Hoàngquang’s Blog

18/10/2011

Tình Trạng Kinh Tế Việt Nam

Filed under: Kinh tế — hoangquang @ 9:16 sáng
Tags: , ,


Nguyễn Xuân Nghĩa

Ngô Nhân Dụng
– Thời sự kinh tế: Quả bom nợ đe dọa Trung Quốc
Bùi Văn Phú – Cuộc đấu tranh giai cấp mới

***
Nguyễn Xuân Nghĩa Đem Tiền Đầu Tư vef.vn Đằng sau sự phá sản của 49.000 doanh nghiệp daidoanket.vn Lợi ích nhóm và tư duy nhiệm kỳ BBC Ngoại giao Việt Nam và tài năng xếp gạch Nam Nguyên, phóng viên RFA Bao giờ nông dân làm ông chủ lúa gạo
*
RFA Chiếm Phố Wall: Những tiếng nói đòi quyền bình đẳng BBC “Chiếm phố Wall” lan rộng tại New York VOA Phong trào ‘Chiếm Lĩnh Wall Street’ lan khắp thế BBC “Chiếm London” bước sang ngày thứ hai RFI Phong trào “Những người phẫn nộ”: Gần 1 triệu người biểu tình trên thế giới – VOA Phong trào biểu tình chống thế lực tư bản lan rộng Lê Diễn Đức Occupy Wall Street, Occupy Hanoi, Saigon?
BVN Thế kỷ Thái Bình Dương của Mỹ Định Nguyên, Thông tín viên RFA Việt Nam: Một quan hệ tay ba đang hình thành?
***
Nguyễn Xuân Nghĩa Tình Trạng Kinh Tế Việt Nam

Đại gia hạ cánh an toàn, trung lưu phá sản, dân đen tuyệt vọng

Đầu năm nay, một giới chức cao cấp của Hà Nội là ông (cựu) Thống đốc Ngân hàng Trung ương có phát biểu rằng dân ta sẽ ăn một cái Tết vui vẻ huy hoàng nhất. Quả nhiên, người ta đã cố thổi lên không khí lạc quan phấn khởi vì Đại hội Đảng khóa XI vừa kết thúc trước Tết hai tuần.

Nhưng đấy là sự lạc quan của kẻ uống thuốc bổ.

Vì chín tháng sau Đại hội XI, cách đây năm ngày, Hội nghị kỳ ba của Ban Chấp hành Trung ương khóa XI vừa “thống nhất” quyết định là phải cải tổ nền kinh tế trong ba lãnh vực là đầu tư, thị trường tài chánh và doanh nghiệp nhà nước. Lý do “tái cơ cấu” này được chính người đầu đảng nêu ra:

“Kinh tế vĩ mô chưa thật ổn định; lạm phát vẫn ở mức cao, tiềm ẩn nguy cơ bùng phát; nợ công, đặc biệt là nợ nước ngoài tăng nhanh; dự trữ ngoại hối mỏng, áp lực đối với tỉ giá còn lớn; thị trường tài chính, thị trường bất động sản giảm sút, tiềm ẩn nhiều rủi ro. Sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp đang phải đối mặt với tình trạng giá cả đầu vào, lãi suất cao, hàng tồn kho lớn… Tình hình nêu trên có nguyên nhân khách quan là do tác động của khủng hoảng tài chính, suy thoái kinh tế toàn cầu; nguyên nhân chủ quan là do những yếu kém của nội tại nền kinh tế với mô hình tăng trưởng và cơ cấu kinh tế lạc hậu, kém hiệu quả, tích tụ kéo dài từ lâu, chậm được khắc phục và do những hạn chế, khuyết điểm trong lãnh đạo, quản lý, điều hành của các cấp các ngành, đặc biệt là trong điều hành chính sách tiền tệ, tài khóa; quản lý quy hoạch, đầu tư, đất đai, tài nguyên, thị trường bất động sản… ”

Bỏ qua ngôn từ chính thức đó mà nói theo dân gian thì Việt Nam đang mấp mé khủng hoảng. Người ở trong nước gọi là “chết lâm sàng”. Đảng Cộng sản phải tiến hành một đợt cải cách nữa, cũng quyết liệt như cách đây đúng 20 năm.

Mà vì sao 20 năm?

Và tình hình nguy ngập như thế nào?

Bối Cảnh Thời Gian

Chúng ta có thể tạm nhớ lại vài mốc thời gian để mường tượng ra các bài toán và giải pháp của những người đã độc quyền cai trị đất nước từ năm 1975 đến nay:

Sau 1975 là 10 năm hoang tưởng vì “tiến nhanh tiến mạnh tiến vững chắc lên xã hội chủ nghĩa”. Còn tiến đến tận Kampuchia. Vì chiếm đóng xứ láng giềng này, Tổng sản lượng GDP vốn dĩ đã suy sụp còn mất toi 5% mỗi năm. Vì vậy Việt Nam mới tiến lên cao điểm là khủng hoảng năm 1986 và bước ngoặt là Đại hội VI.

Sau Đại hội đó là năm năm lúng túng thả nổi, từ 1986 đến 1991, vì nhà cầm quyền biết thế nào là sai mà chưa rõ thế nào là đúng. Đó là “đổi mới tự phát”, buông tay ra cho dân làm ăn tự do hơn trước. Quả nhiên là có khá hơn xưa, và dân hết đói.

Nhưng còn đảng thì sao?

Khi Trung Quốc và Liên Xô bị khủng hoảng năm 1989 rồi Liên Xô tan rã năm 1991, nhà cầm quyền hốt hoảng nên đành đổi mới thật. Mà nhìn quanh thì chỉ còn thấy mô hình Trung Quốc, vừa có vẻ khả quan về kinh tế lại an toàn về chính trị. Từ đấy, Việt Nam trôi vào bóng rợp của Trung Quốc vì lý do ta gọi là ý thức hệ. Thực tế là để đảng tìm chỗ tựa về chính trị.

Thời điểm mấu chốt là năm 91 đó, cách đây 20 năm, khi chế độ bị chao đảo và nghiêng về Bắc Kinh trong cách cải tổ.

Nhưng trong năm năm đầu của thời đổi mới từ trên xuống thay vì từ dưới lên như trước, nhà cầm quyền vẫn mò chân xuống nước mà đi. Từ 1991 đến 1996 thì chỉ giải toả những gì không gây ra rủi ro chính trị, chứ chưa dám bung hẳn ra ngoài theo kinh tế thị trường, dù rằng đã được quốc tế viện trợ để cải cách.

Đấy là lúc Hoa Kỳ nhập cuộc, kể từ 1993-95 trở đi.

Năm năm sau, từ 1996 đến 2001, Mỹ lần lượt bãi bỏ lệnh cấm vận và bình thường hóa quan hệ kinh tế rồi ngoại giao, với dấu mốc là Hiệp định Thương mại Song phương BTA ký năm 2001. Bước nhảy vọt khởi sự từ đó, dù Hà Nội vẫn hoài nghi e ngại việc hội nhập vào kinh tế thế giới. Và vẫn sợ ý đồ của Mỹ!

Hà Nội mất 10 năm thương thảo việc gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới WTO cho đến khi vượt qua cửa Hoa Kỳ với quy chế thương mại bình thường NTR, xưa kia được gọi là Tối huệ quốc, được Mỹ chấp thuận đúng năm năm trước đây, vào cuối năm 2006.

Thế rồi từ khi gia nhập Tổ chức WTO thì nhà cầm quyền Hà Nội rơi vào trạng thái tâm lý ngược, là hồ hởi sảng, như con cá nước lợ đã tung tăng ra biến lớn. Nó bị say sóng! Đó là tình hình từ 2007 đến nay.

Do sự lạc quan thiếu cơ sở, Hà Nội tưởng rằng sẽ tập trung cả đặc quyền lẫn đặc lợi vào khu vực kinh tế xã hội chủ nghĩa với việc thành lập các tập đoàn kinh tế nhà nước, trong khi vẫn khai thác được lợi thế của kinh tế thị trường.

Kết cuộc là nguy cơ khủng hoảng như ta đã thấy.

Nhìn lại trong trường kỳ thì cũng không khác vụ khủng hoảng kinh tế của năm nước Đông Á vào thời 1997-1998. Nhưng có khác vì Việt Nam chưa có kinh tế thị trường và cũng không có chính trị dân chủ, nên khó xoay trở hơn các nước kia.

Đấy là bối cảnh của những khó khăn hiện nay.

Thách Đố Trước Mặt

Chúng ta phải nhìn lại toàn cảnh từ khi giao lưu với Mỹ và được mở cánh cửa vào WTO:

Vốn dĩ đa nghi mà chẳng nghi ngờ sự kém hiểu biết của mình, lãnh đạo Hà Nội khám phá là ta khôn hơn nên có lợi lớn sau khi bang giao với Hoa Kỳ! So với tình hình năm 1995, ta mua của Mỹ gấp 10 mà bán cho Mỹ gấp 128 lần. Quả là Mỹ khờ! Như năm ngoái Việt Nam đạt xuất siêu là hơn 11 tỷ đô la, và mới có năm tháng của năm nay thì đã lời thêm gần năm tỷ.

Nhưng trong 10 năm cầy cục lập hồ sơ xin vào WTO, Hà Nội cũng không hề nghi ngờ sự thiếu hiểu biết nên chẳng chuẩn bị giai đoạn tiến ra biển lớn. Cơ chế kinh tế, luật lệ và thông tin của Việt Nam không có khả năng đối đầu với những thách đố dồn dập của thời “hậu WTO”. Mà vẫn cứ lạc quan hồ hởi với cái tệ sùng bái chỉ tiêu tăng trưởng vì thấy sản xuất tăng vọt. Và quả nhiên là gây lạm phát từ cuối năm 2007.

Khi ấy, một yêu cầu lưỡng nan – vừa tống ga để tăng trưởng mạnh, vừa đạp thắng để hãm đà vật giá – đã thách đố khả năng ứng phó của chính quyền.

Mà ngoài biển lớn cũng có sóng dữ: thế giới lại bị tổng suy trầm 2008-2009 nên Việt Nam bị ảnh hưởng. Theo đúng bài bản Trung Quốc, Việt Nam lại tăng chi và ào ạt bơm tín dụng để kích thích kinh tế với hậu quả tương tự: gây bội chi ngân sách, lạm phát và thổi lên bong bóng đầu cơ địa ốc.

Nhìn lại thì trong các nước Á châu, Việt Nam đứng đầu – còn hơn Trung Quốc – về kích thích kinh tế với lượng tín dụng bơm ra từ 2008 đến 2010 là 100 tỷ đô la, bằng Tổng sản lượng GDP! Cũng vì vậy mà kinh tế gặp họa còn tệ hơn Trung Quốc.

Sau đây là vài con số khô khan mà người ta phải nói đến.

Đó là chỉ tiêu 7% đã tuột khỏi tầm tay, năm nay mà đạt 6% là mừng. Mà lạm phát lại gần 20%, cao nhất từ bốn năm nay. Bội chi ngân sách bằng 6% GDP. Nhập siêu mỗi tháng chừng một tỷ, mà được với Mỹ bao nhiêu thì nạp cho Tầu bấy nhiêu. Cán cân chi phó hay vãng lai hụt cỡ 5-6% GDP. Dự trữ ngoại tệ chỉ còn đủ cho gần hai tháng nhập cảng và đồng bạc mất giá nên càng gây lạm phát trong vòng luẩn quẩn. Ngoại trái chiếm 50% GDP và nếu kể cả số nợ của doanh nghiệp nhà nước mà chính quyền phải đảm bảo và trả nợ đậy, thì số công trái đã vượt tổng sản lượng. Tức là lên đến mức báo động. Cũng nguy ngập như hệ thống ngân hàng với núi nợ khó đòi và sẽ mất. Còn thị trường địa ốc thì xì như trái bóng hết hơi vì hết được bơm thuốc bổ.

Trong cơn sóng gió vừa qua, Việt Nam tụt hậu so với các xứ khác: nội một năm, sức cạnh tranh sụt sáu bậc. Còn giá trị trái phiếu bị giáng cấp tới điểm B- là hạng thấp của giấy lộn “junk bond”. Giới đầu tư quốc tế đang nghĩ lại về ảo vọng của họ tại Việt Nam.

Nguồn hy vọng cuối chính là tiền bạc do thân nhân gửi về, được Ngân hàng Thế giới ước lượng vào Tháng Năm vừa qua là từ 7,2 tỷ đến tám tỷ đô la cho năm 2010! Ngẫu nhiên sao lại bằng mức gia tăng sản xuất của gần 90 triệu dân trong cả năm. Nhưng đấy chỉ là một cách nhìn máy móc của con số.

Chứ thực tế thì tình hình còn đen tối hơn.

Hệ thống sản xuất của Việt Nam có ba giai tầng cao thấp khác nhau. Trên cùng là các tập đoàn nhà nước với giới điều hành là các đảng viên cao cấp có toàn quyền về kinh tế, kinh doanh, vay mượn hoặc sử dụng đất để trục lợi, mà thực tế đóng góp rất ít cho kinh tế nếu so với tài nguyên được phép tận dụng một cách vô trách nhiệm vì theo diện chính sách. Ở giữa là các doanh nghiệp cổ phần tiếng là của tư nhân mà đa số là tay chân của thân tộc hoặc những ai có quan hệ với đảng viên cán bộ, để chia chác đặc quyền từ trên ban xuống.

Dưới cùng là các tiểu doanh thương loại nhỏ và trung bình, họ phải luồn lách qua hệ thống luật lệ và chính sách mờ ảo để trục lợi – hoặc vặt mũi bỏ mồm. Thành phần này có rủi ro phá sản cao nhất dù tuyển dụng nhiều nhân công nhất. Thực tế thì năm nay đã có năm vạn cơ sở chính thức đóng cửa và thải người vì làm sao kinh doanh có lời khi phải vay lãi đến hơn 20 phân trong khi cả thế giới đang bị suy trầm?

Dưới đáy của hệ thống kinh tế đó là nông dân, bị cướp đất và phá rừng, bị ở trên trưng thu trục lợi khi gạo lên giá và lãnh họa lúc hệ thống đê bao bị bể, là chuyện đang xảy ra.

Phản ảnh cái hạ tầng kinh tế đó là hệ thống xã hội bất công đã được định chế hóa ở trên.

Các đại gia và thân tộc của đảng ở trên cùng là những kẻ giàu nhất nước, tiêu xài như Mỹ, đi Mỹ như đi chợ, để “đầu tư”, rửa tiền và tẩu tán tài sản thụ đắc bất chính, dưới sự đo đếm mẫn cán của công lực Mỹ. Ở giữa là thành phần gọi là trung lưu khá giả thì cũng là những ai có quan hệ với nhân sự của đảng. Trong tầng lớp này, không thiếu những kẻ giàu nổi hãnh tiễn và khoe khoang sự thành tựu của mình.

Ở nấc dưới của xã hội lý tài và bất công đó là một đa số còn nghèo khổ.

Thảm kịch lớn là họ chịu đựng sự nghèo khổ ấy và một số tìm nấc thang leo lên bậc trên, cũng lại qua quan hệ với đảng viên cán bộ của nhà nước, hoặc khai thác những kẽ hở của luật lệ chính sách. Dưới cùng là những kẻ tuyệt vọng và bất mãn. Một số không ít sẵn sàng can vào tội ác để tìm ra ánh mặt trời của họ trong xã hội đen, mà đa số nạn nhân là người dân.

Người ta nhìn ra sự suy sụp kinh tế trong sự băng hoại xã hội. Thế thì vì sao mà năm năm sau khi gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới, Việt Nam lại tụt hậu về cả kinh tế và xã hội như vậy?

Nguyên Nhân Gần Xa

Chúng ta có một cách giải thích nhẹ nhàng và nhân nhượng, dựa trên lý luận kinh tế theo kiểu chuyên gia ngoại quốc.

Thứ nhất, trong mấy chục năm qua, hiển nhiên là Việt Nam có những đổi thay về lượng. Nhưng nhìn trong không gian thì vẫn chưa theo kịp và thực tế bị thua sút các nước đã từng có tốc độ tăng trưởng rồng cọp là 7-8% một năm trong mấy chục năm liền với mức công bằng cao hơn.

Nên nhắc đên một trường hợp mà nhiều người nghĩ đến lại buồn là Nam Hàn, nửa thế kỷ trước thì cũng cùng trình độ phát triển với miền Nam, trên phân nửa lãnh thổ. Hai chục năm trước Thế vận hội Bắc Kinh 2008 của Trung Quốc, Nam Hàn đã tổ chức Thế vận Seoul vào năm 1988, như một biểu hiện của sự trưởng thành trong phát triển. Nhưng đấy cũng là bước ngoặt đáng kể của tiến trình dân chủ hóa ra khỏi chế độ quân phiệt của thời chiến. Ngày nay, Nam Hàn đã vượt qua Việt Nam quá xa.

Lý do là lượng của Việt Nam không biến thành phẩm.

Tăng trưởng không là phát triển. Tăng trưởng của Việt Nam thiếu phẩm chất, không bền vững, đào sâu bất công và gây ô nhiễm cho môi trường sinh sống. Đó là tăng trưởng sóng vai cùng tham nhũng và hủy hoại môi sinh. Tại sao như vậy?

Vì hạ tầng cơ sở vật chất như cầu đường cho giao thông và vận tải nội địa, hệ thống tiện ích công cộng, như điện nước hay hủy thải phế vật, vẫn còn lạc hậu bên cạnh các công trình gọi là “hoành tráng” của sự phô trương.

Nghiêm trọng hơn vậy, hạ tầng cơ sở luật pháp thì thiếu công minh và thừa kẽ hở cho mọi lối vi phạm. Luật lệ bất minh của một bộ máy cai trị rất rộng – vì cái gì cũng xía vào – mà lại nông vì chẳng điều động được gì hết, đã phá vỡ mọi chánh sách quản lý kinh tế quốc dân, nếu như Việt Nam thực sự có một chánh sách kinh tế ra hồn, là điều chưa có.

Ta cũng có một cách giải thích khác thiên về xã hội và chính trị, chứ không máy móc theo kinh tế học.

Nôm na thì Việt Nam gặp bài toán cổ điển là “cải cách kinh tế mà không cải cách chính trị” nên làm nẩy sinh một xã hội lý tài ruỗng nát, mà không ai dám nói tới một giải pháp khác.

Chỉ vì hệ thống chính trị Việt Nam khiến đảng có toàn quyền quyết định ở mọi cấp mà đảng viên khỏi chịu trách nhiệm trước quốc dân. Tiến trình quyết định mờ ám đó dẫn đến sự xuất hiện của một “đảng đa nguyên”, gồm nhiều phe nhóm trên thượng tầng, trong Bộ Chính trị. Mỗi nhóm có những cơ sở kinh doanh riêng như các tập đoàn nhà nước và tay chân, như một lực lượng Bình Xuyên có cả chục khu vực Bình Khang được bảo kê!

Khi xưa thì Bình Xuyên có sự bảo trợ của Thực dân Pháp. Ngày nay, phải chăng là có sự bảo vệ của Trung Quốc?

Các phe nhóm này đối lập với nhau về thị phần nhưng tương nhượng nhau để tồn tại và gây ấn tượng với dư luận nông cạn bên ngoài là có phe bảo thủ có phe canh tân.

Kết cuộc thì các phe nhóm thế lực làm lệch lạc việc quản lý để trục lợi và cản trở mọi nỗ lực cải cách để duy trì đặc quyền và đặc lợi của họ. Hàng năm, Việt Nam được cả chục khuyến cáo của quốc tế và các nước cấp viện về từng phương hướng cải cách, nhưng Hà Nội chỉ tiến hành những việc không xâm phạm vào vùng đặc lợi của các đại gia ở trên. Ở dưới, người dân chỉ còn cách ăn gian, hoặc chịu đói, trước sự phe phẩy ngạo mạn của những kẻ ở trên.

Trong một xứ tự xưng “xã hội chủ nghĩa” thì đấy là nghịch lý khó hiểu mà vẫn được đa số cam chịu! Và đa số cũng ý thức được rằng mình có thể gian lận bằng mọi ngả để trục lợi, kiếm sống, miễn là đừng nói đến chính trị, đừng đụng đến chính trị. Và cũng đừng đả kích Trung Quốc.

Chửi Mỹ thì được, chứ đừng phản đối Trung Quốc, từ chuyện kinh tế đến an ninh!

***

Sau khi trình bày khái quát tình trạng kinh tế của Việt Nam với hai cách giải thích tất nhiên là giản lược, chúng tôi xin kết luận với vài nhận xét u ám và mấy câu hỏi.

Thứ nhất, từ 200 năm nay, Việt Nam đã có mấy chục năm liên tục và hiếm hoi mà không bị chiến tranh, ngoại xâm hay nội loạn, và người Việt có quyền quyết định về vận mệnh quốc gia. Cớ sao lại tụt hậu và có thể mất chủ quyền thực tế vào tay ngoại bang?

Thứ hai, xã hội Việt Nam hiện có thể được tóm gọn là “Đại gia hạ cánh an toàn và đã có bãi đáp bên Mỹ; giới trung lưu thì hốt hoảng vì chưa kịp lên tới bậc đại gia đã có thể tuột dốc; còn dân đen thì tuyệt vọng!” Họ tuyệt vọng vì không hiểu là Trung Quốc sẽ làm gì và Hoa Kỳ có muốn làm gì chăng? Còn bên trong thì họ không tin là lãnh đạo muốn thay đổi, có khả năng hoặc sẽ đổi mới thật.

Chuyện ấy dẫn ta đến Trung Quốc và vài câu hỏi cho tương lai.

Việt Nam có thể ra khỏi trật tự Trung Hoa được chăng? Muốn vậy, người dân phải làm gì? Họ còn đất lùi không?

Thứ nữa, trong quan hệ tay ba Mỹ-Tầu-Ta, người Việt ta có thể làm được gì? Mà người Việt đó là ai, ở đâu? Những câu hỏi ấy không dễ có giải đáp.

Và có thể là một đề tài hội thảo khác của Hội Khoa Học & Kỹ Thuật Việt Nam.

(Thuyết trình trước cuộc hội thảo ngày Thứ Bảy 15 Tháng 10 của Hội Khoa Học Kỹ Thuật Việt Nam (VAST) tại California).

Nguồn: dainamax
**
Ngô Nhân Dụng – Thời sự kinh tế: Quả bom nợ đe dọa Trung Quốc

Theo Bauxite Việt Nam
Năm 2006 báo chí Mỹ bắt đầu cảnh cáo quả bóng nợ địa ốc đang phồng lên sắp vỡ vì mấy năm trước các ngân hàng cho vay mua nhà dễ dàng quá; đến lúc các con nợ trả không nổi thì hệ thống ngân hàng lâm nguy. Bên Âu Châu từ năm 2010, báo chí cũng nói đến quả bom nợ sắp nổ vì ngân sách Hy Lạp,Ireland, Bồ Đào Nha khiếm hụt nặng nề. Nhưng ở Trung Quốc báo chí tới nay không nói gì tới quả bom nợ treo trên đầu nền kinh tế, trừ vài tạp chí dành cho giới chuyên môn. Một người khách đến Bắc Kinh, Thượng Hải, đi đây đó, bắt tay, rồi quay về, sẽ không thấy triệu chứng báo nguy nào cả ngoài quang cảnh những nhà chọc trời, các đường cao tốc, phi trường tối tân. Tuy nhiên, bên dưới những công trình xây cất đó là nợ. Cả đống nợ. Chưa biết bao giờ nó sẽ phổng lên, không chịu được áp lực nữa, phải nổ.
Quả bom nợ ở Trung Quốc đã được nhiều người báo động từ mấy năm nay. Báo chí về tài chánh thường phỏng vấn Giáo sư Sử Tông Hãn (Victor Shih, 史宗瀚) thuộc Đại học Tây Bắc (Northwestern University) ở Chicago nước Mỹ, ông chuyên nghiên cứu vấn đề này, đã in cuốn Factions and Finance in China: Elite Conflict and Inflation” (Các Phe nhóm và Tài chánh ở Trung Quốc: Tranh quyền trong giới lãnh đạo và Lạm phát – Cambridge University Press, 2009). Ông tiên đoán trái bom nợ Trung Quốc sẽ nổ trong vòng mấy năm tới. Ông có thể đoán sai về thời hạn dài hay ngắn; giống như tạp chí tài chính Forbes đã báo động sớm đến 6 năm vụ bùng nổ quả bong bóng địa ốc làm cho kinh tế Mỹ suy sụp, nhưng sau cùng vụ nổ đó xảy ra đúng như dự báo.
Giống Mỹ trước 2007
Các món nợ chồng chất ở Trung Quốc có phần giống hiện tượng địa ốc ở Mỹ trước năm 2007. Phần lớn các món tiền vay được dùng trong ngành địa ốc, xây dựng. Ở Mỹ thì người ta vay mua nhà, hoặc vay xây nhà để bán. Trong mấy năm trời, các ngân hàng hoặc công ty tín dụng buông thả không theo đúng quy luật, cho nhiều người vay mà không xét kỹ hồ sơ về khả năng trả nợ của họ; đến lúc nhiều người không trả được nợ thì ngân hàng mang họa. Không phải một ngân hàng mà rất nhiều, lây lan ra, khắp thế giới. Ở Trung Quốc người ta cũng đi vay để xây bao nhiêu nhà cao tầng làm văn phòng hoặc để ở, xây phi trường, nhà ga, đường sắt, xa lộ, sân vận động, cơ xưởng, vân vân. Một phần là do Chính phủ trung ương xây, phần nguy hiểm, dễ vỡ nợ nhất là do các chính quyền địa phương đi vay để xây. Nhờ các công trình xây dựng tốn kém đó cho nên mỗi năm Trung Quốc vẫn ghi chỉ tiêu sản xuất toàn quốc tăng thêm 9% hay 10%. Giống như những nhà xây cất và người mua nhà ở Mỹ, chính quyền các cấp ở Trung Quốc vay quá nhiều mà không tính tới có ngày sẽ không trả được nợ các ngân hàng. Số “nợ xấu” ngày càng lên cao, tới lúc các ngân hàng cũng vỡ nợ, đưa tới khủng hoảng lúc nào không biết.
Cơn sốt xây cất do Chính phủ Bắc Kinh khởi động trong những thập niên 1980 và 1990, do chính quyền trung ương khuyến khích. Các địa phương hồ hởi chạy theo; vì tiền vay dễ dàng, vì khi có công trình là cá nhân cũng được lợi; và thành tích báo cáo lên sẽ mở đường leo cao hơn. Xây dựng xong, có được dùng hay không họ không cần báo cáo! Trước đây 20 năm, tôi gặp một doanh nhân ngoại quốc ở phi trường Quảng Châu. Anh ta vẫn đặt làm hàng ở Trung Quốc để xuất cảng sang Mỹ. Sau khi bày tỏ ý kiến bất nhẫn về cảnh sống quá chật chội, thiếu vệ sinh tại cư xá các công nhân làm hàng cho anh, có cư xá không có cả đường thoát thân nếu xảy ra hỏa hoạn, anh than rằng có nói ra thì Ban quản đốc nhà thầu cũng cứ bỏ qua không cải thiện; anh chợt hỏi: “Ông có thấy những dãy cao ốc hai bên xa lộ ban đêm không thắp đèn không?”. Tôi đoán thử, chắc họ chưa hoàn tất cho nên chưa mắc điện. Anh nói, “Đúng như vậy. Nhưng tôi qua đây mỗi năm ba bốn lần, mà từ mấy năm nay tôi vẫn thấy những ngôi nhà đó tối om như thế!”.
Tình trạng nhà xây xong không có người ở giờ vẫn tiếp tục, và còn tăng mạnh hơn. Cuối năm 2008, Chính phủ trung ương đưa thêm một số “tiền kích thích kinh tế” khoảng 600 tỷ đô la Mỹ cho các tỉnh và các cơ quan. Chương trình này đa số dùng vào việc xây cất, giúp Trung Quốc giữ tỷ lệ tăng trưởng cao như mấy năm trước, bù vào số hàng xuất khẩu giảm bớt vì ảnh hưởng cuộc suy thoái trên thế giới. Nó cũng được Chính phủ các nước khác hoan nghênh vì Trung Quốc giúp giảm bớt tốc độ suy thoái chung trên thế giới. Nhưng nó cũng tạo ra một hậu quả là lạm phát trong nước lên cao hơn. Lạm phát tăng vì cầu lớn nhanh hơn cung. Số tiền bơm vào nền kinh tế nâng cao nhu cầu dùng tiền mà không mang lại số sản xuất tương ứng để cung với cầu được cân bằng.
Nguyên do vì phần lớn số tiền đó được đầu tư vào các công trình không có lợi ích thật. Một định luật kinh tế là lợi suất của đồng tiền đầu tư thêm sẽ giảm dần dần, đồng tiền sau không sinh lợi bằng đồng trước; cứ tiếp tục sẽ đến lúc nó không còn hiệu quả. Định luật này đúng ngay cả khi người kinh doanh cố đạt hiệu quả cao nhất để kiếm lời. Ở Trung Quốc, những quyết định đầu tư lại có nhiều động lực khác, không cần quan tâm đến lợi ích và hiệu quả kinh tế. Cho nên luật “năng suất tiệm giảm” càng trầm trọng, năng suất giảm rất nhanh. Trong 9 năm đầu thập niên 2000, cứ 1,50 đồng đầu tư thì tạo thêm 1 đồng trong sản xuất. Khi tiền đổ vào nhiều quá đến năm 2010 thì cần 7,50 đồng mới tạo ra thêm được 1 đồng cho tổng sản lượng nội địa. Mà đồng tiền mới đầu tư lại toàn là tiền vay nợ.
Những người đầu tư và đầu cơ địa ốc ở Mỹ trước năm 2007 vay nợ rất nặng, các công trình xây dựng ở các địa phương Trung Quốc phần lớn cũng vậy. Ở Mỹ, cơn sốt địa ốc được nuôi bằng hai yếu tố: Lãi suất thấp, và giá địa ốc tiếp tục lên cao; vay tiền mua nhà hoặc xây nhà, trả lãi thấp mà tin tưởng sau đó bán đi chắc chắn có lời. Các chính quyền địa phương được Bắc Kinh khuyến khích tiêu tiền, ngân hàng của nhà nước cho vay lãi suất thấp bằng một phần 10 trong thị trường nợ chui. Ở Trung Quốc thì không thấy giá các công trình xây cất của họ tăng lên nhưng nhà cửa cũng tăng giá không khác bên Mỹ hồi đó. Họ còn có một động cơ khích lệ khác: Thăng tiến trong đảng và trong guồng máy cai trị, nếu tiếp tục báo cáo số công trình hoàn tất, tạo thêm việc làm cho một số công nhân lớn.
Các địa phương thi đua xây dựng
Những tỉnh và thành phố bậc trung là nơi người ta vội vàng xây cất nhất. Tỉnh nào cũng muốn có một phi trường để so sánh với Bạch Vân ở Quảng Châu, tỉnh Quảng Đông. Thiên Tân, Vũ Hán, Thành Đô, thành phố nào cũng muốn cao ốc mọc lên cho bằng trung tâm Thượng Hải. Tiền đâu ra? Các ngân hàng của Nhà nước sẵn sàng cho vay, khi không được phép vay thì bán đất lấy tiền. Một nguồn thu nhập của lớn của chính quyền địa phương là bán đất công, hoặc xây nhà lên rồi bán nhà. Vì vậy chính họ muốn nuôi cho cơn sốt địa ốc tiếp tục nóng, để giá nhà đất cao, bán sẽ được nhiều tiền đầu tư thêm. Sau hai nguồn vốn đó, còn nguồn nữa là đi vay ở hệ thống “ngân hàng không chính thức”. Theo tin của China Real Estate Information Corp, một công ty thông tin kinh tế ở Thượng Hải, thì trong năm 2010 tiền bán đất góp đến 40% vào số thu nhập của các chính quyền địa phương. Chính quyền cũng dùng đất công làm vật cầm thế khi vay nợ, cho nên họ càng muốn giữ tình trạng giá đất cao. Sở Nhà đất thành phố Vũ Hán cho biết giá đất ở các khu nhà loại sang lên tới 11.635 nguyên một mét vuông (khoảng 1.800 đô la). Với giá đất như vậy, người lao động càng khó đủ tiền mua nhà ở.
Thành phố Thiên Tân đã xây thêm nhiều cao ốc làm văn phòng, xây thừa, bỏ trống nhiều đến mức, nếu tốc độ phát triển còn tiếp tục cao như hiện nay, cũng phải chờ 25 năm mới được sử dụng hết. Giá nhà ở trong quận Thuận Nghĩa (Shunyi), ngoại ô Thiên Tân, lên tới 400 đô la Mỹ một bộ vuông (square foot), tương đương với giá 4.000 đô la một mét vuông, cao vô địch toàn quốc. Ngân hàng Credit Suisse năm 2011 đã báo cho các thân chủ biết Thành phố Vũ Hán là một trong 10 địa điểm phải tránh xa ở Trung Quốc. Theo ngân hàng này thì phải mất tám năm mới bán hết các ngôi nhà chưa có người mua ở đây; trong khi họ vẫn đang xây thêm hàng chục ngàn ngôi nhà khác.
Tất nhiên, những cao ốc và các ngôi nhà không được sử dụng thì không sinh ra tiền để trả tiền lãi và hoàn lại vốn. Các chính quyền khi quyết định xây dựng thì không tính đến vấn đề đó. Tăng Minh Hữu (Zeng Mingyou 曾明友), Giám đốc Sở Kế hoạch Kinh tế thành phố Thành Đô, thủ phủ tỉnh Tứ Xuyên, cho biết ba năm trước, thành phố đã ngưng hoạt động tất cả mọi cơ quan phụ trách vay tiền để xét lại, vì thấy có một đường cao tốc đang kiến tạo đi qua một vùng đất ruộng mà chắc chắn sẽ không có xe cộ nào đi qua! Tất nhiên, không làm sao đòi lại được số tiền đã chi tiêu cho đoạn đường đang làm dở dang. Nhiều tỉnh ở Trung Quốc đã kêu gọi các xí nghiệp đóng thuế trước cho năm 2010, để đủ tiền chi tiêu cho năm 2009. Giáo sư Victor Shih cũng nói đến một thành phố với dân số 800 ngàn người mà cũng xây một vận động trường với tầm cỡ Thế vận hội. Tất nhiên công trình đó cũng không sinh ra đồng nào trong tương lai, ông kết luận.
Tới năm 2010, chính quyền các địa phương đã mang số nợ tổng cộng khoảng 10.700 tỷ đồng nguyên, tương đương 1.600 tỷ đô la. Cứ tiếp tục như vậy thì lấy tiền đâu trả nợ sau này? Liêu Ninh nhật báo cho biết trong năm 2010, các cơ quan thuộc chính quyền tỉnh vay nợ đã có 85% không trả đủ được tiền lãi và vốn đúng hẹn. Tin này đọc trong báo cáo kiểm tra của tỉnh Liêu Ninh. Vũ Hán đã có bảy cây cầu băng qua Trường Giang (sông Dương Tử) lại đang xây thêm ba cây cầu khác. Thành phố 10 triệu dân này cũng đang nối dài thêm 215 km đường xe điện ngầm, từ nay đến năm 2017. Sở Kiến thiết và Phát triển đô thị thuộc thành phố Vũ Hán mang nợ 68,5 tỷ đồng nguyên vào tháng Chín năm 2010. Trong lúc quỹ hoạt động dùng được chỉ có 148 triệu! Thành phố bắt các chủ xe hơi phải trả tiền qua cầu mỗi tháng 18 lần, mỗi lần 16 nguyên (dưới 3 đô la). Thành phố Thành Đô, Tứ Xuyên, vào cuối năm 2010 ghi trong sổ tổng cộng nợ 18,9 tỷ đồng nguyên. Cùng lúc đó, số tiền có thể huy động chỉ là 11,7 tỷ. Theo ước tính của Bắc Kinh thì sẽ có tới 3.000 tỷ nguyên không thể đòi được trong số các món nợ của chính quyền địa phương. Nhưng cuộc nghiên cứu của Ngân hàng Standard and Charterd nói sẽ có tới 8 ngàn hoặc 9 ngàn tỷ đồng nguyên trở thành nợ xấu; tức là khoảng 1.200 tỷ đến 1.400 tỷ đô la; mà đây là riêng các món nợ của cấp chính quyền địa phương mà thôi (Tổng sản lượng nội địa Trung Quốc là 4,700 tỷ đô la).
Thống kê về nợ xấu của Chính phủ trung ương còn thấp vì không tính đủ các vụ vay nợ qua hệ thống tín dụng ngoài các ngân hàng. Những Công ty Tín thác (Trust) cũng cho vay như các ngân hàng nhưng với lãi suất cao hơn. Họ gom các món nợ thành từng “gói” rồi dùng gói nợ đó làm bảo đảm để bán các trái phiếu mới; người mua trái phiếu tức là cho họ vay tiền với lãi suất cao hơn gửi tiền ngân hàng; biết rằng sẽ được trả lãi và vốn dựa trên tiền thu từ cả gói nợ bảo đảm. Phương pháp này không khác gì ở những ngân hàng ở Mỹ trong những năm từ 2001 cho tới 2007. Họ cũng đi mua lại các gói nợ địa ốc, dùng chúng làm vật cầm thế mà phát hành trái phiếu, bán cho các nhà đầu tư khắp thế giới. Thu được tiền vào, lại đi mua các giấy nợ khác. Công việc này gọi là “securitization, chứng khoán hóa” các giấy nợ. Những nhà đầu tư sau cùng, phần lớn là các ngân hàng khắp thế giới. Đến khi chính những người vay nợ địa ốc không đủ tiền trả thì các trái khoán mất giá trị, các nhà đầu tư và ngân hàng đều phá sản, kéo theo những ngân hàng khác. Công việc “chứng khoán hóa” này đang được các ngân hàng ẩn thực hành ở Trung Quốc.
Nhiều cách báo cáo hay
Ngân hàng quốc tế Credit Suisse mô tả tình trạng các “ngân hàng ẩn” là một quả bom nổ chậm trong hệ thống tài chính Trung Quốc. Lãi suất mà các ngân hàng ẩn đánh người vay có thể lên tới 70%, và mỗi năm còn tăng thêm. Các chính quyền địa phương khi bị giới hạn không được vay từ ngân hàng chính thức, cũng đi vay các ngân hàng ẩn. Nhiều doanh nhân tư không được các ngân hàng nhà nước cho vay cũng phải tìm các ngân hàng ẩn, chịu trả lãi suất cao. Các công ty sản xuất tư nhân ở Ôn Châu, Quảng Châu, và các thành phố khác đang chật vật vì thị trường xuất cảng giảm bớt, vẫn phải đi vay để tồn tại. Khi phải trả lãi suất cao mà vẫn muốn bán giá rẻ để cạnh tranh xuất cảng, các công ty này chỉ còn một cách không lỗ vốn là trả lương công nhân rất thấp. Cuối cùng, giới lao động chịu hy sinh trong khi các chủ ngân hàng ẩn kiếm lợi. Nhiều quan chức đứng đằng sau các ngân hàng ẩn này. Họ góp tiền với nhau, giữa các gia đình, lập thành những quỹ để cho vay. Có thể chính những cơ quan chính quyền nằm trong ảnh hưởng của họ tới vay. Credi Suisse ước tính số tiền mà các ngân hàng ẩn cho vay lên tới 4.000 tỷ đồng nguyên, trên 600 tỷ đô la.
Riêng về các món nợ xây nhà, vẫn theo Credit Suisse, số tiền nợ từ các ngân hàng ẩn lên tới 208 tỷ đồng nguyên. Trong khi đó số tiền nợ địa ốc từ các ngân hàng chính thức cũng chỉ có 211 tỷ. Với lãi suất các ngân hàng ẩn đánh rất cao, nếu bị kẹt tiền một thời gian ngắn thì các nhà xây cất và các nhà kinh doanh địa ốc sẽ phá sản rất nhanh, kéo theo các ngân hàng mà họ đang mắc nợ. Những món “nợ xấu” trong các ngân hàng ẩn không được tính trong số thống kê. Trong khi chính quyền trung ương vẫn căn cứ trên thống kê chính thức để hoạch định chính sách, ra chỉ thị cho các cấp dưới. Khi trung ương ra lệnh các ngân hàng của nhà nước ngưng cho vay để giảm bớt số nợ toàn quốc, thì hệ thống ngân hàng ẩn càng hoạt động mạnh hơn, tổng số nợ vẫn tăng lên. Các ngân hàng ẩn là nơi cho vay những món nợ nhiều rủi ro nhất. Vì không vay được trong hệ thống ngân hàng bình thường nên người ta mới tìm đến các ngân hàng ẩn. Mà họ thì sẵn sàng cho vay, vì món nợ càng rủi ro thì họ đánh lãi suất càng cao; hơn bù kém, cuối cùng họ vẫn có lời!
Một phương pháp khác có thể làm cho số nợ chính thức được giảm xuống, cũng như giảm số nợ xấu, là chính các ngân hàng bình thường “xào xáo” sổ sách kế toán. Một ngân hàng cho một công ty quốc doanh vay, đến kỳ hạn mà không thể trả tiền đều đặn, món nợ sẽ bị xếp vào loại “nợ xấu”. Có một cách tránh né, giúp cho cả hai bên. Ngân hàng sẽ cho thân chủ đó vay một món nợ mới, dùng tiền mới vay đó trả cho món nợ cũ một cách đều đặn. Còn món nợ mới, vì nó mới cho nên chưa bị trễ hạn trả bao giờ, không thể xếp loại nợ xấu được. Người vay có tiền, mà ngân hàng cho vay tránh được tiếng bị nhiều nợ xấu! Cứ như thế, tỷ lệ nợ xấu trong hệ thống ngân hàng Trung Quốc bề ngoài có thể rất thấp.
Công ty Đường cao tốc HảiNam(Hainan Expressway Co) đang nợ đùm đề. Năm ngoái họ cho cơ quan mẹ là Sở Giao thông Hải Nam vay 40 triệu đô la, rồi ghi vào sổ đó là một tài sản. Dùng tài sản đó làm thế chấp, họ lại đi vay thêm được từ các ngân hàng của nhà nước, các món nợ rất rủi ro mà theo Giáo sư Victor Shi, sẽ không thể trả hết được.
Theo Giáo sư Victor Shi thì các ngân hàng thường được Ủy ban Kiểm soát ngân hàng trung ương cho phép “tái cơ cấu” các món nợ. Và họ làm theo ngay. Một cách khác để “tái cơ cấu” nợ là đổi các món nợ cho chính quyền địa phương vay thành ra món nợ cho các xí nghiệp vay. Với danh nghĩa đó, ngân hàng sẽ được phép hạ thấp số tiền dự trữ, do đó sẽ có thể khai số lợi nhuận cao hơn. Theo thông tin trên báo chí Trung Quốc thì các ngân hàng đã đổi cách xếp loại các món nợ tổng cộng lên tới 2.800 tỷ đồng nguyên. Đây là những lối xào xáo sổ kế toán, không khác gì Công ty Enron ở Mỹ đã làm trước khi phá sản vào tháng Mười hai năm 2001.
Trên đây chúng ta đã thấy hình ảnh số nợ chồng chất ngày càng cao trong nền kinh tế Trung Quốc. Cả một guồng máy khuyến khích các chính quyền địa phương đi vay và xây dựng, giúp cho tổng sản lượng nội địa tiếp tục tăng lên, nhưng không gia tăng được số hàng hóa và dịch vụ thật sự cho người dân hưởng. Phần tiêu thụ của người dân đã giảm liên tục trong hàng chục năm qua, từ 40% xuống dưới 30% trong tổng sản lượng nội địa. Quan chức địa phương có động cơ tự nhiên đi mãi trên con đường này, vì tài sản và địa vị của họ lên hay xuống tùy thuộc vào chính sách đó có tiếp tục hay không. Và họ không cảm thấy có trách nhiệm khi số nợ cứ leo thang lên mãi. Một quan chức thành phố Vũ Hán giải thích rằng họ chỉ làm theo chỉ thị từ trung ương. “Chúng tôi là những cầu thủ, không phải huấn luyện viên, cũng không phải trọng tài. Tại sao lại hỏi chúng tôi những chuyện của huấn luyện viên và trọng tài?”. Ông Tạ Tác Hoài (Xie Zuohuai 谢作怀), thuộc Ban Kiểm soát ngân hàng ở Vũ Hán nói: “Đây là một thành phố kiểu mẫu trong việc thi hành các quy luật kiểm tra ngân hàng từ Bắc Kinh ban ra. Tôi tin tưởng là Chính phủ trung ương sẽ quản lý tốt các sự rủi ro”.
Đó cũng là niềm tin chung của các quan chức địa phương khắp nước. Khi tin tưởng như vậy, họ càng yên tâm vay thêm và tiêu thêm mà không lo đến hiệu quả kinh tế cao hay thấp. Chính phủ Bắc Kinh cũng biết mối nguy khi tổng số nợ ngày càng lên cao. Họ đã báo động, đã tìm cách kìm hãm, đưa ra các chỉ thị mới. Nhưng các chỉ thị đó có dự trù được tất cả các lỗ hổng mà địa phương sẽ sử dụng hay không, chưa biết được! Các quan chức địa phương có động lực tự nhiên đi tìm các lỗ hổng để chui qua, vì con đường thăng tiến của họ, mà họ không thấy có trách nhiệm phải tiêu tiền cho có hiệu quả lâu dài. Thủ tướng Ôn Gia Bảo đã cảnh cáo là các quan chức nhiều quyền quá, mà thiếu một hệ thống kiểm tra. Ông cũng nói thẳng kinh tế Trung Quốc không thể tiếp tục thăng tiến được nếu không thay đổi về chính trị. Nhưng thay đổi cả một bộ máy vĩ đại đang cung cấp và bảo vệ quyền lợi của 80 triệu đảng viên là một việc rất khó.
Kinh tế không quân bình
Ông Ôn Gia Bảo lo là phải. Một quốc gia không thể cứ đi vay nợ mãi mà sống. McKinsey Global Institute ước tính số nợ trên cả nước Trung Hoa vào năm 2008 lớn bằng khoảng 159% tổng sản lượng nội địa, trước khi dùng số tiền 600 tỷ đô la kích thích. Nước Hy Lạp vào tháng Mười năm 2011, khi bắt đầu được các nước Âu Châu cấp cứu để thoát cảnh Chính phủ phá sản, cũng có tỷ lệ Nợ/GDP khoảng 165%. Tỷ lệ tổng số Nợ trên GDP ở Trung Quốc hiện nay tương tự như tình trạng Nhật Bản trước năm 1990, khi cơn sốt địa ốc và chứng khoán ở Nhật bùng nổ làm cho hệ thống ngân hàng sa lầy, người tiêu thụ giảm chi, các xí nghiệp ngưng đầu tư, kinh tế suy thoái.
Trung Quốc trong các năm tới không lâm vào tình trạng phá sản như Hy Lạp, cũng như năm 1992 Chính phủ Nhật Bản không phá sản. Vì họ vay tiền trong xứ bằng tiền của nước họ, không nợ đô la từ nước ngoài. Chính phủ có quyền cắt bớt hay tăng chi tiêu; ngân hàng trung ương có quyền in thêm tiền nước mình. Nhờ dân Nhật rất tiết kiệm, Chính phủ và các công ty, ngân hàng Nhật vay trong thị trường nội địa, với lãi suất rất thấp mà ngân hàng ngoại quốc không ai muốn cho vay. Tuy không bị lâm vào cảnh phá sản như Hy Lạp, nhưng Nhật Bản cũng phải trả cái giá, là kinh tế trì trệ trong hai chục năm, trong khi chờ hệ thống ngân hàng cải tổ. Hiện nay tỷ lệ Nợ/GDP của Nhật Bản cũng trên 200% mà vẫn không sao cả, nhờ dân Nhật vẫn giữ tỷ lệ tiết kiệm rất cao không thay đổi.
Ở Trung Quốc thì Chính phủ và các ngân hàng của nhà nước đóng vai chủ nợ, cho các doanh nghiệp nhà nuớc và các chính quyền địa phương vay. Ngân hàng trung ương chỉ việc in thêm tiền để các ngân hàng cho các xí nghiệp của nhà nước vay. Mỗi năm Ngân hàng nhân dân tăng số tiền tệ lưu hành khoảng 15% đến 25%. Trong các năm tới họ sẽ tiếp tục chính sách này: Ngân hàng Nhà nước in tiền, cho vay thêm nợ mới để trả nợ cũ, số nợ cứ thế còn tăng thêm nữa. Nhưng họ sẽ phải lo đối phó với hai hậu quả: Một là lạm phát gia tăng, hai là kinh tế giảm tốc độ phát triển khi cần hãm bớt đà lạm phát. Một xã hội không thể nào cứ đi vay tiền dùng mãi mãi được. Thế nào cũng có giá phải trả, cách này hay cách khác. Trung Quốc cần thay đổi toàn bộ kinh tế thì mới trở thành bình thường được.
Nền kinh tế Trung Quốc không quân bình, vì số tiêu thụ rất thấp, hoạt động chính nhờ vào đầu tư. Cứ một đồng trong tổng sản lượng nội địa thì có 70 xu là đầu tư, đại đa số do Chính phủ đầu tư; phần người dân được tiêu thụ thấp hơn 30 xu. Khác hẳn ở nước Mỹ, dân tiêu thụ 67 xu trong một đồng GDP sản xuất ra. Thủ tướng Ôn Gia Bảo đã cảnh cáo phải thay đổi tình trạng không quân bình này; Chính phủ đã cố gắng thúc đẩy số đầu tư thêm. Nhưng khi lợi tức của dân tiêu thụ không được tăng đúng mức, thì khó thúc đẩy. Khi tỷ lệ lạm phát lên 6% mà tiền gửi ngân hàng chỉ trả trên 3%, thì người dân mỗi năm sẽ mất gần 3% giá trị tiền tiết kiệm của mình. Không thể tăng lương nhanh cho đủ, vì lo sẽ gây thêm lạm phát. Đại đa số dân phải lo tiết kiệm để lo bệnh tật, tiền học cho con cái, hưu bổng, vân vân, vì hệ thống an sinh xã hội chưa phát triển. Cho nên lợi tức khả dụng để tiêu thụ rất thấp.
Người dân Trung Quốc đang phải hy sinh vì tình trạng kinh tế không quân bình. Cơn sốt địa ốc làm cho xã hội bất bình đẳng hơn, chuyển rất nhiều tài sản vào tay các nhà xây cất, và bạn bè họ trong chính quyền. Trong lúc đó, người dân sẽ phải ăn tiêu dè sẻn hơn vì chi phí về nhà ở lên cao quá. Những người giàu nhất nước khoảng 6 triệu người, gồm 1% dân số ở các thành phố và thị xã, hiện giữ tài sản trị giá khoảng 2 ngàn đến 5 ngàn tỷ đô la. Những người giàu nhất đang chuyển tiền ra nước ngoài. Nếu họ đánh hơi được một cơn động đất tài chánh, họ sẽ chuyển tiền nhanh và sớm hơn. Dù Chính phủ không cho phép chuyển tiền đi, nhưng nếu ai muốn vẫn có thể đem một số đồng nguyên qua Hồng Kông, sẽ có người chuyển ra nước ngoài giúp, thành hàng triệu đô la, chỉ cần trả họ một số hoa hồng. Trước cơn nguy biến những người giàu có thể sẽ chuyển đi hàng tỷ đô la.
Tất cả các yếu tố có thể gây ra cơn địa chấn đã hội tụ đầy đủ, không khác gì ở Mỹ năm 2007. Các nhà đầu tư địa ốc và chính quyền địa phương vay nợ quá nhiều. Tổng số nợ vẫn tiếp tục tăng lên, gần bằng Nhật Bản trước khi quả bong bóng nổ thời 1990. Những người có tiền không có cơ hội đầu tư vẫn thấy địa ốc là nơi duy nhất dễ kiếm lời hơn cả, vì thế họ vẫn đẩy giá lên cao hơn.
Trận động đất vì nợ hiện nay được kìm hãm vì tất cả nền kinh tế do Chính phủ nắm trong tay. Ngân hàng trung ương tiếp tục in thêm tiền. Nhưng mối đe dọa về lạm phát sẽ khiến tốc độ in tiền phải giảm xuống, không thể tăng mỗi năm 25% số tiền lưu hành như trước. Lạm phát là nguyên nhân mạnh nhất gây ra bất ổn. Hiện nay mỗi năm ở Trung Quốc xảy ra hàng trăm ngàn vụ biểu tình, không thể tạo thêm bất ổn nữa. Giữa hai mối lo, hoặc là lạm phát, hoặc là chính thức cho quả bom nợ nổ, chính quyền trung ương sẽ phải chọn một. Họ sẽ tìm cách làm sao cho cuộc động đất xảy ra chậm chậm, từ từ, trong lúc theo dõi giữ tỷ lệ lạm phát sao cho đừng lên nhanh quá; giống như một người đi dây.
Sang năm, hai ông Hồ Cẩm Đào và Ôn Gia Bảo sẽ chuyển giao quyền hành cho thế hệ mới. Họ sẽ cố giữ cho hệ thống tiếp tục chạy đều cho tới khi mãn nhiệm, không ai muốn gây sóng gió trong lúc mình còn đang chịu trách nhiệm. Để coi rồi ông Tập Cận Bình sẽ xoay trở đi dây ra sao!
N.N.D.
Bản gốc đăng tại boxitvn.net
NguỒn: BVN
**
Bùi Văn Phú Cuộc đấu tranh giai cấp mới

Gửi cho BBC Tiếng Việt từ San Jose
Cập nhật: 08:06 GMT – thứ bảy, 15 tháng 10, 2011

Hôm Chủ Nhật 12/10 hơn trăm người gồm nhiều thành phần xã hội tham gia biểu tình tuần hành trước toà thị chính San Jose với cả nghị viên Ash Kalra đã có mặt ủng hộ.
Hôm sau Thị trưởng Chuck Reed biểu tỏ đồng cảm với người biểu tình và kêu gọi chính quyền của Tổng thống Obama quan tâm đến những đầu tư không minh bạch ở thị trường chứng khoán mà thành phố San Jose đã là nạn nhân thua lỗ.
Trên sân toà thị chính có dăm lều được dựng lên từ hai tuần nay. Cảnh sát đã biên phạt vì phạm luật thành phố nhưng chưa đuổi đi.
Chiều thứ Hai hơn 500 người tụ họp trước toà thị chính Oakland trong cơn mưa lất phất. Cuộc biểu tình ở đây chính thức được nghiệp đoàn giáo chức và nghiệp đoàn y tá ủng hộ vì thế người tham gia biểu tình là giáo chức, nhân viên y tế, cũng có những luật sư, bác sĩ, bên cạnh thành phần trẻ trông rất hippies.
Thị trưởng Jean Quan, Nghị viên Desley Brooks cũng như các Dân biểu Barbara Lee và Pete Stark bày tỏ sự ủng hộ phong trào.
Hơn 50 chiếc lều được căng lên trên bãi cỏ trước toà thị chính và nhiều người ngủ đêm tại đó. Sáng ra họ cùng nhau tập thể dục, được những tiệm ăn cung cấp cà phê, bánh ngọt ăn sáng.
Tuy nhiên “Thành phố lều” ở Oakland ban ngày có phảng phất mùi cần sa, theo tin ghi nhận được của một thành viên trong nhóm thảo luận của cựu sinh viên Việt tại Đại học Berkeley.
Tại San Francisco những người biểu tình tiếp tục cắm lều trước Ngân hàng Dự trữ Liên bang và mỗi ngày kéo đến một nơi, thường là trụ sở ngân hàng để biểu tình tuần hành. Nhiều người đã bị cảnh sát bắt giam vì cản trở không cho người khác ra vào những cơ sở thương mại, tài chính.
Biể̀u tình tại Ockland thu hút các nhóm dân cư đa dạng
Khẩu hiệu 99%
Phong trào Chiếm Phố Wall (Occupy Wall Street) sau mấy tuần phát động từ trung tâm tài chính New York nay đã lan ra trên cả trăm thành phố và hơn 30 tiểu bang ở Mỹ.
Tại miền bắc California đã có biểu tình ở San Francisco, San Jose, Oakland, Marin và Walnut Creek. Từ danh xưng Chiếm phố Wall khi lan toả đến các điạ phương tên phong trào biến thành Chiếm San Jose, Chiếm San Francisco hay Chiếm Oakland.
Mục tiêu của phong trào là gì? Quan sát những khẩu hiệu, biển chữ giương lên trong các cuộc biểu tình thì có nhiều đòi hỏi. Đòi đánh thuế người giầu nhiều hơn nữa. Đòi chấm dứt việc ngân hàng tịch thu nhà vì chủ nhân không còn khả năng trả nợ. Đòi rút quân Mỹ về, chuyển ngân sách chiến tranh qua cho việc giáo dục. Chống tăng học phí đại học. Đòi việc làm.
Khẩu hiệu của Phong trào là 99% hàm ý 99% dân là người nghèo hay chỉ đủ ăn, trong khi đó 1% người cực giàu điều khiển guồng máy kinh tế tài chính Mỹ, gây ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của mọi người.
Vậy những con số về khoảng cách giầu nghèo đó ra sao?
Theo giáo sư Joseph Stiglitz, Đại học Columbia và cũng là khôi nguyên Nobel kinh tế 2001 thì hiện nay 1% người giầu nhất nước Mỹ làm chủ 40% tài sản của Hoa Kỳ. Trong khi 80% người dân ở mức thấp nhất làm chủ chỉ có 7% tài sản nước Mỹ. Một phần tư thế kỉ trước 33% tài sản quốc gia do 1% giới giầu làm chủ.
Về thu nhập, 1% người có mức lương cao chiếm 24% tổng số thu nhập của toàn dân. Năm 1976 con số này chỉ 9%. Như thế trong 35 năm qua, người giầu ngày càng giầu hơn.
Theo số liệu của Institute of Policy Studies, trong thị trường đầu tư chứng khoán 1% người có thu nhập cao nhất làm chủ đến 50% số cổ phiếu, công khố phiếu và các qũy đầu tư khác. Trong khi 50% người có mức lương thấp nhất chỉ làm chủ 0.5% tổng số cổ phiếu chứng khoán.
Những người phản đối nay trông hoàn toàn bình thường, không phải các nhóm trông ‘bụi đời’ như mấy tuần đầu
Về nợ cá nhân, nghiên cứu của giáo sư xã hội học William Domhoff từ Đại học California, Santa Cruz cho thấy 1% người giầu nhất chiếm chỉ 5% tổng số nợ của nước Mỹ, trong khi 90% người dân ở mức lương thấp phải gánh tới 73% số nợ đó.
Nhiều người cho rằng cách biệt giầu nghèo như thế là bất công xã hội và đã có những nhận định là phong trào Chiếm phố Wall đang khởi xướng một cuộc chiến tranh giai cấp tại Mỹ.
Bắt đầu chú ý
Lúc đầu giới lãnh đạo cùng truyền thông coi thường phong trào, cho rằng tham gia biểu tình là những người không có công việc và chẳng biết làm gì hơn là xuống đường. Nhưng trong những tuần qua các cuộc biểu tình tại nhiều nơi đã được chú ý.
Như vết dầu loang, phong trào đã tổ chức được nhiều cuộc biểu tình ở nhiều nơi và gây chú ý trong chính trường từ Tổng thống Obama đến những dân biểu trong Quốc hội.
Đòi hỏi nổi bật nhất của Chiếm phố Wall là tăng thuế nhà giầu và tạo công ăn việc làm. Đó cũng là những điều gây tranh cãi tại quốc hội lâu nay. Nhưng những ai được coi là người giầu ở Mỹ?
Người có mức thu nhập từ 250 nghìn đô-la một năm trở lên, như chính quyền Obama dự định tăng thuế của họ, còn đảng Cộng hoà không đồng ý?
Phong trào phản đối giới tài chính Wall Street nay đang buộc chính giới Mỹ phải chú ý
Tăng thuế hay không tăng thuế là vấn đề đang gây tranh luận trên chính trường Hoa Kỳ với nhiều bế tắc.
Trong những tuần đầu phong trào không được quan tâm vì những người tham gia trông như kẻ không nhà, bụi đời.
Nay mục tiêu của phong trào đang dần được tỏ rõ và thu hút nhiều thành phần dân chúng nhưng hình ảnh bất tuân luật pháp của người biểu tình ở một số nơi, như chiếm đóng cầu ở New York, tràn vào bảo tàng ở Thủ đô Washington là làm hại phong trào.
Nếu được như cuộc biểu tình ở San Jose hôm Chủ nhật qua, trong tinh thần trật tự, tuy có ồn ào và người tham gia được nhắc nhở cần tỏ ra ôn hoà, không dùng ma túy cần sa và giữ gìn sạch sẽ chung quanh thì khẩu hiệu họ hô: “All day, all night. Occupy San Jose” (Cả ngày, cả đêm. Chiếm San Jose) sẽ có cơ hội được hưởng ứng.
Nhất là trong lúc kinh tế đang khủng hoảng, mức thất nghiệp toàn quốc là 9.1%, tại điạ phương trên 10% và chỉ còn một năm nữa là đến ngày bầu lại tổng thống và quốc hội thì tiếng nói sẽ được lắng nghe và ảnh hưởng của phong trào sẽ rộng lớn.
Bài viết thể hiện quan điểm riêng của ông Bùi Văn Phú từ San Jose, Hoa Kỳ.
Nguồn: daohieu

Advertisements

Gửi bình luận »

Không có bình luận

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: