Hoàngquang’s Blog

04/11/2011

Bắc Kinh không thể đồng hóa Tây Tạng

Ngô Nhân Dụng
Bùi Tín – Gió đã xoay chiều rồi chăng?

BVN Biển Đông trước hội nghị EAS ở Bali Trọng Nghĩa/RFI Biển Đông : Trung Quốc gián tiếp đe dọa tập đoàn dầu khí Mỹ Exxon Hữu Nguyên Trung Quốc vẫn tiếp tục đưa ra yêu sách phi lý. Nguyễn Hoài Vân Tương quan với Trung Quốc sẽ ảnh hưởng ra sao đến chính trị nội bộ của Việt Nam? Nguyễn Hoàng Hà Trung Quốc đang rung cây dọa khỉ hay đang chờ thời để gây chiến cướp Biển Đông? Quỳnh Chi, phóng viên RFA • Những người lính sống sót trong trận Gạc Ma –

***\ Ngô Nhân Dụng-Bắc Kinh không thể đồng hóa Tây Tạng

Vận mệnh một quốc gia tùy thuộc nhiều vào hoàn cảnh địa lý. Nước Việt Nam được gọi là “bao lơn” từ châu Á mở ra Thái Bình Dương”. Vì nằm ở một vị trí chiến lược, trên đường lưu thông chính giữa Địa Trung Hải, Ấn Độ Dương và vùng Á Đông, từ thế kỷ 18 Việt Nam đã bị các nước thực dân nhòm ngó. Đến giữa thế kỷ 19 nước ta bị chiếm làm thuộc địa; rồi sang thế kỷ 20 trở thành một bãi chiến trường trong cuộc tranh hùng giữa hai khối tư bản và cộng sản. Nếu ở một vị trí hẻo lánh hơn, có lẽ dân Việt không chịu nhiều thống khổ như thế.
Tây Tạng cũng trở thành một một địa điểm chiến lược trong các cuộc tranh chấp toàn cầu từ giữa thế kỷ 20. Trong mấy thế kỷ trước đó, Tây Tạng đã bị các nước Nepal, Trung Quốc, rồi Trung Quốc và Anh tranh giành ảnh hưởng, nhưng chưa bị chiếm đóng. Giữa thế kỷ trước, Ấn Độ độc lập và thành lập quốc gia, Trung Hoa thống nhất dưới chế độ cộng sản, Tây Tạng nằm giữa hai quốc gia lớn đó, số phận giống Việt Nam, do vị trí chiến lược trên bản đồ thế giới. Mao Trạch Đông xua quân chiếm, dùng địa bàn này nhòm ngó xuống các nước bên kia Hy Mã Lạp Sơn. Những cuộc xung đột biên giới giữa Ấn Độ và Trung Quốc kéo dài từ năm 1960 đến nay, tiểu bang Arunachal Pradesh của Ấn Độ nằm phía Nam Tây Tạng Bắc Kinh còn muốn đòi làm của họ.
Tuyên bố độc lập từ năm 1912, Tây Tạng gia nhập Liên Hiệp Quốc vào năm 1949, nhưng chỉ một năm sau Tây Tạng đã trở lại số phận lệ thuộc. Giữa thế kỷ 18 nhà Mãn Thanh tập hợp năm giống dân chính (Hán, Mãn, Mông, Hồi, Tạng), trong đó các vùng Mông Cổ, Mãn Châu, Tân Cương (Hồi) vẫn được quyền tương đối tự trị. Chế độ Mao Trạch Đông đã thay đổi chính sách ôn hòa đó, quyết tâm đồng hóa dân Tây Tạng; vì họ Mao tự coi có sứ mạng tiếp tục truyền thống “bình thiên hạ” với vũ khí tư tưởng là chủ nghĩa cộng sản. Cộng sản Trung Quốc theo Mao đi “giải phóng” các nước chung quanh, xóa bỏ nếp sống lạc hậu cũ. Các dân tộc “chưa giác ngộ” được học tập chủ nghĩa cộng sản. Hiện tượng này cũng giống như các vua đời Hán, khi sai các tướng Ban Siêu, Mã Viện chinh phạt, từ miền đồng cỏ hoang giữa Á châu cho tới các ruộng lúa nước ở Việt Nam. Mục tiêu của các vua nhà Hán là giáo hóa các giống dân “di, địch” giúp họ “giác ngộ” theo nếp sống Trung Hoa; hai ngàn năm sau Mao Trạch Đông lại tiếp tục.
Nhìn trong bối cảnh đó, chúng ta thông cảm hơn với người Tây Tạng khi họ phản ứng trước chính sách đồng hóa của Bắc Kinh. Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 vào năm 1950 đã phải chấp nhận quy chế Vùng Tự trị Tây Tạng, đã tham gia vào Quốc hội cộng sản ở Bắc Kinh. Ngài có thể hy vọng Tây Tạng được đối đãi như dưới thời Mãn Thanh. Nhưng Đảng Cộng sản Trung Quốc khác. Họ không chỉ muốn chiếm đất nước Tây Tạng để khai thác quặng mỏ và di dân chiếm đất lập nghiệp lâu dài. Họ còn muốn “tẩy não tập thể” dân Tây Tạng; xóa bỏ một nền văn hóa hai ngàn năm thay bằng Tư tưởng Mao Chủ tịch! Họ muốn Hán hóa cùng lúc Cộng sản hóa các giống dân “chưa giác ngộ.” Tình cảnh không khác gì đời Hán, đời Đường xưa kia.
Bây giờ thì chúng ta hiểu tại sao người Tây Tạng đã cố đề kháng tham vọng đó. Người Tây Tạng đã nhượng bộ Bắc Kinh về chính trị khi chấp nhận quy chế tự trị. Nhưng họ không thể chấp nhận một chương trình đồng hóa bằng các biện pháp hà khắc tiêu diệt văn hóa một dân tộc. Năm 1959 nhiều người nổi lên, họ bị đàn áp tàn bạo. Đức Đạt Lai Lạt Ma trốn được sang Ấn Độ tị nạn, tiếp tục vận động cho quyền tự trị và độc lập văn hóa của dân tộc ngài, cho đến bây giờ.
Chính quyền Trung Quốc mới lên tiếng chỉ trích Đức Đạt Lai Lạt Ma đã “xách động” các vị tăng ni Tây Tạng tự thiêu trong tỉnh Tứ Xuyên gần đây. Nhưng chính Đạt Lai Lạt Ma đã nhiều lần kêu gọi đồng bào mình tự kiềm chế. Ông Lobsang Sangay, Thủ tướng Tây Tạng, cũng mới kêu gọi như vậy.
Vào tháng Ba năm 2011, nhà sư trẻ Phuntsok ở Tu viện Kirti (một tài liệu viết chữ Hán là 关键字 Quan Kiện Tự), đã tự thiêu. Tới nay, đã có thêm 8 vị tăng và một ni cô theo gương, cũng ở trong vùng huyện A Bá (阿坝, Aba), tỉnh Tứ Xuyên. Từ đời Hán đã bành trướng để mở rộng đất đai Ba Thục; huyện A Bá bị xâm chiếm, nay vẫn có hai sắc tộc chính là người Tây Tạng và người Khương (羌 族).
Những tăng ni mới tự thiêu phần lớn trên dưới 20 tuổi; họ không sống trong xứ Tây Tạng mà sinh trưởng trong nước Trung Hoa. Tổ tiên họ đã thành người Trung Quốc từ cả hàng ngàn năm. Tại sao họ phải bày tỏ thái độ bằng cách tự thiêu như vậy? Chỉ có thể giải thích là những thanh niên này đã cảm thấy họ tuyệt vọng. Họ thấy không thể cải thiện cuộc sống của chính họ, của gia đình và dân tộc của họ, dưới chính sách tiêu diệt văn hóa của Cộng sản Trung Hoa. Thế giới đã chứng kiến sức mạnh của văn hóa Tây Tạng theo bước chân những người tị nạn đang lan tỏa khắp năm châu. Một truyền thống hùng mạnh như vậy không thể bị vùi dập rồi biến đi như Cộng sản Trung Quốc mơ tưởng.
Năm 2008 người dân trong xứ Tây Tạng đã nổi lên phản đối chính sách đồng hóa, ở bên ngoài cũng vận động khắp nơi, nhân dịp Thế Vận hội Bắc Kinh. Sau đó, Cộng sản Trung Quốc đã đàn áp rất tàn bạo. Không những họ bắt cóc, truy lùng, thủ tiêu người dân trong đất Tây Tạng, mà cả những ốc đảo dân Tây Tạng sống trong nước Trung Hoa. Sau khi Thế Vận hội Bắc Kinh bế mạc, chính sách đàn áp càng gia tăng Ngay tại Tu viện Kirti, vòng kiềm tỏa thắt chặt. Các vị tăng sĩ bị ép phải học chủ nghĩa cộng sản theo lối Mao Trạch Đông, học tập chủ trương Xã hội Hòa hài mà Bắc Kinh đang cổ động.
Trong Tu viện Kirti có 2.500 tu sĩ, có nhiều thanh niên vẫn theo phong tục vào chùa tu học một hai năm rồi trở về cuộc sống tại gia. Cộng sản đã đặt đồn Công an ngay gần tu viện này, cũng như các tu viện khác. Có lúc lính tráng bao vây tu viện lên tới 900 người. Họ cấm đoán dân địa phương không được mang thực phẩm tới cúng dường (trong số tín đồ có nhiều người Hán). Họ bắt nhiều tu sĩ đem đi mất, không biết là bị tù “cải tạo” hay đã bị thủ tiêu; con số bị bắt lên tới 300 người. Có những chú tiểu 12, 13 tuổi cũng bị bắt vì bị nghi ngờ đã giúp nhà sư Phuntsok chuẩn bị việc tự thiêu.
Người thứ tám sau Phuntsok là ni cô Tenzin Wangmo; cô tự thiêu ngày 18 tháng Mười năm 2011; sau đó lại thêm một nhà sư khác. Các vị tăng ni tự thiêu đều trẻ tuổi, cho thấy hành động của họ không hoàn toàn theo đúng truyền thống tự thiêu trong lịch sử Phật giáo. Ở Ấn Độ đã có những tu sĩ tự thiêu trong thế ngồi tĩnh tọa; chính các triết gia Hy Lạp, nhiều người trong đoàn quân viễn chinh của Đại đế Alexander đã kể tới sự kiện này, từ ba thế kỷ trước Công nguyên.
Phật giáo ở Trung Quốc, Việt Nam và Nhật Bản đã có truyền thống các thiền sư tự quyết định ngày, giờ chết của mình. Mục đích để thể nghiệm một trình độ định lực cao sau một đời thực tập thiền quán; giúp các đệ tử chứng kiến tin tưởng hơn vào con đường tu tập. Có nhiều cách thể hiện khác nhau. Một số vị đã chọn ngồi kiết già, ngưng ăn uống nhiều ngày, cho tới lúc ngưng thở, dần dần chuyển từ sống sang chết. Hiện ở Việt Nam còn di thể của các Hòa thượng Nguyễn Khắc Minh, Nguyễn Khắc Trường; cũng như của các ngài Huệ Năng, Hám Sơn, bên Trung Quốc.
Một hình thức khác là tự thiêu trong lúc thiền tọa, cũng từng phổ cập trong truyền thống thiền tông ở Trung Quốc, Việt Nam và Nhật. Nhưng thường chỉ các vị hòa thượng đã trải qua suốt đời tu tập mới được tự thiêu. Hành động tự thiêu để thể nghiệm đức từ bi, chứng quả một định lực cao; như một hành động giáo hóa cho mọi người theo đạo được thấy mà tự tin hơn.
Khi tìm hiểu từ nguồn gốc như vậy, ta thấy các vị tăng ni Tây Tạng trẻ tuổi tự thiêu gần đây không hoàn toàn nằm trong truyền thống tâm linh Phật Giáo. Hành động của họ mang tính cách xã hội. Họ tự thiêu để bầy tỏ một thái độ chính trị chứ không phải để thể nghiệm một trình độ tu tập. Có thể nói họ đã đi xa nguồn gốc Ấn Độ và Phật Giáo; họ còn đang thực hành một truyền thống Trung Hoa. “Sát thân thành nhân” là một châm ngôn của người Trung Hoa đời xưa. Sử sách và truyện tích Trung Hoa đã kể lại bao nhiêu người tự sát để bày tỏ một thái độ chính trị. Những Dự Nhượng, Nhiếp Chính đời Chiến Quốc đã trở thành bất tử trong văn chương. Khi Hoàng Diệu tự ải, Nguyễn Cao tự mổ bụng vào thế kỷ 19, hay các quân nhân Nhật Bản hara kiri tập thể không chịu theo lệnh đầu hàng sau đại chiến thứ hai, họ đều theo cùng một truyền thống đó.
Những vụ tự thiêu của các tăng ni Tây Tạng trong tỉnh Tứ Xuyên đã làm cho cả thế giới xúc động. Vì những người trẻ tuổi này sống ở Trung Quốc, chấp nhận làm dân Trung Quốc. Nhiều vị không tu trong cùng một tông phái với Đức Đạt Lai Lạt Ma nhưng vẫn bày tỏ lòng kính ngưỡng. Hành động phản kháng của họ nhằm đánh thức chính quyền Bắc Kinh phải biết và hiểu nguyện vọng của dân Tây Tạng. Họ không chấp nhận để cho nền văn hóa của cha ông họ bị xóa bỏ. Đức Đạt Lai Lạt Ma là biểu tượng cao nhất của khát vọng bảo vệ văn hóa và bản sắc của dân tộc Tây Tạng. Nhiều người Tây phương đang học và tập sống theo lối Phật giáo Tây Tạng. Nhiều người Việt Nam trên thế giới cũng vậy. Một nền văn hóa tươi đẹp như thế không thể nào bị tiêu diệt.
Bao giờ chế độ cộng sản ở Trung Quốc hiểu và chấp nhận ý nghĩa của việc chín vị tăng và một ni cô Tây Tạng tự thiêu thì họ sẽ chịu đối thoại với Đức Đạt Lai Lạt Ma. Khi nào ngài trở về Tây Tạng, nền văn hóa của người Tây Tạng được phục hồi, thì chính đóa hoa đạo lý đó sẽ tỏa hương thơm mà chính người Trung Hoa sẽ được hưởng.
N.D.D.
Nguồn: diendantheky.net
http://www.diendantheky.net/2011/11/bac-kinh-khong-ong-hoa-tay-tang.html

Bùi Tín – Gió đã xoay chiều rồi chăng?

Gần đây trên mạng, vài blogger tự do đưa ra nhận định lạc quan về tình hình trong nước, cho rằng đảng Cộng sản cầm quyền đang điều chỉnh đường lối chính sách đối ngoại, từ chỗ ngả về phía Trung Quốc, phụ thuộc Trung Quốc, chuyển sang thân Hoa Kỳ và phương Tây.
Trên mạng Thế Giới Mới, bài của tác giả Hà Nhân Văn, mang tít lớn: “Cao trào thân Âu – Mỹ lan rộng trong đảng Cộng sản VN”, đưa ra nhận định «gió đã xoay chiều, vận nước đã xoay chiều… »
Bài báo nhấn mạnh đến sự thay đổi trong hàng ngũ quan chức ngoại giao của Hà Nội, gồm các đại sứ, tham tán, bí thư được đào tạo ở phương Tây, nói thạo tiếng Anh, phong cách linh hoạt kiểu Tây phương, kể cả ngoại trưởng mới Phạm Bình Minh, con cựu Ngoại trưởng Nguyễn Cơ Thạch, người có tư tưởng ngoại giao phóng khoáng, am hiểu thời đại, từng cảnh báo tai họa Bắc thuộc. Con đang đi theo gót cha mình chăng?
Một số blogger khác cho rằng việc ông Trương Tấn Sang đi Ấn Độ và Philippines là để cân bằng với Trung Quốc, chứng tỏ Việt Nam không còn phụ thuộc Bắc Kinh như trước đây, đang cố duy trì vị trí đứng giữa, thăng bằng giữa các nước, một tư thế độc lập rất đáng hoan nghênh.
Đâu là sự thật? Việt Nam đã trở về tư thế độc lập, không ngả về phía nào, về nước nào, ở vị trí thăng bằng giữa các nước ư? Việt Nam đã chuyển từ thân Trung Quốc sang thân Âu – Mỹ ư? Thế thì càng tốt hơn nữa. Theo nghĩa thân Trung Quốc là thân Trung Quốc bành trướng kiểu Đại Hán, và thân Âu – Mỹ là thân những giá trị tự do, dân chủ đa nguyên đa đảng trên cơ sở bầu cử thật sự tự do và định kỳ.
Nhưng…tôi thiển nghĩ, chưa phải như vậy. Cần tỉnh táo thận trọng trong nhận định.
Theo lý luận Mác-Lê-nin, theo phép biện chứng mác-xít, những nhà lãnh đạo CS Việt Nam luôn phân biệt chiến lược với chiến thuật. Chiến lược hay đường lối chiến lược là để áp dụng cho một giai đoạn dài, cần kiên định vững vàng, không thay đổi, không dao động về những mục tiêu chiến lược, những mục tiêu giai đoạn.
Chiến thuật là sách lược, thủ thuật, sáng kiến, mưu mẹo cụ thể, đoản kỳ, phục vụ cho chiến lược, rất linh hoạt, uyển chuyển theo từng thời điểm.
Thường chiến lược và chiến thuật ăn khớp với nhau, thuận chiều nhau, cũng có khi có vẻ khác nhau, thậm chí trái ngược nhau, nhưng chỉ là về suy luận hình thức, còn về thực chất là vẫn khớp nhau, vẫn phục vụ cho mục tiêu chiến lược. Nhiều khi như vậy lại là cao mưu, kín kẽ, lừa được đối phương và người nhẹ dạ. Đó là cứng trong chiến lược, mềm trong chiến thuật, là «lạt mềm buộc chặt».
Hiện nay nhóm lãnh đạo qua Đại hội XI vẫn kiên trì chủ nghĩa Mác – Lê-nin, kiên trì chủ nghĩa xã hội (mác-xít), kiên trì chế độ một đảng (độc quyền đảng trị), kiên trì kinh tế quốc doanh là chủ đạo (do đó mà trong 10 tháng qua đã bóp chết 5 vạn xí nghệp tư nhân vừa và nhỏ, đồng thời làm cho các tập đoàn quốc doanh thêm hư đốn vì được quá nuông chiều). Họ ngoan cố giữ vững 4 kiên trì hủ lậu, nguy hiểm, mặc cho hàng trăm trí thức cộng sản có trình độ cao nhất bác bỏ bằng lý lẽ chặt chẽ.
Trong đường lối đối ngoại từ cuối 1991 sau sự kiện Thành Đô, họ theo con đường «Bắc thuộc» (chữ của Nguyễn Cơ Thạch) để tồn tại và kiếm lợi cho phe nhóm. Bọn bành trướng Đại Hán rất thâm, rất ác, tìm mọi cách buộc ngày càng chặt nhóm lãnh đạo vào cỗ xe của chúng, từ mua chuộc tinh vi đến khống chế, đe dọa, làm nhục không thương tiếc, càng nhục càng bám chặt để khỏi đổ.
Gần đây, nhóm lãnh đạo hám lợi gặp tai nạn lớn, ở trong tình trạng trên đe dưới búa. Đe là thế phụ thuộc bọn bành trướng thâm độc, búa là lòng yêu nước truyền thống căm giận kẻ “hèn với giặc, ác với dân”. Họ ngày càng lo, đe thì rất cứng, mà búa thì rất nặng tay. Họ tìm cách thoát hiểm.
Xin nhớ giải pháp của 14 cái đầu trong Bộ Chính trị hiện nay là giải pháp tình thế, là biện pháp đối phó, là biện pháp chiến thuật, kéo dài hiện trạng để thủ lợi. Kiên trì, ù lỳ, lỳ lợm về chiến lược.
Do đó mới có những động thái hơi lạ, khác trước – ông Sang đi Ấn Độ, rồi Philippines, mời công ty Ấn vào vùng biển Đông khoan dầu; bộ trưởng quốc phòng đi Nhật Bản. Họ còn thỉnh thoảng lên tiếng đòi họp đa phương, tuyên bố tăng cường quan hệ chiến lược, kể cả chiến lược quốc phòng và chiến lược an ninh với Hoa Kỳ và vài nước phương Tây… Trong khi đó họ càng xử nhũn, mềm mõng, khéo léo với Bắc Kinh, chịu nhục cả khi bị báo chí chính thống Bắc Kinh gọi là «đàn muỗi», «đàn gà» và «bầy chó»…
Xu thế kết thân với Âu-Mỹ có thể là của một bộ phận không nhỏ đảng viên, nhất là đảng viên trí thức, đảng viên cao tuổi đã về hưu, đảng viên trẻ và đoàn viên cộng sản có lòng yêu nước, thương dân, nhưng quyết không phải là xu thế của Ban Chấp hành Trung ương mới được bầu trong Đại hội XI, càng không phải là xu thế chân thực của nhóm lãnh đạo 14 ủy viên Bộ Chính trị đang toàn quyền lãnh đạo đảng và đất nước.
Đảng Cộng sản luôn chú trọng duy trì cái gọi là đoàn kết thống nhất trong đảng, nhất là trong cơ quan lãnh đạo, trong Ban Chấp hành Trung ương, đặc biệt là trong Bộ Chính trị. Đã thành nếp, khi trong cơ quan lãnh đạo có ai có ý kiến tỏ ra đi trệch khỏi đường lối chiến lược chung là lập tức người đó bị cô lập và loại bỏ ngay. Không một ai có ý kiến trái ngược về đường lối chiến lược có thể tồn tại trong cơ quan lãnh đạo. Đó là quy luật thép. Đó là trường hợp Trần Xuân Bách, sau đó là trường hợp Nguyễn Cơ Thạch. Trường hợp từ chối chức bộ trưởng ngoại giao của ông Trần Quang Cơ cũng là do lý do như thế. Ông Cơ hiểu rằng khi đã nhận chức ông sẽ buộc phải theo con đường Bắc thuộc, một điều trái với lẽ phải và lương tâm, dù cho lợi lộc cá nhân rất lớn. Ông Cơ là một nhân cách hiếm có.
Còn ông Phạm Bình Minh, bộ trưởng ngoại giao hiện tại, nhiều người hy vọng ông sẽ theo gót người cha, theo tục ngữ “con nhà tông, không giống lông cũng giống cánh”, tôi nghĩ nếu được vậy thì còn gì hơn nữa.
Nhưng…không nên hy vọng dễ dãi để vỡ mộng. Ông Phạm Bình Minh mới được đưa từ ủy viên trung ương dự khuyết lên ủy viên chính thức, chưa có chân trong Bộ Chính trị. Ông Minh cũng chưa phải phó thủ tướng như các bộ trưởng ngoại giao tiền nhiệm. Bộ ngoại giao là một trọng điểm kiểm tra theo dõi của Tổng cục An ninh và Ban bảo vệ Đảng. Ở các sứ quán, bí thư đảng ủy thường là người của Tổng cục An ninh, có uy quyền hơn cả viên đại sứ về mọi mặt. Dùng ông Phạm Bình Minh là một thủ đoạn chiến thuật. Xin hãy nghe ông ta biện bạch một cách phi lý, nói lấy được, kiểu lưỡi gỗ về tôn trọng nhân quyền ở Việt Nam thì đủ hiểu con người. Bên cạnh ngạn ngữ “con nhà tông… ”, cũng có ngạn ngữ “cha dựng cơ đồ, cha tạo danh thơm, con cho mồi lửa”.
Vậy thì khi nào thì Gió có thể xoay chiều? khi nào có thể có Cao trào thân Âu-Mỹ?, như mong muốn của luật sư Hà Vũ, người cho rằng liên minh quân sự với Hoa Kỳ là mệnh lệnh của thời đại?
Hiện nay thì khó, khó lắm. Lãnh đạo đã bỏ qua dịp Đại hội XI, khi đã có cả một xu thế trong đảng cất tiếng mạnh mẽ. Nhưng dân gian có câu châm ngôn: điều phải củ cải cũng phải nghe.
Hãy nghe vang lên khắp nơi từ trong nước tiếng nói của gíớí trí thức thật sự là kẻ sỹ thời đại, của những đảng viên lão thành có tâm huyết và tài năng, từ những văn nghệ sỹ lấy sáng tạo làm lẽ sống, các nhà kinh tế am hiểu thời đại. Tôi chỉ xin kể qua một số tên tiêu biểu (không theo thứ tự nhất định nào) như Nguyễn Trọng Vĩnh, Đồng Sỹ Nguyên, Lê Hồng Hà, Nguyễn Văn An, Trần Quốc Thuận, Nguyễn Nam Khánh, Lê Văn Cương, Nguyễn Tài, Nguyễn Xuân Mậu, Huỳnh Đắc Hương, Tô Thuận, Trần Phương, Vũ Khoan, Lê Hữu Đằng, Trần Trọng Tân, Võ Thị Thắng, Nguyễn Thị Bình, Nguyễn Đình Hương, Nguyễn Trung, Việt Phương, Lê Đăng Doanh, Nguyễn Huệ Chi, Nguyên Ngọc, Phạm Xuân Nguyên, Nguyễn Quang A, Phạm Chi Lan, Đào Công Tiến, Phan Văn Tiệm, Đào Xuân Sâm, Hoàng Tụy, Ngô Bảo Châu…
Tất cả đều kêu gọi, với lập luận vững chắc, là phải từ bỏ (mà không cần nguyền rủa) chủ nghĩa Mác – Lê-nin, từ bỏ chế độ độc quyền đảng trị, chế độ “vua tập thể”, chế độ độc quyền kinh tế của các tập đoàn quốc doanh, thực hiện cải cách đợt 2, thay đổi cả hệ thống chính trị và kinh tế, thực hiện một cuộc “canh tân đất nước”, lựa chọn nhân tài đúng nghĩa ra cầm quyền, đồng thòi tiến hành một cuộc vận động văn hóa và giáo dục sâu rộng, vực dậy lương tâm xã hội, nghĩa tình dân tộc, tính cương trực, lòng hảo tâm.
Các nhân vật sáng suốt trên đây có thể họp lại thành một “think-tank”, túi khôn dân tộc, một hội đồng cố vấn đặc biệt, một nguồn kiến giải và cảm hứng cho bộ máy lãnh đạo biết lắng nghe.
Nếu không có những biện pháp cơ bản để thoát khỏi bế tắc hiện nay, tình hình có nguy cơ bùng nổ vì nhân dân lương thiện không thể chịu đựng thêm, bọn tham nhũng – mafia lưu manh mới – sẽ lộng hành, đảng Cộng sản càng tha hóa, đất nước chìm đắm trong hỗn loạn, tang thương.
Đất nước thật sự lâm nguy. Chỉ có một “kịch bản khả dĩ”, là trong bộ máy lãnh đạo, trong Bộ Chính trị, có một người hay một nhóm người có quyền uy, được lương tâm và trí tuệ mách bảo, thức tỉnh, hiểu rõ tình thế thực sự Tổ quốc lâm nguy, quyết tâm cứu nước thật lòng, từ bỏ lợi ích vật chất dù sao đẵ quá đủ để dốc sức một lòng một dạ cứu dân, để lại tiếng thơm muôn đời.
Đó là cuộc cách mạng ôn hòa mà triệt để, theo kiểu cách Gorbachev, rất độc đáo lại có hiệu quả cao, của một trí thức Nga có tâm lại có tầm.
Mong rằng trong cơ quan lãnh đạo của đảng Cộng sản Việt Nam, đặc biệt trong Bộ Chính trị, có người suy ngẫm sâu về khả năng xoay chuyển tình thế của Gorbachev.
Tôi vốn là con người lạc quan, do tin ở tính bản thiện ở mọi con người. Mỗi con người dù xấu đến đâu cũng có lúc nghĩ lại, cũng có thể có những cơn chợt tỉnh. Xin chớ bao giờ tuyệt vọng.
Các nhà trí thức kẻ sỹ thời đại, những văn nghệ sỹ chân chính sáng tạo, những quân nhân thật sự mang bản chất nhân dân, những anh chị em dân chủ của những ngày Chủ nhật xuống đường…chính các bạn, những Minh Hằng, Kim Tiến, Trần Thị Hường…góp phần tạo nên gió, gió thời đại càng ngày càng mạnh, làm động lực vô địch cho lịch sử nước ta xoay chiều.
Hãy tạo nên sức ép mạnh hơn, tạo nên công luận xã hội và xã hội công dân đủ lớn để buộc lãnh đạo phải nâng các biện pháp chiến thuật thành đổi mới chiến lược, đổi mới đường lối đối nội và đối ngoại, trở về với dân tộc và đi với thời đại, mở ra sinh lộ mới bền lâu cho đất nước.
http://www.voanews.com/vietnamese/blogs/tin/gio-da-xoay-chieu-11-03-2011-133180983.html

Để lại phản hồi »

Chưa có phản hồi.

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Tạo một website miễn phí hoặc 1 blog với WordPress.com.

%d bloggers like this: