể hoá các giai cấp cũ đã không còn. Trong mắt của những người cộng sản thì ảo tưởng về xã hội phi giai cấp đã thành hiện thực. Họ tin như thế hay giả vờ tin như thế mặc cho sự bất bình của quần chúng, thậm chí họ còn tuyên bố một cách dối trá rằng đấy là “tàn dư của quá khứ”, là “âm mưu của kẻ thù giai cấp”.

Tất cả các cuộc cách mạng, thậm chí tất cả các cuộc chiến tranh đều tạo ra ảo tưởng. Ảo tưởng được tạo ra nhân danh những lí tưởng không thể nào thực hiện được, nhưng với người chiến sĩ đang hăng say chiến đấu thì đấy không phải là ảo tưởng, đấy chính là thực tế. Lí tưởng bạc màu, ảo tưởng cũng thành sương khói ngay khi chiến cuộc vừa lụi tàn. Nhưng cách mạng cộng sản thì khác. Ảo tưởng do nó tạo ra còn sống rất lâu trong lòng những người đã từng chiến đấu vì lí tưởng và cả trong quần chúng nữa. Bạo lực, chuyên quyền, cướp bóc trắng trợn, đặc quyền đặc lợi của tầng lớp nắm quyền, tất cả những điều đó vẫn không làm cho một bộ phận dân chúng, chưa nói những người cộng sản, giải thoát khỏi niềm tin mù quáng vào những khẩu hiệu của cách mạng. Dù sao cũng vẫn là “chủ nghĩa xã hội”, dù bất ngờ và dã man thật nhưng chúng ta “vẫn tiến được một bước về phía trước”… Niềm tin và hi vọng của con người vẫn tiếp tục tồn tại ngay cả sau khi đã hoàn thành công nghiệp hoá.

Cách mạng cộng sản đã đưa ra những lí tưởng tuyệt vời nhất, cao cả nhất, đã thực hiện những hành động anh hùng vô song, đồng thời cũng gieo vào lòng người những ảo tưởng bền vững nhất.

Tất cả các dân tộc, bằng cách này hay các khác, đều phải trải qua cách mạng. Các cuộc cách mạng, tuy không thường xuyên, nhưng nhất định phải diễn ra. Cách mạng sẽ đưa đến chế độ chuyên chế, nhưng đồng thời lại dẫn dắt các dân tộc vào con đường mà trước đó họ chưa từng dám bước chân vào. Cách mạng cộng sản không thực hiện, không thể thực hiện được những lí tưởng mà nó từng giương cao trong cuộc đấu tranh. Nhưng nó đã đưa những vùng đất rộng lớn ở châu Á và châu Âu lên con đường văn minh hiện đại. Nó đã tạo ra tiền đề vật chất cho một xã hội tự do hơn trong tương lai. Nếu cách mạng cộng sản đã tạo ra chế độ độc tài tuyệt đối thì đồng thời cũng tạo ra tiền đề để loại bỏ nó trong tương lai. Nếu thế kỉ XIX đã tạo ra nền công nghiệp hiện đại cho phương Tây, thì thế kỉ XX sẽ làm điều đó cho phương Đông. Cái bóng khổng lồ của Lenin đã bao trùm lên một không gian rộng lớn trên lục địa Á-Âu trong suốt gần một trăm năm qua. Cùng với nền độc tài như ở Trung Quốc hay chế độ dân chủ như ở Ấn Độ và Myanmar tất cả các dân tộc châu Á và không chỉ các dân tộc châu Á đang tiến những bước vững chắc trên con đường công nghiệp hoá. Cách mạng Nga đã khởi đầu quá trình này và như vậy ta có thể nói đến giá trị không bao giờ phai mờ của nó.

5.

Từ những điều đã trình bày có thể có cảm tưởng rằng cách mạng cộng sản luôn luôn là một sự tình cờ có tính lịch sử và một cú lừa vĩ đại. Theo một nghĩa nào đó thì lí do như sau: không có cuộc cách mạng nào lại đòi hỏi những hoàn cảnh đặc biệt đến như thế và cũng không có cuộc cách mạng nào hứa nhiều như thế mà lại làm ít đến như thế.

Thói mị dân, những lời nói quanh co, không nhất quán là đặc trưng của các lãnh tụ cộng sản, nhất là khi họ buộc phải hứa hẹn một xã hội siêu lí tưởng và “thủ tiêu tất cả áp bức, bóc lột”.

Nhưng cũng không thể nói rằng những người cộng sản đã lừa nhân dân, không thể nói rằng họ đã cố tình đánh lừa rồi sau không chịu thực hiện. Sự thật là: họ không thể thực hiện được điều mà chính họ đã nhiệt liệt tin tưởng. Dĩ nhiên là họ không nhận như thế, họ không dám nhận ngay cả khi buộc phải hành động trái ngược hẳn với những điều đã hứa một cách thực tâm. Theo họ, công nhận điều đó cũng có nghĩa là công nhận rằng cách mạng là vô ích. Và như thế chính họ sẽ là những người vô tích sự. Chuyện đó thì không thể xảy ra được, nhất là đối với họ.

Kết quả cuối cùng của những xung đột xã hội không bao giờ giống và không thể giống với những điều đã được những người tham gia hoạch định từ trước, vì nó phụ thuộc vào một loạt hoàn cảnh mà trí tuệ và kinh nghiệm của con người không thể nắm bắt hết được. Điều đó còn đặc biệt đúng đối với những cuộc cách mạng đỏi hỏi những nỗ lực phi thường, những cuộc cách mạng thực hiện những thay đổi tận gốc rễ, tạo ra niềm tin tuyệt đối rằng sau chiến thắng sẽ là cuộc sống tự do, hạnh phúc cho tất cả mọi người. Cuộc Cách mạng Pháp được thực hiện nhân danh lí trí, với niềm tin rằng tự do, bình đẳng và bác ái nhất định sẽ tới. Cách mạng Nga được thực hiện nhân danh “thế giới quan khoa học”, vì một xã hội không còn giai cấp. Nhưng cả hai cuộc cách mạng đó không thể nào thắng lợi nếu những người cách mạng và cùng với họ là một bộ phận quần chúng không tin tưởng vững chắc vào lí tưởng của mình.

Niềm tin viển vông của những người cộng sản vào khả năng của họ sau cách mạng còn lớn hơn cả niềm tin của những người mà họ dẫn dắt. Công nghiệp hoá là không thể tránh, người cộng sản có thể biết và đã biết điều đó, nhưng hậu quả của nó đối với xã hội và các quan hệ xã hội thì họ không biết, họ chỉ có thể đoán mò mà thôi.

Các nhà sử học chính thức ở Liên Xô và Nam Tư thường mô tả cách mạng như là kết quả của những hành động được tính toán kĩ lưỡng từ trước. Nhưng thực ra chỉ có phương hướng cách mạnh và đấu tranh vũ trang là được hoạch định còn hình thức sẽ nảy sinh trong quá trình thực hiện, trong những hoàn cảnh cụ thể. Lenin rõ ràng là một trong những nhà cách mạng vĩ đại nhất trong lịch sử cũng không tưởng tượng được cách mạng sẽ nổ ra khi nào và dưới hình thức nào, ông cũng chỉ nắm được điều đó qua thực tiễn của cuộc đấu tranh. Tháng Giêng năm 1917, trước Cách mạng tháng Hai đúng một tháng và trước Cách mạng tháng Mười, cuộc cách mạng đã đưa ông đến quyền lực, có mười tháng, trong buổi thuyết trình trước các đảng viên xã hội Thuỵ Sĩ, ông đã nói như sau:

“Những người già cả chúng tôi có lẽ sẽ không được nhìn thấy những trận chiến quyết định của cuộc cách mạng tương lai. Nhưng tôi có thể nói một cách tin tưởng rằng các bạn trẻ đang hoạt động tích cực trong phong trào xã hội ở Thuỵ Sĩ và trên toàn thế giới sẽ có may mắn không chỉ đấu tranh mà còn chiến thắng trong cuộc các mạng vô sản trong tương lai” [2] .

Có cần thảo luận việc Lenin hay bất kì một người nào khác có thể dự đoán được những hậu quả xã hội của cuộc cách mạng, tiên đoán được những quan hệ sẽ hình thành trong và sau khi cuộc đấu tranh phức tạp và kéo dài ấy kết thúc hay không?

Mặc dù mục tiêu của chủ nghĩa cộng sản là phi thực tế, nhưng khác với những người cách mạng trong quá khứ, người cộng sản tỏ ra rất thực tiễn trong việc thực hiện vai trò lịch sử của mình. Họ đã tiến hành công nghiệp hoá bằng một biện pháp duy nhất có thể: thiết lập chế độ toàn trị tuyệt đối.

Với cách mạng cộng sản, lần đầu tiên trong lịch sử, những người cách mạng không biến mất khỏi vũ đài chính trị mà còn tiến hành xây dựng những mối quan hệ xã hội mới, trái ngược hẳn với những gì họ từng tin và từng hứa với một tinh thần thực dụng cao độ, mặc dù không giải thoát hoàn toàn khỏi những ảo tưởng của thời tiền cách mạng. Trong quá trình cải tạo và cộng nghiệp hoá, cách mạng cộng sản đã biến chính các nhà cách mạng thành chủ nhân và người sáng tạo của xã hội mới.

Những dự đoán cụ thể của Marx và của Lenin về việc xây dựng một xã hội tự do, phi giai cấp, thông qua chuyên chính vô sản tỏ ra là không chính xác. Nhưng công cuộc công nghiệp hoá xã hội trên cơ sở của nền công nghệ hiện đại thì đã thành hiện thực.

Khác với các qui luật khách quan, các qui luật khẳng định tính vạn năng hay có thể nói tính chính xác của mình; một lần nữa ta lại thấy vai trò của con người chỉ là tương đối, các dự đoán của con người chỉ là tương đối.

6.

Nếu muốn có một kết luận không phải trên thực tế khách quan mà theo những qui luật của logic hình thức thì ta có thể nói: cuộc cách mạng cộng sản đã dựa vào bộ máy nhà nước để thực hiện việc cưỡng bách trong những hoàn cảnh đặc biệt, nó đã hoàn thành cuộc cách mạng công nghiệp hoá tương tự như chủ nghĩa tư bản đã làm ở phương Tây cho nên nó chính là cuộc cách mạng tư bản – nhà nước và chiến thắng mà nó mang lại chính là quan hệ tư bản – nhà nước. Điều này đặc biệt đúng khi ta thấy nhà nước làm nhiệm vụ điều chỉnh tất cả quan hệ như chính trị, lao động và những mối quan hệ khác và điều đặc biệt quan trọng là chính quyền làm nhiệm vụ phân phối thu nhập quốc dân, sử dụng những nguốn lực về hình thức đã trở thành sở hữu nhà nước.

Cuộc tranh cãi xung quanh vấn đề là quan hệ ở Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa khác là quan hệ tư bản nhà nước, quan hệ xã hội chủ nghĩa hay quan hệ nào khác, là cuộc tranh cãi mang tính giáo điều. Thực ra nó đúng là vấn đề mang tính giáo điều.

Nhưng đây là một vấn đề cực kì quan trọng.

Ngay cả khi giả sử lời khẳng định của Lenin rằng tư bản nhà nước là “thời kì mở đầu của chủ nghĩa xã hội”, hay đây là giai đoạn đầu của chủ nghĩa xã hội thì những người dân sống dưới chế độ chuyên chế cộng sản cũng không vì thế mà cảm thấy thoải mái hơn. Nhưng nếu ta có thể nhận thức được, một cách dù là tương đối, đặc điểm của sở hữu và quan hệ xã hội mà cách mạng cộng sản sẽ mang lại thì mới mong giải phóng con người khỏi những gông xiềng của nó. Nếu người ta không nhận thức được bản chất của những mối quan hệ trong xã hội mà họ đang sống và không biết phương pháp thay đổi những mối quan hệ đó thì cuộc đấu tranh của họ sẽ trở thành vô ích.

Như vậy là, nếu đồng ý rằng cách mạng cộng sản, trái ngược với những lời hứa hẹn và những ảo tưởng, chỉ dẫn đến những mối quan hệ tư bản nhà nước thì ta sẽ nhận thấy rằng những biện pháp nhằm hoàn thiện hoạt động của bộ máy hành chính, giảm bớt sự tuỳ tiện và áp bức của nó chính là những biện pháp thực tế và đúng đắn. Các lãnh tụ cộng sản đã làm đúng như thế: họ luôn luôn kêu gọi hoàn thiện công tác quản lí hành chính và đấu tranh chống lại “chủ nghĩa quan liêu” mặc dù về mặt lí luận họ không công nhận rằng hệ thống của họ chính là chủ nghĩa tư bản nhà nước.

Nhưng quan hệ ở đây không phải là quan hệ tư bản nhà nước và không thể tìm được lối ra, hệ thống không thể nâng cao hiệu quả một cách rõ rệt bằng biện pháp đơn giản như cải tiến hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước, không thể biến nó thành “bộ máy công bằng hơn” được.

Quan hệ trong chủ nghĩa cộng sản rất giống với quan hệ tư bản nhà nước về mặt hình thức và vai trò bao trùm lên toàn bộ của bộ máy nhà nước. Nhưng bên dưới cái mặt nạ đó là một cái gì đó hoàn toàn khác.

Để có thể nhận thức được bản chất những mối quan hệ xuất hiện trong cách mạng cộng sản và được củng cố vững chắc bởi quá trình công nghiệp hoá và hợp tác hoá cần phải chú ý đến vai trò và phương pháp hoạt động của nhà nước trong chế độ cộng sản. Ở đây phải nhấn mạnh rằng bộ máy nhà nước không phải là công cụ chủ yếu để tạo lập quan hệ sở hữu và những mối quan hệ xã hội khác, nó chỉ đóng vai trò người bảo vệ những mối quan hệ ấy mà thôi. Mọi thứ dường như đều được làm nhân danh và phù hợp với các qui định của nhà nước. Nhưng bên trên và đằng sau mọi hành động của nhà nước là đảng cộng sản. Cũng không phải là toàn đảng mà chỉ là tầng lớp quan liêu, tầng lớp chuyên nghiệp của đảng mà thôi. Chính tầng lớp quan liêu này mới là người sử dụng, quản lí và phân phối toàn bộ khối tài sản đã được quốc hữu hoá và tập thể hoá cũng như toàn thể đời sống xã hội nói chung. Chính vai trò độc quyền quản lí và phân phối thu nhập quốc dân cũng như mọi tài sản khác của quốc gia đã biến tầng lớp quan liêu này thành tầng lớp đặc quyền đặc lợi. Các mối quan hệ xã hội về mặt hình thức và nhìn từ bên ngoài thì có vẻ như là quan hệ tư bản nhà nước. Nguồn gốc của nó cũng dễ làm cho người ta nghĩ như thế: công nghiệp hoá không phải nhờ tư bản mà bằng những biện pháp cưỡng chế. Trên thực tế vai trò đó do một tầng lớp đặc quyền đặc lợi, sử dụng bộ máy nhà nước như là công cụ, như là bình phong về mặt pháp lí, thực hiện. Mọi người cũng đều biết như thế.

Nếu quyền sở hữu chỉ là quyền sử dụng và phân phối và nếu quyền đó chỉ thuộc về một nhóm người nhất định, thì điều đó có nghĩa là trong các nhà nước cộng sản đã xuất hiện một hình thức sở hữu hoàn toàn mới, nghĩa là đã xuất hiện một giai cấp bóc lột mới.

Không phải trên lời nói mà trên thực tế những người cộng sản đã hành động như mọi giai cấp nắm quyền khác, họ cũng không thể hành động khác được, trong khi tin tưởng rằng đang xây dựng một xã hội lí tưởng, họ chỉ xây dựng được cái xã hội phù hợp với sức lực của họ mà thôi. Những điều kiện cho việc hình thành xã hội đó đã chín muồi, cho dù nó không thể chín cho một xã hội lí tưởng như niềm tin mà cách mạng từng hứa hẹn. Như vậy, ta có thể kết luận rằng với một số nước, trong một giai đoạn phát triển nhất định thì cuộc cách mạng và xã hội của họ không xuất hiện một cách vô tình và trái tự nhiên. Đấy là lí do vì sao xã hội đó, trong một giai đoạn nhất định, giai đoạn công nghiệp hoá, đã phải chịu và chịu đựng được bạo lực cộng sản, dù nó có tàn khốc và vô nhân đến mức nào. Sau đó thì bạo lực đã không còn cần thiết nữa, nó chỉ còn được sử dụng để đảm bảo đặc quyền ăn cướp của giai cấp mới mà thôi. Khác hẳn với những cuộc cách mạng trong quá khứ, cách mạng cộng sản nhân danh tiêu diệt giai cấp đã lập nên ách thống trị của một giai cấp mới.

Tất cả những điều khác chỉ là ảo tưởng hão huyền.

________________________________________
[1]I. V. Stalin, Toàn tập, Tập 6, trang 182, Moskva, 1954.
[2]V. I. Lenin, Toàn tập, Tập 30, trang 328.
Nguồn: Bản tiếng Nga, tại http://dzhilas-milovan.viv.ru/index.htm
http://phamnguyentruong.blogspot.com/2011/11/milovan-djilas-giai-cap-moi-ki-2.html

Milovan Djilas – Giai cấp mới (Kì 3) Phạm Nguyên Trường dịch

Giai cấp mới

1.

Như đã nói ở trên, tại Liên Xô và những nước cộng sản khác, tất cả đã diễn ra không như tưởng tượng của các lãnh tụ nổi tiếng nhất như Lenin, Stalin, cũng như Trotsky và Bukharin. Cứ theo quan niệm của họ thì bộ máy nhà nước Liên Xô sẽ ngày một yếu đi, trong khi nền dân chủ sẽ ngày một mạnh thêm. Đã xảy ra điều hoàn toàn ngược lại. Người ta cho rằng mức sống sẽ được nâng cao nhanh chóng trong một tương lai không xa, nhưng hoá ra đời sống được cải thiện không đáng kể, trong các nước Đông Âu mức sống lại có phần bị sụt giảm: dù sao thì sự cải thiện điều kiện sống cũng không tương xứng với mức độ công nghiệp hoá. Người ta từng tin tưởng rằng mâu thuẫn giữa thành thị và nông thôn, giữa lao động trí óc và lao động chân tay sẽ dần được san bằng, nhưng hoá ra những mâu thuẫn này ngày càng sâu sắc thêm. Tình hình cũng xảy ra tương tự trong các lĩnh vực khác, kể cả những dự đoán về sự phát triển của thế giới phi cộng sản.

Nhưng ảo tưởng lớn nhất chính là ảo tưởng rằng cùng với việc công nghiệp hoá và tập thể hoá nghĩa là cùng với việc thủ tiêu sở hữu tư bản chủ nghĩa, Liên Xô sẽ trở thành xã hội phi giai cấp. Năm 1936, nhân dịp công bố Hiến pháp mới, Stalin tuyên bố rằng ở Liên Xô đã không còn giai cấp bóc lột, nhưng trên thực tế người ta không chỉ thực hiện xong quá trình thủ tiêu các nhà tư sản và các giai cấp khác của chế độ cũ mà còn thiết lập một giai cấp hoàn toàn mới, chưa từng có trong lịch sử.

Dễ hiểu là giai cấp mới này, cũng như mọi giai cấp trước nó trong quá khứ đã tự coi sự thống trị của mình là sự toàn thắng của hạnh phúc và tự do cho tất cả mọi người. Chỉ có một khác biệt duy nhất: thiếu khoan dung hơn, nó không cho phép nghi ngờ những ảo tưởng do nó áp đặt và không cho phép nghi ngờ quyền cai trị của mình. Điều đó lại chứng tỏ rằng sự thống trị của nó toàn triệt hơn mọi chế độ từng được biết đến trong lịch sử, thành kiến và ảo tưởng giai cấp của nó cũng tương đương như thế.

Cái giai cấp mới đó, tầng lớp quan liêu, đúng hơn phải nói tầng lớp chính trị quan liêu, không những mang trong mình nó tất cả đặc thù của các giai cấp bóc lột trước đó mà còn có những đặc trưng riêng biệt, khác hẳn. Ngay sự xuất hiện của nó, tuy có nhiều điểm chung với sự xuất hiện của những giai cấp khác, nhưng vẫn có những khác biệt.

Những giai cấp khác, trong đại đa số các trường hợp, cũng giành được tài sản và quyền lực bằng con đường cách mạng, nghĩa là phá bỏ các quan hệ chính trị, xã hội và các quan hệ cũ. Nhưng các giai cấp đó giành được chính quyền sau khi những hình thức kinh tế mới đã giành được thế thượng phong trong lòng xã hội cũ. Giai cấp mới trong hệ thống cộng sản xuất hiện không phải với mục đích hoàn thành các cuộc cải cách mà với ý định đặt nền móng cho các quan hệ kinh tế mới và sự thống trị của chính nó đối với xã hội.

Trong những thời đại trước, việc giành chính quyền của một giai cấp, một bộ phận của giai cấp hay của một đảng nào đó chính là hành động cuối cùng trong việc tạo lập và hình thành ý thức của thời đại. Tại Liên Xô tình hình diễn ra khác hẳn: giai cấp mới chỉ thực sự hình thành sau khi đã nắm được quyền lực. Nhận thức về thời đại tiếp tục phát triển – và phải phát triển vì cho đến lúc đó nó chưa ăn sâu, bén rễ vào đời sống của dân tộc – vượt trước cả khả năng kinh tế và khả năng vật lí của nó; còn vai trò của dân tộc và bức tranh của thế giới thì được vẽ ra dưới dạng lí tưởng hoá. Điều này tuy nhiên không làm giảm khả năng thực tế của nó. Ngược lại là khác. Cùng với những ảo tưởng và mặc dù có những ảo tưởng như thế, giai cấp mới chính là hiện thân của xu hướng công nghiệp hoá, một xu hướng đã trở thành đòi hỏi khách quan. Từ đó cũng xuất hiện tính thực dụng của nó. Niềm tin vào một thế giới lí tưởng do chính nó hứa hẹn đã cố kết đội ngũ, đã reo rắc ảo tưởng vào trong quần chúng, đồng thới cũng kêu gọi và động viên họ hoàn thành những công việc có ý nghĩa thực tiễn to lớn.

Vì giai cấp mới không thoát thai từ cội nguồn của các tiến trình kinh tế-xã hội hiện thực, ta chỉ có thể tìm thấy mầm mống của nó bên trong một tổ chức đặc biệt, một tổ chức dựa trên kỉ luật sắt và sự thống nhất về mặt tư tưởng. Họ phải lấy những nhân tố chủ quan, đấy là sự thống nhất về nhận thức và kỉ luật sắt để bù vào những khiếm khuyết khách quan trong lĩnh vực kinh tế và những lĩnh vực khác trong đời sống xã hội trong những giai đoạn đầu.

Nguồn gốc của giai cấp mới là đảng kiểu mới, đảng bolshevik. Lenin đã hoàn toàn có lí khi cho rằng đảng do ông thành lập là đảng đặc biệt trong lịch sử loài người, nhưng ông không thể nghĩ rằng chính đảng đó lại là cội nguồn của một giai cấp mới.

Đúng hơn phải nói rằng mầm mống của giai cấp mới không phải nằm trong toàn bộ đảng bolshevik mà chỉ nằm trong tầng lớp các nhà cách mạng chuyên nghiệp – lực lượng nòng cốt của đảng trước khi đảng giành được chính quyền. Không phải vô tình mà sau thất bại của Cách mạng năm 1905, Lênin đã khẳng định rằng chỉ có các nhà cách mạng chuyên nghiệp, nghĩa là những người lấy hoạt động cách mạng làm nghề nghiệp chính, ngoài ra họ không làm gì khác, mới có thể thành lập được một đảng kiểu mới mà thôi. Stalin, người kiến tạo giai cấp mới là biểu hiện rõ ràng nhất hình ảnh người cách mạng chuyên nghiệp kiểu đó. Nhóm những nhà cách mạng chuyên nghiệp đó đã phát triển dần dần thành một giai cấp cầm quyền mới. Các nhà cách mạng này sẽ còn đóng vai trò hạt nhân của nó trong một thời gian dài nữa. Trotsky đã nhận xét rằng chính những nhà cách mạng chuyên nghiệp đã tạo ra mầm mống của bộ máy quan liêu của Stalin. Nhưng ông đã không hiểu một điều, đây chính là mầm mống của một giai cấp cầm quyền, giai cấp bóc lột mới.

Nhưng điều đó không có nghĩa là đảng và giai cấp là một. Đảng chỉ là hạt nhân, là cơ sở. Thật khó, thậm chí không thể xác định được ranh giới của giai cấp mới và không thể liệt kê được tất cả các thành viên của nó. Nói chung, bất cứ người nào nhờ độc quyền trong việc quản lí mà có đặc lợi về kinh tế thì đều có thể coi là thuộc giai cấp mới cả.

Đồng thời công tác quản lí cũng là một công việc cần thiết cho xã hội cho nên cá nhân có thể vừa là một người có ích vừa là một kẻ ăn bám. Rõ ràng rằng không phải đảng viên nào cũng nằm trong giai cấp, cũng như không phải bất kì người thợ thủ công hay đảng viên đảng tư sản nào cũng được coi là nhà tư sản vậy.

Một cách chung nhất, có thể nói rằng: cùng với việc củng cố giai cấp mới, khi bộ mặt của nó ngày càng thể hiện rõ thì vai trò của đảng cũng ngày càng giảm đi. Hạt nhân và cơ sở của giai cấp mới đã hình thành ở bên trong cũng như trên đỉnh quyền lực của đảng cũng như của bộ máy nhà nước. Cái đảng từng có lúc là một tổ chức sinh động, đầy sáng kiến, thì nay, đối với những người cầm đầu của giai cấp mới, họ đã biến thành một vật trang trí, càng ngày chỉ càng kéo vào hàng ngũ của mình những kẻ hãnh tiến, những kẻ muốn nhập vào hàng ngũ của giai cấp mới và đẩy những người vẫn còn tin vào lí tưởng ra rìa.

Đảng sinh ra giai cấp. Sau đó giai cấp tự phát triển bằng chính nguồn lực của mình và sử dụng đảng như là cơ sở. Giai cấp thì mạnh lên, trong khi đảng thì yếu đi, đấy là số phận không thể cưỡng lại được của tất cả các đảng cộng sản cầm quyền.

Một đảng không quan tâm đến việc tái sản xuất, nghĩa là không mang trong mình nó giai cấp mới và tài sản của giai cấp ấy thì không thể nào trụ vững được về mặt tư tưởng và đạo đức, hơn nữa lại có thể cầm quyền lâu trong một thời gian dài như đảng cộng sản. Sau khi hoàn thành kế hoạch năm năm lần thứ nhất, Stalin hùng hồn tuyên bố rằng nếu không thành lập được bộ máy thì “chúng ta” đã thất bại rồi! Đáng ra phải nói thành lập “giai cấp mới” thì mọi sự đã rõ ràng hơn.

Việc một đảng chính trị trở thành mầm mống của một giai cấp mới có vẻ như là một việc không hoàn toàn bình thường. Thường thì đảng là sản phẩm của các giai cấp hay tầng lớp dân cư đã đạt đến một trình độ phát triển kinh tế và tinh thần nhất định. Nhưng nếu xem xét kĩ những bước thăng trầm của nước Nga và các nước khác, nơi mà chủ nghĩa cộng sản đã giành thắng lợi bằng nội lực thì ta sẽ thấy rằng cái đảng kiểu mới đó chính là sản phẩm của những hoàn cảnh cụ thể và không phải là hiện tượng bất thường và vô tình. Mặc dù chủ nghĩa cộng sản có nguồn gốc từ trong sâu thẳm của lịch sử Nga, nó còn là phó sản của hoàn cảnh chính trị mà nước Nga rơi vào trong cuộc chuyển tiếp giữa thế kỉ XIX và thế kỉ XX. Sự phát triển đã buộc nước Nga phải thoát ra khỏi chế độ độc tài chuyên chế, nhưng chủ nghĩa tư bản lại quá yếu, phụ thuộc vào tư bản nước ngoài, không đủ sức thực hiện cách mạng công nghiệp. Việc đó chỉ có thể được thực hiện bởi một giai cấp mới, dĩ nhiên là giai cấp này sẽ thực hiện theo những quan điểm riêng của mình.

Giai cấp như vậy chưa tồn tại.

Lịch sử không quan tâm đến việc ai làm, quan trọng là điều cần thiết đã được làm. Điều đó đã xảy ra ở Nga và ở những nước đã từng diễn ra các cuộc cách mạng cộng sản khác. Cách mạng đã tạo ra lực lượng: đấy là những lí tưởng, những tổ chức và lãnh tụ cần thiết. Giai cấp mới đã hình thành từ những điều kiện khách quan, do ý chí, tư tưởng và hành vi của những lãnh tụ cách mạng.

2.

Giai cấp mới có nguồn gốc từ những người vô sản. Quí tộc thoát thai từ tầng lớp nông dân, giai cấp tư sản sinh ra từ những người buôn bán, thợ thủ công, các điền chủ thời trung cổ, tương tự như vậy, giai cấp mới được hình thành từ tầng lớp vô sản. Ở đây có thể có một số ý kiền bất đồng là do điều kiện đặc thù của từng dân tộc. Nhưng “vật liệu” hình thành nên giai cấp mới thì vẫn là tầng lớp vô sản ở những nước kém phát triển và chính tầng lớp ấy cũng còn rất lạc hậu

Nhưng nguồn gốc không phải là lí do duy nhất, thậm chí chỉ là lí do phụ giải thích vì sao giai cấp mới luôn luôn nói rằng họ là đại diện của giai cấp công nhân. Họ làm điều đó vì những lí do khác. Thứ nhất, giai cấp này tuyên bố lập trường chống tư bản cho nên nó phải tìm sự ủng hộ của các tầng lớp lao động, thứ hai nó dựa vào cuộc đấu tranh và niềm tin của giai cấp vô sản về chế độ cộng sản, nơi không còn cảnh người bóc lột người dã man nữa. Ngoài ra, giai cấp mới còn phải quan tâm đến việc đảm bảo cho qúa trình sản xuất hoạt động bình thường, đấy cũng là lí do nó phải cố gắng để không bị mất liên hệ với quần chúng lao động. Nhưng quan trọng nhất là giai cấp mới không thể tiến hành công nghiệp hoá và bằng cách đó củng cố sức mạnh của mình nếu không có giai cấp công nhân, những người vẫn coi việc nâng cao vai trò của công nghiệp là con đường thoát khỏi cảnh nghèo nàn và tuyệt vọng mà chính giai cấp này cũng như toàn dân tộc đang lâm vào. Quyền lợi, lí tưởng, hi vọng và niềm tin của giai cấp mới, của một bộ phận giai cấp công nhân và bần cố nông đã song hành với nhau trong một thời gian dài. Sự đồng thuận như vậy cũng đã từng xảy ra giữa các giai tầng của những giai cấp khác nhau trong quá khứ. Chả phải là giai cấp tư sản đã là người đại diện cho tầng lớp nông dân trong cuộc đấu tranh phản phong đấy ư?

Con đường đưa giai cấp mới đến với quyền lực là tham gia vào cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản và những tầng lớp cùng khổ khác, các tầng lớp này chính là chỗ dựa của đảng, đúng hơn phải nói: của giai cấp mới. Quyền lợi của các lực lượng này liên kết chặt chẽ với nhau cho đến khi giai cấp mới thiết lập được sự thống trị của mình. Sau đó thì giai cấp vô sản và các tầng lớp nghèo khổ khác chỉ còn được quan tâm vì nhu cầu của sản xuất và giữ cho những tầng lớp dễ biến động và nổi loạn trong vòng kìm kẹp mà thôi.

Địa vị độc tôn đối với toàn xã hội mà giai cấp mới nhân danh giai cấp công nhân lập nên trước hết là sự độc tôn ngay với giai cấp công nhân, ban đầu là trong lĩnh vực tinh thần, dưới danh nghĩa là đội tiên phong của giai cấp vô sản, sau đó là trong tất cả các lĩnh vực khác, thực chất là một sự lừa dối vĩ đại mà giai cấp mới buộc phải thực hiện. Nhưng điều đó cũng chứng tỏ rằng nguồn sức mạnh và lĩnh vực quan tâm của giai cấp mới chính là công nghiệp. Không có công nghiệp thì giai cấp mới không những không thể ổn định mà cũng không thể khẳng định được địa vị thống trị của mình.

Giai cấp mới luôn luôn được bổ sung bằng những người xuất thân từ giai cấp công nhân. Số phận của tầng lớp nô lệ từ xưa đến nay vẫn là như thế, họ phải cống nạp cho các ông chủ những đại diện tài năng nhất, có tầm nhìn xa trông rộng nhất của mình. Trong trường hợp này, giai cấp bóc lột mới đã phát sinh và phát triển từ chính giai cấp bị bóc lột.

3.

Khi phân tích một cách có phê phán hệ thống cộng sản người ta thường đưa ra đặc trưng cơ bản nhất của hệ thống này, đây là việc toàn dân phải chịu khuất phục trước một tầng lớp đặc biệt, tầng lớp các viên chức quan liêu. Nói chung thì điều đó đúng. Nhưng khi phân tích một cách kĩ hơn thì ta sẽ thấy rằng toàn dân phải chịu khuất phục trước những con người cụ thể, những người trong thực tế không phải là quan chức hành chính, những người hợp thành hạt nhân của bộ máy quan liêu, hay theo cách gọi của tôi là giai cấp mới. Trên thực tế đấy chính là bộ máy quan liêu chính trị, bộ máy của đảng. Tất cả các viên chức khác chỉ là người giúp việc, ở đây có thể là một bộ máy vừa to lớn vừa chậm chạp nhưng cần thiết cho mọi cộng động. Sự phân biệt giữa nhóm thứ nhất và nhóm thứ hai có thể được nhận biết về mặt xã hội học, nhưng trong cuộc sống thì hai nhóm này là không thể tách biệt. Vấn đề không chỉ bởi vì toàn bộ hệ thống cộng sản là một hệ thống có tính chất quan liêu, tầng lớp quan liêu chính trị và hành chính đều có thể náu mình trong đó mà còn vì các đảng viên thường khi cũng thực hiện những nhiệm vụ quản lí có ích nhất định. Ngoài ra, tầng lớp quan chức chính trị không thể nắm hết đặc quyền đặc lợi, nó phải chia bớt một phần cho những quan chức khác nữa.

Ngoài ra, cần phải nhận rõ sự khác nhau giữa bộ máy quan liêu chính trị đã nói ở trên với bộ máy quan liêu xuất hiện trong quá trình tập trung hoá của nền sản xuất hiện đại (sự độc quyền, các công ty, tài sản nhà nước). Trong các công ty độc quyền tư bản số lượng viên chức cũng đang tăng lên một cách nhanh chóng. Điều đó cũng đúng đối với cả những ngành công nghiệp đã được quốc hữu hoá ở phương Tây nữa. R. Dabin khẳng định rằng các viên chức nhà nước hoạt động trong lĩnh vực sản xuất được coi là một tầng lớp đặc biệt: “Viên chức thường sống gắn bó với các đồng nghiệp. Quyền lợi chung thường đóng vai trò chất kết dính, gắn bó họ với nhau, đặc biệt là sự cạnh tranh nội bộ ít xảy ra vì sự thăng tiến phụ thuộc vào thâm niên công tác. Khả năng xảy ra xung đột nội bộ như vậy là gần như không có, và người ta cho rằng điều đó có ảnh hưởng tích cực đối với bộ máy quan liêu. Nhưng tinh thần đồng đội và cơ cấu xã hội lại dẫn đến kết quả là cá nhân thường chăm lo đến quyền lợi của mình chứ không còn quan tâm đến khách hàng hay các viên chức cấp cao do bầu cử mà ra” [1] .

Mặc dù có nhiều điểm giống nhau, nhất là tinh thần đồng đội, nhưng các viên chức quan liêu cộng sản không phải là những quan chức phương Tây đã được nói tới ở trên. Khác biệt là ở chỗ: tuy cũng là một giai tầng đặc biệt nhưng các viên chức nhà nước trong những nước không cộng sản không có quyền quyết định về tài sản, trong khi các viên chức cộng sản lại làm chính công việc ấy. Bên trên các viên chức phương Tây là những chính trị gia, thường là thông qua bầu cử hoặc là các ông chủ thực sự, trong khi đó bên trên các viên chức cộng sản thì không còn ai, không có chủ nhân cũng chẳng còn người quản lí nào khác, chỉ có họ với nhau mà thôi. Ở phương Tây thì đấy là các công chức trong nhà nước hiện đại hay các viên chức trong nền kinh tế tư bản chủ nghĩa, còn ở đây là một hiện tượng hoàn toàn khác, ta thấy một giai cấp mới.

Tương tự như các giai cấp hữu sản khác, minh chứng cho sự tồn tại của một giai cấp đặc biệt chính là sở hữu và quan hệ đặc thù của nó với những giai cấp khác. Chỉ cần nhìn vào đặc quyền do cái sở hữu kia mang lại là ta biết ngay một cá nhân cụ thể có thuộc về giai cấp ấy hay không.

Nếu xem xét khái niệm “sở hữu” theo quan điểm được khoa học xác định ngay từ thời La Mã, như là quyền chiếm hữu, quản lí và sử dụng (usus, Fructus, abusus) sản phẩm vật chất thì tầng lớp quan liêu cộng sản đã thực hiện chính những quyền ấy đối với tài sản quốc gia. Còn muốn biết một người có thuộc tầng lớp quan liêu, tầng lớp hữu sản hay không, chỉ cần xem người đó được sử dụng những gì do tài sản đó mang lại, trong trường hợp này là tài sản đã được quốc hữu hoá. Một người được coi là thuộc về tầng lớp đảng trị quan liêu, thuộc về giai cấp mới nếu người đó nhận được nhiều hơn cái đáng lẽ xã hội phải trả cho phần công việc mà người đó thực hiện, cũng như trong mọi vị trí xã hội đặc quyền đặc lợi khác, chính vị trí mang lại cho người ta quyền được hưởng mọi ưu đãi. Trên thực tế quyền sở hữu của giai cấp mới được thể hiện trong việc bộ máy quan liêu đảng trị nắm toàn bộ quyền hành trong việc phân phối thu nhập quốc dân, định đoạt mức lương, lựa chọn phương hướng phát triển của nền kinh tế, cũng như quản lí số tài sản đã được quốc hữu hoá cũng như mọi tài sản khác mà trong con mắt một người dân bình thường thì đây là công việc vừa sức, có thu nhập cao chứ hoàn toàn không phải là một công việc quá nặng nề đối với người cán bộ cộng sản.

Sau khi đã huỷ bỏ quyền sở hữu tư nhân, về nguyên tắc giai cấp mới không thể dựa vào một kiểu sở hữu tương tự được nữa. Quan hệ sở hữu tư nhân không những không phù hợp đối với việc thiết lập quyền thống trị của giai cấp mới mà việc bãi bỏ quan hệ sở hữu này còn là điều kiện cần thiết về mặt kinh tế để cải tạo toàn bộ dân tộc. Giai cấp mới khai thác sức mạnh, đặc quyền, tư tưởng và thói quen từ một hình thức sở hữu đặc thù. Đấy là sở hữu tập thể, nghĩa là cái sở hữu mà nó có quyền quản lí và phân phối “nhân danh” dân tộc, “nhân danh” xã hội.

Hình thức quan hệ sở hữu cộng sản nói trên có xu hướng ràng buộc với những quan hệ xã hội hoàn toàn xác định. Đấy là quan hệ giữa sự quản lí độc quyền, một bên là một nhóm người rất nhỏ làm công việc quản lí và bên kia là đám quần chúng công nhân, nông dân và trí thức chẳng có một chút quyền hành gì. Nhưng mối quan hệ đó vẫn chưa phải là tất cả vì tầng lớp quan liêu cộng sản còn nắm độc quyền trong việc phân phối sản phẩm nữa.

Từ đó có thể thấy rằng bất kì sự thay đổi quan hệ xã hội nào, nghĩa là sự thay đổi quan hệ giữa những kẻ giữ độc quyền quản lí và người lao động nhất định sẽ dẫn tới thay đổi trong quan hệ sở hữu. Và ngược lại: sự giảm thiểu hay loại bỏ độc quyền phân phối sản phẩm sẽ làm thay đổi quan hệ xã hội đã nói ở trên, nghĩa là sẽ làm thay đổi tình trạng trong đó một số người được độc quyền quản lí còn số khác thì buộc phải làm việc.

Trong chế độ cộng sản quan hệ chính trị – xã hội và sở hữu (chính quyền toàn trị và độc quyền về sở hữu) liên kết và bổ sung cho nhau một cách hữu hiệu hơn bất kì hệ thống xã hội nào khác.

Tước bỏ quyền của những người cộng sản đối với sở hữu cũng có nghĩa là thủ tiêu họ như một giai cấp. Đấu tranh để buộc họ cho những lực lượng xã hội khác tham giai quản lí tài sản (giống như các nhà tư sản bị những cuộc đình công và quốc hội buộc phải cho công nhân tham gia vào việc phân chia lợi nhuận) cũng có nghĩa là tước bỏ của họ độc quyền đối với tài sản, độc quyền tư tưởng và độc chiếm chính quyền. Đấy sẽ là khởi đầu của dân chủ và tự do dưới chế độ cộng sản. Vì vậy, khi điều đó chưa xảy ra thì việc thuyết phục người ta rằng có thể đạt được những thay đổi sâu sắc và nghiêm túc dưới chế độ cộng sản là việc bất khả thi. Như vậy, sự thay đổi thật sự sâu sắc chỉ có thể là loại bỏ độc quyền cộng sản về kinh tế và chế độ toàn trị. Hiện tại thì chưa có tín hiệu nào rằng điều đó sẽ xảy ra trong một tương lai gần.

Quyền sở hữu của giai cấp mới cũng như việc một người được coi là thuộc vào giai cấp đó, như đã nói ở trên, được thực hiện thông qua đặc quyền quản lí của họ. Đặc quyền này bao trùm lên toàn bộ đời sống xã hội, từ quản lí nhà nước và quản lí kinh tế cho đến các cơ sở thể thao hoặc từ thiện. Lãnh đạo đảng, lãnh đạo chính trị chính là hạt nhân của toàn bộ hệ thống, có khả năng quản lí tất. Chính nó tạo ra đặc quyền đặc lợi. A. Uralov [2] viết rằng lương trung bình của người công nhân Liên Xô vào năm 1935 chỉ có một ngàn tám trăm rub, trong khi bí thư huyện uỷ lĩnh tổng cộng khoảng 45 ngàn rub. Từ đó đến nay vị trí của người công nhân và cán bộ đảng đã có thay đổi. Nhưng thực chất vẫn như xưa. Các tác giả khác cũng đưa ra những số liệu tương tự. Không thể che giấu được những mối quan hệ như thế với ngay cả những người khách viếng thăm Liên Xô và các nước cộng sản khác trong thời gian vừa qua.

Những hệ thống khác cũng có các chính khách chuyên nghiệp. Ta muốn nghĩ về tầng lớp này thế nào cũng được, tốt có, xấu có, nhưng họ là một tầng lớp cần thíêt. Xã hội không thể tồn tại mà không có chính quyền, không có nhà nước, cũng như không thể thiếu những người đấu tranh để giành quyền lực.

Nhưng các chính khách chuyên nghiệp trong các hệ thống ấy là những người khác hẳn với các chính trị gia cộng sản. Trong trường hợp xấu nhất các chính khách đó có thể sử dụng quyền lực để giành đặc lợi cho mình hoặc cho những kẻ đồng hội đồng thuyền với mình, hoặc bảo vệ quyền lợi kinh tế của những giai tầng nhất định trong xã hội. Xã hội cộng sản thì khác hẳn. Ở đây chính sự quản lí, chính quyền lực đã đồng nghĩa với chiếm hữu, quản lí và sử dụng gần như toàn bộ nguồn lực quốc gia. Giành được chính quyền nghĩa là giành được đặc quyền đặc lợi, và một cách gián tiếp là giành được sở hữu. Cho nên trong chế độ cộng sản quyền lực, chính trị như là một nghề, đã trở thành nếu không phải là nghề lí tưởng của tất cả mọi người (vì đối với số đông thì được làm quan là việc thiên nan vạn nan) thì cũng là nỗi khát khao của những người kẻ muốn được sống ăn bám hoặc cảm thấy rằng có hi vọng “lọt” vào được tầng lớp ăn bám đó.

Trước cách mạng, đảng viên cộng sản có nghĩa là nghèo khổ về vật chất, thoát li hoạt động cách mạng là vinh dự, thì giờ đây, khi đảng đã nắm được chính quyền, đảng viên đồng nghĩa với thành viên của giai cấp nắm quyền, hoạt động cách mạng đồng nghĩa với việc trở thành những kẻ bóc lột đầy quyền uy.

Cách mạng cộng sản và hệ thống cộng sản cố tình che giấu bản chất của mình trong một thời gian dài. Tương tự như vậy, quá trình hình thành giai cấp mới không chỉ được che đậy bằng những thuật ngữ xã hội chủ nghĩa mà quan trọng hơn bằng hình thức sở hữu mới, sở hữu tập thể. Một hình thức sở hữu mới, sở hữu tập thể, hay như thường gọi là sở hữu xã hội xã hội chủ nghĩa là cần thiết cho quá trình công nghiệp hoá, nhưng thực ra đấy chính là hình thức sở hữu của tầng lớp quan liêu chính trị. Bản chất giai cấp của hình thức sở hữu này được che đậy bằng bình phong quyền lợi của toàn dân tộc.

4.

Marx – Lenin – Stalin – Khrushchev: lãnh tụ thay đổi, cách truyền bá tư tưởng cũng thay đổi theo. Marx là người có ý chí, nhưng ông không thể tưởng tượng ra cảnh cấm một người nào đó trình bày tư tưởng của anh ta; Lenin vẫn còn khoan dung với những cuộc thảo luận trong đảng và không cho rằng tổ chức đảng hay lãnh tụ đảng có quyền coi điều này là “đúng đắn” về tư tưởng, điều kia là “sai lầm”; Stalin cấm mọi cuộc thảo luận trong nội bộ đảng và “chuyển” cho trung ương, nghĩa là cho chính mình độc quyền về tư tưởng. Các hình thức của phong trào cũng biến đổi theo: Liên hiệp công nhân quốc tế của Marx (Quốc tế thứ nhất), chưa phải là tổ chức mac-xit về tư tưởng mà chỉ là sự kết hợp của các nhóm khác nhau, cùng ra các nghị quyết với một sự đồng thuận nhất định; đảng của Lenin là một nhóm tiên phong với một sự thống nhất, một tư tưởng và đạo đức của riêng họ và một mức độ dân chủ nhất định; dưới gót giày của Stalin, đảng đã trở thành một đám đông ù lì về tư tưởng (vì tư tưởng được “rót từ trên xuống”), nhưng toàn tâm toàn ý bảo vệ hệ thống, bảo vệ đặc quyền đặc lợi cho họ. Thực ra Marx chưa hề thành lập ra bất kì đảng phái nào; Lenin tiêu diệt mọi đảng phái, kể cả các đảng xã hội chủ nghĩa, chỉ để lại đảng của chính mình; Stalin thì đẩy ngay cả đảng bolsevk vào hậu trường sau khi đã biến hạt nhân của nó thành hạt nhân của giai cấp mới và biến toàn đảng thành một giai tầng đặc quyền đặc lợi vô cảm và phi nhân.

Marx đã tạo ra một lí thuyết nhất quán về tác động của các giai cấp và đấu tranh giai cấp đối với sự phát triển của xã hội (mặc dù đây không phải là phát kiến của chính ông), ông đánh giá con người chủ yếu từ thành phần giai cấp của họ. Mặc dù vậy ông vẫn thường nhắc đi nhắc lại lời giáo huấn của Terentius: Nihil a me alienum puto (đúng hơn phải là: Nihil humani a me alienum puto – Không có gì của con người là xa lạ với tôi); Lenin đánh giá con người trên cơ sở quan điểm tư tưởng của người đó chứ không dựa vào thành phần giai cấp nữa; Stalin thì chia loài người thành hai: trung thành và kẻ thù. Marx chết như một người nhập cư nghèo khổ ở London, nhưng ông được cả những nhà tư tưởng lớn cũng như các đồng chí trong phong trào đánh giá rất cao; Lenin chết khi đã là lãnh tụ của một trong những cuộc cách mạnh vĩ đại nhất, và đã là một nhà độc tài vì xung quanh ông đã có một số nịnh thần rồi; Stalin thì đã được người ta biến thành thánh.

Sư biến đổi trong những khuôn mặt đại diện nói trên chỉ là phản ánh sự biến đổi của hiện thực khách quan và dĩ nhiên cũng là sự biến đổi của đời sống tinh thần của phong trào nữa.

Lenin, người sáng lập đảng bolshevik, một đảng kiểu mới và lí thuyết về vai trò đặc biệt của nó trong việc xây dựng xã hội mới chính là cha đẻ về mặt tinh thần và thực tế của giai cấp mới, mặc dù ông không hề nhận thức được điều đó. Dĩ nhiên đây không phải là trang sử duy nhất trong khối di sản đồ sộ và nhiều mặt của ông. Nhưng nó xuất hiện từ chính những hành động của ông, dù ông không hẳn muốn như thế, và vì vậy giai cấp mới cho đến nay vẫn coi ông là người cha tinh thần của mình.

Người sáng lập thật sự giai cấp mới chính là Stalin. Đấy là một người vai so, chân tay quá dài, thân người lại ngắn, bụng bự, khuôn mặt nông dân, khá điển trai, đôi mắt nâu, sáng, tinh ranh và lúc nào cũng như đang cười cợt, tỏ ra khoái trá mỗi khi nói được một lời châm biếm chua cay hay khôn vặt; một người thích những chuyện tiếu lâm thô lậu, thiếu giáo dục và không hẳn có tài về văn chương, một diễn giả kém, nhưng là một nhà tổ chức thiên tài, một người giáo điều thâm căn cố đế, nhưng cũng là một nhà quản lí vĩ đại, một người Gruzia, nhưng lại hiểu rõ hơn ai hết khát vọng của những người Nga mới – ông đã sáng lập ra một giai cấp mới bằng những phương pháp tàn bạo nhất. Dễ hiểu rằng ban đầu ông đã được giai cấp mới đẩy lên để rồi sau đó lại phải cúi rạp mình tuân phục những hành vi tàn bạo và không có ai kiềm chế được của Stalin. Stalin đã là người dẫn đầu, là lãnh tụ xứng đáng trong khi cái giai cấp ấy tiến từng bước một lên đỉnh cao quyền lực của mình.

Giai cấp mới đựơc tượng hình trong bão tố của cách mạng, trong lòng của đảng cộng sản, nhưng nó đã có hình hài như ngày nay là nhờ cách mạng công nghiệp: vị trí của nó chẳng thể vững chắc và sức lực của nó chẳng thể được củng cố nếu không có cuộc cách mạng công nghiệp và nền công nghiệp ấy. Hoàn thành sự nghiệp công nghiệp hoá xã hội cũng đồng nghĩa với việc giai cấp mới đã giành thắng lợi. Hai quá trình đó đã song hành với nhau và do hoàn cảnh đã đan xen, đã xoắn xuýt với nhau một cách chặt chẽ nhất.

Giữa cao trào công nghiệp hoá, sau khi đã mở tung cánh cửa của đủ mọi thứ đặc quyền đặc lợi, Stalin bắt đầu đưa ra các mức lương chênh lệch nhau một trời một vực. Ông ta hiểu rằng không thể thực hiện được tiến trình công nghiệp hoá nếu như giai cấp mới không nhận được quyền lợi về mặt vật chất, nếu không cho nó quyền sở hữu tài sản. Nếu không có công nghiệp hoá thì giai cấp mới cũng khó mà sống còn được: không có nguồn sống và cũng chẳng thể tìm được sự biện hộ về mặt lịch sử.

Cùng với việc công nghiệp hoá là sự mở rộng đội ngũ của tầng lớp quan liêu, tăng cường số lượng đảng viên của đảng. Khởi đầu công nghiệp hoá, năm 1927 đảng có tổng cộng 887.233 đảng viên, thì năm 1934, nghĩa là sau kế hoạch năm năm lần thứ nhất, đã có 1.847.448 người. Đây là một hiện tượng mới, liên quan trực tiếp đến quá trình công nghiệp hoá: cơ hội của giai cấp mới đã tăng lên, đặc quyền đặc lợi của những thành viên của nó cũng gia tăng theo. Hơn thế nữa, đặc quyền đặc lợi và chính cái giai cấp đó đã phình lên nhanh hơn tốc độ công nghiệp hoá. Khó mà đưa ra được các số liệu chứng minh cho điều đó, nhưng một người quan sát bình thường cũng có thể nhận thấy điều đó, hơn nữa nếu ta nhớ rằng sản xuất đã phát triển nhanh hơn khả năng cải thiện điều kiện sống của người dân. Phần lớn thành quả của tiến bộ kinh tế đạt được bằng giá của những mất mát và sự nỗ lực vô bờ bến của quần chúng rõ ràng là đã rơi vào tay giai cấp mới.

Chính quá trình hình thành giai cấp mới cũng không diễn ra một cách hoàn toàn suôn sẻ. Sự kháng cự không chỉ xuất phát từ những giai cấp và đảng phái cũ, mà từ ngay một số người cách mạng, những người không thể chấp nhận hiện thực nhãn tiền khi so sánh nó với lí tưởng mà họ từng theo đuổi. Tại Liên Xô sự phản kháng của những người cách mạng thể hiện rõ nhất trong cuộc xung đột giữa Trotsky và Stalin. Không phải vô tình mà cuộc tranh chấp giữa Trotsky và Stalin, giữa những người đối lập trong đảng với Stalin, giữa chế độ và tầng lớp nông dân, lại có những hình thức biểu hiện rõ rệt nhất chính vào lúc quyền lực và sự thống trị của giai cấp mới được củng cố.

Trotsky, một diễn giả tài ba, một ngòi bút tinh tế, sắc sảo, một người thông minh, có tầm hiểu biết rộng, nhưng lại thiếu một điều: cảm nhận thực tế. Ông muốn tiếp tục là người cách mạng khi mà mọi người đã muốn sống cuộc sống đời thường. Ông muốn làm hồi sinh một đảng cách mạng, trong khi chính nó đã biến thành một giai cấp mới, giai cấp không còn quan tâm tới những lí tưởng cao cả nữa, nhưng lại hoàn toàn không thờ ơ đối với những tiện nghi trong sinh hoạt hàng ngày. Ông chờ đợi phản ứng của quần chúng, cái quần chúng đã bị chiến tranh, đói khát làm cho kiệt quệ ngay đúng vào lúc giai cấp mới đã nắm được trọn vẹn quyền lực. Sau khi đã giành được đặc quyền đặc lợi, giai cấp mới bắt đầu ru ngủ quần chúng bắng cách vẽ ra cảnh ấm no mà người ta từng mơ ước bấy lâu. Ánh hào quang mà Trotsky vẽ ra có thể nhuộm hồng những chân trời xa tít, nhưng không thể khơi lên ngọn lửa trong bếp của những con người đói khát. Ông đã cảm thấy một cách rõ ràng mặt trái của những hiện tượng mới, nhưng ông không hiểu được ý nghĩa của chúng. Hơn nữa, ông cũng không phải là một người bolshevik, đấy vừa là điểm mạnh và cũng là điểm yếu của ông. Quá khứ “phi” bolshevik làm ông luôn luôn phải hành động với cảm giác thiếu tự tin. Khi nhân danh cách mạng đả phá tầng lớp quan liêu, ông đã không nhận ra rằng mình đang tấn công vào uy tín của đảng, nghĩa là tấn công vào giai cấp mới. Trong khi đó Stalin chẳng thèm quan tâm đến quá khứ cũng như tương lai. Ông ta đã khống chế được lực lượng của một giai cấp mới, của chế độ quan liêu đang định hình, trở thành lãnh tụ và người tổ chức của chính giai cấp đó. Ông ta không tuyên truyền, ông ta ra lệnh. Dĩ nhiên là ông ta cũng hứa hẹn một tương lai tươi sáng, nhưng là tương lai hiện thực đối với tầng lớp quan liêu, để cho tầng lớp ấy hàng ngày hàng giờ cảm thấy sự quan tâm của Stalin đối với sự sung túc trong đời sống và sự ổn định trong vị trí xã hội của họ. Các bài diễn văn của ông ta không thể gọi là có lửa, thực ra phải nói là chán ngắt, nhưng đối với giai cấp mới thì đấy chính là ngôn ngữ của thực tế, gần gũi và dễ hiểu. Trotsky mơ ước nhìn thấy một cuộc cách mạng bao trùm khắp châu Âu và sau đó là toàn thế giới. Stalin không phản đối, nhưng trước khi thực hiện công việc mạo hiểm đó, ông ta phải quan tâm đến nước Nga, đến những người mà ông ta dựa vào để củng cố hệ thống, tạo ra sức mạnh và niềm vinh quang của nhà nước Nga. Trotsky là người của cuộc cách mạng đã trở thành quá vãng, Stalin là người của hôm nay và như vậy cũng có nghĩa là người của ngày mai.

Trotsky coi thắng lợi của Stalin là sự phản bội, là sự xuyên tạc chính quyền Xô-viết và thành quả của cách mạng. Ông cho rằng các biện pháp của Stalin là phi luân chính là vì như thế. Mặc dù Trotsky là người đầu tiên gần như hiểu được bản chất của chủ nghĩa cộng sản hiện đại (dù là không cố ý, dù là với ước mong cứu nó) nhưng phải nhận rằng ông không thể đi đến tận cùng bản chất ấy. Cho rằng đấy chỉ là “sự bùng phát” nhất thời của chủ nghĩa quan liêu chà đạp lên đường lối trong sáng của đảng cách mạng, Trotsky tin có thể giải quyết bằng cách thay đổi ban lãnh đạo, tiến hành “đảo chính cung đình” là được. Nhưng khi cuộc đảo chính ấy diễn ra (sau khi Stalin chết) thì người ta mới hiểu rằng bản chất của hệ thống là không thay đổi. Vấn đề hoá ra là có nguồn gốc sâu xa và căn bản hơn nhiều. Stalin đã để lại không chỉ một chính quyền mới, chuyên chế hơn chính quyền trước đó, mà còn để lại một giai cấp mới. Một trong những khía cạnh của cách mạng, khía cạnh bạo lực vẫn tiếp tục; sự sinh thành và củng cố của giai cấp mới đã trở thành hiện tượng đương nhiên.

Stalin có thể có nhiều lí do hơn cả Trotsky khi tự xưng là người kế tục của Lenin và con đẻ của cách mạng, dù là đứa con thiếu giáo dục.

Lenin là người kiến tạo một trong những cuộc cách mạng vĩ đại nhất của mọi thời đại. Stalin là người đã thực hiện một khối lượng công việc cực kì to lớn để thiết lập nên sự thống trị và quyền sở hữu của một giai cấp mới, giai cấp xuất thân từ trong lòng của một trong những cuộc cách mạng vĩ đại nhất, trong một đất nước rộng lớn nhất. Sau Lenin, một người hoàn toàn sống bằng tư tưởng và lòng say mê, trên sân khấu đã xuất hiện nhân vật Stalin, biểu tượng của những bước chân tàn nhẫn, nặng nề của giai cấp mới trong việc chinh phục đỉnh cao quyền lực của nó.

Sau họ, sau Stalin sẽ đến cái điều phải đến cùng với sự trưởng thành của giai cấp mới, đấy là sự tầm thường, đấy là lãnh đạo tập thể và một người chân thật, hiền lành, một người “từ nhân dân” mà ra – đấy là Nikita Khrushchev. Giai cấp mới đã không còn cần những nhà cách mạng hay những kẻ giáo điều nữa. Giai cấp mới có thể chấp nhận những con người “đơn giản” như kiểu Khrushchev, Malenkov, Bulganin hay Shepilov, họ chính là đại diện trung bình của giai cấp đó. Chính giai cấp mới cũng đã mệt mỏi với những cuộc thanh trừng và cải tạo bất tận rồi. Sau khi đã ổn định vị trí, giai cấp mới cần phải tránh ngay cả mối nguy hiểm xuất phát từ chính lãnh tụ của mình. Đấy là do giai cấp đã thay đổi, còn Stalin thì vẫn như cũ, giống như thời giai cấp còn non nớt, những người giao động và những kẻ bị nghi là sẽ giao động đều bị trừng phạt cả. Chính cá nhân Stalin cũng như lí luận về “sự khốc liệt của cuộc đấu tranh giai cấp” sau khi “chủ nghĩa xã hội đã thắng lợi” cũng là điều kiện cần của việc hình thành giai cấp mới. Nhưng bây giờ điều đó đã trở thành thừa. Giai cấp mới không hề phủ nhận những di sản do triều đại Stalin để lại, nó chỉ phê phán thói lộng hành trong những năm cuối đời của ông ta, thực ra cũng không phải hoàn toàn như vậy, nó chỉ phủ nhận những biện pháp đụng chạm đến chính giai cấp, hay nói như Khrushchev là “đụng chạm đến những người cộng sản tốt” mà thôi.

Thời đại cách của Lenin được thay bằng thời đại củng cố quyền lực và quyền sở hữu hay thời đại công nghiệp hoá vì cuộc sống ấm nó, hạnh phúc của giai cấp mới do Stalin lãnh đạo. Chủ nghĩa cộng sản cách mạng của Lenin được thay bằng chủ nghĩa cộng sản giáo điều Stalin và đến lượt nó, lại được thay bằng sự lãnh đạo tập thể, nghĩa là quyền lãnh đạo nằm trong tay một nhóm đầu sỏ.

Đấy là ba giai đoạn phát triển của giai cấp mới ở Liên Xô, ba giai đoạn phát triển của chủ nghĩa cộng sản Nga. Về nguyên tắc đấy cũng là những giai đoạn phát triển của mọi chế độ cộng sản khác.

Chủ nghĩa cộng sản Nam Tư cũng có đầy đủ đặc trưng của ba giai đoạn như đã nói ở trên, nhưng lại quyện chặt với vấn đề dân tộc và cá nhân, tập trung vào một con người, đấy là Tito. Là một nhà cách mạng vĩ đại (nhưng thiếu tư tưởng độc đáo), một kẻ tiếm quyền (nhưng không có biểu hiện ngờ vực bệnh hoạn và giáo điều kiểu Stalin), giống như Khrushchev, ông cũng là đại diện của “nhân dân”, nghĩa là tầng lớp cán bộ trung cấp của đảng. Chính ông là người luôn luôn bảo vệ một cách nhất quán (nếu so với những người khác) chủ nghĩa Mác nhưng hành động lại chỉ vì lợi ích (chỉ cần thấp thoáng bóng dáng lợi ích thôi cũng đủ); ông chính là tấm gương phản chiếu toàn bộ con đường của chủ nghĩa cộng sản: cách mạng, rập khuôn chủ nghĩa Stalin và cuối cùng là từ bỏ nó để tìm diện mạo riêng.

Ba giai đoạn phát triển của giai cấp mới – Lenin, Stalin, “lãnh đạo tập thể’ – là không tách rời nhau cả về nội dung và tư tưởng. Lenin đã là người giáo điều, còn Stalin đã là nhà cách mạng, theo cách của mình, cũng như “ban lãnh đạo tập thể”, trong trường hợp cần thiết, có thể sử dụng một cách hữu hiệu cả những phương pháp cách mạng cũng như phương pháp giáo điều. Hơn thế nữa, ban lãnh đạp tập thể chỉ không chấp nhận phương pháp giáo điều khi nó đụng chạm quyền lợi của nhóm chóp bu của giai cấp mới mà thôi. Đồng thời, nó lại kiên quyết hơn trong việc “giáo dục” quần chúng”, tích cực nhồi sọ giáo điều mac-xit – lenin-nít cho họ. Giai cấp mới sau khi nắm được sức mạnh kinh tế đã tỏ ra mềm dẻo hơn, đã không còn khốc liệt và độc đoán như xưa.

Giai đoạn anh hùng của chủ nghĩa cộng sản đã cáo chung.

Thời đại của các lãnh tụ vĩ đại đã cáo chung.

Bắt đầu giai đoạn của những kẻ thực dụng. Đấy là giai cấp mới. Giai cấp ấy đang đứng trên đỉnh cao của quyền lực và tài sản, nhưng thiếu tư tưởng. Giai cấp ấy không có gì để phát biểu nữa. Chỉ còn một việc là xem xét bản chất của chính cái giai cấp đó.

[1]R. Dabin, Quan hệ giữa người với người trong môi trường hành chính, New York 1951, trang 165-166.
[2]A. Uralov, Khi Stalin nắm quyền, Paris.1951, trang 202, 215.

http://phamnguyentruong.blogspot.com/2011/11/milovan-djilas-giai-cap-moi-ki-3.html#more

Milovan Djilas – Giai cấp mới (Kì 4) Phạm Nguyên Trường dịch

5.

Nếu những người cộng-sản-chống-Stalin, trong đó có Trotsky và một số nhà dân chủ xã hội khác không coi tầng lớp lãnh đạo cộng sản như là một hiện tượng “song hành”, bản chất là quan liêu, là một căn bệnh trong thời kì phát triển của một xã hội lí tưởng, xã hội phi giai cấp, tương tự như xã hội tư bản đã từng trải qua dưới thời Cromwell hay Napoleon, thì có lẽ việc chứng minh rằng chủ nghĩa cộng sản hiện đại không phải là chế độ chuyên chế sớm nở tối tàn và sự độc đoán của chế độ quan liêu đó chỉ là tạm thời, mà là một giai cấp bóc lột mới, sẽ chẳng phải là một việc có ý nghĩa lắm.

Chúng tôi đã nhấn mạnh rằng chúng ta đang nói về một giai cấp mới. Nghĩa là ta đang nói về một hiện tượng ổn vững và có nguồn gốc sâu xa. Và sự kiện đấy là một giai cấp mới, giai cấp đặc biệt, với hình thức sở hữu và cầm quyền đặc biệt không có nghĩa là nó không phải là một giai cấp. Ngược lại.

Dù sử dụng bất cứ định nghĩa nào về giai cấp, kể các định nghĩa mac-xít nữa, ta đều đi đến kết luận: tại Liên Xô và các nước cộng sản khác đã xuất hiện một giai cấp mới, giai cấp hữu sản và bóc lột. Dĩ nhiên là tôi không khắng định rằng giai cấp này hoàn toàn tương đồng với những giai cấp hữu sản khác trong quá khứ. Tôi chỉ khẳng định rằng vấn đề không phải là sự lên ngôi tạm thời của các đầu lĩnh quan liêu đã giành được quyền lực do những hoàn cảnh ngẫu nhiên của cách mạng.

Đặc trưng cơ bản của giai cấp mới chính là quyền sở hữu tập thể.

Các lí thuyết gia cộng sản khẳng định rằng (hiện nay họ tin là như thế) chủ nghĩa cộng sản phát minh ra sở hữu tập thể.

Sở hữu tập thể dưới những hình thức khác nhau đã từng tồn tại trong những hình thái xã hội trước đây. Các chế độ chuyên chế phương Đông tồn tại dựa trên cơ sở sở hữu nhà nước, nghĩa là sở hữu của chính nhà vua. Đất canh tác chỉ trở thành sở hữu tư nhân tại Ai Cập kể từ thế kỉ thứ XV trước công nguyên, trước đó tư nhân chỉ có quyền sở hữu nhà và vườn: đất công được cho thuê, các viên chức nhà nước thu tô và quản lí. Hệ thống tưới tiêu và những công trình khác đều là tài sản nhà nước. Tài sản nhà nước giữ vai trò chủ đạo cho đến tận khi nước này mất độc lập vào thế kỉ thứ nhất trước công nguyên.

Nếu quên những sự kiện đó ta sẽ không thể nào hiểu được sự thần thánh hoá các Pharaoh Ai Cập hay các vua chúa phương Đông cổ đại, ta cũng không thể nào hiểu được tại sao người ta lại có thể xây dựng được những đền chùa, lăng tẩm, cung điện, kênh đào, đường xá, thành quách vĩ đại đến như vậy.

La Mã cổ đại cũng coi những vùng đất mới chiếm được là tài sản nhà nước và nhà nước cũng sở hữu rất nhiều nô lệ. Nhà thờ trung cổ cũng sở hữu rất nhiều tài sản tập thể.

Chỉ có chủ nghĩa tư bản là chống lại sở hữu tập thể (bản chất của nó là như thế). Nhưng đấy là nói trước khi có các công ty cổ phần. Chủ nghĩa tư bản tuy không hào hứng nhưng cũng không thể chống lại được hình thức sở hữu này.

Cái mới mà những người cộng sản đem lại không phải là tính chất tập thể, mà là sự bao trùm toàn bộ của hình thức sở hữu này. Sở hữu của giai cấp mới bao trùm lên toàn bộ, khác hẳn với các giai đoạn trước, kể cả thời kì của các Pharaoh.

Tất cả chỉ có thế.

Tài sản của giai cấp mới cũng như đặc điểm của nó không phải xuất hiện ngay lập tức mà hình thành trong một quá trình lâu dài kèm theo những biến động không ngừng. Ban đầu chính dân tộc, đúng hơn là một bộ phận của dân tộc, cảm thấy có nhu cầu (nhân danh cải tạo công nghiệp) chuyển toàn bộ tiềm năng kinh tế vào tay một đảng chính trị. Đảng, “đội quân tiên phong của giai cấp vô sản” tìm mọi cách cổ vũ cho sự tập trung đó, một sự tập trung chỉ có thể xảy ra cùng với việc thay đổi chính quan hệ sở hữu. Sự thay đổi như vậy quả thật đã diễn ra, ban đầu là việc quốc hữu hoá các xí nghiệp lớn, rồi sau đó cả các xí nghiệp nhỏ nữa. Loại bỏ sở hữu tư nhân là điều kiện của tiến trình công nghiệp hoá và sự xuất hiện giai cấp mới. Nếu không giành được vai trò đặc biệt, vai trò cai quản xã hội và tài sản quốc gia, những người cộng sản không thể biến thành giai cấp mới. Tài sản, về mặt hình thức, đã trở thành sở hữu toàn dân, nhưng trong thực tế, thông qua quyền quản lí, sử dụng và phân phối, đã trở thành tài sản của một tầng lớp của đảng và bộ máy quan liêu châu tuần xung quanh tầng lớp đó.

Quá trình này xảy ra tương đối chậm và đấy chính là mảnh đất màu mỡ cho ảo tưởng rằng trong chế độ cộng sản toàn thể xã hội chứ không phải một giai cấp đã nắm trọn quyền sở hữu tài sản.

Nhận thức được rằng tài sản có thể củng cố được quyền lực và mang lại nhiều đặc lợi, bộ máy quan liêu của đảng không thể không thò bàn tay thâu tóm cả các ngành sản xuất nhỏ. Hơn nữa, vì bản chất là toàn trị và độc quyền, thù địch với mọi hình thức sở hữu mà nó không quản lí được, giai cấp mới tìm mọi cách tiêu diệt hoặc chiếm hữu các hình thức sở hữu đó.

Trước khi tiến hành tập thể hoá, Stalin tuyên bố rằng vấn đề là “ai thắng ai?” mặc dù giai cấp nông dân, vốn phân tán cả về kinh tế và chính trị, không thể tạo ra bất cứ mối nguy hiểm nào đối với chính quyền Xô Viết. Nhưng giai cấp mới không thể yên tâm khi còn những chủ sở hữu khác: lỡ xảy ra phá hoại trong nông nghiệp hay cung cấp nguyên liệu thì sao! Đấy là nguyên nhân chủ yếu của việc đàn áp nông dân. Nhưng còn một lí do nữa, lí do giai cấp: khi tình hình không ổn định, nông dân có thể làm lung lay địa vị của giai cấp mới. Giai cấp mới phải sử dụng các hợp tác xã như là biện pháp hành chính và kinh tế để buộc tầng lớp nông dân khuất phục mình. Đấy cũng là đòi hỏi của giai cấp mới đang hình thành ở nông thôn, nơi bọn quan liêu cũng sinh sôi và phát triển với một tốc độ không thể nào tưởng tượng nổi.

Mặc dù việc tước đoạt sở hữu, nhất là của các chủ sở hữu nhỏ, thường tạo ra hỗn loạn về kinh tế và kìm hãm sản xuất, nhưng điều đó không làm giai cấp mới bận tâm. Giống như mọi chủ sở hữu khác trong lịch sử, giai cấp mới chỉ quan tâm giành giật thật nhiều tài sản và củng cố địa vị của mình. Dân tộc dù có bị thua, nhưng quyền sở hữu vẫn tiếp tục đảm bảo cho giai cấp mới đặc quyền đặc lợi, nghĩa là họ thắng, là được. Tập thể hoá nông thôn là biện pháp cần thiết để giai cấp mới khẳng định sức mạnh và quyền sở hữu của nó.

Tuy không có số liệu cụ thể nhưng ta cũng không thể nói rằng năng suất cây trồng ở Liên Xô cao hơn thời Sa Hoàng. Ta biết rằng năng suất là thấp và các nhà kinh tế Nam Tư tính ra rằng (dĩ nhiên là trong giai đoạn mâu thuẫn với Liên Xô) ngay trên những cánh đồng màu mỡ của Ukraine năng suất cũng không được 1 tấn một hecta. Số lượng gia súc và gia cầm trong giai đoạn hợp tác hoá cũng giảm hơn 50%, và cho đến nay vẫn chưa đạt mức như thời nước Nga Sa Hoàng lạc hậu.

Nhưng nếu số thiệt hại này là có thể tính đếm được thì thiệt hại về người, hàng triệu nông dân bị đẩy vào các trại lao động, là không thể đo đếm được. Tập thể hoá tràn qua như một cuộc chiến tranh huỷ diệt, giống như một cơn điên, không thể nào xảy ra được, nếu như nó không có lợi cho giai cấp mới, không đảm bảo cho giai cấp này quyền bá chủ xã hội.

Người ta đã tiến hành tiêu diệt hoặc “tập thể hoá” (biến thành sở hữu của giai cấp mới) sở hữu tư nhân bằng đủ mọi cách có thể tưởng tượng được: quốc hữu hoá, tập thể hoá cưỡng bức, thuế cao, chèn ép khi tham gia thị trường. Dù người chủ cũ có sử dụng ít lao động hơn, dù việc tước đoạt sở hữu không giải quyết được các vấn đề kinh tế, thì đấy cũng không phải là vấn đề mà giai cấp mới quan tâm.

Sự xuất hiện giai cấp mới và tài sản của nó không thể không ảnh hưởng đến tâm lí và cách sống của những người đã nằm trong giai cấp ấy. Họ chiếm đoạt hết: nhà nghỉ, các căn hộ đẹp, đồ gỗ, v.v…Tầng lớp quan chức chóp bu, giới tinh hoa của giai cấp mới, sống trong các khu đặc biệt, nghỉ trong những khu vực an dưỡng riêng. Bí thư đảng uỷ và giám đốc cảnh sát mật trở thành không chỉ những người có quyền tối thượng mà còn sở hữu những căn hộ đẹp nhất, những chiếc ô tô xịn nhất, v.v… Sau họ là những người khác, theo nấc thang quyền lực. Tiền ngân sách, “tặng phẩm”, việc xây dựng và tái trang bị, tất cả dường như là do nhu cầu của nhà nước và cơ quan, nhưng thực ra đây chính là nguồn tài sản vô tận, vĩnh cửu dành riêng cho các quan chức của bộ máy chính trị.

Chỉ khi nào giai cấp mới không thể “giải quyết” được với số tài sản mà nó cướp được hoặc số tài sản đó đã trở thành gánh nặng và nguy hiểm về chính trị, thì nó mới chịu nhường cho những giai tầng khác, nghĩa là chấp nhận các hình thức sở hữu khác. Đấy là trường hợp giải tán hợp tác xã ở Nam Tư: bị nông dân chống đối, sản lượng giảm liên tục chính là mối nguy tiềm ẩn đối với chế độ. Nhưng giai cấp mới, chưa ở đâu và chưa bao giờ, tuyên bố rằng nó từ bỏ quyền sở hữu đó và không tái hợp tác hoá khi có điều kiện. Vâng, giai cấp mới không thể từ bỏ, cũng như nó không thể khác cái nó đang là: một giai cấp toàn trị và độc đoán, chuyên quyền về bản chất.

Chưa có một bộ máy quan liêu nào từng theo đuổi mục đích của mình với sự kiên định đến như thế. Chỉ có các ông chủ, với những hình thức sở hữu mới, đang dọn đường cho những hình thức sản xuất mới, mới có thể thể hiện sự kiên trì và kiên định đến như thế.

Marx tiên đoán rằng sau khi giành được thắng lợi, giai cấp vô sản sẽ gặp hai mối nguy, đấy là các giai cấp đã bị lật đổ, và bộ máy quan liêu của chính mình. Khi những người cộng sản, đặc biệt là cộng sản Nam Tư, phê phán chế độ của Stalin và chủ nghĩa quan liêu, họ đã dựa vào tư tưởng này của Marx. Nhưng những điều xảy ra hôm nay trong chế độ cộng sản và giả định của Marx mà ta đang nói tới có rất ít điểm chung. Marx đã tiên đoán khả năng sinh sôi nảy nở của bộ máy quan liêu ăn bám (điều đang diễn ra trong các chế độ cộng sản), nhưng ông không thể nào ngờ được rằng những người cầm quyền cộng sản lại có thể sử dụng tài sản không phải vì quyền lợi của toàn bộ bộ máy quan liêu nói chung mà chỉ vì quyền lợi của một nhóm chóp bu nắm quyền. Cho nên trong trường trường hợp này Marx chỉ là cái cớ để phê phán sự tham lam vô độ của một giai tầng riêng biệt của giai cấp mới mà thôi.

Như vậy, vấn đề không phải chỉ là sự quan liêu độc đoán, thoái hoá, biến chất và ăn bám, dù chế độ cộng sản, hơn bất cứ chế độ nào khác, đầy dẫy những hiện tượng đó mà là việc những người cộng sản giành quyền quản lí và phân phối toàn bộ tài sản quốc gia, chính ở đây họ đã tự thể hiện là hạt nhân của giai cấp mới, giai cấp hữu sản và đấy cũng là cơ sở của chế độ toàn trị của họ.

Chủ nghĩa cộng sản hiện đại không chỉ là đảng kiểu mới, không chỉ là chế độ quan liêu dựa trên sở hữu độc quyền và sự can thiệp quá mức của nhà nước vào các hoạt động kinh tế. Chủ nghĩa cộng sản hiện đại trước hết là tư tưởng giai cấp của những kẻ hữu sản và bóc lột kiểu mới.

6.

Không có một giai cấp nào xuất hiện nhờ vào những hành động hữu thức dù sự hưng thịnh của từng giai cấp bao giờ cũng đi kèm với cuộc đấu tranh có ý thức và có tổ chức. Giai cấp mới cũng không ngoài thông lệ đó. Nhưng giai cấp mới cũng có một số đặc thù.

Do sự bấp bênh về vị trí xã hội và kinh tế, cũng như xuất thân từ một đảng chính trị, giai cấp mới buộc phải cực kì cố kết, luôn luôn hành động một cách có ý thức và với một kế hoạch thật rõ ràng. Như vậy là, giai cấp mới có tổ chức và có ý thức hơn bất kì giai cấp nào trước đó.

Kết luận này là chính xác nếu nói về nhận thức và ý thức tổ chức trong quan hệ với thế giới bên ngoài, với các đảng phái, các giai cấp và lực lượng xã hội khác. Không có một giai cấp nào trong lịch sử từng thể hiện sự đoàn kết thống nhất trong việc tranh đoạt và bảo vệ độc quyền sở hữu tài sản và chế độ toàn trị của mình đến như thế.

Mặc dù vậy, giai cấp mới, vốn bị è cổ dưới gánh nặng của sự tự huyễn, lại là giai cấp có nhận thức về mình kém nhất, mà cụ thể là không nhận rằng nó là một giai cấp, dù là giai cấp với những đặc điểm hoàn toàn mới mẻ. Tất cả các chủ tư sản hay chúa đất đều tự nhận thức được rằng họ thuộc vào một thành phần xã hội nhất định và tin tưởng rằng thành phần xã hội này có trách nhiệm đưa nhân loại đến bến bờ hạnh phúc, không có họ thế giới sẽ rơi vào cảnh hỗn loạn và diệt vong. Người cộng sản, như một thành viên của giai cấp mới, cũng tin rằng không có đảng của anh ta xã hội sẽ thụt lùi và tiêu vong.

Đồng thời, người đảng viên cộng sản không nhận thức được rằng mình thuộc về giai cấp hữu sản dù anh ta có nhận được bao nhiêu đặc quyền đặc lợi từ chính khối tài sản đó thì cũng vậy mà thôi. Đúng là chỉ cần tách khỏi giai cấp đó là mọi đặc quyền đặc lợi đều biến mất ngay lập tức. Dĩ nhiên là anh ta hiểu rằng mình chia sẻ với nhóm những tư tưởng, mục đích, tâm trạng và vai trò nhất định. Và chỉ thế thôi. Anh ta không thể nào nhận thức được rằng mình thuộc về một giai tầng xã hội nhất định, thuộc về giai cấp hữu sản.

Sở hữu tập thể có tác dụng cố kết giai cấp nhưng đồng thời cũng là vật cản không cho người ta nhận ra bản chất giai cấp của mình: những người được chọn đều nghĩ rằng mình đang tham gia vào một phong trào với mục đích tiêu diệt xã hội có giai cấp.

So sánh giai cấp mới với các giai cấp khác cho ta thấy nhiều điểm tương đồng cũng như tương dị.

Giai cấp mới cũng tham lam, giống như giai cấp tư sản thời kì đầu, nhưng lại không cần cù và tiết kiệm như các nhà tư sản. Nó là một tổ chức cố kết và khép kín, giống như giai cấp quí tộc, nhưng lại thiếu tâm hồn tinh tế và phẩm chất của người hiệp sĩ.

Nhưng tính ưu việt của giai cấp mới cũng không phải là ít.

Là một tổ chức cực kì cố kết, nó luôn sẵn sàng hi sinh và sẵn sàng cho những chiến công. Từng “nguyên tử” của mỗi “chiến binh” của nó cũng thuộc về toàn thể đội ngũ, ít nhất về lí thuyết người ta đã nghĩ như thế. Cá nhân biến mất hoàn toàn, nhưng lòng trung thành với tổ chức thì lại cao vòi vọi. Chưa từng có giai cấp nào trong quá khứ có nhiều quyền lực như thế: nắm toàn bộ tài sản quốc gia, nó có thể huy động sức mạnh tinh thần của chính mình và lực lượng của toàn dân để thực hiện những nhiệm vụ quan trọng sống còn.

Quyền sở hữu mới không phải là quyền lực chính trị nhưng nhờ quyền lực chính trị mà đảng và bộ phận đầu não của đảng có toàn quyền sở hữu, quyền sử dụng và quản lí khối tài sản đó.

Quyền lực, nghĩa là quyền phân phối tài sản quốc gia, sẽ tạo ra cho những kẻ có quyền đó những ưu đãi về vật chất nhất định sẽ kéo theo thói ham hố quyền lực, giả dối, ninh bợ, ghen tị. Tham quyền và chủ nghĩa quan liêu ngày càng phát triển là hai căn bệnh nan y của chủ nghĩa cộng sản. Chính vì những người cộng sản đã thoái hoá thành giai cấp hữu sản (chỉ có một con đường duy nhất để chiếm được quyền lực và quyền lợi, đấy là trung thành với đảng, với giai cấp và chủ nghĩa xã hội) cho nên “việc bước qua xác chết” đồng đội đã là một trong những đặc điểm của lối sống, là điều kiện tiên quyết trên con đường hoạn lộ của chủ nghĩa cộng sản.

Một người thuộc giai cấp nào đó không có nghĩa rằng người đó đã có một khối tài sản nhất định. Điều đó càng đúng đối với chế độ cộng sản: sở hữu mang tính tập thể. Ở đây muốn trở thành chủ sở hũu hay đồng sở hữu cần phải len được vào hàng ngũ của bộ máy quan liêu chính trị. Chỉ thế thôi, không cần hơn.

Giống như mọi nơi khác, vị trí của kẻ thất sủng được người khác chiếm ngay. Nhưng trong các giai cấp hữu sản quyền tư hữu đối với tài sản sở hữu được thừa kế. Trong chủ nghĩa cộng sản không ai có quyền thừa kế, mỗi người phải tự chen bằng được vào hàng ngũ những kẻ được lựa chọn. Giai cấp mới được hình thành từ những người đại diện của giai tầng hạ lưu nhất, đông đảo nhất trong xã hội, nó luôn luôn chao đảo không khác gì sóng biển. Như đã nói ở trên, về mặt xã hội học ta có thể xác định được thành phần của giai cấp mới, nhưng trên thực tế việc đó khó hơn rất nhiều vì nó luôn luôn biến động, có kẻ từ nhân dân thành “quan nhất thời” thì lại có kẻ trở về làm “dân vạn đại”.

Về mặt lí thuyết thì mọi người đều có thể leo lên. Giống như những người lính của Napoleon trước đây, họ cũng từng đeo sau lưng trượng nguyên soái, nhưng số thực sự được cầm nó chỉ có thể đếm trên đầu ngón tay. Ở đây mỗi người chỉ cần một phẩm chất, đấy là lòng trung thành tuyệt đối đối với đảng (thực ra là với giai cấp). Nhưng đấy lại chính là điều khó khăn nhất. Giai cấp mới giống như một kim tự tháp: đáy to, càng lên trên càng hẹp dần. Để đi lên, chỉ ý chí không chưa đủ, còn cần phải hiểu và “vận dụng lí luận” nữa, cần phải quyết liệt trong cuộc đấu tranh với kẻ thù, phải cực kì khôn khéo khi xảy ra những cuộc tranh chấp trong nội bộ đảng, phải nắm được nghệ thuật, thậm chí tài năng trong việc củng cố vị trí cho giai cấp nữa. Nhiều người có thể bước vào nhưng những kẻ đến đích thì tương đối hiếm. Nếu so sánh với các giai cấp hữu sản khác thì giai cấp mới vừa rộng mở hơn vừa khó đạt đến hơn. Vì một trong những đặc trưng của nó là độc chiếm quyền lực, các thành kiến của bộ máy quan liêu nhiều tầng nấc chỉ làm cho việc leo lên khó khăn hơn mà thôi.

Chưa ở đâu và chưa bao giờ cánh cửa lại rộng mở như thế đối với những kẻ trung thành, nhưng cũng chưa ở đâu con đường danh vọng lại khó khăn và đòi hỏi nhiều nạn nhân và sự hi sinh to lớn đến như vậy. Chế độ cộng sản, một mặt mở rộng cửa chào đón tất cả, nhưng mặt khác nó lại là chỗ khó vào và bất dung với cả những môn đồ của chính mình.

7.

Nói rằng trong các nước cộng sản đã xuất hiện một giai cấp mới, tuy chưa làm cho vấn đề trở nên hoàn toàn rõ ràng nhưng cũng tạo cơ sở để cho ta tìm hiểu những thay đổi theo chu kì trong những nước này, mà trước hết là ở Liên Xô. Dĩ nhiên mọi sự thay đổi, trong từng nước hay trong cả khối cộng sản đều phải được nghiên cứu: vùng ảnh hưởng và ý nghĩa của nó trong những hoàn cảnh cụ thể. Nhưng để làm điều đó phải có khái niệm chung về cả hệ thống.

Liên quan đến những thay đổi hiện nay ở Liên Xô, thiết nghĩ sẽ không thừa khi tìm hiểu những chuyện đang diễn ra với các hợp tác xã nông nghiệp. Hơn nữa, việc thành lập hợp tác xã và chính sách của chính quyền Xô Viết thể hiện rõ bản chất bóc lột của giai cấp mới.

Stalin trước đây cũng như Khrushchev hiện nay đều coi hợp tác xã chưa phải là hình thức sở hữu xã hội chủ nghĩa, thực ra điều đó chỉ có nghĩa là giai cấp mới chưa giành được địa vị bá chủ ở nông thôn. Sự thật là như thế. Thông qua các hợp tác xã, nó mới chỉ nô dịch được nông dân và giành được một phần khá lớn thu nhập của họ (bằng cách buộc phải bán cho nhà nước), nhưng chưa trở thành người chủ sở hữu đất đai duy nhất. Stalin hiểu rõ điều đó và trước khi chết (trong bài báo Những vấn đề kinh tế của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô) đã dự trù việc biến các hợp tác xã thành tài sản nhà nước, hay nói một cách khác, đã chuẩn bị điều kiện cần thiết cho việc biến bộ máy quan liêu thành chủ nhân ông thật sự. Mặc dù chỉ trích Stalin vì những sai lầm trong những vụ thanh trừng, nhưng Khrushchev lại giữ nguyên quan điểm của Stalin về vấn đề hợp tác xã, hơn nữa, còn biến nó thành hiện thực bằng cách gửi về nông thôn 30 ngàn cán bộ đảng, phần lớn những người này đều giữ chức chủ tịch nông trang.

Chế độ mới tuy thực hiện cái gọi là dân chủ hoá, nhưng giống như thời còn Stalin, họ càng ngày càng chiếm thêm nhiều “tài sản xã hội chủ nghĩa” hơn. Phi tập trung hoá trong kinh tế không phải là phân phối lại sở hữu mà chỉ là tăng quyền phân phối tài sản cho những tầng lớp quan liêu cấp thấp hơn, cấp nước cộng hoà, tỉnh, huyện. Nếu cái gọi là dân chủ hoá và phi tập trung hoá được tiến hành khác đi thì sẽ đụng chạm đến vấn đề chính trị, sẽ cho phép, nếu như không phải toàn dân thì cũng là một bộ phận dân chúng được có tiếng nói trong quá trình phân phối sản phẩm hoặc ít nhất cũng có thể thể hiện thái độ phê phán đối với tầng lớp chóp bu. Trên thực tế, điều đó nhất định sẽ dẫn tới việc xuất hiện những phong trào chính trị, phong trào đối lập, dù vẫn trung thành với đường lối chính. Việc đó đã không diễn ra. Cũng như đã không diễn ra quá trình dân chủ hoá đảng. Dân chủ hoá và phi tập trung hoá chỉ dành cho những người cộng sản: trước hết là dành cho tầng lớp chóp bu, sau đó mới đến những tầng lớp dưới. Một phương pháp mới, phương pháp phù hợp với những điều kiện đã thay đổi nhằm tăng cường hơn nữa độc quyền sở hữu tài sản và củng cố quyền thống trị toàn trị của giai cấp mới.

Sự xuất hiện trong những nước cộng sản một giai cấp độc-quyền-toàn-trị-hữu-sản cho ta kết luận: những thay đổi được thực hiện theo sáng kiến của những người cộng sản thực chất là vì quyền lợi và “theo đơn đặt hàng” của chính giai cấp mới. Điều đó không có nghĩa là có thể bỏ qua không xem xét những thay đổi đó. Cần phải tìm hiểu thực chất những thay đổi và sau đó xác định ý nghĩa và hậu quả của chúng.

Giống như mọi giai tầng xã hội khác, giai cấp mới luôn luôn tồn tại, phản ứng với những tác nhân bên ngoài, chống đỡ và tiến lên để trở thành ngày một mạnh hơn. Điều đó không có nghĩa là những thay đổi này không ảnh hưởng đến thế giới bên ngoài hoặc không đụng chạm đến tận căn để chính giai cấp đó. Nhưng hiện tại những thay đổi đó chưa thể làm lung lay chứ đừng nói biến cải được hệ thống cộng sản.

Giống như mọi chế độ khác, chế độ cộng sản cũng phải tính đến những thay đổi và tâm lí của quần chúng. Do tính biệt lập của mình và do không được tự do phát biểu ý kiến, đảng cộng sản không nắm được tâm trạng của dân chúng. Nhưng lãnh đạo nhất định phải thấy sự bất bình của quần chúng. Mặc dù có một chính quyền toàn trị, về nguyên tắc giai cấp mới không có khả năng miễn dịch đối với phong trào đối lập.

Sau khi nắm được chính quyền, những người cộng sản đã dễ dàng đè bẹp được giai cấp địa chủ và giai cấp tư sản: hướng cuộc đấu tranh của quần chúng chống lại những lực lượng này không phải là việc khó. Tịch thu tài sản của họ cũng không khó. Khó khăn chỉ xuất hiện khi tiến hành tịch thu tài sản của các tiểu chủ. Dù quần chúng đã đấu tranh nhưng ở đây những người cộng sản cũng thắng. Xã hội trở lại như xưa: các giai cấp cũ, các ông chủ cũ đã không còn, chỉ còn xã hội “phi giai cấp”, hay đang trên đường tiến đến đó, nhưng con người thì bắt đầu sống theo cách khác.

Đòi hỏi trở về với những quan hệ cũ, quan hệ trước cách mạng là không thực tế (nếu không nói là khôi hài) vì những quan hệ cũ đã không còn cơ sở, cả về vật chất lẫn xã hội nữa rồi. Người cộng sản thanh toán dễ dàng những đòi hỏi kiểu này.

Nhưng giai cấp mới sẽ cảm thấy khó chịu khi phải đối mặt với những đòi hỏi về tự do. Không phải tự do nói chung và cũng không chỉ tự do về chính trị. Giai cấp mới không phản ứng dữ dội đối với những đòi hỏi trở về với những quan hệ xã hội hay quan hệ sở hữu cũ, nó tỏ ra thù địch nhất đối với những đòi hỏi về tự do tư tưởng, tự do phê bình, dù chỉ là trong khuôn khổ của những quan hệ mới, trong khuôn khổ của “chủ nghĩa xã hội”. Có sự nhạy cảm như vậy là do tính chất đặc biệt của giai cấp mới.

Tự bản năng, giai cấp này nhận thức được rằng toàn bộ tài sản quốc gia thực ra đã là của nó, còn những nhãn hiệu như “tài sản xã hội chủ nghĩa”, “tài sản nhà nước”, “tài sản xã hội” chỉ là những khái niệm giả tạo về mặt pháp lí. Nó cũng nhận thức được rằng nếu tính toàn trị của nó bị phương hại thì tài sản của nó cũng bị đe doạ. Chính vì thế nó chống lại mọi đòi hỏi về tự do: nhân danh bảo vệ “tài sản xã hội chủ nghĩa”. Và ngược lại, những lời phê phán phương pháp quản lí (độc quyền) cũng làm nó hoảng loạn: nó sợ mất chính quyền. Giai cấp mới càng phản ứng với những đòi hỏi và phê phán thì người ta càng dễ nhận ra bản chất của nó, bản chất của giai cấp hữu sản và tham quyền.

Ta có thể nói đến một mâu thuẫn lớn, có thể là lớn nhất của giai cấp mới. Cụ thể là: sở hữu dường như là của xã hội, của cả nước, nhưng lại bị một nhóm sử dụng cho quyền lợi của mình. Sự bất tương hợp giữa quan hệ pháp lí và thực tế không chỉ làm cho vấn đề trở nên mù mờ mà còn dẫn đến việc nói một đằng làm một nẻo (đừng nghe nó nói, hãy xem nó làm – ND) của tầng lớp lãnh đạo, vì tất cả những biện pháp mà họ thi hành cuối cùng đều chỉ nhằm mục đích củng cố vị trí chính trị và quan hệ sở hữu của chính mình.

Giai cấp mới không thể nào giải quyết được mâu thuẫn đó, giải quyết nó cũng đồng nghĩa với việc vị trí của họ bị đe doạ vậy.

Các giai cấp hữu sản trong quá khứ không nắm độc quyền về quyền lực và sở hữu, họ chỉ giải quyết mâu thuẫn này với mức độ phù hợp với đòi hỏi của hoàn cảnh. Nói cách khác, ở đâu có tự do thì ở đó giai cấp hữu sản buộc phải từ bỏ một phần độc quyền của mình đối với sở hữu tài sản. Và ngược lại: ở đâu độc quyền sở hữu tài sản không còn thì dù ít dù nhiều, tự do nhất định sẽ tới.

Trong chế độ cộng sản, cả quyền lực và sở hữu đều nằm trọn trong tay một nhóm người. Điều này lại bị thượng tầng pháp luật che đậy. Nếu trong chế độ tư bản người lao động và nhà tư sản bình đẳng trước pháp luật dù về mặt vật chất một người là bị bóc lột, người kia là kẻ bóc lột, thì trong chế độ cộng sản đã xảy ra điều hoàn toàn ngược lại: trong quan hệ sở hữu mọi người đều bình đẳng (tài sản là của toàn dân) nhưng trên thực tế, thông qua độc quyền quản lí, chỉ một nhóm nhỏ có quyền sở hữu tài sản mà thôi.

Đòi hỏi tự do trong chế độ cộng sản chính là mũi kim đâm trúng tim đen của nó, lật tẩy bản chất của nó, là đòi hỏi đưa quan hệ sở hữu phù hợp với luật pháp.

Đòi hỏi tự do và chuyển giao những tài sản lớn do toàn thể nhân dân tạo dựng được vào tay nhân dân và đặt nó dưới sự quản lí của xã hội (thông qua những đại diện được bầu một cách thực sự dân chủ) có nghĩa là buộc giai cấp mới hoặc là nhượng bộ những lực lượng xã hội khác hoặc phải dỡ bỏ cái mặt nạ che đậy bản chất là một giai cấp hữu sản và bóc lột của chính nó. Vì tài sản của giai cấp ấy cũng như sự bóc lột của nó được thực hiện thông qua quyền lực, thông qua sự độc quyền quản lí chính là những khái niệm mà nó phủ nhận. Có phải chính giai cấp ấy vẫn thường nhấn mạnh rằng nó thực hiện vai trò quản lí là để bảo vệ tài sản của toàn xã hội ư?

Mâu thuẫn nói trên tạo ra hàng loạt vấn đề nội bộ của giai cấp mới. Làm cho giai cấp mới có địa vị không xác định về mặt pháp lí. Đẩy giai cấp mới vào bế tắc, càng ngày càng lột trần sự không phù hợp giữa lời nói và việc làm của nó: trong khi hứa hẹn loại bỏ mọi sự phân biệt giữa người với người, nhưng bằng việc chiếm đoạt một cách bất công thành quả lao động của người khác, giai cấp mới đang hàng ngày hàng giờ đào sâu thêm hố ngăn cách giữa người với người. Thực hiện những điều trái ngược hẳn với lí thuyết giáo điều mà nó từng tuyên cáo, giai cấp mới buộc phải bảo vệ đến cùng giáo điều đó như bảo vệ con ngươi của mắt mình, vì giáo điều cung cấp cho dân chúng huyền thoại về vai trò lịch sử của giai cấp mới, một giai cấp có nhiệm vụ giải phóng nhân loại khỏi mọi áp bức và bất công.

Mâu thuẫn giữa vị trí thực tế của giai cấp hữu sản và địa vị pháp lí của nó có thể là lí do chủ yếu cho việc phê phán “có tính khiêu khích” ảnh hưởng đến quần chúng và phá vỡ hàng ngũ của nó, vì chỉ một tầng lớp nhỏ của giai cấp này được hưởng đặc quyền đặc lợi mà thôi.

Mâu thuẫn này sẽ ngày càng lan rộng và phát triển và đấy chính là hi vọng cho những thay đổi thật sự dù tầng lớp nắm quyền trong các chế độ cộng sản đi theo hay chống lại trào lưu thay đổi đó. Mâu thuẫn này là lí do của những thay đổi mà giai cấp mới tiến hành trong quá khứ, trong đó có việc dân chủ hoá và phi tập trung hoá. Thực hiện từng bước và nhượng bộ đối với các lực lượng xã hội khác là cách làm của giai cấp mới nhằm che đậy mâu thuẫn vừa nói và củng cố địa vị của mình. Nhưng vì tài sản và quyền lực của giai cấp mới vẫn chưa hề bị đụng chạm, mọi biện pháp, kể cả những biện pháp được thực hiện do khát vọng dân chủ hoá, cũng đều thể hiện một xu hướng, đó là tăng cường quyền lực của bộ máy quan liêu của đảng. Hệ thống được thiết kế một cách khéo léo đến nỗi ngay cả những biện pháp dân chủ cũng bị “đúc khuôn” cho vừa với mức cho phép và quay sang phục vụ cho việc tăng cường quyền lực của tầng lớp đương quyền. Tương tự như ở phương Đông cổ đại, nơi chế độ nô lệ ngấm vào mọi quan hệ xã hội kể cả quan hệ gia đình, chế độ chuyên chế toàn trị của tầng lớp đương quyền cộng sản áp đặt sự quản lí của mình lên cả những lĩnh vực mà tầng lớp chóp bu không hề trông thấy bất kì lợi ích nào.

Phong trào tự quản công nhân Nam Tư, được lập ra trong thời kì đối đầu với Liên Xô, đã có lúc được coi là biện pháp dân chủ nhằm kêu gọi đảng từ bỏ độc quyền quản lí, đã biến hoá dần và không những không làm thay đổi hoặc lung lay hệ thống mà đã trở thành một trong những phương hướng hoạt động của tổ chức đảng. Cái điều được trù liệu khi người ta tổ chức phong trào tự quản – tạo ra một hình thức dân chủ mới – đã không và không thể đạt được kết quả mong đợi. Tự do không thể chỉ là được chia miếng bánh to hơn. Phong trào tự quản công nhân không tạo ra sự tham gia của người sản xuất trực tiếp vào quá trình phân phối lợi tức, không chỉ trên bình diện quốc gia mà ngay tại cơ sở nữa, người ta đã tìm mọi cách ngăn chặn nó trong những giới hạn an toàn. Chế độ đã tìm mọi cách như chính sách thuế khoá và những biện pháp khôn khéo khác để tước đoạt phần lợi nhuận mà người công nhân đã cố gắng tạo ra chỉ với hi vọng rằng nó sẽ là của họ. Ngoài ảo tưởng ra, họ chẳng thu nhập thêm được bao nhiêu. Không có tự do nói chung, phong trào công nhân phải mất tự do là đương nhiên. Trong một xã hội thiếu tự do, không một ai được quyền ra bất cứ quyết định nào. Kẻ ban phát bao giờ cũng hưởng phần hơn.

Điều đó không có nghĩa rằng giai cấp mới, dù chỉ vì lợi ích của chính mình, không thể nhượng bộ quần chúng. Phong trào công nhân tự quản và việc phi tập trung hoá chính là những nhượng bộ đối với quần chúng. Hoàn cảnh có thể buộc giai cấp mới, dù nó có độc đoán chuyên quyền và toàn trị đến đâu, phải tuân theo ý chí của quần chúng. Năm 1948, khi xảy ra đối đầu với Liên Xô, các nhà lãnh đạo Nam Tư đã buộc phải tiến hành một loạt cải cách, nhưng sau này, khi vừa có dấu hiệu nguy hiểm cho địa vị của mình, chính họ đã bãi bỏ những biện pháp cải cách này. Những chuyện tương tự cũng đang diễn ra tại các nước Đông Âu.

Để bảo vệ quyền thống trị của mình, giai cấp cầm quyền buộc phải tiến hành một số cải cách khi quần chúng nhận ra rằng tài sản, về danh nghĩa là của toàn dân, đã bị giai cấp ấy sử dụng như là tài sản riêng. Những biện pháp được thực hiện thường được mệnh danh là “tiếp tục phát triển chủ nghĩa xã hội và dân chủ xã hội chủ nghĩa” nhưng cơ sở của chúng chính là sự bùng nổ những mâu thuẫn nói trên. Giai cấp mới phải luôn luôn tính toán nhằm củng cố quyền lực và quyền sở hữu của mình, đồng thời lẩn tránh sự thật và càng ra sức chứng minh rằng họ đang lãnh đạo thành công sự nghiệp xây dựng xã hội của những con người hạnh phúc và bình đẳng, một xã hội không còn người bóc lột người. Giai cấp mới không thể vượt qua được mâu thuẫn sâu sắc nội tại sau đây: nguồn gốc xuất thân không cho phép nó hợp thức hoá tài sản, nhưng từ bỏ nó thì lại sợ vì làm thế chính là cách tự đào huyệt dưới chân mình. Giai cấp mới buộc phải dùng những mục tiêu phi thực tế và mù mờ hơn để biện hộ cho sự thống trị không giới hạn của mình.

Đây thực sự là giai cấp nô dịch với sức mạnh chưa từng có trong lịch sử. Nhưng đây cũng là giai cấp đoản thọ nhất, tương lai của nó thật là mờ mịt. Vì chứng tự mãn, dẫm đạp lên toàn bộ xã hội, nó không thể nào đánh giá được đúng vai trò của mình cũng như không thể đánh giá đúng những điều đang diễn ra xung quanh.

Thực hiện công nghiệp hoá, giai cấp mới đồng thời đã thực hiện công cuộc chấn hưng dân tộc, ở những chỗ, những lúc mà điều đó nhất định phải chấn hưng, nhưng nay nó đã hết hơi rồi, nó không còn khả năng gì ngoài khả năng đàn áp một cách dã man và cướp bóc một cách vô liêm sỉ. Nó không còn khả năng sáng tạo nữa. Và hậu quả không thể đảo ngược được: vũ khí của nó chỉ còn là sự lừa dối.

Khi tiến hành cách mạng, giai cấp mới đã thực hiện được những chiến công vô tiền khoáng hậu, nhưng giai đoạn cầm quyền của nó là một trong những trang nhục nhã nhất trong lịch sử nhân loại. Người ta sẽ lấy làm hân hoan khi nhớ lại những thành tựu đạt được dưới quyền nó, nhưng người ta cũng sẽ phải lấy làm xấu hổ khi nhớ đến những phương tiện mà nó đã sử dụng.

Giai cấp mới nhất định sẽ biến khỏi vũ đài lịch sử, điều đó là rõ ràng. So với những giai cấp khác trong quá khứ việc biến mất của nó sẽ tạo ra ít hoài cảm nhất. Chà đạp lên tất cả những gì không thoả mãn được tính ích kỉ của nó, giai cấp mới tự chuốc lấy cho mình một cái chết nhục nhã và sự thờ ơ của người đời.

Nguồn: Bản tiếng Nga, tại http://dzhilas-milovan.viv.ru/index.htm
http://phamnguyentruong.blogspot.com/2011/11/milovan-djilas-giai-cap-moi-ki-4.html#more
Milovan Djilas – Giai cấp mới (Kì 5)
Phạm Nguyên Trường dịch

Nhà nước đảng trị

1.

Cơ chế quyền lực cộng sản có thể là một cơ chế đơn giản nhất mà người ta có thể nghĩ ra được, kết quả là nó tạo ra những hình thức đàn áp tinh vi nhất và bóc lột dã man nhất.

Cơ chế này cực kì đơn giản, tại chóp bu của mọi hoạt động chính trị, kinh tế và tư tưởng là một đảng duy nhất, đảng của những người cộng sản. Xã hội dậm chân tại chỗ, hay vận động với tốc độ rùa bò hay lao vào những khúc quanh chóng mặt, tất cả phụ thuộc vào các quyết định của tổ chức đảng.

Vì vậy, công dân trong các hệ thống cộng sản hiểu ngay điều gì được phép làm, còn điều gì thì không. Không phải là luật pháp mà là quan hệ bất thành văn giữa chính quyền và thần dân của nó đã trở thành “phương hướng hành động” chung cho tất cả mọi người.

Ai cũng hiểu rằng quyền lực, bất chấp luật pháp, nằm trong tay các tổ chức đảng và cảnh sát mật. “Vai trò lãnh đạo của đảng” không thấy ghi trong bất kì điều luật nào, nhưng lại thấm vào mọi tổ chức và mọi lĩnh vực hoạt động; không thấy ở đâu nói rằng cảnh sát mật của đảng có quyền theo dõi các công dân, nhưng cảnh sát vẫn là lực lượng đầy uy quyền; không có tài liệu nào nói rằng toà án và viện kiểm sát phải báo cáo với tổ chức đảng và cảnh sát mật, nhưng sự thật đã là như thế. Sự thật là như thế đối với nhiều người đã không còn là bí mật, đa số đều biết. Người ta cũng biết rằng cái gì được phép, cái gì bị cấm và ai có quyền cấm. Đấy là lí do vì sao người ta có thể thích ứng được với hiện thực và bất kì vấn đề gì họ cũng giải quyết với tổ chức đảng hoặc tổ chức nằm dưới sự lãnh đạo của tổ chức đảng.

Việc quản lí các tổ chức xã hội được thực hiện bằng một phương pháp đơn giản sau đây: các đảng viên ở đó thành lập đảng đoàn và đưa ra mọi quyết định sau khi đã thoả thuận với cấp lãnh đạo bên trên. Đấy chỉ là sơ đồ chung. Trong thực tế, nếu tổ chức do một người có quyền lực trong đảng lãnh đạo thì nó không cần phải thoả thuận về những vấn đề không quan trọng với ai hết. Ngoài ra, những đảng viên đã quen với hệ thống sẽ biết vấn đề nào là quan trọng, vấn đề nào không, vì cấp trên chỉ quan tâm đến những vấn chung, có tính nguyên tắc hay có tính chất đặc biệt mà thôi. Đảng đoàn tồn tại để khi cần có tiếng nói cuối cùng của đảng, còn những người bầu ra tổ chức ấy nghĩ gì thì nó không thèm quan tâm.

Cội nguồn của phương pháp quản lí và thực thi quyền lực của đảng, cũng như của chế độ toàn trị cộng sản và giai cấp mới xuất phát từ giai đoạn chuẩn bị cách mạng của đảng. Chính những đảng đoàn trước đây đã phát triển, phân nhánh, hoàn thiện và đóng vai trò lãnh đạo trong các cơ quan chính quyền và tổ chức xã hội. Chính lí thuyết về vai trò tiên phong của đảng của giai cấp công nhân tạo ra “vai trò lãnh đạo của đảng” trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Trước cách mạng, lí thuyết này đã trui rèn nên lực lượng cán bộ cho cách mạng, nay nó lại đóng vai trò biện hộ cho chế độ toàn trị của giai cấp mới. Thật ra, cũng có một chút khác biệt. Trước đây, cách mạng và những hình thức của nó là việc không tránh khỏi, thậm chí là nhu cầu của bộ phận xã hội nhằm hướng đến tiến bộ kinh tế và kĩ thuật.

Nhưng thoát thai từ cách mạng, bạo lực toàn trị và ách thống trị của giai cấp mới đã trở thành núi đá đè lên xã hội, làm cho xã hội kiệt sức vì mất bao mồ hôi, xương máu. Một vài hình thức cách mạng đã trở thành phản động. Đảng đoàn là một trong những hiện tượng như thế.

Việc điều hành dưới chế độ cộng sản được bộ máy nhà nước thực hiện theo hai cách. Cách thứ nhất: theo chức năng như đã nói ở trên. Về nguyên tắc đây là phương pháp chủ yếu. Nhưng trên thực tế, phương pháp thứ hai: một số chức vụ của chính quyền chỉ được giao cho các đảng viên lại hay được áp dụng. Đấy là những vị trí được coi là quan trọng đối với mọi chính quyền, đặc biệt là chính quyền cộng sản: cảnh sát, trước hết là cảnh sát mật, ngoại giao đoàn và tầng lớp sĩ quan, nơi công tác chính trị và tình báo được coi là công tác chủ yếu. Chỉ các cơ quan trung ương của ngành tư pháp mới bị kiểm soát một cách nghiêm ngặt: cơ quan này thuộc quyền các tổ chức đảng và cảnh sát nhưng lương thấp nên không hấp dẫn. Xu hướng chung là làm cho ngành này trở thành hấp dẫn hơn, có nhiều bổng lộc hơn để lôi kéo các đảng viên. Khi đó việc quản lí ngành tư pháp sẽ dễ dàng hơn hoặc thậm chí không cần thiết nữa: toà án sẽ xử theo đúng đường lối chung của đảng, nghĩa là theo đúng “tinh thần xã hội chủ nghĩa”.

Chỉ có trong chế độ cộng sản mới có việc một số ngành chức năng (đã liệt kê và cả những ngành khác nữa) mới bị các đảng viên hoàn toàn khống chế. Chính quyền cộng sản dù mang tính giai cấp về nội dung lại mang tính đảng về hình thức, quân đội của đảng, nhà nước do đảng lãnh đạo. Nếu nói cho thật đúng thì người cộng sản có xu hướng coi nhà nước và quân đội là vũ khí của riêng mình.

Dù không được thể hiện trên bất cứ tài liệu nào nhưng chỉ có đảng viên mới có quyền trở thành cảnh sát, sĩ quan quân đội, trở thành các nhà ngoại giao, nghĩa là các đảng viên và chỉ có các đảng viên mới có quyền giữ những chức vụ quyền lực, thực thi quyền lực, điều đó không chỉ tạo ra một tầng lớp quan liêu, tầng lớp ưu tú mà còn đơn giản hoá cơ chế quản lí. Bằng cách đó, đảng đoàn đã bao gồm, ở mức độ này hay mức độ, khác tất cả những người làm việc trong các lĩnh vực này. Kết quả là các cơ quan đó trở thành một trong những bộ phận của công tác đảng, đảng đoàn biến mất.

Vì vậy, trong các chế độ cộng sản không có sự khác biệt của các cơ quan đó với các tổ chức đảng, nhất là giữa đảng và cảnh sát mật. Đảng và cảnh sát liên hệ mật thiết với nhau trong hoạt động hàng ngày, sự khác nhau chỉ còn là phân công lao động. Đảng, có thời đã là người tổ chức quần chúng, thì nay đã trở thành một bộ máy.

Toàn bộ cơ chế quyền lực được thực hiện theo sơ đồ sau: các cơ cấu chính trị là đặc quyền của đảng viên, các cơ quan ban ngành khác thì hoặc do các đảng viên nắm giữ hoặc bị họ kiểm soát một cách gắt gao. Chỉ cần ở trung ương diễn ra cuộc họp hoặc công bố một bài báo là toàn bộ bộ máy sẽ đi vào vận hành. Chỉ cần một nơi nào đó có trục trặc là đảng và cảnh sát sẽ can thiệp ngay.

2.

Nếu đảng cộng sản không phải là một đảng đặc biệt thì hình thức nhà nước đó không thể nào tồn tại được.

Trên kia đã nói đến tính chất đặc biệt của đảng cộng sản. Nhưng vẫn cần phải nói thêm một loạt biểu hiện đặc thù nữa ngõ hầu làm rõ bản chất của nhà nước cộng sản.

Đảng cộng sản là đảng đặc biệt không chỉ vì nó là đảng cách mạng, tập trung, có kỉ luật nhà binh, có những mục tiêu cụ thể… Tất cả những điều vừa nói đều là những tính chất đặc biệt của nó cả.

Có cả những đảng khác với những tính chất gần như thế.

Nhưng chỉ có trong đảng cộng sản thì sự thống nhất về tư tưởng, sự thống nhất về thế giới quan và quan điểm trong việc xây dựng xã hội mới là bắt buộc với mọi đảng viên. Dĩ nhiên là mệnh lệnh này chỉ là bắt buộc đối với những cơ quan đầu não, những cơ quan cấp cao mà thôi. Các cấp bên dưới về hình thức cũng phải tuân thủ sự thống nhất về tư tưởng nhưng thực ra trách nhiệm của họ chính là: thực thi nghị quyết. Nhưng xu hướng chung là phải nâng cao trình độ của cấp dưới để họ luôn nắm được quan điểm của lãnh tụ.

Dưới thời Lenin bất đồng quan điểm vẫn còn được chấp nhận. Lenin không cho rằng tất cả các đảng viên đều bắt buộc phải có quan điểm hoàn toàn giống nhau, mặc dù chính ông là người khởi xướng việc lên án và loại bỏ khỏi hàng ngũ của đảng những quan điểm mà ông cho là không hoàn toàn mác-xít, hay thiếu tính đảng, nghĩa là những quan điểm mà theo ý ông là không có tác dụng củng cố đảng. Ông đã xử lí những nhóm đối lập trong đảng không phải theo kiểu của Stalin: không bắn giết mà chỉ bịt miệng. Dưới quyền ông, người ta còn được thảo luận và biểu quyết. Chế độ toàn trị chưa hoàn toàn thắng thế.

Đối với Stalin thì sự thống nhất về tư tưởng, thống nhất về chính trị là điều kiện để trở thành đảng viên. Đấy là đóng góp trực tiếp của Stalin vào lí luận về đảng kiểu mới. Điều đáng chú ý là luận điểm về sự thống nhất tuyệt đối về tư tưởng được ông ta phát biểu ngay từ khi còn rất trẻ. Dưới triều Stalin, sự thống nhất về tư tưởng là điều kiện bắt buộc của tất cả các đảng cộng sản và điều đó vẫn còn tác dụng cho đến tận hôm nay.

Các lãnh tụ Nam Tư, ban lãnh đạo Liên Xô cũng như các đảng cộng sản khác hiện vẫn giữ quan điểm như vậy. Sự kiên trì tính thống nhất về tư tưởng trong đảng không chỉ là dấu hiệu của sự trì trệ mà còn chứng tỏ rằng trong các ban “lãnh đạo tập thể” hiện nay không có sự trao đổi ý kiến hoặc rất ít khi có trao đổi ý kiến.

Sự thống nhất bắt buộc như vậy nói lên điều gì và sẽ dẫn đến đâu?

Sẽ dẫn đến hậu quả thật là tai hại.

Trước hết là bất kì đảng nào, đặc biệt là đảng cộng sản, quyền lực cũng nằm trong tay lãnh tụ hoặc các cơ quan lãnh đạo. Sự thống nhất là mệnh lệnh (đặc biệt là đối với đảng cộng sản, một đảng có kỉ luật theo kiểu nhà binh) nhất định sẽ dẫn tới việc bao cấp về tư tưởng của trung ương đối với các đảng viên thường. Nếu dưới thời Lênin tư tưởng chỉ được thống nhất sau những cuộc đấu tranh dữ dội ở các cấp cao nhất, thì Stalin bắt đầu tự mình quyết định tư tưởng nào là đúng, còn “ban lãnh đạo tập thể” hiện nay lại chỉ cần ngăn chặn không cho những tư tưởng mới xuất hiện là được. Chủ nghĩa Marx đã trở thành lí luận của các ông trùm cộng sản như thế đấy. Một chủ nghĩa Marx hoặc chủ nghĩa cộng sản khác không thể nào xảy ra được, trong hiện tại và có thể cả trong tương lai nữa.

Hậu quả của sự thống nhất về tư tưởng thật là tai hại: chế độ chuyên chế của Lenin dĩ nhiên là khắc nghiệt, nhưng nó chỉ trở thành toàn trị dưới trào Stalin. Chấm dứt cuộc đấu tranh tư tưởng trong nội bộ đảng đã dẫn đến việc tiêu diệt tự do trong toàn xã hội. Sự bất dung đối với các trào lưu tư tưởng khác và việc khăng khăng khẳng định tính khoa học giả tạo của chủ nghĩa Marx-Lenin đã tạo ra sự độc quyền tư tưởng của ban lãnh đạo chóp bu của đảng và cuối cùng là sự thống trị tuyệt đối của nó đối với xã hội.

Thống nhất về tư tưởng thực chất là sự đè nén mọi sáng kiến không chỉ trong phong trào cộng sản mà trong toàn xã hội nữa. Tất cả những gì mang tính mới mẻ đều phải được đảng cho phép, xã hội bị đặt hoàn toàn dưới sự giám sát của đảng, còn trong đảng thì không có chút tự do nào.

Sự thống nhất về tư tưởng không xảy ra ngay lập tức, điều đó, cũng như những điều khác trong chế độ cộng sản đã phát triển một cách tuần tự và nó chỉ đạt được sức mạnh tuyệt đối khi các xu hướng khác nhau của phong trào đấu tranh quyết liệt với nhau để giành quyền lực. Và không phải vô tình mà vào giữa những năm 20 của thế kỉ XX chính Trotsky bị yêu cầu từ bỏ quan điểm của mình. Stalin bắt đầu tập hợp lực lượng.

Sự thống nhất về tư tưởng là cơ sở của độc tài cá nhân, thiếu sự thống nhất đó thì độc tài cá nhân không thể nào tồn tại được. Cái này tạo ra cái kia và củng cố lẫn nhau. Điều này được giải thích như sau: tư tưởng là kết quả của sự suy tư sáng tạo của từng cá nhân riêng biệt, còn sự độc quyền tư tưởng chỉ là mặt nạ của chế độ độc tài. Mặc dù sự thống nhất về tư tưởng và chế độ độc tài đã song song tồn tại ngay từ khởi thủy của phong trào bolshevik, phong trào cộng sản hiện đại, nhưng chúng chỉ được củng cố khi chế độ bước vào giai đoạn trưởng thành và sẽ là xu hướng chủ đạo cho đến ngày diệt vong của chế độ đó.

Việc diệt trừ những quan điểm khác nhau trong ban lãnh đạo đảng tự động dẫn đến việc loại bỏ các trào lưu, xu hướng trong nội bộ phong trào và như vậy đồng nghĩa với việc giết chết dân chủ trong các đảng cộng sản. Trong chế độ cộng sản “lãnh tụ là người biết tuốt” đã trở thành nguyên tắc: những kẻ có quyền dù ngu dốt đến đâu cũng đều trở thành nhà tư tưởng hết.

Khi người ta tiến hành những biện pháp nhằm tăng cường sự thống nhất về tư tưởng trong đảng cũng là lúc độc tài cá nhân hay độc tài của một nhóm những kẻ cầm đầu đang được củng cố. Nhóm này có thể tạm thời thoả thuận với nhau hoặc cùng tồn tại khi có sự cân bằng lực lượng tạm thời.

Trong quá khứ người ta đã từng thấy xu hướng thống nhất về tư tưởng của các đảng khác nữa, đặc biệt là các đảng xã hội. Nhưng đây chỉ là xu hướng và cũng không kéo dài như đảng cộng sản. Đảng viên không chỉ là một người mác-xít mà phải là mác-xít theo quan điểm và chỉ thị từ trung ương. Từ một tư tưởng có tính cách mạng và tự do, chủ nghĩa Marx đã trở thành một giáo lí không khác gì trong các chế độ độc tài phương Đông, nơi vương triều có toàn quyền qui định và giải thích giáo lí, còn nhà vua đóng luôn vai trò Giáo Chủ.

Sự thống nhất bắt buộc về tư tưởng, đã phát triển qua nhiều giai đoạn và mang nhiều hình thức khác nhau, đã và vẫn là đặc điểm cơ bản của đảng bolshevik.

Nhưng sự thống nhất bắt buộc như thế sẽ không thể nào xảy ra được nếu như đảng không phải là cha đẻ của giai cấp mới và nếu như nó không đặt ra cho mình nhiệm vụ lịch sử chưa từng có.

Lịch sử hiện đại chưa có giai cấp nào hay đảng phái nào thực hiện được sự thống nhất tuyệt đối về tư tưởng trong hàng ngũ của mình như đảng cộng sản. Nhưng ngoài họ thì cũng chưa ai có ý định cải tạo toàn bộ xã hội chủ yếu bằng những biện pháp chính trị và hành chính. Chỉ có những người có niềm tin tuyệt đối, có niềm tin mù quáng vào sự đúng đắn và trong sáng của những quan điểm và mục đích của mình mới dám làm những việc như vậy. Nhiệm vụ này khó khăn đến nỗi nó đòi hỏi không chỉ thái độ không khoan nhượng đối với những tư tưởng khác và những nhóm xã hội khác mà còn đòi hỏi sự khuất phục của toàn xã hội và sự cố kết của chính giai cấp cầm quyền. Đấy chính là lí do vì sao đảng cộng sản cần một sự ổn định vững chắc về tư tưởng.

Sau khi đã đạt được rồi, sự thống nhất về tư tưởng sẽ trở thành một định kiến. Người cộng sản được dạy rằng thống nhất về tư tưởng (thực ra là tư tưởng được truyền từ trên xuống) là điều thiêng liêng bất khả xâm phạm, bè phái trong đảng là hoạt động xấu xa nhất.

Như vậy là, không thể tạo được chế độ toàn trị nếu không đàn áp những nhóm xã hội khác, cũng như sự thống nhất về tư tưởng không thể xảy ra được nếu không tiến hành thanh trừng ngay trong hàng ngũ của mình. Hai quá trình này diễn ra đồng thời và quyện chặt vào nhau một cách “khách quan” trong nhận thức của những người sáng lập chế độ toàn trị, mặc dù đấy là hai việc khác nhau, một đằng là tiêu diệt kẻ thù và mặt khác là “giải quyết quan hệ” trong nội bộ. Dĩ nhiên Stalin biết rằng Trotsky, Bukharin hay Dinoviev không phải là gián điệp hay những kẻ phản bội. Nhưng việc họ bất đồng với ông ta đã tạo nhiều khó khăn cho việc thiết lập chế độ toàn trị và ông ta phải tiêu diệt họ, tất cả chỉ có thế mà thôi. Tội lỗi của ông ta đối với đảng chính là ông ta đã biến sự tranh chấp, bất đồng khách quan về tư tưởng và đường lối chính trị trong đảng thành tội lỗi chủ quan của từng người và từng nhóm khác nhau và vu cho họ những hành động tội ác mà họ không phạm.

Nhưng đối với chế độ cộng sản thì đấy là con đường bắt buộc phải đi qua. Có thể thiết lập chế độ toàn trị, nghĩa là tạo ra sự thống nhất về tư tưởng, bằng những biện pháp mềm dẻo hơn biện pháp mà Stalin đã áp dụng, nhưng thực chất vẫn chỉ là một. Ngay cả trong những trường hợp khi mà công nghiệp hoá không phải là biện pháp cũng như điều kiện để tạo ra chế độ toàn trị – Tiệp và Hung là những thí dụ – thì đảng cộng sản vẫn áp dụng những biện pháp không khác gì những biện pháp được áp dụng ở những nước chậm phát triển, thí dụ như Liên Xô. Đấy không phải là do Liên Xô áp đặt cho các đảng đàn em mà là bản chất của các đảng cộng sản, bản chất của tư tưởng cộng sản. Quyền lực tối thượng của đảng đối với xã hội, đồng nhất chính quyền và bộ máy quyền lực với đảng, chỉ những cấp nào đó mới được quyền có tư tưởng là những đặc thù của tất cả các đảng cộng sản cầm quyền.

Đảng là sức mạnh của chính quyền và nhà nước cộng sản. Đảng là người tạo nên tất cả, là cội nguồn và sức mạnh cố kết giai cấp mới, quyền lực, tài sản và tư tưởng của giai cấp ấy.

Chính vì vậy mà trong chế độ cộng sản không thể xảy ra độc tài quân sự mặc dù ở Liên Xô có vẻ như đã từng có những âm mưu cướp quyền của giới tướng lĩnh. Nếu giả dụ chế độ độc tài quân sự có thuyết phục được xã hội về sự cần thiết phải tập trung toàn bộ sức mạnh và chấp nhận hi sinh trong một thời gian nào đó thì nó cũng không thể kiểm soát được toàn bộ xã hội. Chỉ có một đảng duy nhất làm được chuyện đó, đấy là đảng tuyên truyền cho những lí tưởng cao cả, sự độc đoán chuyên quyền của nó được các đảng viên và tất cả những ai tin vào lí tưởng ấy coi không những là cần thiết mà còn là hình thức tổ chức nhà nước, tổ chức xã hội cao nhất.

Nếu xét theo khía cạnh tự do thì độc tài quân sự trong chế độ cộng sản là một tiến bộ lớn. Nó đồng nghĩa với việc cáo chung của chế độ toàn trị của đảng, của nhóm chóp bu nắm quyền của đảng đối với xã hội.

Về lí thuyết, độc tài quân sự chỉ xảy ra khi đất nước gặp thất bại năng nề về quân sự hoặc có khủng hoảng chính trị nghiêm trọng. Lúc đó hình thức khởi thuỷ của nó sẽ là độc tài của đảng hay dưới danh nghĩa độc tài của đảng. Nhưng điều đó nhất định sẽ dẫn tới sự thay đổi của toàn bộ hệ thống.

Chế độ độc tài toàn trị của nhóm đầu sỏ trong đảng trong các chế độ cộng sản không phải là kết quả nhất thời của cuộc tranh chấp chính trị mà là kết quả của một quá trình phức tạp và kéo dài. Sự cáo chung của chế độ độc tài không chỉ có nghĩa là sự thay thế hình thức cai trị này bằng hình thức cai trị khác mà còn là sự thay đổi, đúng hơn là khởi đầu của sự thay đổi của cả hệ thống. Nền chuyên chính của đảng chính là hệ thống, là linh hồn, trí tuệ và bản chất của cả hệ thống.

3.

Trong chế độ cộng sản, quyền lực tập trung vào tay một nhóm rất nhỏ các lãnh tụ và cái gọi là chuyên chính vô sản chỉ còn là những lời sáo rỗng mà thôi. Chính lí thuyết về vai trò tiên phong của giai câp vô sản đã góp phần làm nên chuyện đó.

Không nghi ngờ gì rằng trong giai đoạn đấu tranh giành quyền lực, đảng đã là lãnh tụ thực sự của quần chúng lao động, đã bảo vệ quyền lợi của họ. Nhưng ngay từ bấy giờ vai trò và vị trí của đảng đã đồng thời là những giai đoạn và hình thức để tiến đến quyền lực của chính mình. Giai cấp công nhân đã được lợi, nhưng đảng cũng được củng cố để trở thành người nắm quyền và hạt nhân của giai cấp mới. Ngay khi giành được quyền lực, đảng – làm như mình là hiện thân quyền lợi của giai cấp công nhân và toàn thể nhân dân lao động – ngay lập tức “khoác vào mình toàn bộ gánh nặng” của chính quyền và không quên kiểm soát luôn toàn bộ tài sản quốc gia. Sự tham gia và vai trò của giai cấp vô sản, ngoại trừ giai đoạn đấu tranh cách mạng ngắn ngủi lúc đầu, về thực chất cũng không khác gì các giai cấp khác.

Điều đó không có nghĩa là giai cấp vô sản, đúng hơn là một bộ phận của nó, trong những giai đoạn nhất định không ủng hộ đảng. Những người nông dân hi vọng rằng công nghiệp hoá sẽ đưa họ ra khỏi tương lai tăm tối cũng đã bị gạt ra rìa hệt như thế.

Việc có những giai đoạn nhân dân lao động đã ủng hộ đảng không có nghĩa là, thứ nhất, nhân dân nắm được quyền lực và thứ hai, việc tham gia của họ có ảnh hưởng quyết định đến quá trình phát triển của xã hội và các quan hệ xã hội. Trong chế độ cộng sản không có quá trình nào trong những quá trình từng được thực hiện lại có tác dụng củng cố quyền làm chủ của quần chúng lao động nói chung và của giai cấp vô sản nói riêng.

Không thể nào xảy ra khác đi được.

Các giai cấp và những đám đông không thực thi chức năng của quyền lực, các chính đảng thay mặt họ làm chuyện này. Ngay cả các đảng dân chủ nhất thì vai trò quan trọng nhất vẫn thuộc về lãnh tụ, như vậy nghĩa là quyền lực của đảng bao giờ cũng là quyền lực của lãnh tụ.

Cái gọi là chuyên chính vô sản, trong trường hợp tốt nhất cũng là quyền lực của đảng và sau đó nhất định trở thành quyền lực của các lãnh tụ đảng. Còn hiện ta đang thảo luận về chính quyền toàn trị thì chuyên chính vô sản chỉ còn là sự biện hộ về mặt lí luận, là cái mặt nạ che đậy cho sự chuyên chế của một số lãnh tụ đầu sỏ. Đấy là nói trường hợp tốt nhất.

Marx coi chuyên chính vô sản như là nền dân chủ trong nội bộ giai cấp vô sản và dành cho giai cấp vô sản, nghĩa là một chế độ trong đó tồn tại nhiều xu hướng và đảng phái xã hội chủ nghĩa. Công xã Paris năm 1871 là nền chuyên chính vô sản duy nhất thời Marx và ông đã dựa vào kinh nghiệm của nó để đưa ra kết luận của mình, nhưng Công xã là chính quyền đa đảng và những người mác-xít không đóng vai trò quan trọng cả về số lượng lẫn ảnh hưởng. Chuyên chính vô sản, nếu nói về sự thực thi quyền lực của cả giai cấp, chỉ là một giả tưởng vì quyền lực bao giờ cũng được thực thi thông qua các tổ chức. Lenin đã biến chuyên chính vô sản thành quyền lực của một đảng, còn Stalin thì biến nó thành quyền lực của riêng mình, biến thành nền độc tài cá nhân cả trong đảng và trong chính quyền. Sau khi nhà độc tài cộng sản chết, những người kế tục ông ta cảm thấy vô cùng vui mừng vì thông qua “lãnh đạo tập thể” họ có thể chia nhau quyền lực. Như vậy là, trong tất cả các trường hợp vừa xét, chuyên chính vô sản chỉ là một giả tưởng hoặc là quyền lực của một số lãnh tụ đảng nhất định.

Lenin tin rằng Xô Viết là hình thức của chính quyền chuyên chính vô sản mà Marx từng nghĩ tới. Khởi kì thuỷ các Xô Viết, nhờ vào sáng kiến cách mạng và sự tham gia đông đảo của quần chúng đã tạo cho người ta cảm tưởng như thế. Trotsky cũng cho rằng Xô Viết có ý nghĩa thời đại tương tự như những cơ quan lập pháp trong cuộc đấu tranh với chế độ chuyên chế. Nhưng đấy chỉ là ảo tưởng. Từ những tổ chức cách mạng, Xô Viết đã thoái hoá thành hình thức chính quyền chuyên chế toàn trị của giai cấp mới, của đảng cầm quyền.

Chủ nghĩa tập trung dân chủ của Lenin cũng có diễn biến tương tự. Khi trong đảng còn có, dù ít dù nhiều, những cuộc tranh luận thì dù chưa thật dân chủ, ta vẫn có thể coi như có một chủ nghĩa như vậy. Sau khi chế độ toàn trị đã hoàn toàn thắng lợi, tập trung dân chủ chỉ còn là những từ ngữ sáo rỗng che đậy bản chất của nó là sự tuỳ tiện của tầng lớp chóp bu đương quyền mà thôi.

Từ những nguyên nhân đã nói ở trên, có thể rút ra kết luận: việc biến chuyên chính của đảng thành độc tài cá nhân là quá trình bất khả kháng. Sự thống nhất về tư tưởng, mâu thuẫn không tránh khỏi của nhóm cầm quyền và nhu cầu của hệ thống nói chung nhất định sẽ đưa tới độc tài cá nhân. Lãnh tụ đảng, người đứng trên đỉnh cao nhất của quyền lực chính là kẻ thể hiện và bảo vệ một cách kiên định nhất quyền lợi của giai cấp mới.

Các điều kiện lịch sử cũng là nhân tố giúp cho việc thiết lập và củng cố nền độc tài cá nhân: nhu cầu đẩy nhanh công nghiệp hoá cũng như chiến tranh đòi hỏi mọi người phải có chung một ý chí, phải thống nhất hành động. Chúng ta có thể kể thêm một nguyên nhân nữa, nguyên nhân đặc biệt của chủ nghĩa cộng sản: đối với từng đảng viên và cả phong trào cộng sản thì chính quyền, quyền lực là mục đích chính và cũng là phương tiện chính. Người cộng sản khát khao quyền lực như nắng hạn khát mưa. Câu: “Được làm vua thua làm giặc” thể hiện đúng bản chất họ.

Vấn đề có thể còn là sự xa hoa của các lãnh tụ cộng sản nữa, họ không cưỡng được chuyện này không chỉ vì đấy là điểm yếu của con người nói chung mà còn vì nhu cầu thể hiện sức mạnh và hơn nữa ma lực của quyền sinh quyền sát đối với đồng loại, một loại nghệ thuật mà chỉ những người đặc biệt mới có.

Thói bon chen, ưa xa hoa, tham quyền. Phải kể thêm là tham nhũng nữa. Đây không phải là tham quan ô lại, chuyện này bây giờ có thể ít hơn chế độ cũ. Đây là loại tham nhũng đặc biệt: khi quyền lực nằm dưới quyền kiểm soát của một đảng, mà đảng ấy lại là nguồn gốc của tất cả đặc quyền đặc lợi, thì việc “quan tâm đến các chiến hữu”, việc bổ nhiệm họ vào những chức vụ có lợi, việc phân phối phúc lợi các kiểu giữa những đảng viên với nhau phải trở thành việc đương nhiên. Việc đồng nhất chính quyền và đảng với nhà nước (thực ra là với sở hữu) đã làm cho nhà nước cộng sản trở thành, có thể nói, nhà nước tự-tham-nhũng, nhất định kèm theo đặc quyền đặc lợi và những kẻ ăn bám.

Một đảng viên đảng cộng sản Nam Tư đã mô tả trạng thái tâm lí của một đảng viên thường như sau: “Nói một cách chân thành thì tôi như bị xé làm ba phần: tôi ghen với những người có ô tô đẹp hơn tôi vì tôi cho rằng họ cống hiến cho đảng và cho chủ nghĩa ít hơn tôi; tôi nhìn những người không có ô tô và nghĩ: đúng rồi – công lao ít; dù sao mặc lòng, tôi cảm thấy hạnh phúc vì nói gì thì nói tôi cũng có ô tô riêng”

Người này đúng ra không thể coi là đảng viên chân chính. Anh ta thuộc loại tin vào lí tưởng và tham gia phong trào nhưng sau đó đã thất vọng, chỉ còn coi đảng là nấc thang danh vọng mà thôi. Người cộng sản chân chính phải là hai trong một: cuồng tín và ham quyền lực vô bờ bến. Những người khác chỉ có thể được coi là những gã háo danh hoặc những người say mê lí tưởng mà thôi.

Trên mọi nấc thang của hệ thống cộng sản ta đều thấy tính chất quan liêu và được phân chia theo ngôi thứ rõ ràng. Khắp nơi đều có những nhóm mà người ngoài khó thâm nhập vào được và tất cả những nhóm đó đều châu tuần xung quanh các lãnh tụ hoặc ban lãnh đạo cấp trên. Tất cả hoạt động chính trị tựu trung chỉ là giải quyết mâu thuẫn giữa các nhóm ấy với nhau, ở đâu cũng có sự bao che, bè phái. Càng lên cao thì các mối ràng buộc gia đình, dòng họ càng mạnh. Các vần đề quốc kế dân sinh quan trọng nhiều khi được giải quyết trong bữa ăn hay trong những cuộc đi săn hoặc thảo luận chỉ có ba bốn người. Các cuộc hội nghị đảng, các cuộc họp của chính phủ hay quốc hội chỉ có tính chất trình diễn, được tổ chức nhằm hợp thức hoá những vấn đề đã được quyết định “trong xó bếp” từ lâu. Người cộng sản coi quyền lực (của mình, dĩ nhiên rồi) như một bái vật cho nên khi những người ấy, đúng hơn phải nói những gia đình ấy, có mặt ở đâu đó như là những quan chức nhà nước thì ta thấy họ có ngay những bộ mặt lạnh lùng, xa cách và long trọng.

Đúng là chế độ chuyên chế, chỉ một chút khác biệt: ít kiến thức.

Chính hoàng đế, chính nhà độc tài cũng không nhận thức được rằng mình là độc tài, là hoàng đế. Stalin đã cười nhạo khi có người gọi ông ta là nhà độc tài. Ông ta cảm thấy mình chỉ là người đại diện cho ý chí tập thể của đảng. Ở khía cạnh nào đó thì ông ta cũng có lí, mặc dù có thể lịch sử chưa từng biết đến người nào có nhiều quyền lực hơn ông. Đơn giản là cũng như mọi nhà độc tài cộng sản khác, ông ta hiểu rằng chỉ cần xa rời những nguyên tắc tư tưởng cơ bản của đảng, xa rời sự độc quyền của giai cấp mới, xa rời chế độ toàn trị là ông ta sẽ bị lật đổ ngay. Là người tạo ra và cũng là đại diện thông minh nhất của hệ thống, không bao giờ ông ta lại làm như thế. Nhưng Stalin cũng là người phụ thuộc vào hệ thống do chính ông ta lập ra, cũng phụ thuộc vào “ý kiến chung” của nhóm đầu sỏ nắm quyền. Ông ta không thể sống thiếu họ, cũng không thể chống lại họ.

Dù có vẻ kì quặc nhưng sự thật vẫn là: trong hệ thống cộng sản ngay cả cấp cao nhất, ngay cả lãnh tụ, tất cả đều không có tự do. Mọi người phụ thuộc lẫn nhau và đều phải rất thận trọng: làm sao không tách khỏi không khí chung, quan điểm chung, quyền lợi chung, cách hành xử chung.

Sau những điều đã trình bày ta còn có thể nói về chuyên chính vô sản được không?

4.

Lí thuyết của Lenin, được Stalin và những người khác bổ sung, đã đóng vai trò quan trọng trong việc củng cố chế độ chuyên chế đảng trị. Có hai luận điểm quan trọng quyện chặt lấy nhau trong lí thuyết này: lí thuyết về nhà nước và luận điểm về sự cáo chung của chính nhà nước. Được trình bày đầy đủ nhất trong tác phẩm Nhà nước và cách mạng do Lenin viết trong thời kì trốn tránh Chính phủ lâm thời, lí thuyết này cũng như toàn bộ chủ nghĩa Lenin đều dựa trên khía cạnh cách mạng của chủ nghĩa Marx về vấn đề nhà nước (có sử dụng nhiều kinh nghiệm của cuộc cách mạng Nga lần thứ I – năm 1905) và được những lãnh tụ cộng sản khác bổ xung thêm sau này. Từ quan điểm lịch sử, tác phẩm Nhà nước và cách mạng là vũ khí tư tưởng quan trọng của chính cách mạng chứ không phải cơ sở lí thuyết để xây dựng chính quyền mới.

Lenin coi nhà nước chỉ là biện pháp cưỡng chế, đúng hơn là cơ chế đàn áp của một giai cấp đối với các giai cấp khác trong xã hội. Lenin từng đưa ra định nghĩa ngắn gọn: “Nhà nước-dùi cui”

Điều đó không có nghĩa là các chức năng khác của nhà nước đã bị bỏ qua, nhưng ngay ở đây Lenin cũng tìm thấy vai trò chủ yếu của nhà nước: biện pháp đàn áp của giai cấp này đối với các giai cấp khác.

Nếu lí thuyết của Lenin về nhà nước có nhiệm vụ phá huỷ bộ máy nhà nước cũ và để chuẩn bị làm việc đó phải bóc hết những gì không phải là bản chất của nhà nước đi, thì lí thuyết đó còn xa mới có thể gọi là một khoa học.

Tác phẩm rất quan trọng này của Lenin, theo quan điểm lịch sử, tiếp tục truyền thống của lí luận cộng sản: kết luận và quan điểm có vẻ khoa học thực ra được hình thành từ nhu cầu trực tiếp của đảng; một nửa chân lí được tuyên bố là chân lí. Không nghi ngờ gì rằng cưỡng chế và đàn áp là một phần máu thịt của mọi nhà nước, còn bộ máy nhà nước thì bị những lực lượng chính trị và xã hội khác nhau sử dụng (nhất là khi có xung đột võ trang). Nhưng từ kinh nghiệm của mình, mỗi người đều biết rằng xã hội, dân tộc cần bộ máy nhà nước để phát triển và phối hợp những chức năng khác nhau. Học thuyết cộng sản, trong đó có lí thuyết của Lenin đã bỏ qua khía cạnh này.

Trong thời quá khứ xa xôi đã có những cộng đồng không cần nhà nước và chính quyền. Không thể gọi đấy là xã hội vì đấy chỉ mới là giai đoạn chuyển tiếp từ tình trạng bán khai mông muội sang xã hội loài người. Nhưng ngay cả các cộng đồng đó cũng đã có những hình thức quyền lực nhất định. Lại càng ngây thơ khi cho rằng trong tương lai với cơ cấu xã hội ngày càng phức tạp hơn, nhu cầu về nhà nước sẽ biến mất. Lenin (dựa vào uy tín của Marx, thực ra về vấn đề này Marx ủng hộ những người vô chính phủ) đã nêu ra và biện giải cho một xã hội như thế, xã hội không còn nhà nước. Hãy để sang một bên tính chính đáng của các tiền đề, ta thấy ngay đấy là giấc mơ về một xã hội cộng sản phi giai cấp của ông. Nếu theo lí thuyết này thì vấn đề rất đơn giản: không còn giai cấp và đấu tranh giai cấp, không còn ai để áp bức, bóc lột nữa thì nhà nước dĩ nhiên là không cần. Trước khi đến đó thì “chuyên chính vô sản” là hình thức nhà nước “dân chủ nhất”, lí do: nó thủ tiêu các giai cấp và vì vậy sẽ dần dần trở thành không cần thiết nữa. Như vậy là mọi hành động nhằm tăng cường nền chuyên chính vô sản, nghĩa là dẫn tới “thủ tiêu” các giai cấp đều được coi là chính đáng, là tiến bộ, đều đưa người ta tiến dần đến tự do cả. Đấy là lí do vì sao khi chưa giành được chính quyền thì những người cộng sản đòi hỏi phải có những hình thức dân chủ nhưng chỉ cần giành được chính quyền là họ lập tức đàn áp mọi yêu cầu tự do mà họ gọi là “tư sản”. Đấy là lí do vì sao hiện nay họ vẫn khăng khăng phân biệt “dân chủ tư sản” và “dân chủ xã hội chủ nghĩa” mặc dù đáng ra phải phân biệt về số lượng, nghĩa là tự do bao hàm những lĩnh vực nào.

Lí thuyết của Lenin nói riêng và của chủ nghĩa cộng sản về nhà nước chứa đầy khiếm khuyết: cả về khoa học cũng như trên thực tế. Chính cuộc sống đã bác bỏ lời tiên đoán của Lenin: “chuyên chính vô sản” không những không thủ tiêu các giai cấp mà chính nó cũng không có ý định tự tiêu vong. Đáng lẽ ra việc thiết lập chế độ toàn trị cộng sản sau khi đã tiêu diệt hết các giai cấp của xã hội cũ phải đem lại cho nhà cầm quyền một sự “an bình” nhất định vì mục đích là tiêu diệt hoàn toàn các giai cấp đã cận kề. Nhưng không, sức mạnh của nhà nước (trước hết là những cơ quan chuyên chính) không những không giảm mà còn tăng thêm không ngừng.

Để che đậy thiếu sót về lí luận, Stalin đã phải và víu nó bằng cách bịa ra vai trò “giáo dục” ngày càng cao của nhà nước Xô Viết.

Nếu qui lí thuyết cộng sản về nhà nước, chưa nói đến thực tế, chỉ là cưỡng chế và đàn áp như là chức năng chủ yếu, nếu không nói là chức năng duy nhất, thì từ quan điểm của Stalin có thể thấy vai trò to lớn của cảnh sát, kể cả trong lĩnh vực giáo dục nữa. Rõ ràng chỉ những kẻ ác tâm mới có thể nghĩ như thế. Và ở đây, lí luận của Stalin là chỗ trú thân cho một nửa chân lí của cộng sản: không thể giải thích được tại sao trong “xã hội chủ nghĩa đã hoàn thành” sức mạnh và sự áp bức của bộ máy nhà nước ngày càng được tăng cường thêm, ông ta liền cho một trong những chức năng chủ yếu của nhà nước là giáo dục. Đàn áp không còn hợp thời nữa: các giai cấp đối kháng đã không còn, đàn áp giai cấp phải chấm dứt.

Lí luận “tự quản” do các lãnh tụ Nam Tư đưa ra cũng có chung số phận. Khi mâu thuẫn với Stalin đạt đỉnh điểm, họ phải nghĩ ra một cái gì đó để “sửa chữa” những “lệch lạc” của ông ta và khởi đầu sự “tiêu vong” của nhà nước. Nhưng điều đó không cản trở họ, cũng như Stalin, chăm bẵm lực lượng đàn áp, chăm bẵm cái chức năng, mà theo lí thuyết của họ là tối thượng của bộ máy nhà nước.

Điều đặc biệt là ngược lại với lí luận về sự “tiêu vong”, chức năng của nhà nước ngày càng mở rộng và phân nhánh cùng với số người tham gia vào bộ máy ngày một đông hơn. Nhận thức được rằng vai trò của bộ máy nhà nước sẽ ngày càng mở rộng và phức tạp thêm (dù xã hội đã chuyển sang giai đoạn “phi giai cấp”, giai đoạn “cộng sản), Stalin quyết định rằng nhà nước sẽ tiêu vong khi tất cả các công dân đều sẵn sàng nhận những công việc của ông ta, đều đạt đến trình độ của ông ta. Lenin cũng từng nói tới giai đoạn khi một bà nội trợ cũng đảm đương vai trò quản lí nhà nước. Như chúng ta đã thấy, những lí thuyết tương tự như của Stalin từng hiện diện tại Nam Tư. Nhưng không lí thuyết nào có thể san bằng được cách biệt giữa giáo điều cộng sản về nhà nước, nghĩa là sự “tiêu vong” các giai cấp và “tiêu vong” của nhà nước trong chế độ “xã hội chủ nghĩa” của họ với chế độ đảng trị-toàn trị trên thực tế.

Vấn đề quan trọng nhất, cả về phương diện lí thuyết và phương diện thực tiễn của chủ nghĩa cộng sản là vấn đề nhà nước, và đây chính là nguồn gốc của mọi rắc rối và những mâu thuẫn ngày một rõ.

Vì nhà nước không chỉ là – rất ít khi chủ yếu là – bộ máy đàn áp (trừ chế độ cộng sản, đây chính là một hình thức nội chiến giữa nhân dân và những kẻ đương chức đương quyền), nên bộ máy nhà nước cũng như toàn xã hội luôn nằm trong tình trạng chống đối, khi thăng khi giáng, tầng lớp chóp bu, một tầng lớp ngấm ngầm muốn biến bộ máy nhà nước thành một kẻ chỉ chuyên làm việc cưỡng bức. Cộng sản đã không hoàn thành được việc đó, cũng như họ không thể nô dịch được toàn bộ xã hội. Nhưng họ đã thiết lập được sự kiểm soát của các cơ quan chuyên chính – cảnh sát và đảng – lên toàn bộ bộ máy nhà nước và những công việc mà bộ máy này thực hiện. Vì vậy việc phản ứng của các cơ quan chính phủ đối với “sự thiếu cảm thông” từ phía đảng, công an hoặc những nhân vật cụ thể trên thực tế chính là phản ứng của xã hội, chính là sự chống đối của xã hội được thể hiện thông qua bộ máy nhà nước trước những o ép và coi thường các nhu cầu và ước vọng của nhân dân.

Ngay cả trong chế độ cộng sản, nhà nước và vai trò của nó cũng không chỉ là những cơ quan chuyên chính và không đồng nhất với các cơ quan này. Khi nhà nước như một cách tổ chức đời sống của nhân dân, của xã hội, chịu phục tùng các chủ thể này nghĩa là nhà nước nằm trong nhà nước. Chế độ cộng sản không thể giải quyết được mâu thuẫn đó vì tính toàn trị của nó luôn luôn xung đột với những xu hướng khác, trái ngược hoàn toàn với sự áp chế mà các chức năng khác của nhà nước có thể đảm nhiệm.

Nguồn: Bản tiếng Nga, tại http://dzhilas-milovan.viv.ru/index.htm

http://phamnguyentruong.blogspot.com/2011/11/milovan-djilas-giai-cap-moi-ki-5.html

Milovan Djilas – Giai cấp mới (Kì 6)
Phạm Nguyên Trường dịch

5.

Mâu thuẫn này cùng với việc người cộng sản luôn luôn coi nhà nước là và chỉ là cơ quan chuyên chính đã dẫn đến kết quả là nhà nước cộng sản không thể trở thành nhà nước pháp quyền, nghĩa là nhà nước với toà án không phụ thuộc vào chính quyền còn pháp luật thì được tôn trọng trên thực tế.

Hệ thống không chấp nhận một nhà nước như thế. Ngay cả khi các lãnh tụ cộng sản muốn xây dựng một nhà nước pháp quyền thì họ cũng không thực hiện được vì nó sẽ là mối đe doạ cho chế độ toàn trị của họ.

Sự độc lập của toà án và tuân thủ pháp luật nhất định sẽ dẫn tới đối lập. Không có điều luật nào của cộng sản cấm, thí dụ, tự do tư tưởng hay tự do lập hội. Trên cơ sở các nguyên tắc độc lập của toà án, luật pháp phải đảm bảo các các quyền tự do công dân khác nữa.

Nhưng trên thực tế những điều đó chưa bao giờ được thực hiện.

Công nhận về mặt hình thức các quyền tự do công dân, chế độ cộng sản lại đặt ra điều kiện tiên quyết: chỉ được sử dụng những quyền ấy vì mục đích của “chủ nghĩa xã hội” mà các lãnh tụ cổ xuý nghĩa là ủng hộ cho quyền lực của họ.

Tương tự như vậy, không thể nào tách quyền lực của cảnh sát khỏi quyền lực của tư pháp. Người ra lệnh bắt giam, ra lệnh khởi tố trên thực tế cũng là người nắm quyền kết án và thi hành án. Một vòng tròn khép kín: chính quyền hành pháp và lập pháp chỉ là một, các cơ quan điều tra, xét xử và trừng phạt cũng là một nốt.

Thế thì tại sao chuyên chính cộng sản lại cần pháp luật, tại sao họ lại che đậy bằng sự tuân thủ pháp luật?

Ngoài lí do chính trị, lí do tuyên truyền, nếu chế độ muốn tồn tại nó phải đảm bảo tính pháp lí cho những kẻ mà nó dựa vào, nghĩa là tính pháp lí cho giai cấp mới.

Luật pháp được soạn thảo do nhu cầu và quyền lợi của đảng, của giai cấp mới. Về mặt hình thức, pháp luật bảo vệ quyền lợi của tất cả công dân nhưng trên thực tế nó chỉ bảo vệ quyền lợi của những người không bị coi là “kẻ thù của chủ nghĩa xã hội”. Vì vậy mà cộng sản luôn bị đau đầu vì trò chơi luật pháp do chính họ viết ra, nhưng rồi lại bị họ phủ nhận ngay khi cần. Sau một thời gian, khi đã nhận ra nguyên nhân “đau khổ” của mình, để đơn giản hoá trò chơi pháp luật họ thường sáng tác ra những luật lệ “vá víu” có thể giải thích thế nào cũng được.

Thí dụ ở Nam Tư luật ghi rằng không thể kết án một người nếu hành vi của người đó không được xác định rõ ràng theo các khung pháp lí. Nhưng đa số các vụ án chính trị lại được thực hiện theo cách gọi là “tuyên truyền xuyên tạc”. Người ta không dựa vào luật để giải thích khái niệm này, nó được trao cho các quan toà với lực lượng cảnh sát mật đứng đằng sau.

Như vậy là, các vụ án chính trị trong chế độ cộng sản chỉ là những vụ trình diễn, nghĩa là toà án được giao nhiệm vụ chứng minh “tội lỗi” của bị cáo phù hợp với yêu cầu của những kẻ đương quyền. Nói cách khác, toà án có trách nhiệm đưa những kết luận chính trị đã được chuẩn bị trước vào trong khung pháp luật hiện hành.

Trong cách xử này, việc thú nhận của bị cáo đóng một vai trò quan trọng (có thể là quan trọng nhất). Bị cáo phải tự nhận là kẻ thù. Không cần chứng cớ gì hết, chứng cớ được thay bằng lời thú tội của chính bị cáo.

Cái gọi là “Những vụ án Moskva” chỉ là những thí dụ lố bịch và đẫm máu nhất của trò hề pháp luật trong chế độ cộng sản mà thôi. Các vụ việc cụ thể cũng như mức án chỉ đóng vai trò thứ yếu.

Các vụ án chính trị được bày đặt như thế nào?

Đầu tiên cảnh sát mật, theo “gợi ý” của cán bộ đảng, “phát hiện” được một người nào đó là kẻ thù của chế độ, là cái gai của chính quyền vì anh ta công khai bảo vệ một quan điểm nào đó hoặc anh thảo luận quan điểm đó với bạn bè của mình. Nếu việc “phát hiện” thành công thì sẽ đến giai đoạn hai, giai đoạn đưa nạn nhân vào bẫy. Người ta sẽ sử dụng một kẻ khiêu khích để thu thập những “bằng chứng có tính chất phá hoại” hoặc doạ dẫm một kẻ nào đó và bắt phải kí những tài liệu vu khống mà cảnh sát đưa cho. Đa số các tổ chức bí mật là do chính cảnh sát lập ra để bẫy những phần tử bất đồng ý kiến. Chế độ cộng sản không tìm cách ngăn chặn mà ngược lại còn cố tình đẩy những công dân “không đáng” tin đến những hành động sai trái và tội lỗi khác nhau để trừng phạt họ.

Stalin đã làm như vậy, có cả tra tấn và không cần toà án. Ngay cả trong trường hợp có toà án và không tra tấn thì thực chất cũng vẫn thế: cộng sản thanh toán những người chống đối mình không phải vì họ vi phạm pháp luật mà chỉ vì họ là những phần tử chống đối. Vì vậy, có thể nói rằng: đa số tù nhân chính trị thực chất là những người chống đối chế độ, nhưng theo quan điểm của luật pháp thì họ không phải là tội phạm. Nhưng cộng sản lại cho rằng họ đáng bị trừng phạt dù không có cơ sở pháp lí để làm chuyện đó.

Khi có các cuộc nổi dậy của quần chúng, chính quyền cộng sản đã thẳng tay đàn áp mà không cần để ý đến tính hợp hiến và hợp pháp của những hành động đó. Lịch sử hiện đại chưa từng biết đến những vụ đàn áp dã man đến như thế. Vụ đàn áp ở Poznan gây nhiều tai tiếng nhưng chưa phải là vụ đẫm máu nhất. Quân đội chiếm đóng cũng như chính quyền thuộc địa dù là người ngoài, dù hành động theo những biện pháp khẩn cấp cũng ít khi sử dụng những biện pháp dã man như thế. Những nhà cầm quyền cộng sản đã chà đạp pháp luật và tiến hành khủng bố ngay chính nhân dân mình.

Trong chế độ cộng sản, các lí thuyết về luật pháp bị bóp méo cho phù hợp với hoàn cảnh và nhu cầu của nhóm chóp bu đương quyền.

Ngay trong những vấn đề không liên quan gì đến chính trị, luật pháp cũng thường bị vi phạm. Giai cấp toàn trị vẫn hàng ngày hàng giờ can thiệp cả vào những lĩnh vực này.

Bài báo ngắn trên tờ Chính sách được trích dẫn dưới đây đủ nói lên vai trò và vị trí của toà án ở Nam Tư, nơi luật pháp nói chung được tôn trọng hơn so với những nước cộng sản khác.

“Trong cuộc hội thảo kéo dài hai ngày dưới sự chủ trì của công tố viên liên bang, đồng chí Brana Evremovich, khi thảo luận những vấn đề liên quan đến tội phạm kinh tế, các công tố viên các nước cộng hoà và hai tỉnh Voevodin và Belgrad đều nhất trí cho rằng muốn ngăn chặn hữu hiệu tội phạm kinh tế cần phải kiên quyết và có sự phối hợp giữa các cơ quan bảo vệ pháp luật, các cơ quan kinh tế và tất cả các tổ chức chính trị…

Mọi người đều nhất trí rằng cho đến nay xã hội chưa phản ứng đúng mức đối với các loại tội phạm kinh tế…

Các công tố viên đều cho rằng xã hội cần phản ứng một cách hữu hiệu hơn nữa. Họ cho rằng cần phải xử lí nghiêm khắc về mặt pháp luật, bên cạnh những biện pháp hành chính khác….

Các sự kiện được dẫn ra trong các báo cáo đã chứng minh một cách thuyết phục rằng những lực lượng bị thất bại trên trường chính trị đang cố gắng báo thù trong lĩnh vực kinh tế. Như vậy, vấn đề tội phạm kinh tế trong giai đoạn hiện nay không chỉ là vấn đề pháp lí mà còn là vấn đề chính trị, đòi hỏi sự phối hợp của công tố với các cơ quan chính quyền và tổ chức xã hội…

Tổng kết buổi thảo luận, công tố liên bang, đồng chí Brana Evremovich, nhắc lại rằng cần phải tuân thủ pháp luật cũng như sự nghiêm khắc mà các đồng chí lãnh đạo cấp cao đã phê phán những cá nhân phạm các tội về kinh tế» (Chính sách, ngày 23 tháng 2 năm 1955)

Như vậy là các công tố đã quyết định đường lối xử án và cách thi hành án cho các quan toà trên cơ sở tâm trạng của “lãnh đạo cấp cao”.

Sự độc lập của toà án và tinh thần thượng tôn pháp luật ở đâu?

Trong chế độ cộng sản, lí thuyết về pháp luật được cải biến theo hoàn cảnh và nhu cầu của nhóm chóp bu nắm quyền. Hình phạt theo nguyên lí của Vưshinski phải được quyết định trên “nguyên tắc đích xác”, nghĩa là không được để cho những tính toán chính trị làm ảnh hưởng đến quyết định của toà. Nhưng cho dù người ta có áp dụng những nguyên lí nhân bản và khoa học hơn thì thực chất vẫn không thay đổi nếu quan hệ giữa chính quyền, toà án và luật pháp vẫn giữ nguyên như trước.

6.

Trật tự pháp luật cộng sản không thể tránh khỏi bệnh hình thức, vai trò của các tổ chức đảng và cảnh sát trong thủ tục tố tụng cũng rõ ràng như trong hệ thống bầu cử và các lĩnh vực khác. Thế vẫn chưa hết. Càng lên cao thì tinh thần thượng tôn pháp luật càng có tính cách trang trí và ảnh hưởng của chính quyền đối với toà án và các cuộc bầu bán càng tăng.

Mọi người đều biết sự trống rỗng và phô trương của các cuộc bầu cử dưới chế độ cộng sản, nói theo Clement Rechard thì là: “cuộc đua một ngựa”. Tôi nghĩ rằng cũng cần thảo luận về việc tại sao những người cộng sản lại cần những cuộc bầu bán không hề có ý nghĩa gì đối với việc phân bố lực lượng cũng như tại sao họ lại cần cái quốc hội khá tốn kém mà chẳng được tích sự gì.

Ngoài lí do tuyên truyền, lí do đối ngoại và những lí do khác tương tự, có một việc mà không chính quyền nào, kể cả chính quyền cộng sản có thể bỏ qua, đấy là mọi sự đều phải được hợp pháp hoá. Trong điều kiện hiện nay thì hợp pháp hoá là thông qua các đại diện dân cử. Nhân dân có trách nhiệm ủng hộ mọi quyết định của những người cộng sản, dù chỉ là hình thức.

Bên cạnh đó còn một nguyên nhân sâu xa nữa giải thích lí do vì sao các lãnh tụ cộng sản lại phải “nuôi” quốc hội: các chính sách của chính phủ-giới chóp bu của giai cấp mới phải được giới chức đảng ủng hộ. Không cần quan tâm tới dư luận xã hội, nhưng tất cả các chính phủ cộng sản đều phải quan tâm tới dư luận trong đảng, dư luận trong các đảng viên cộng sản.

Đấy là lí do vì sao bầu cử chẳng có ý nghĩa gì, nhưng việc chọn người lại được các cấp lãnh đạo thực hiện một cách vô cùng thận trọng. Hàng loạt khía cạnh được cân nhắc: đóng góp, vai trò và chức năng trong xã hội, nghề nghiệp, vv… Đối với lãnh đạo thì các cuộc bầu cử có ý nghĩa rất lớn vì họ có thể xếp bên cạnh mình những lực lượng mà họ coi là có giá trị, cũng có nghĩa là tạo cho chính mình tính hợp pháp trước đảng, trước giai cấp và nhân dân.

Những thử nghiệm nhằm đưa hai ba ứng viên cho một ghế đại biểu trong các cuộc bầu cử quốc hội đều thất bại. Nam Tư đã tiến hành những cuộc bầu cử như vậy, nhưng sau đó đã bị lãnh đạo gán cho nhãn “chia rẽ”. Có những tin tức nói rằng tại các nước Đông Âu cũng đang thử nghiệm nhiều ứng viên cho một ghế đại biểu. Giả sử chuyện đó có xảy ra thì tôi cho rằng khả năng thành công là rất thấp, mặc dù đây là một bước tiến hay có thể nói là sự khởi đầu của quá trình dân chủ hoá. Tôi nghĩ rằng Đông Âu rồi cũng đi theo mô hình “tự quản” của Nam Tư chứ chưa thể dẫn đến quá trình dân chủ hoá hoặc phân hoá trong hàng ngũ đảng cầm quyền được. Hạt nhân chuyên chế nhận thức được rằng nó sẽ gặp nhiều rắc rối nếu không giữ vững sự thống nhất truyền thống và vì vậy vẫn nắm giữ chặt quyền điều khiển. Mọi sự tự do, kể cả tự do trong đảng, đe doạ không chỉ quyền lực của các lãnh tụ mà đe doạ ngay chính chế độ toàn trị.

Quốc hội cộng sản không chỉ không đưa ra các quyết sách quan trọng, thực ra nó không có khả năng làm việc đó. Biết trước rằng sẽ được bầu, hả hê vì được tham gia vào toàn bộ tiến trình kể từ lúc lập danh sách ứng viên, các đại biểu, dù có muốn cũng không có sức lực và dũng khí để có thể tranh luận. Hơn nữa, họ được uỷ quyền không phải bởi cử tri cho nên họ cũng không phải chịu trách nhiệm với cử tri. Họ chỉ có mỗi một quyền là thỉnh thoảng lại ủng hộ một trăm phần trăm những quyết định đã được giải quyết sau hậu trường. Hệ thống cũng cần chính một quốc hội như thế, cho nên nếu có trách thì chỉ trách là nó quá tốn kém và vô tích sự.

Nhà nước cộng sản được xây dựng trên cơ sở bạo lực và đàn áp, luôn luôn xung đột với nhân dân, cho nên ngay cả khi không có tác nhân bên ngoài thì vẫn là một bộ máy nhà nước quân phiệt. Không ở đâu sự tôn sùng sức mạnh, đặc biệt là sức mạnh quân sự, lại được đề cao như trong các nước cộng sản. Chủ nghĩa quân phiệt là nhu cầu nội tại của giai cấp mới, là một trong những hình thức tồn tại của nó và đồng thời cũng là tác nhân củng cố đặc quyền đặc lợi của nó.

Là một tổ chức mang tính bạo lực, và khi cần thì chỉ thực hiện vai trò bạo lực, nhà nước cộng sản khởi kì thuỷ là một nhà nước quan liêu. Hoàn toàn phụ thuộc vào một nhóm nhỏ những kẻ cầm quyền chóp bu, cơ quan nhà nước, không ở đâu bằng chế độ cộng sản, tràn ngập đủ các thứ văn bản pháp qui. Ngay từ khi vừa xuất hiện nó đã lập tức tạo ra một khối lượng văn bản pháp qui nhiều đến nỗi các luật sư và quan toà bị ngập lụt. Ngay những việc tầm phào nhất cũng phải được phê duyệt, mặc dù trên thực tế chẳng có ý nghĩa gì. “Tác phẩm” của các nhà làm luật cộng sản thường có động cơ chính trị và vì vậy mà bỏ qua hiện thực của đời sống. Chìm trong những công thức pháp lí “xã hội chủ nghĩa” trừu tượng, lại không bị các lực lượng đối lập phê phán, họ đã “nhốt” cuộc sống sinh động vào những điều khoản cứng nhắc. Và tất cả đều được quốc hội thông qua.

Nhưng chủ nghĩa quan liêu cộng sản lại không hề ảnh hưởng đến nhu cầu và cách thức làm việc của các lãnh tụ cộng sản. Giới cầm quyền chóp bu của nhà nước, cũng là của đảng, ít khi chịu tự giới hạn bởi các nguyên tắc. Trong tay nó là chính sách, là những quyết định mang tính chính trị, không thể chờ đợi và không chịu bất kì giới hạn nào. Chính những người sáng lập ra bộ máy quan liêu nhất và tập trung nhất lại không phải là những người quan liêu hoặc chịu tự giới hạn bởi các tiêu chuẩn pháp lí nào. Stalin không quan liêu. Tito cũng thế. Vì vậy, văn phòng của các lãnh tụ cộng sản thường rất lộn xộn và cẩu thả.

Điều đó cũng không ngăn cản các “ông chủ” thỉnh thoảng lại tổ chức các phong trào “đấu tranh chống chủ nghĩa quan liêu” nghĩa là chống lại sự cẩu thả và chậm trễ của bộ máy hành chính. Nhưng đây không phải là ý định loại bỏ chủ nghĩa quan liêu thực sự đã ăn sâu, bén rẽ vào xã hội mà bản chất của nó là sự phụ thuộc toàn diện của đời sống xã hội vào bộ máy chính trị.

Các lãnh tụ cộng sản thường nhắc đến Lenin khi tiến hành đấu tranh chống chủ nghĩa quan liêu.

Nhưng nếu nghiên cứu kĩ Lenin thì ta sẽ thấy ông không thể nào tiên đoán được rằng bộ máy quan liêu sẽ nuốt chửng hệ thống mới. Khi chạm trán với tệ quan liêu, một phần là sản phẩm của chế độ do Sa Hoàng để lại, ông cho rằng tai hoạ là do “không có bộ máy gương mẫu gồm toàn những người cộng sản hoặc những người đã học qua trường đảng” [1] . Dưới thời Stalin, những quan chức cũ đã không còn, chỉ còn “toàn” đảng viên cộng sản nhưng tệ quan liêu thì lại tăng lên. Ngay ở Nam Tư, nơi tệ quan liêu có ít hơn, nhưng bản chất của nó, nghĩa là sự độc quyền chính trị và những quan hệ do sự độc quyền tạo ra thì vẫn vững như bàn thạch.

7.

Nhà nước cộng sản, đúng hơn phải nói chính quyền, tìm mọi các để phi cá tính hoá không những từng người mà còn toàn thể dân tộc, thậm chí phi cá tính hoá ngay chính những người bảo vệ chế độ.

Người ta định biến cả dân tộc thành một nòi quan chức. Tiền lương, diện tích nhà ở và nói chung tất cả nhu cầu về mặt tinh thần đều được phân phối, đều bị kiểm soát một cách trực tiếp hoặc gián tiếp. Sự phân biệt không chỉ theo tiêu chuẩn là viên chức hay không (tất cả đều là viên chức) mà theo mức lương và đủ mọi loại ưu tiên ưu đãi khác. Sau khi tập thể hoá thì ngay tầng lớp nông dân cũng ngày càng bị lôi kéo vào tổng liên đoàn những kẻ quan liêu.

Nhưng đấy chỉ là bề ngoài. Nếu người công nhân khác nhà tư sản, dù cả hai đều được tự do bán món hàng của mình, một bên là phương tiện sản xuất, còn bên kia là sức lao động, thì trong chế độ cộng sản, giữa các tầng lớp xã hội cũng có sự khác nhau rất lớn. Nhưng mặc dù có những mâu thuẫn và khác biệt như thế xã hội cộng sản vẫn là xã hội cố kết nhất. Điểm yếu của sự cố kết này chính là tính chất cưỡng chế và mâu thuẫn của nó. Tất cả các bộ phận phụ thuộc lẫn nhau, không khác gì các chi tiết của một cỗ máy khổng lồ.

Giống như mọi chế độ chuyên chế khác, chính quyền cộng sản coi cá nhân chỉ như là một đơn vị trừu tượng. Những người thuộc phái trọng thương đã đẩy nền kinh tế vào sự bảo trợ hoàn toàn của nhà nước, còn chính nhà vua (thí dụ Ekaterina) thì cho rằng nhà nước có trách nhiệm cải tạo các thần dân của mình. Đấy cũng là đường lối tư duy của các lãnh tụ cộng sản. Nhưng lúc đó chính quyền chỉ cải tạo về tư tưởng các chủ sở hữu, còn bây giờ, trong chế độ cộng sản, chính quyền vừa là chủ sở hữu vừa là nhà tư tưởng. Nhưng điều đó không có nghĩa là cá nhân đã biến mất, đã trở thành một chiếc đinh ốc vô hồn di chuyển theo quyết định của một mụ phù thuỷ toàn năng trong lòng của bộ máy to lớn nhưng vô hồn của nhà nước. Con người vừa có xu hướng tập quần, vừa có xu hướng cá nhân cho nên ngay cả trong hệ thống này nó vẫn tìm mọi cách bảo vệ cá tính mình. Chưa bao giờ cá tính con người lại bị đè nén đến như thế cho nên nó phải thể hiện bằng những cách khác.

Thế giới của cá nhân đã trở thành thế giới của những lo toan thường nhật, không có tương lai nào. Nhưng những lo toan thường nhật đó cũng luôn luôn đụng độ với hệ thống, một hệ thống muốn đè bẹp tất cả nhu cầu vật chất và tinh thần của con người nên ngay cái thế giới nhỏ bé đó của cá nhân cũng không được tự do, không được bảo vệ. Trong chế độ cộng sản, cá nhân buộc phải học được cách sống mà không có bất kì sự đảm bảo nào. Nếu nó chịu khuất phục thì nhà nước sẽ để cho nó lay lắt qua ngày. Nó luôn bị giằng xé giữa ước muốn và khả năng. Nó phải chấp nhận phục tùng quyền lợi tập thể, nhưng cũng như trong mọi hệ thống khác, nó luôn luôn chống đối các đại diện độc đoán của tập thể. Đa số công dân của chế độ cộng sản không chống lại chủ nghĩa xã hội, nhưng họ bất bình với cách thực hiện, thực ra những người cộng sản đâu có xây dựng chủ nghĩa xã hội cho nên từng thần dân của họ phải bất bình với những hạn chế không phải vì quyền lợi của toàn xã hội mà chỉ nhân danh quyền lợi của nhóm đương quyền. Người thuộc các hệ thống khác không thể nào hiểu được vì sao các dân tộc dũng cảm và đầy tự hào lại có thể chấp nhận để người ta tước đoạt tự do tư tưởng và tự do lao động kiếm sống.

Cách giải thích khá chính xác và đơn giản: bộ máy đàn áp dã man và bao trùm lên tất cả. Nhưng còn có những nguyên nhân khách quan sâu sắc hơn.

Một trong những nguyên nhân đó, nguyên nhân lịch sử, đã được chúng tôi nói tới: khao khát cải tạo nền kinh tế đã buộc nhân dân phải chấp nhận mất tự do.

Nguyên nhân thứ hai là nguyên nhân trí dục và đức dục. Ước mơ chủ nghĩa xã hội-chủ nghĩa cộng sản, ước mơ đạt được mức sống lí tưởng, niềm hi vọng, sự phấn khích có thể nói sánh ngang với niềm phấn khích tôn giáo không chỉ đối với những người cộng sản mà cho cả một bộ phận dân chúng nữa. Trong quan niệm của đa số người không thuộc các giai cấp cũ thì việc vùng dậy có tổ chức nhằm chống lại chính quyền, chống lại đảng đồng nghĩa với sự phản bội tổ quốc, phản bội những lí tưởng cao đẹp nhất.

Phong trào đối lập có tổ chức không thể xuất hiện trong các chế độ cộng sản dĩ nhiên là do tính chất bao trùm, tính chất toàn trị của các nhà nước đó. Tính chất toàn trị thâm nhập vào mọi tế bào của xã hội, vào từng cá nhân, vào những nghiên cứu của các nhà bác học, vào cảm hứng của các thi sĩ, vào ước mơ của các đôi tình nhân. Chống lại nó không chỉ có nghĩa là tự đưa mình đến giá treo cổ mà còn chuốc lấy sự khinh bỉ và né tránh. Không một chút ánh sáng nào, không một chút khí trời nào có thể lọt vào được dưới gót sắt của nó.

Cả hai phong trào đối lập, sinh ra từ các giai cấp cũ và xuất hiện ngay trong lòng chế độ cộng sản đều không có khả năng tạo ra được đường lối đấu tranh. Đại diện của phong trào thứ nhất sẽ biến mất, còn đại diện của phong trào thứ hai thì quay ra phê phán chế độ bằng những thuật ngữ giáo điều vô nghĩa lí. Điều kiện cho những con đường mới chưa xuất hiện.

Bên cạnh đó, nhân dân, bằng bản năng của mình, đã phát hiện ra các phương pháp khác, họ luôn phản kháng, ngay cả chỉ vì những tiểu tiết. Phong trào phản kháng này chính là mối đe doạ cụ thể nhất, lớn nhất đối với chế độ. Các lãnh tụ cộng sản không biết nhân dân đang nghĩ gì, muốn gì. Biết rằng lòng dân không yên, họ không thể tự tin như xưa nữa.

Nếu lịch sử chưa từng thấy một hệ thống nào có thể vô hiệu hoá những người chống đối như chế độ chuyên chính vô sản thì nó cũng chưa từng thấy một trật tự xã hội nào lại bị người dân chối bỏ đến như thế. Có vẻ như lương tâm càng bị cầm tù và khả năng cho những hành động có tổ chức càng bị giới hạn, quần chúng càng thêm ta thán, oán ghét.

Toàn trị cộng sản đưa tới oán cừu toàn diện, mọi tình cảm của con người đều bị nung cháy trong ngọn lửa oán hận đó, chỉ còn lại nỗi tuyệt vọng và lòng hận thù.

Sự chống đối một cách tự phát, từng ngày từng giờ, bùng lên vì những “việc vặt” của hàng triệu người là hình thức phản kháng mà cộng sản không thể nào dập tắt được. Có thể thấy điều đó ngay trong cuộc chiến tranh Xô-Đức. Có cơ sở để tin rằng tinh thần chiến đấu của người Nga không phải đã cao đến thế ngay khi quân Đức tràn vào Liên Xô. Nhưng Hitler đã để lộ mục đích: tiêu diệt nhà nước Nga và biến tất cả người Slav thành nô lệ. Chỉ khi đó lòng yêu nước sâu xa không gì dập tắt được mới bùng dậy. Trong suốt cuộc chiến tranh, Stalin không một lần nào nhắc tới chính quyền Xô Viết hay chủ nghĩa xã hội cả, ông ta chỉ dùng danh từ Tổ quốc. Người ta sẵn sàng chết vì tổ quốc ngay cả khi bên cạnh đó là chủ nghĩa xã hội của Stalin.
http://phamnguyentruong.blogspot.com/2011/11/milovan-djilas-giai-cap-moi-ki-6.html

Để lại phản hồi »

Chưa có phản hồi.

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Tạo một website miễn phí hoặc 1 blog với WordPress.com.

%d bloggers like this: