Hoàngquang’s Blog

14/10/2011

Thế kỷ Thái Bình Dương của Hoa Kỳ (1,2)

Hillary Clinton/Foreign Policy Lê Quốc Tuấn. X-CafeVN chuyển ngữ
James Holmes, Trúc An dịch từ The Diplomat, basamnews
BIỂN ĐÔNG KHÔNG PHẢI LÀ BIỂN ĐEN

x-cafevn Chén canh Tàu vừa chua vừa ngọt của bà Clinton
trangridiculous Nền độc lập cho Palestine (bài 1) – Lựa chọn duy nhất: Dân chủ Bài 2: Giấc mơ tự do, độc lập
J.B Nguyễn Hữu Vinh Lãnh thổ của Tổ Quốc và tài sản tôn giáo: chuyện “khôn nhà dại chợ”

***
Hillary Clinton/Foreign Policy Thế kỷ Thái Bình Dương của Hoa Kỳ (1 ) Lê Quốc Tuấn. X-CafeVN chuyển ngữ

Khi cuộc chiến ở Iraq lắng xuống và Mỹ bắt đầu rút quân khỏi Afghanistan, Hoa Kỳ đứng ở một vị trí trụ cột. Hơn 10 năm qua, chúng ta đã chuyển giao những nguồn lực hết sức lớn cho hai sân khấu ấy. Trong 10 năm tới, chúng ta cần phải khôn ngoan và có phương pháp hơn về việc nên đầu tư thời gian và năng lực ở đâu, để đặt mình vào vị trí tốt nhất nhằm duy trì vị trí lãnh đạo, đảm bảo được các quyền lợi và thúc đẩy được các giá trị của mình. Do đó, một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất của nghệ thuật quản lý nhà nước Hoa Kỳ trong thập kỷ tới sẽ là việc bám sát vào một loại đầu tư có sức gia tăng đáng kể – ngoại giao, kinh tế, chiến lược và các mặt khác – trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương.
Khu vực châu Á-Thái Bình Dương đã trở thành một động lực chính của nền chính trị toàn cầu. Trải dài từ tiểu lục địa Ấn Độ đến bờ biển phía tây châu Mỹ, khu vực kéo dài giữa hai đại dương – Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương – đang ngày càng được nối kết bằng vận chuyển và chiến lược. Khu vực này tự hào có được gần một nửa dân số thế giới. Bao gồm rất nhiều công cụ quan trọng của nền kinh tế toàn cầu, đồng thời cũng là các nhà phát thải khí lớn nhất đổ vào bầu khí quyển. Châu Á Thái Bình dương còn là xứ sở của một số đồng minh chủ chốt của chúng ta và các cường quốc mới nổi quan trọng như Trung Quốc, Ấn Độ, và Indonesia.
Vào thời điểm khu vực này đang xây dựng kiến trúc an ninh và kinh tế trưởng thành hơn để thăng tiến ổn định và thịnh vượng, cam kết của Hoa Kỳ là cần thiết. Các cam kết này sẽ giúp xây dựng kiến trúc ấy và chi trả hữu hiệu các phần lời cho vai trò lãnh đạo tiếp tục của Hoa Kỳ vào thế kỷ này, giống như các cam kết xây dựng lại một mạng lưới xuyên quốc gia toàn diện và lâu dài của các định chế và các mối quan hệ của chúng ta sau Đệ nhị Thế chiến đã từng được trả dứt nhiều lần hơn thế – và sẽ tiếp tục là như vậy. Đã đến lúc Hoa Kỳ sẽ thực hiện một cuộc đầu tư tương tự như một cường quốc Thái Bình Dương, một tiến trình chiến lược được định hình bởi Tổng thống Barack Obama ngay từ khởi đầu của chính quyền ông và đã đạt được kết quả có lợi.
Với việc Iraq và Afghanistan vẫn còn trong quá trình chuyển đổi và các thách thức kinh tế nghiêm trọng ở đất nước của chúng ta, có những người trong cảnh quan chính trị Hoa Kỳ đang kêu gọi chúng ta không nên đặt để lại vị trí mà nên quay về trong nước. Họ tìm kiếm việc ủng hộ những ưu tiên hàng đầu trong quốc nội và giảm bớt sự tham gia ở nước ngoài của chúng ta. Các xung động này là dễ hiểu, nhưng sai lầm. Những người nói rằng chúng ta không còn có đủ khả năng để tham gia với thế giới chính xác là đang lạc hậu – chúng ta không thể kham nổi việc thiếu khả năng để tham dự như vậy. Từ việc mở cửa các thị trường mới cho các doanh nghiệp Mỹ đến việc kiềm chế phổ biến vũ khí hạt nhân để giữ các tuyến đường biển được tự do cho thương mại và giao thông, công việc của chúng ta ở nước ngoài đang nắm giữ chìa khóa cho thịnh vượng và an ninh của chúng ta tại quê nhà. Trong hơn sáu thập kỷ qua, Hoa Kỳ đã chống lại sức hút của những cuộc tranh cãi “hãy quay về nước” và loại logic ám chỉ tính được thua ngang bằng của những lập luận này. Chúng ta phải làm như vậy một lần nữa.
Bên ngoài biên giới của chúng ta, mọi người cũng tự hỏi về ý định của Hoa Kỳ – sự sẵn sàng để duy trì tham dự và lãnh đạo. Ở châu Á, người dân đang hỏi liệu chúng ta có thực sự ở lại đó, hay là chúng ta có thể bị xao lãng bởi những sự kiện ở nơi khác, chúng ta có thể thực hiện, giữ được những cam kết kinh tế và chiến lược đáng tin cậy và liệu chúng ta có thể hỗ trợ những cam kết bằng hành động hay không. Câu trả lời là: Chúng ta có thể, và chúng ta sẽ là như thế.
Khai thác châu Á tăng trưởng và năng động là trọng tâm đối với quyền lợi kinh tế và chiến lược của Hoa Kỳ và là một ưu tiên quan trọng đối với Tổng thống Obama. Mở cửa các thị trường ở châu Á mang lại cho Hoa Kỳ những cơ hội chưa từng có về đầu tư, thương mại và sự truy cập đến công nghệ tiên tiến. Phục hồi kinh tế của chúng ta ở trong nước sẽ phụ thuộc vào xuất khẩu và khả năng khai thác cơ sở tiêu dùng rộng lớn, ngày càng tăng trong khu vực châu Á của các công ty Hoa Kỳ. Nói một cách chiến lược, việc duy trì hòa bình và an ninh trên khắp các khu vực châu Á-Thái Bình Dương ngày càng quan trọng hơn cho tiến bộ của toàn cầu, dù bằng việc bảo vệ tự do hàng hải ở khu vực Biển Đông, chống lại các nỗ lực phổ biến hạt nhân của Bắc Triều Tiên, hoặc đảm bảo sự minh bạch trong các hoạt động quân sự của các thành phần tham dự quan trọng của khu vực .
Sự tham dự của Hoa Kỳ quan trọng cho tương lai của châu Á cũng như châu Á rất quan trọng đối với tương lai của Hoa Kỳ. Khu vực này hết sức mong muốn sự lãnh đạo và nền kinh doanh của chúng ta – có lẽ cần hơn so với bất kỳ thời điểm nào trong lịch sử hiện đại. Chúng ta là sức mạnh duy nhất với một mạng lưới các đồng minh mạnh mẽ trong khu vực, không mang tham vọng lãnh thổ và từng có thành tích lâu dài là mang lại các lợi ích chung. Cùng với các đồng minh của mình, chúng ta đã bảo đảm an ninh khu vực trong nhiều thập kỷ – tuần tra các tuyến đường biển của châu Á, giữ gìn ổn định và từ đó đã tạo điều kiện cho tăng trưởng. Chúng ta đã giúp tích hợp hàng tỷ người trên khắp khu vực vào nền kinh tế toàn cầu bằng cách thúc đẩy năng suất kinh tế, tạo khả năng cho xã hội và các liên kết tốt đẹp hơn giữa người dân và người dân. Chúng ta là đối tác thương mại và đầu tư lớn, là nguồn sáng tạo ra lợi ích cho người lao động và doanh nghiệp trên cả hai bên bờ Thái Bình Dương, là nước chủ nhà của 350.000 khách sinh viên châu Á mỗi năm, một nhà vô địch về việc mở cửa các thị trường và là người ủng hộ cho các quyền phổ quát của con người.
Tổng thống Obama đã dẫn đầu một nỗ lực đa dạng, liên tục và bao trùm toàn bộ chính phủ Mỹ để nắm đầy đủ vai trò không thể thay thế của chúng ta ở Thái Bình Dương. Đó là một nỗ lực thường thầm lặng. Rất nhiều công việc của chúng ta không hề ở trên các trang tin hàng đầu, cả vì bản chất của nó – đầu tư dài hạn ít thú vị hơn cuộc khủng hoảng tức thời – và cả vì các tiêu đề cạnh tranh ở các khu vực khác trên thế giới.
Với tư cách một Tổng trưởng Ngoại giao, tôi đã phá vỡ truyền thống và bắt tay vào chuyến công du chính thức đầu tiên của mình đến châu Á. Trong bảy chuyến đi của mình kể từ đó, tôi đã có được đặc quyền để trực tiếp nhìn thấy các biến đổi nhanh chóng đang diễn ra trong khu vực, nêu bật sự gắn bó mật thiết của Hoa Kỳ với tương lai của khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Một bước quay chuyển chiến lược của khu vực phù hợp một cách hợp lý vào nỗ lực toàn cầu để đảm bảo và duy trì sự lãnh đạo toàn cầu của Hoa Kỳ. Sự thành công của bước quay chuyển này đòi hỏi phải duy trì và thúc đẩy sự đồng thuận lưỡng đảng về tầm quan trọng của khu vực châu Á-Thái Bình Dương đến quyền lợi quốc gia của chúng ta; chúng ta tìm cách xây dựng sự hợp tác mạnh mẽ truyền thống giữa các tổng thống và các tổng trưởng ngoại giao của cả hai đảng trong nhiều thập kỷ. Sự thành công của tiến trình này cũng đòi hỏi phải tiến hành một chiến lược khu vực chặt chẽ một cách khôn ngoan nhằm giải thích được các tác động toàn cầu cho sự lựa chọn của chúng ta.
Chiến lược khu vực ấy ra sao ? Để khởi động, chiến lược này kêu gọi một cam kết kéo dài về điều mà tôi từng gọi là một nên ngoại giao “triển khai về phía trước”. Nghĩa là tiếp tục chuyển đến đầy đủ các vốn liếng ngoại giao của chúng ta – bao gồm cả các quan chức cấp cao nhất, các chuyên gia phát triển, các nhóm liên ngành và vốn liếng thường trực của chúng ta – đến tất cả các nước và các ngõ ngách của khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Chiến lược của chúng ta sẽ là phải duy trì trách nhiệm và thích nghi với sự thay đổi nhanh chóng và mạnh mẽ đang diễn ra trên khắp châu Á. Với điều này trong suy nghĩ, công việc của chúng ta sẽ tiến hành theo 6 phương hướng hành động: tăng cường các đồng minh song phương về an ninh, làm sâu sắc hơn nữa mối quan hệ cộng tác của chúng ta với các cường quốc mới nổi, bao gồm cả với Trung Quốc, tham dự vào các tổ chức đa phương trong khu vực, mở rộng thương mại và đầu tư, xây dựng sự hiện diện một quân đội trên diện rộng và thúc đẩy dân chủ, nhân quyền.
Nhờ vị trí địa lý độc đáo của mình, Hoa Kỳ là sức mạnh của cả Đại Tây Dương và Thái Bình Dương. Chúng ta tự hào về mối quan hệ với cùng tất cả những gì mà chúng mang lại được cho các đối tác châu Âu của mình. Thách thức của chúng ta hiện nay là xây dựng một mạng lưới của quan hệ đối tác, các tổ chức bền vững, phù hợp với quyền lợi của Mỹ trên khắp Thái Bình Dương và có giá trị như các mạng lưới mà chúng ta từng xây dựng ở Đại Tây Dương. Đó là chuẩn mực cho những nỗ lực của chúng ta trong tất cả các khu vực này.
Các đồng minh có tính hiệp ước của chúng ta với Nhật Bản, Hàn Quốc, Úc, Philippines và Thái Lan là điểm tựa cho bước quay chuyển chiến lược của chúng ta đến khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Các đồng minh này đã bảo đảm hòa bình và an ninh trong khu vực suốt hơn nửa thế kỷ, hình thành một môi trường cho sự tăng trưởng kinh tế đáng chú ý của khu vực. Họ có tác dụng đến sự hiện diện khu vực và tăng cường sự lãnh đạo khu vực của chúng ta vào thời điểm gia tăng các thách thức về an ninh.
Vì những thành công mà các đồng minh này từng đạt được, chúng ta không thể đơn giản là chỉ duy trì họ – mà cần phải cập nhật họ cho một thế giới thay đổi. Trong nỗ lực này, chính quyền Obama được hướng dẫn bởi ba nguyên tắc trọng yếu. Trước tiên, chúng ta phải duy trì mối đồng thuận chính trị đối với những mục tiêu cốt lõi của các liên minh chúng ta. Thứ hai, chúng ta phải đảm bảo rằng các đồng minh của mình là nhanh chóng và thích nghi để họ có thể giải quyết thành công những thách thức mới và nắm bắt các cơ hội mới. Thứ ba, chúng ta phải đảm bảo rằng khả năng phòng thủ và cơ sở hạ tầng thông tin liên lạc của các đồng minh ấy có hiệu quả và đủ khả năng về vật chất để có thể ngăn chặn những hành động khiêu khích từ các nhà nước toàn lực và thành phần phi quốc gia.
Cuộc liên minh với Nhật Bản, nền tảng của hòa bình và ổn định trong khu vực, chứng minh được việc chính quyền Obama thực hiện các nguyên tắc này như thế nào. Chúng ta chia sẻ tầm nhìn chung về của một khu vực trật tự ổn định với các quy tắc rõ ràng về lộ trình – từ tự do hàng hải đến việc mở cửa các thị trường và cạnh tranh lành mạnh. Chúng ta đã đồng ý về một thoả thuận mới, bao gồm một đóng góp hơn 5 tỷ từ chính phủ Nhật Bản để đảm bảo sự hiện diện tiếp tục và lâu dài của quân đội Mỹ tại Nhật Bản, trong khi mở rộng hợp tác tình báo, giám sát, và các hoạt động trinh sát để ngăn chặn và phản ứng một cách nhanh chóng đến các thách thức về an ninh trong khu vực, cũng như chia sẻ thông tin để giải quyết các đe dọa trên mạng ảo. Chúng ta đã ký kết một thỏa thuận Open Skies để tăng cường truy cập đến các liên kết giữa ngưòi dân đến người dân và các doanh nghiệp, phát động một cuộc đối thoại chiến lược về khu vực châu Á-Thái Bình Dương và làm việc song song như hai nước tài trợ lớn nhất ở Afghanistan.
Tương tự như vậy, liên minh của chúng ta với Nam Hàn đã trở nên mạnh mẽ và tích hợp nhiều hoạt động hơn, chúng ta tiếp tục phát triển các khả năng kết hợp của mình để ngăn chặn và phản ứng với hành động khiêu khích từ Bắc Triều Tiên. Chúng ta đã thỏa thuận về một kế hoạch nhằm đảm bảo sự chuyển tiếp thành công về kiểm soát các hoạt động trong chiến tranh và dự phần vào một lộ trình thành công về Hiệp định Thương mại Tự do Mỹ-Hàn. Đồng thời liên minh của chúng ta đã đi đến tầm mức toàn cầu, thông qua việc hợp tác với nhau trong khối G-20 và Hội nghị thượng đỉnh an ninh về hạt nhân và thông qua các nỗ lực chung của chúng ta ở Haiti và Afghanistan.
Chúng ta cũng đang mở rộng liên minh với Australia từ một mối quan hệ đối tác Thái Bình Dương trở thành một loại Đông -Thái Bình Dương và thực sự là một mối quan hệ đối tác có tính toàn cầu. Từ an ninh mạng đến Afghanistan, đến cơn thức tỉnh Ả Rập và tăng cường cấu trúc khu vực trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương, sự cố vấn và cam kết của Úc đã từng là không thể thiếu. Ở Đông Nam Á, chúng ta đang đổi mới và tăng cường các liên minh của chúng ta với Việt Nam và Thái Lan, ví dụ như, gia tăng số lượng các chuyến tàu biển thăm viếng đến Philippine và làm việc để đảm bảo đào tạo thành công các lực lượng chống khủng bố Philippines thông qua Lực lượng Đặc nhiệm Hỗn hợp của chúng ta ở Mindanao. Tại Thái Lan – đối tác hiệp ước lâu đời nhất của chúng ta ở châu Á – chúng ta đang làm việc để thiết lập một trung tâm của các nỗ lực cứu trợ nhân đạo và thiên tai khu vực trong khu vực.
Khi cập nhật các liên minh của chúng ta cho các nhu cầu mới, chúng ta cũng đang xây dựng những quan hệ đối tác mới để giúp giải quyết các khó khăn chung. Việc tiếp cận đến các cộng đồng Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia, Singapore, New Zealand, Malaysia, Mông Cổ, Việt Nam, Brunei, và các nước đảo Thái Bình Dương của chúng ta là một phần của một nỗ lực rộng lớn hơn nhằm đảm bảo một cách tiếp cận toàn diện hơn cho chiến lược và sự tham dự của Hoa Kỳ trong khu vực. Chúng ta đang yêu cầu các đối tác đang lên tham dự với chúng ta trong việc định hình và dự phần vào một trật tự toàn cầu và khu vực đặt căn bản trên luật lệ.
Tất nhiên, một trong những đối tác đang lên nổi bật nhất là Trung Quốc. Giống như nhiều quốc gia khác trước mình, Trung Quốc đã được thịnh vượng như một phần của hệ thống cai trị cởi mở và dựa trên luật lệ mà Hoa Kỳ từng giúp xây dựng và làm việc để duy trì. Và ngày nay, Trung Quốc đại diện cho một trong những thách thức và mối quan hệ song phương hậu quả mà Hoa Kỳ đã từng phải giải quyết. Sự việc này đòi hỏi đến một cương vị quản lý cẩn trọng, ổn định, năng động, một cách tiếp cận đến Trung Quốc từ phía chúng ta là có căn cứ trong thực tế, chú trọng vào kết quả và đúng với nguyên tắc và quyền lợi của chúng ta.
Chúng ta đều biết rằng nỗi sợ hãi và nhận thức sai lầm vẫn còn nán lại trên cả hai bên bờ Thái Bình Dương. Một số người của đất nước chúng ta nhìn thấy sự tiến bộ của Trung Quốc như một mối đe dọa cho Hoa Kỳ, một số người ở Trung Quốc lại lo lắng rằng Mỹ đang tìm cách hạn chế sự tăng trưởng của Trung Quốc. Chúng ta từ chối cả hai quan điểm như thế. Thực tế chính là một nước Mỹ thịnh vượng là tốt cho Trung Quốc và một Trung Quốc phát triển mạnh là tốt cho nước Mỹ. Cả hai nước đều có rất nhiều điều để hưởng được từ việc hợp tác hơn là xung đột. Nhưng ta không thể xây dựng một mối quan hệ chỉ bằng nguyện vọng của mình. Mà phải từ cả hai nước luôn chuyển dịch những ngôn từ tích cực thành ra sự hợp tác có hiệu quả – và điều quan trọng, là phải đáp ứng được các trách nhiệm và nghĩa vụ toàn cầu của chúng ta. Đây là những điều sẽ xác định xem mối quan hệ của chúng ta có mang lại được bằng tiềm năng của chúng trong những năm sắp tới. Chúng ta cũng phải trung thực về sự khác biệt của mình. Chúng ta sẽ giải quyết sự khác biệt ấy vững chắc và dứt khoát khi chúng ta cùng theo đuổi công việc cấp bách mà chúng ta phải làm cùng nhau. Và chúng ta phải tránh những kỳ vọng không thực tế.
Trong hai năm rưỡi vừa qua, một trong những ưu tiên hàng đầu của tôi là xác định và mở rộng các lĩnh vực cùng quan tâm, làm việc với Trung Quốc để xây dựng lòng tin lẫn nhau và để khuyến khích các nỗ lực hiện thời của Trung Quốc trong việc giải quyết vấn đề toàn cầu. Đó là lý do tại sao tôi và Bộ trưởng Tài chính Timothy Geithner đã hình thành Đối thoại Kinh tế và Chiến lược, là các cuộc đàm phán mở rộng và sâu sắc nhất từ trước tới nay giữa các chính phủ của chúng ta, với hàng chục cơ quan của cả hai nước để bàn luận về các vấn đề song phương cấp bách nhất, từ an ninh năng lượng đến nhân quyền .
Chúng ta cũng đang làm việc để gia tăng tính minh bạch và giảm thiểu nguy cơ tính toán sai lầm giữa các quân đội của chúng ta. Hoa Kỳ và cộng đồng quốc tế đã theo dõi những nỗ lực hiện đại hóa và mở rộng quân sự của Trung Quốc và cũng đã tìm cách minh định các ý định của mình. Cả hai nước sẽ cùng được hưởng lợi từ duy trì việc tham dự thực sự giữa quân đội và quân đội để làm tăng tính minh bạch. Vì vậy, chúng ta mong đợi Bắc Kinh vượt qua được tính miễn cưỡng của mình trong các giai đoạn và cùng tham dự với chúng ta trong việc tạo dựng một cuộc đối thoại bền vững giữa quân sự với quân sự. Và chúng ta cần phải làm việc với nhau để tăng cường Cuộc Đối thoại về An ninh chiến lược, vốn mang các nhà lãnh đạo quân sự và dân sự đến với nhau để thảo luận về các vấn đề nhạy cảm như an ninh hàng hải và an ninh mạng.

(còn tiếp)
Nguồn: Foreign Policy http://www.foreignpolicy.com/articles/2011/10/11/americas_pacific_century
http://www.x-cafevn.org/node/2633

Hillary Clinton/Foreign Policy Lê Quốc Tuấn. X-CafeVN chuyển ngữ Thế kỷ Thái Bình Dương của Hoa Kỳ (2)

Submitted by Trưởng Biên Tập on Thu, 10/13/2011 – 23:49
(tiếp theo và hết)

Khi cùng xây dựng lòng tin, chúng ta đã cam kết để làm việc với Trung Quốc nhằm giải quyết các vấn đề an ninh quan trọng trong khu vực và toàn cầu. Đây là lý do tại sao tôi đã thường xuyên gặp gỡ- thường trong các thu xếp không chính thức – với Uỷ viên Nhà nước Đới Bỉnh Quốc, và Bộ trưởng Ngoại giao Dương Khiết Trì, các đối tác Trung Quốc của tôi, để thảo luận thẳng thắn về những thách thức quan trọng như Bắc Triều Tiên, Afghanistan, Pakistan, Iran, và các phát triển trong vùng Biển Đông.
Trên mặt trận kinh tế, Hoa Kỳ và Trung Quốc cần phải làm việc với nhau để đảm bảo một tăng trưởng toàn cầu mạnh mẽ, bền vững và cân bằng trong tương lai. Trong hậu quả của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, Hoa Kỳ và Trung Quốc đã từng làm việc hiệu quả thông qua G-20 để giúp đưa nền kinh tế toàn cầu trở lại khỏi bờ vực. Chúng ta phải xây dựng trên sự hợp tác đó. Các công ty Mỹ muốn các cơ hội xuất khẩu công bằng sang thị trường ngày càng tăng của Trung Quốc, vốn có thể là nguồn công ăn việc làm quan trọng ở đây tại Hoa Kỳ, cũng như muốn đảm bảo rằng 50 tỷ vốn đầu tư của Hoa Kỳ ở Trung Quốc sẽ tạo ra được một nền tảng mạnh mẽ cho thị trường mới và các cơ hội đầu tư sẽ hỗ trợ được cho sự cạnh tranh trên toàn cầu. Đồng thời, các công ty Trung Quốc muốn có thể mua được nhiều sản phẩm công nghệ cao từ Hoa Kỳ, đầu tư nhiều hơn ở đây và được dành cho các điều kiện truy cập tương tự mà thị trường phải được hưởng. Chúng ta có thể làm việc với nhau về những mục tiêu này, nhưng Trung Quốc vẫn cần có những bước đi quan trọng hướng tới cải cách. Đặc biệt, chúng ta đang làm việc với Trung Quốc để chấm dứt sự phân biệt đối xử không công bằng đối với Mỹ và các công ty nước ngoài khác hoặc chống lại các công nghệ sáng tạo của họ, loại bỏ ưu đãi đối với doanh nghiệp trong nước, và chấm dứt các biện pháp đưa đến sự bất lợi hoặc chiếm đoạt tài sản trí tuệ nước ngoài. Và chúng tôi mong Trung Quốc sẽ thực hiện các biện pháp để cho phép đồng tiền của họ tăng giá nhanh chóng hơn, so với cả đồng USD và đồng tiền của các đối tác thương mại lớn khác của họ. Những cải cách như vậy, chúng tôi tin rằng, sẽ không chỉ có lợi ích thực sự cho cả hai nước chúng ta mà còn sẽ hỗ trợ cho mục tiêu kế hoạch 5 năm của riêng Trung Quốc, vốn kêu gọi tăng trưởng hơn ở trong nước, nhưng cũng góp phần cân bằng, dự đoán được và mở rộng hơn thịnh vượng của toàn cầu.
Tất nhiên, chúng ta đã bày tỏ rất rõ ràng, cả ở chốn công khai và nơi riêng tư, mối quan tâm nghiêm trọng của chúng ta về nhân quyền. Và khi chúng ta đọc các báo cáo của những luật sư bảo vệ cho quyền lợi công chúng, nhà văn, nghệ sĩ và những người khác từng bị giam giữ hoặc bị mất tích, Hoa Kỳ đã lên tiếng, cả trong công khai và riêng tư, với mối quan tâm của chúng ta về nhân quyền. Chúng tôi cho các đồng nghiệp Trung Quốc của mình biết rằng một sự tôn trọng sâu sắc đối với luật pháp quốc tế và một hệ thống chính trị cởi mở hơn sẽ mang lại cho Trung Quốc nền tảng của sự ổn định và tăng trưởng lớn hơn nhiều và làm gia tăng sự tin tưởng nơi các đối tác của Trung Quốc. Nếu không có những điều ấy, Trung Quốc đang đặt những hạn chế không cần thiết lên sự phát triển của riêng mình.
Sau cùng, không hề có cuốn chỉ nam nào cho sự phát triển mối quan hệ Mỹ-Trung. Tuy nhiên, đối với chúng ta, các vốn liếng đã quá cao khiến không thể để cho uổng phí. Khi tiến hành, chúng ta sẽ tiếp tục phải ôm lấy mối quan hệ của mình với Trung Quốc trong một khuôn khổ khu vực rộng lớn hơn của các liên minh về an ninh, mạng lưới kinh tế và các nối kết xã hội.
Trong các quyền lực chủ chốt đang nổi lên mà chúng ta sẽ làm việc chặt chẽ là Ấn Độ và In-đô-nê-xi-a, hai quyền lực dân chủ năng động và quan trọng nhất của châu Á, và là cả hai quốc gia mà chính quyền Obama từng theo đuổi các mối quan hệ rộng, sâu và có mục đích hơn. Trải dài trên biển từ Ấn Độ Dương thông qua eo biển Malacca đến Thái Bình Dương bao gồm các vùng thương mại và các tuyến đường năng lượng sôi động nhất của thế giới. Cùng với nhau, Ấn Độ và In-đô-nê-xi-a chiếm gần một phần tư dân số thế giới. Họ là động lực chính của nền kinh tế toàn cầu, các đối tác quan trọng đối với Hoa Kỳ và ngày càng là những đóng trọng yếu cho hòa bình và an ninh trong khu vực. Và tầm quan trọng của họ có khả năng phát triển trong những năm tới.
Năm ngoái, Tổng thống Obama đã nói với quốc hội Ấn Độ rằng mối quan hệ giữa Ấn Độ và Mỹ sẽ là một trong những quan hệ đối tác của thế kỷ 21, bắt nguồn từ những giá trị và quyền lợi chung. Hiện vẫn còn những trở ngại phải vượt qua và những vấn đề mà hai bên phải giải quyết, nhưng Mỹ đã đặt cược chiến lược vào tương lai của Ấn Độ – rằng vai trò lớn hơn của Ấn Độ trên trường quốc tế sẽ tăng cường hòa bình và an ninh, rằng việc mở cửa thị trường của Ấn Độ vào thế giới sẽ là mở đường cho khu vực rộng lớn hơn và toàn cầu, rằng tiến bộ khoa học và công nghệ của Ấn độ sẽ cải thiện cuộc sống và thăng tiến kiến thức của nhân loại ở khắp mọi nơi, và rằng sự sôi động của Ấn Độ, chủ nghĩa đa nguyên dân chủ sẽ tạo ra các kết quả đáng kể, cải thiện cho công dân của họ và truyền cảm hứng cho các dân tộc khác đi theo một con đường cởi mở và khoan dung tương tự. Vì vậy, chính quyền Obama đã mở rộng quan hệ đối tác song phương của chúng ta; tích cực hỗ trợ các nỗ lực Nhìn về phương Đông của Ấn Độ, bao gồm cả thông qua một đối thoại tay ba mới với Ấn Độ và Nhật Bản; vạch ra một tầm nhìn mới cho một vùng và Đông Á ổ định về chính trị và kinh tế tích hợp hơn với Ấn Độ là một vai trò chủ chốt.
Chúng ta cũng tạo dựng một mối quan hệ đối tác mới với Indonesia, nền dân chủ lớn thứ ba của thế giới, quốc gia Hồi giáo đông dân nhất thế giới, và là thành viên của khối G-20. Chúng ta đã trở lại việc phối hợp đào tạo các đơn vị lực lượng đặc biệt Indonesia và đã ký một số thỏa thuận về y tế, trao đổi giáo dục, khoa học, công nghệ, và quốc phòng. Và năm nay, theo lời mời của chính phủ Indonesia, Tổng thống Obama sẽ khai mạc sự tham gia của Mỹ tại Hội nghị Thượng đỉnh Đông Á. Tuy nhiên vẫn còn một số khoảng cách để phải đi qua – chúng ta phải làm việc với nhau để vượt qua trở ngại quan liêu, các nghi ngờ lịch sử kéo dài và một số khoảng cách trong việc tìm hiểu quan điểm và lợi ích của nhau.
Ngay cả khi tăng cường các mối quan hệ song phương này, chúng ta đã nhấn mạnh tầm quan trọng của việc hợp tác đa phương, vì chúng ta tin rằng việc giải quyết những thách thức xuyên quốc gia phức tạp của các loại mà châu Á đang đối diện, đòi hỏi đến một tập hợp các tổ chức có khả năng tập trung được hành động chung. Và một kiến trúc mạnh mẽ, gắn kết khu vực hơn ở châu Á sẽ củng cố hệ thống các quy tắc và trách nhiệm, từ việc bảo vệ sở hữu trí tuệ đến bảo đảm tự do hàng hải, hình thành cơ sở của một trật tự quốc tế có hiệu quả. Trong các thiết lập đa phương, hành vi có trách nhiệm sẽ được khen thưởng bằng tính hợp pháp và lòng tôn trọng, và chúng ta có thể làm việc với nhau để truy cứu trách nhiệm những người phá hoại hòa bình, ổn định và thịnh vượng.
Vì vậy, Mỹ đã di chuyển để tham gia trọn vẹn vào các tổ chức đa phương của khu vực, như Hiệp hội quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) và diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (APEC), chú tâm cho công việc của chúng ta với các tổ chức khu vực, bổ sung mà không thay thế của chúng ta trong quan hệ song phương. Có một nhu cầu đoì hỏi từ trong khu vực rằng Hoa Kỳ phải đóng một vai trò tích cực trong việc hình thành chương trình nghị sự của các tổ chức này – và đó cũng là vì hiệu quả và khá năng đáp ứng của các tổ chức này cũng như vì chính quyền lợi của chúng ta.
Đó là lý do tại sao Tổng thống Obama sẽ tham gia vào Hội nghị thượng đỉnh Đông Á lần đầu tiên trong tháng Mười một. Để khai lộ, Hoa Kỳ đã mở ra một Sứ mạng mới của Hoa Kỳ cho khối ASEAN ở Jakarta và đã ký một Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác với ASEAN. Tập trung của chúng ta là phát triển nên một chương trình nghị sự định hướng có kết quả hơn, từng là công cụ trong các nỗ lực giải quyết những tranh chấp ở vùng Biển Đông. Trong năm 2010, tại diễn đàn khu vực ASEAN tại Hà Nội, Hoa Kỳ đã giúp định hình thành một nỗ lực khu vực để bảo vệ truy cập tự do thông qua Biển Nam Trung Hoa và để duy trì các quy tắc quốc tế quan trọng hầu xác định các tuyên bố lãnh hải trong vùng biển của biển Nam Trung Hoa. Căn cứ vào một trọng tải giao thương của một nửa thế giới trôi qua phần biển này, đây là một cam kết có tính bắt buộc. Và trong năm vừa qua, chúng ta đã có những bước tiến trong việc bảo vệ lợi ích sống còn của mình trong sự ổn định, tự do hàng hải và mở đường cho ngoại giao đa phương, bền vững giữa các bên có khiếu kiện trong vùng biển Đông, tìm kiếm để đảm bảo các tranh chấp được giải quyết một cách hòa bình và theo các nguyên tắc của luật pháp quốc tế.
Chúng ta cũng đã làm việc để tăng cường APEC như một tổ chức quan trọng cấp lãnh đạo tập trung vào việc thúc đẩy hội nhập kinh tế và liên kết thương mại trên khắp Thái Bình Dương. Sau lời kêu gọi mạnh mẽ hồi năm ngoái của một nhóm cho tự do thương mại ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương, Tổng thống Obama sẽ chủ toạ Hội nghị các nhà lãnh đạo APEC năm 2011 ở Hawaii tháng Mười một này. Chúng ta cam kết củng cố APEC như một tổ chức kinh tế khu vực hàng đầu của khu vực châu Á-Thái Bình Dương, hình thành một chương trình nghị sự về kinh tế trong một phương cách có thể tập hợp được các nền kinh tế tiên tiến mới nổi để thúc đẩy thương mại và đầu tư, cũng như xây dựng các chế độ có năng lực và nâng cao luật lệ. APEC và các công việc của tổ chức này giúp mở rộng xuất khẩu của Mỹ, tạo ra và hỗ trợ các công ăn việc làm có chất lượng cao tại Hoa Kỳ, trong khi còn thúc đẩy được tăng trưởng trong toàn khu vực. APEC cũng là một phương tiện quan trọng để tác động một chương trình nghị sự mở rộng nhằm mở khóa được tiềm năng tăng trưởng kinh tế mà giới phụ nữ đại diện. Về vấn đề này, Hoa Kỳ cam kết làm việc với các đối tác của mình về các bước đầy tham vọng để thúc đẩy sự xuất hiện của Thời kỳ Tham Dự, một thời kỳ mà mỗi cá nhân, không phân biệt giới tính hoặc nơi chốn khác nhau, sẽ là một thành viên đóng góp có giá trị vào thị trường toàn cầu.
Bên cạnh cam kết của mình đến các tổ chức đa phương rộng lớn hơn, chúng ta đã làm việc chăm chỉ để sáng tạo và khởi động một số các cuộc họp “phụ”, là các nhóm nhỏ của các quốc gia có quan tâm giải quyết những thách thức cụ thể, chẳng hạn như nhóm Sáng kiến Cửu Long Hạ, chúng ta đưa ra để hỗ trợ giáo dục, y tế , và các chương trình về môi trường tại Campuchia, Lào, Thái Lan, và Việt Nam, và nhóm Diễn đàn các đảo Thái Bình Dương, nơi chúng tôi đang làm việc để hỗ trợ các thành viên của mình khi họ phải đối đầu với những thách thức từ biến đổi khí hậu, đánh bắt cá quá mức đến tự do hàng hải. Chúng ta cũng bắt đầu theo đuổi những cơ hội tay ba mới với các nước đa dạng như Mông Cổ, Indonesia, Nhật Bản, K
azakhstan và Hàn Quốc. Và chúng ta đang hình thành tầm nhìn của mình cũng như đang tăng cường phối hợp và tham gia giữa ba chàng khổng lồ của khu vực châu Á-Thái Bình Dương: Trung Quốc, Ấn Độ, và Hoa Kỳ.
Trong tất cả các phương cách khác nhau, chúng ta đang tìm kiếm để hình thành và tham gia vào một kiến trúc khu vực, đáp ứng linh hoạt, có hiệu quả và đảm bảo kết nối với một kiến trúc toàn cầu rộng lớn hơn không chỉ để bảo vệ sự ổn định quốc tế và thương mại mà còn để phát triển các giá trị của mình.
Sự tập trung của chúng ta vào hoạt động kinh tế của APEC là phù hợp với cam kết rộng rãi hơn của chúng ta để nâng cao nghệ thuật quản ký nhà nước về kinh tế như một trụ cột cho chính sách đối ngoại của Mỹ. Các tiến bộ kinh tế ngày càng phụ thuộc vào mối quan hệ ngoại giao chặt chẽ, và tiến bộ ngoại giao phụ thuộc vào quan hệ kinh tế mạnh mẽ. Và một cách tự nhiên, một sư tập trung vào thúc đẩy thịnh vượng Hoa Kỳ cũng có nghĩa là tập trung nhiều hơn vào thương mại và sự cởi mở kinh tế trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Khu vực này đã tạo ra hơn một nửa sản lượng và gần một nửa nền thương mại toàn cầu. Khi chúng ta phấn đấu để đạt được mục tiêu xuất khẩu gấp đôi vào năm 2015 của Tổng thống Obama, chúng ta đang tìm kiếm cơ hội kinh doanh nhiều hơn ở châu Á. Năm ngoái, xuất khẩu của Mỹ đến bờ Thái Bình Dương đạt 320 tỷ đồng, hỗ trợ 850.000 công ăn việc làm Mỹ. Vì vậy, có nhiều ủng hộ cho chúng ta khi suy nghĩ đến sự tái định vị này.
Khi nói chuyện với các đối tác châu Á của tôi, một chủ đề luôn cuất hiện: Họ vẫn muốn nước Mỹ là một đối tác tham dự và sáng tạo trong phát triển thương mại và trong các tương tác tài chính của khu vực. Và như tôi đã nói chuyện với các nhà lãnh đạo kinh doanh trên toàn quốc của chúng ta, tôi đã hiểu việc mở rộng xuất khẩu của Hoa Kỳ và cơ hội đầu tư của chúng ta quan trọng như thế nào trong thị trường năng động của châu Á.
Tháng ba vừa rồi trong các cuộc họp APEC tại Washington, và một lần nữa vào tháng Bảy ở Hồng Kông, tôi đã đưa ra bốn thuộc tính mà tôi tin rằng chúng mô tả đặc điểm của một nền kinh tế cạnh tranh lành mạnh: cởi mở, tự do, minh bạch, và công bằng. Thông qua cam kết của mình trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương, chúng ta đang giúp định dạng những nguyên tắc này và hiển thị giá trị của chúng với thế giới.
Chúng ta đang theo đuổi các thỏa thuận thương mại tiên tiến mới để nâng cao các tiêu chuẩn cạnh tranh bình đẳng ngay cả khi chúng có mở ra các thị trường mới. Ví dụ, Thoả thuận Tự do Mậu dịch Mỹ-Hàn sẽ loại bỏ hàng rào thuế quan đến 95% người tiêu dùng Mỹ, xuất khẩu công nghiệp trong thời hạn năm năm và ước tính hỗ trợ được 70.000 công ăn việc làm ở Mỹ. Riêng việc cắt giảm thuế quan có thể tăng xuất khẩu hàng hóa của Mỹ hơn 10 tỷ và giúp nền kinh tế của Nam Hàn tăng trưởng 6%. Thoả thuận này sẽ mang lại một sân chơi cho các công ty và công nhân ngành ô tô Hoa Kỳ. Vì vậy, dù bạn là một nhà sản xuất máy móc người Mỹ hay một nhà xuất khẩu hóa chất Nam Hàn, thỏa thuận này làm giảm bớt các rào cản từng ngăn cản quý bạn tiếp cận với khách hàng mới.
Chúng tôi cũng tạo tiến bộ về quan hệ đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), vốn sẽ mang các nền kinh tế từ khắp nơi trên Thái Bình Dương lại với nhau – đã phát triển và đang phát triển – thành một cộng đồng kinh doanh duy nhất. Mục tiêu của chúng ta không phải chỉ tạo tăng trưởng mà là tăng trưởng tốt hơn. Chúng ta tin rằng các hiệp định thương mại cần phải bao gồm sự bảo vệ mạnh mẽ cho người lao động, môi trường, sở hữu trí tuệ, và sự đổi mới. Chúng cũng cần phải thúc đẩy dòng chảy tự do của công nghệ thông tin và sự phát triển công nghệ xanh, cũng như sự gắn kết của hệ thống quản lý và hiệu quả của chuỗi cung ứng. Cuối cùng, tiến bộ của chúng ta sẽ được đo bằng chất lượng cuộc sống của người dân – dù là đàn ông hay phụ nữ đều có thể được làm việc với nhân phẩm được tôn trọng, hưởng được một mức lương khá, nâng cao gia đình lành mạnh, giáo dục con cái của họ và nắm được các cơ hội để cải thiện cho riêng mình và gia tài của các thế hệ tiếp theo. Chúng ta hy vọng rằng một thỏa thuận TPP với tiêu chuẩn cao có thể phục vụ như một điểm chuẩn cho các thỏa thuận trong tương lai và phát triển để phục vụ như một nền tảng cho sự tương tác khu vực rộng lớn hơn và cuối cùng là một khu vực châu Á-Thái Bình Dương tự do về thương mại.
Để đạt được sự cân bằng trong mối quan hệ thương mại của chúng tôi đòi hỏi một cam kết hai chiều. Đó là bản chất của sự cân bằng – không thể áp đặt đơn phương. Vì vậy, chúng ta đang làm việc thông qua APEC, G-20, và các mối quan hệ song phương của chúng ta để ủng hộ các thị trường cởi mở, ít hạn chế xuất khẩu, minh bạch hơn và một cam kết tổng thể đến sự công bằng. Giới doanh nghiệp và người lao động Mỹ phải có được niềm tự tin rằng họ đang hoạt động trên một sân chơi công bằng, với các quy tắc dự đoán được trên tất cả mọi thứ từ sở hữu trí tuệ đến sự sáng tạo bản địa.
Sự tăng trưởng kinh tế đáng chú ý trong thập kỷ qua và tiềm năng tiếp tục tăng trưởng của Châu Á trong tương lai phụ thuộc vào an ninh và ổn định vốn đã được bảo đảm từ lâu nay bởi quân đội Mỹ, bao gồm hơn 50.000 nam nữ quân nhân Mỹ phục vụ ở Nhật Bản và Nam Hàn. Những thách thức sự thay đổi nhanh chóng trong khu vực ngày nay – từ các tranh chấp lãnh thổ và hàng hải, mối đe dọa mới đến tự do hàng hải đến tác động dâng cao của thiên tai – đòi hỏi Hoa Kỳ phải theo đuổi một tư thế lực lượng phân bổ địa dư hợp lý hơn, hoạt động linh hoạt hơn và vững vàng về chính trị.
Chúng ta đang hiện đại hóa các thỏa thuận cơ sở của mình với các đồng minh truyền thống ở khu vực Đông Bắc Á – và cam kết của chúng ta về điều này là vững chắc – đồng thời tăng cường sự hiện diện của chúng ta trong khu vực Đông Nam Á và Ấn Độ Dương. Ví dụ, Hoa Kỳ sẽ triển khai tàu chiến duyên hải đến Singapore, và đang kiểm tra những phương cách khác để gia tăng các cơ hội cho quân đội hai nước được đào tạo và hoạt động cùng nhau. Trong năm nay, Hoa Kỳ và Australia cũng đã đồng ý để khái phá một sự hiện diện lớn hơn của quân đội Mỹ tại Úc nhằm nâng cao cơ hội cho nhiều cuộc thao tập quân sự. Chúng ta cũng đang tìm kiếm làm thế nào để có thể tăng cường khả năng tiếp cận hoạt động của mình ở vùng Đông Nam Á và khu vực Ấn Độ Dương và làm sâu sắc thêm các mối liên lạc của mình với các đồng minh và đối tác.
Làm thế nào chuyển dịch các kết nối ngày càng tăng giữa Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương thành một khái niệm hiệu quả chính là câu hỏi chúng ta cần phải giải đáp để thích ứng với những thách thức mới trong khu vực. Trong bối cảnh này, sự hiện diện phân bố quân sự rộng rãi hơn trong khu vực sẽ mang lại các lợi thế quan trọng. Hoa Kỳ sẽ ở vào một vị trí tốt hơn để hỗ trợ sứ mệnh nhân đạo, và quan trọng không kém là để làm việc với các đồng minh, đối tác để cung cấp một bức tường thành mạnh mẽ hơn, chống lại các đe dọa hoặc những nỗ lực phá hoại hòa bình và ổn định trong khu vực.
Nhưng ngay cả với một sức mạnh quân sự mạnh mẽ hơn hoặc một kích thước kinh tế của chúng ta, tài sản mạnh nhất của chúng ta như một quốc gia chính là sức mạnh các giá trị của mình – đặc biệt, là các hỗ trợ kiên định của chúng ta cho dân chủ và nhân quyền. Điều này nói lên bản sắc dân tộc sâu sắc nhất và là trọng tâm cho chính sách đối ngoại của chúng ta, bao gồm cả bước xoay chuyển chiến lược của mình đến khu vực châu Á-Thái Bình Dương.
Khi làm sâu sắc thêm sự tham dự của mình với các đối tác mà chúng ta không đồng ý về những vấn đề này, chúng ta sẽ tiếp tục thúc đẩy để nắm lấy những cải cách nhằm cải thiện chính phủ, bảo vệ nhân quyền và thúc đẩy quyền tự do chính trị. Ví dụ như, chúng ta đã hành động rõ ràng với phía Việt Nam, rằng tham vọng phát triển một mối quan hệ đối tác chiến lược của chúng ta đòi hỏi Việt Nam phải thực hiện các biện pháp bảo vệ nhân quyền và thúc đẩy tự do chính trị. Hoặc hãy xem trường hợp Miến Điện, nơi chúng ta đã cương quyết truy tìm các trách nhiệm về sự vi phạm nhân quyền. Chúng ta đang theo dõi sát sự phát triển ở Nay Pyi Taw và mối tương tác ngày càng tăng giữa bà Aung San Suu Kyi với giới lãnh đạo chính phủ. Chúng tôi đã nhấn mạnh rằng chính phủ này phải thả tự do cho các tù nhân chính trị, thúc đẩy tự do chính trị và nhân quyền, và phá vỡ các chính sách của quá khứ. Như đối với Bắc Triều Tiên, chế độ ở Bình Nhưỡng đã liên tục làm ngơ các quyền của người dân, và chúng ta tiếp tục lên tiếng mạnh mẽ nhằm chống lại các mối đe dọa đặt ra đối với khu vực và xa hơn nữa.
Chúng ta không thể và không hề mong muốn áp đặt hệ thống của mình lên các nước khác, nhưng chúng ta tin tưởng rằng một số giá trị là phổ quát mà mọi người ở mọi quốc gia trên thế giới, bao gồm cả ở châu Á, trân quý các giá trị ấy – và chúng ta tin rằng chính họ mới là yếu tố nội tại để ổn định, hòa bình, và thịnh vượng cho quốc gia mình. Cuối cùng, chính những người của châu Á phải theo đuổi quyền lợi và nguyện vọng của họ, như chúng ta đã nhìn thấy mọi dân tộc khác trên toàn thế giới từng hành động như thế.
Trong thập kỷ vừa qua, chính sách đối ngoại của chúng ta đã chuyển từ việc giải quyết những phần lời hòa bình từ Chiến tranh Lạnh đến đòi hỏi cam kết tại Iraq và Afghanistan. Khi các cuộc chiến tranh ấy dịu xuống, chúng ta sẽ cần phải thúc đẩy các nỗ lực để xoay chuyển các thực tế toàn cầu mới.
Chúng ta biết rằng những thực tế mới này đòi hỏi mình phải đổi mới, cạnh tranh và lãnh đạo theo những phương cách mới. Thay vì thối lui khỏi thế giới, chúng ta cần phải đi tới và đổi mới sự lãnh đạo của mìnhi. Trong một thời đại của sự khan hiếm tài nguyên thiên nhiên, không nghi ngờ gì là chúng ta cần phải đầu tư một cách khôn ngoan để mang lại lợi nhuận lớn nhất, đó là lý do tại sao khu vực châu Á-Thái Bình Dương đang đại diện cho một cơ hội thực sự của thế kỷ 21 cho chúng ta.
Tất nhiên là các khu vực khác vẫn còn cực kỳ quan trọng. Châu Âu, nơi ăn chốn ở của hầu hết các đồng minh truyền thống của chúng ta, vẫn là một đối tác nương tựa đầu tiên, làm việc cùng với Hoa Kỳ trong gần như mọi thách thức cáp bách của toàn cầu, và chúng ta đang đầu tư vào việc cập nhật các cấu trúc của liên minh chúng ta. Người dân Trung Đông và Bắc Phi đang phác lên những con đường mới đã có hậu quả sâu sắc trên toàn cầu, và Hoa Kỳ cam kết các quan hệ đối tác tích cực và bền vững với các biến đổi trong khu vực. Châu Phi nắm giữ tiềm năng rất lớn chưa được khai thác cho phát triển kinh tế và chính trị trong những năm tới. Và hàng xóm của chúng ta ởphía Tây bán cầu không chỉ là đối tác xuất khẩu lớn nhất, mà họ còn đóng một vai trò ngày càng tăng trong các vấn đề chính trị và kinh tế toàn cầu. Mỗi khu vực này đều đòi hỏi đến tham dự và lãnh đạo của Hoa Kỳ.
Và chúng ta đang chuẩn bị để lãnh đạo. Bây giờ, tôi nhận thức rõ rằng có những người đặt nghi vấn về sức mạnh của chúng ta trên khắp thế giới. Chúng ta đã nghe về chuyện này trước đây. Vào cuối cuộc chiến tranh Việt Nam, có một kỹ nghệ của những lời bình luận trên toàn cầu muốn thúc đẩy ý tưởng rằng nước Mỹ đang suy thoái, và đó là một chủ đề tự lặp đi lặp lại qua mỗi vài thập kỷ. Nhưng bất cứ khi nào Hoa Kỳ chứng nghiệm sự thoái trào, chúng ta đã vượt thắng thông qua sự tái tạo và đổi mới. Khả năng trở lại mạnh mẽ hơn của chúng ta là chưa từng có trong lịch sử hiện đại. Khả năng đó tuôn chảy từ chính mô hình của chúng ta về dân chủ tự do và tự do doanh nghiệp, một mô hình vẫn là cội nguồn mạnh mẽ nhất cho sự thịnh vượng và tiến bộ mà nhân loại từng biết đến. Tôi đã nghe thấy ở khắp mọi nơi mình đi qua rằng thế giới vẫn còn trông mong Hoa Kỳ lãnh đạo. Quân sự của chúng ta là mạnh nhất, và nền kinh tế của chúng ta cho đến nay là lớn nhất thế giới. Công nhân của chúng ta hiệu quả nhất. Các trường đại học của chúng ta nổi tiếng trên toàn thế giới. Như vậy, không nên nghi ngờ việc nước Mỹ sẽ có khả năng bảo đảm và duy trì lãnh đạo toàn cầu của chúng ta trong thế kỷ này như chúng ta đã từng như thế trong thế kỷ qua.
Khi chúng ta tiến về phía trước để hình thành sân diễn cho việc tham gia vào khu vực châu Á-Thái Bình Dương trong 60 năm tới, chúng ta thấu hiểu được di sản lưỡng đảng đã định hình sự tham dự của mình trong 60 năm qua. Và chúng tôi đang tập trung vào các bước phải thực hiện ở trong nước – gia tăng tiết kiệm, cải cách hệ thống tài chính, ít lệ thuộc vào vay mượn, khắc phục chia rẽ đảng phái để bảo đảm và duy trì sự lãnh đạo của chúng ta ở nước ngoài.
Loại trục chuyển này là không dễ dàng, nhưng chúng ta đã mở đường cho trục chuyển này từ hai năm rưỡi vừa qua, và chúng ta chủ tâm nhìn sự việc này như một trong các nỗ lực ngoại giao quan trọng nhất của thời đại chúng ta.

Hillary Clinton
Nguồn: Foreign Policy
Theo: danluan

_________________


BIỂN ĐÔNG KHÔNG PHẢI LÀ BIỂN ĐEN
James Holmes, Trúc An dịch từ The Diplomat, basamnews

Quan điểm cho rằng Mỹ nên bỏ mặc Đông Nam Á cho Trung Quốc là đặt không đúng chỗ. Châu Á không phải là một Georgia khác, theo James Holmes.

Vài tháng trước, trên tạp chí Foreign Policy, một đồng nghiệp của tôi là Giáo sư Lyle Goldstein đã so sánh Biển Đông (nguyên văn: Biển Hoa Nam) ngày nay với cuộc chiến Nga – Georgia năm 2008. Tóm lại, ông ấy vẫn giữ quan điểm, rằng Mỹ thật dại dột khi đặt cược uy tín vào một đồng minh chiến lược cấp ba xa xôi và yếu kém, nằm cạnh bên một đất nước hùng mạnh hơn nhiều lần vốn đang thèm khát lãnh thổ và sự phụ thuộc chính trị. Chính quyền Bush đã dồn dập dành cho Tbilisi “sự quan tâm cấp cao và các cố vấn quân sự“, để rồi chỉ thốt ra mỗi tiếng ‘rên rỉ’ khi Moscow ra lệnh cho các lực lượng thiết giáp đè bẹp quân đội Georgia và xâm chiếm phần lớn đất nước láng giềng này. Uy tín của Mỹ đã bị tổn hại nặng nề khi nước này không thể đảo ngược kết quả. Đứng về phía Georgia rõ ràng là một sự thất bại trong việc liều lĩnh chính sách ngoại giao.
Ông Lyle đã vẽ ra một bức tranh u ám. Nếu các nhà lãnh đạo Mỹ chú ý đến lời khuyên của ông, họ sẽ từ bỏ gần như tất cả các cam kết ở Đông Nam Á, nơi mà ông mô tả là một khu vực có tầm quan trọng không đáng kể, cạnh bên một nước Trung Quốc ngày càng hùng mạnh. Ông cho rằng “Đông Nam Á chẳng có chút ý nghĩa nào trong sự cân bằng quyền lực toàn cầu“. Nếu không thì Washington có nguy cơ phải chịu thất bại ngoại giao mới mà không đạt được lợi ích nào có thể hiểu được.
Cũng như chính quyền Bush không có “ham muốn gì khi đánh liều một cuộc xung đột lớn hơn với Moscow về một đất nước thuộc lợi ích chiến lược bên rìa“, chính quyền Obama sẽ không – quả thực là phải không – ràng buộc cơ đồ của mình với các nước Đông Nam Á kém cỏi. Điều này dẫn tới một lời cảnh báo chống lại sự ủng hộ các nước bạn bè nhưng “không quan trọng” vốn đang đấu tranh ở thế bất lợi. Mỹ nên từ bỏ những nỗ lực hão huyền nhằm đảo chiều những sự việc có thật. Tốt hơn là nên giũ bỏ những vướng víu không cần thiết trong khi hợp tác với Bắc Kinh để chống cướp biển và khủng bố trong khu vực, với hy vọng xây dựng một mối quan hệ tin cậy trên biển.
Nếu đây là một lời khẩn nài thẳng thắn để Washington để tránh bị vướng vào những tranh chấp lãnh hải phức tạp đang gây bất ổn chính trị khu vực, tôi sẽ ủng hộ ngay lập tức. Như người phương Nam chúng ta thường nói, Mỹ không có “lợi ích trong vấn đề” ai sẽ kiểm soát đảo, san hô hay đảo đá nào, miễn là cường quốc kiểm soát chúng tôn trọng tự do hàng hải theo đúng luật pháp thông thường và thỏa thuận.
Do vậy, một điểm bàn thảo chuẩn giữa các quan chức Mỹ là các lợi ích duy nhất của nước này trong cuộc tranh cãi là giữ gìn tự do hàng hải qua các vùng biển khu vực và chứng kiến những bất đồng về lãnh thổ được giải quyết mà không phải viện đến vũ lực.
Nhưng vẫn chưa rõ liệu Trung Quốc có tôn trọng luật biển hoặc kiềm chế sử dụng vũ lực. Nước này liên tục tuyên bố “chủ quyền không thể chối cãi” ở các vùng biển và không phận quốc tế nằm trong những đường nào đó trên bản đồ Biển Đông. Nước này cũng nỗ lực ngăn chặn những hoạt động như máy bay, giám sát quân sự, và khảo sát quân sự trong phạm vi các vùng chọn lọc của “dân chúng” toàn cầu, nhiều như các quốc gia ven biển có thể làm trong “các vùng lãnh hải” của họ. Vùng lãnh hải này là một eo biển 12 dặm ngay ngoài khơi, nơi mà chính phủ quốc gia ven biển thực hiện quyền thực thi pháp lý đầy đủ. Các quốc gia ven biển không có quyền thống lĩnh các vùng biển xa hơn, ngay cả khi luật pháp quốc tế cho họ quyền thực thi pháp lý riêng đối với những nguồn tài nguyên tự nhiên thuộc cột nước và đáy biển cách bờ 200 dặm (xa hơn nếu địa hình dước nước đảm bảo). Washington hoàn toàn đúng khi chống lại sự xâm lấn lén lút của Trung Quốc dựa trên quyền của các nước đi biển.
Sự tương đồng Biển Đen không làm thay đổi điều này, chủ yếu bởi vì các động lực ở đó khá khác biệt so với những gì phổ biến ở Biển Đông ngày nay. Theo quan điểm của tôi, một tình huống phải vượt qua ba cuộc kiểm tra về sự tương đồng Nga – Georgia thì mới phù hợp. Thứ nhất, nó phải đưa một sức mạnh quân sự lớn đấu với một sức mạnh quân sự nhỏ thuộc lợi ích ngoại biên của Mỹ. Thứ hai, sự bất đối xứng trong sức mạnh quân sự phải tới mức mà bên mạnh hơn có thể thực hiện một việc đã rồi, chế ngự đối thủ yếu hơn trước khi Mỹ và cộng đồng quốc tế có thể tập trung quyết tâm và vũ lực để can thiệp. Và thứ ba, khoảng cách từ các lực lượng Mỹ tới nơi xảy ra xung đột phải xa tới mức Washington không thể triển khai lực lượng kịp thời để tạo ra một sự khác biệt. Quân đội Mỹ sẽ thiếu các căn cứ ở phía trước để sắp xếp và duy trì các tài sản ở gần chiến trường. Thật may, Biển Đông không đáp ứng được bất kỳ một cuộc kiểm tra nào một cách đặc biệt tốt.
Trước tiên, tính về độ chênh lệch sức mạnh giữa Trung Quốc và các nước láng giềng nhỏ hơn. Đúng là Trung Quốc áp đảo bất kỳ quốc gia Đông nam Á nào trong một cuộc cạnh tranh một chọi một. Chẳng hạn, Chính phủ Philippines đã cam kết tăng gấp đôi ngân sách quốc phòng của nước này – lên tới 2,5 tỷ USD tổng thể. Quân đội Mỹ sẽ tiêu tốn cỡ đó vào con tàu khu trục hạng Arleigh Burke tiếp theo của mình. Trái ngược hẳn, Trung Quốc đã dành 91,5 tỷ USD trong năm nay, theo các con số chính thức và có thể đã bị giảm bớt. Con số đó nhiều gấp 36 lần ngân sách của Philippines. Một điểm dữ liệu khác: Lực lượng Bảo vệ Bờ biển Mỹ gần đây đã chuyển con tàu tuần tra hạng Hamilton thời 1967 cho phía Philippines. Con tàu này đã trở hành niềm tự hào của Hải quân Philippines, thay thế một tàu khu trục hộ tống được chế tạo cho Hải quân Mỹ thời Đệ nhị Thế chiến. Điều này cho thấy rõ ràng sự yếu kém trên biển của Manila. Các nhà lãnh đạo Philippines đã phải viện đến hiệp ước quốc phòng chung Mỹ – Phil với hy vọng dụ dỗ Washington ủng hộ các tuyên bố lãnh hải của họ. Họ cần sự giúp đỡ.
Lực lượng vũ trang Philippines thì đơn giản là không thể đọ với những hạm đội mà các cơ quan thi hành luật biển của Trung Quốc triển khai – chứ đừng nói đến những hạm đội viễn dương mà Hải quân Quân đội Giải phóng Nhân dân đang chế tạo tại các xưởng đóng tàu Trung Quốc. Giáo sư Goldstein đã đề cập đến phần nhiều thực tế là Bắc Kinh dựa vào “các tàu tuần tra không vũ trang” do các cơ quan phi quân sự triển khai “để thực thi các tuyên bố chủ quyền của nước này ở Biển Đông”. Đây “rõ ràng là một dấu hiệu” rằng Trung Quốc “không muốn leo thang thành xung đột vũ trang”. Tất nhiên, Bắc Kinh không muốn leo thang các tranh chấp lãnh thổ thành xung đột quân sự. Những gì một chính phủ ôn hòa muốn là phát triển mà không có chiến tranh, hoàn thành các mục tiêu đã đề ra mà không gặp phải những hậu quả ngoài ý muốn kèm theo chiến tranh. Bằng cách triển khai các tàu để bảo vệ các tuyên bố của mình, Bắc Kinh ra hiệu một thực tế là nước này chỉ đang kiểm soát các vùng biển thuộc chủ quyền của mình. Nước này gắn các tuyên bố với tính hợp pháp. Nhưng nếu các nước Đông nam Á kiên quyết cự tuyệt, bạn có thể thấy Trung Quốc sẽ cử các tàu của Hải quân PLA tới thực thi ý muốn của mình. Như cựu Thủ tướng Singapore Lee Kwan Yew dự đoán, “đằng sau những con tàu tuần tra nhỏ này sẽ là một hải quân viễn dương” nếu các cơ quan thi hành luật của Trung Quốc không đảm đương được nhiệm vụ.
Điểm rộng hơn là Đông Nam Á giữ vai trò còn quan trọng hơn cả lợi ích cận biên đối với Mỹ. Sự tương phản này hầu như không lộ rõ hơn giữa Biển Đông nằm ở vị trí chiến lược với Biển Đen hẻo lánh. Biển Đen có thể đúng là một vùng biển chết đối với chính sách của Mỹ. Điều này dường như nằm ngoài suy nghĩ của Goldstein, người cho rằng tự do hàng hải “đã trở thành một trụ cột chính trong chính sách của Mỹ tại khu vực” và rằng điểm được cho là mấu chốt này “trên thực tế khá là vô lý”. Nhưng tự do của các vùng biển này không phải là một khái niệm mới lạ nào đó. Nó đã là một trụ cột của chính sách ngoại giao Mỹ trong nhiều thập niên qua. Trang web của Bộ Ngoại giao Mỹ đã chỉ ra một cách hữu ích rằng Chương trình Tự do Hàng hải có từ thời Carter hồi cuối những năm 1970. Kể từ đó, các chính quyền kế tiếp nhau thuộc cả hai đảng chính trị đều từ chối “đồng ý với những hành động đơn phương của các nước khác nhằm hạn chế các quyền và sự tự do của cộng đồng quốc tế về hàng hải, việc bay trên các vùng trời và việc sử dụng các vùng biển khơi có liên quan khác”.
Ngăn cản các quốc gia ven biển khỏi việc vây chiếm các phần của chung toàn cầu, gây hại cho tự do trên biển, chẳng thể là vô lý. Chương trình Tự do Hàng hải “hoạt động trên một một lộ trình bộ tam, bao gồm không chỉ những thể hiện về ngoại giao và sự quyết đoán về hành động của các đơn vị quân đội Mỹ mà còn cả những tham vấn đa phương và song phương với các chính phủ khác trong một nỗ lực nhằm thúc đẩy sự ổn định hàng hải và tuân thủ luật pháp quốc tế. Bộ máy quân sự và ngoại giao Mỹ thường phản đối các tuyên bố quá thể, luôn có một cách để củng cố luật pháp quốc tế theo thời gian nếu không có đối thủ. Bộ Ngoại giao đã nhiều lần đưa ra phản đối với các chính phủ vi phạm. Các đơn vị Hải quân Mỹ đã chủ ý vượt qua những giới tuyến được vẽ sai trên bản đồ, phát đi một thông điệp rằng Washington phản đối những giới tuyến đó.
Nếu tự do hàng hải gần đây mới trở thành một vấn đề nóng bỏng ở Biển Đông thì đó là bởi vì những xác nhận của Trung Quốc về “chủ quyền không thể chối cãi” đối với gần như toàn bộ vùng biển này là một điều khá mới mẻ. Chỉ trong năm 2009, Trung Quốc đã gửi một bản đồ lên Liên Hợp Quốc mô tả các tuyên bố chủ quyền trên biển của họ. “Đường 9 đoạn” được vạch ra trên bản đồ bao gần như trọn Biển Đông. Trong năm 2010, các quan chức Trung Quốc hiển nhiên gọi vùng biển đó là một “lợi ích quốc gia cốt lõi” – một lợi ích mà Trung Quốc sẵn sàng sử dụng vũ lực để giữ gìn. Ngoại trưởng Hillary Clinton đã nhanh chóng phản ứng rằng Washington có một “lợi ích quốc gia” về tự do hàng hải qua các vùng biển trong khu vực. Nhưng bà Clinton chỉ nhắc lại các mục tiêu chính sách của Mỹ đã được định rõ từ hàng chục năm trước.
Thật khó để mà phóng đại tầm quan trọng của Biển Đông đối với chiến lược hàng hải của Mỹ. Chiến lược Phối hợp Hải lực Thế kỷ 21 năm 2007, thông điệp quyền lực nhất của các cơ quan hàng hải Mỹ về cách thức họ nhìn nhận môi trường chiến lược và dự định hưởng ứng điều đó, chỉ rõ khu vực Tây Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương (trong đó có Vịnh Ba Tư) là những sân khấu trung tâm để sử dụng sức mạnh cứng của Hải quân Mỹ.
Biển Đông nằm giữa đường nối giữa hai sân khấu này. Nó là một cửa ngõ không chỉ cho tàu buôn mà còn cả cho các hải quân, tạo thuận lợi về diễn tập chiến lược của các lực lượng Mỹ. Quân đội Mỹ được triển khai chủ yếu dọc các rìa phía đông và phía tây của lục địa Á Âu, ở Bahrain, Nhật Bản và Guam. Các lực lượng vượt biển phải “di chuyển nhịp nhàng” giữa hai đại dương, tập trung đương đầu với các sự kiện bất ngờ nảy sinh ở một hoặc hai nơi này. Nếu bị chặn một lối đi qua Biển Đông, quân Mỹ sẽ buộc phải đi vòng xuống phía nam, quanh các quần đảo Indonesia và Philippines. Sự lanh lẹ của cường quốc hải quân Mỹ ở sân khấu lớn “Indo – Thái Bình Dương” sẽ phải chịu cảnh tương tự, làm giảm tính hiệu quả chiến lược của Mỹ.
Thứ hai, vẫn có một câu hỏi để mở rằng liệu Bắc Kinh có phô sức mạnh để làm mất tinh thần các nước láng giềng nhanh tới mức đặt Mỹ vào một sự việc đã rồi. Goldstein dường như có quan điểm nước đôi về sức mạnh hải quân Trung Quốc. Một mặt, ông mô tả Hải quân PLA là yếu đuối tới mức nước này phải tái bố trí các tàu ngầm cùng cùng nhiều tài sản khác tới Biển Đông nhằm tránh các lực lượng Mỹ – Nhật đóng quân ở phía bắc. Mặt khác, ông ngụ ý rằng Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Quốc gần như vô địch. Một Trung Quốc với quân đội như vậy có thể thắng thế ở Đông Nam Á trước khi người ngoài có thể can thiệp. Thế là sao? Điều chắc chắn đúng là các khả năng “chống tiếp cận” mà PLA đang xây dựng sẽ tỏ ra khó chịu cho bất cứ đối thủ nào của Trung Quốc. Các tư lệnh PLA có thể đổi hướng các vũ khí như các tên lửa chống tàu phóng từ ven bờ về phía hải quân các nước Đông Nam Á trong khi ngăn chặn các nỗ lực can thiệp vào khu vực của Mỹ, Ấn Độ và các cường quốc bên ngoài khác. Số lượng các lựa chọn của Bắc Kinh tăng lên nhiều lần khi sức mạnh quân sự Trung Quốc lớn mạnh.
Nhưng cùng lúc đó, sự tăng cường lực lượng của hải quân và quân đội Trung Quốc vẫn còn là một việc đang được tiến hành, trong khi Bắc Kinh phải đối mặt với rất nhiều thách thức to lớn dọc bờ biển châu Á. Từ bắc tới nam, Trung Quốc phải xoay xở với bế tắc hạt nhân Bắc Triều Tiên, với việc Mỹ tiếp tục đẩy mạnh sự hiện diện ở Nhật Bản, các tranh chấp lãnh thổ với Nhật Bản ở Biển Đông Trung Quốc, nền độc lập thực tế của Đài Loan, mớ bòng bong Biển Đông, các đe dọa nhằm vào tàu thuyền trên Eo biển Malacca, và các lợi ích ngày càng lớn ở Ấn Độ Dương. Không một vị tư lệnh khôn ngoan nào lại phân tán lực lượng dù muốn hay không. Nếu PLA cố gắng làm tất cả mọi thứ, ở khắp mọi nơi, họ có thể phải kết thúc mà chỗ nào cũng chỉ làm được rất ít. Các lực lượng vũ trang của Trung Quốc chỉ có thể thống trị được Biển Đông nếu các tư lệnh sẵn sàng tập trung mọi tài sản của họ tới đó. Nhưng họ làm thế với một rủi ro rất lớn đối với các lợi ích của Trung Quốc ở những nơi khác thuộc “các vùng biển gần”. Đối mặt với rất ít thách thức ở Biển Đen, Nga đã có sự tập trung cao độ chống Georgia, một sức mạnh trên bộ nằm ngay bên cạnh mà họ có thể đè bẹp trước khi người ngoài kịp can thiệp. Bối cảnh chiến lược này sẽ không cho phép Trung Quốc có được sự xa xỉ đó.
Và thứ ba, các lực lượng Mỹ vẫn tiếp tục bám trụ ở Đông Bắc Á, giúp họ tác động đến các sự kiện một cách dễ dàng hơn so với Biển Đen. Như Goldstein đã chỉ ra, thực hiện một hành trình cứu viện tới Georgia sẽ đặt hậu cần Mỹ trước những yêu cầu khắc nghiệt nếu không muốn nói là không thể thực hiện được. Cũng chính xác là các thành trì của Mỹ ở Nhật Bản nằm trong tầm bắn của hàng trăm tên lửa đạn đạo Trung Quốc và các chiến đấu cơ chiến lược. Sức chống đỡ thời chiến của các căn cứ này ngày càng đáng nghi. Thế nhưng, các biện pháp trả đũa luôn có sẵn. Chẳng hạn, các đồng minh đang lắp đặt các hệ thống phòng thủ tên lửa đạn đạo trên các tàu chiến Aegis. Chúng có thể tăng cường sức mạnh cho các căn cứ quân sự bằng những cách đơn giản (dù đắt tiền) chẳng hạn như xây dựng các nhà chứa kiên cố cho máy bay và tàu thuyền. Nói tóm lại, các chính khách và tư lệnh hải quân Mỹ có trong tay nhiều lựa chọn hơn so với Trung Quốc ngày nay hơn là với Nga năm 2008.
Tóm lại, sự tương đồng Nga – Georgia có nghĩa như một sự chỉ dẫn cho chính sách của Mỹ về Biển Đông. Goldstein đúng ở chỗ Mỹ không có lợi ích rõ ràng trong những tranh chấp lãnh hải và không nên để bị lôi kéo vào. Nhưng Washington cũng không thể cho phép Bắc Kinh thiết lập quy tắc rằng các nước lớn có thể sửa đổi hay hủy bỏ luật pháp quốc tế bằng cách tán thành. Tự do hàng hải không phải của người Trung Quốc để nước này ban ra hay giữ lại. Nếu nó tách rời khỏi khu vực, để mặc cho Trung Quốc đi đường của họ, Mỹ sẽ có nguy cơ hóa ra mặc nhận trong một tiền lệ nguy hiểm. Nước này có thể để mất quyền tự do thao diễn chiến lược cùng với vị thế là một nước bảo đảm các lợi ích chung toàn cầu.
Goldstein kết luận bài viết của ông bằng cách viện dẫn học thuyết “Cây gậy lớn” của Theodore Roosevelt, kêu gọi chính quyền Obama “dịu giọng” qua “ngoại giao mềm dẻo, thiết thực và kín đáo” ở Đông Nam Á. Đúng là như vậy, “Theodore Roosevelt” là một người tin tưởng nhiệt thành với chính sách ngoại giao đằng sau hậu trường. Nhưng đối với ông ấy, vung cây gậy lớn có nghĩa là khéo xử sự trong khi chẳng nhường gì cả về mặt nguyên tắc. Điều này cũng có nghĩa là ủng hộ chính sách ngoại giao Mỹ bằng nhiều nguồn dự phòng về sức mạnh quân sự, chứng kiến hải trình của “Great White Fleet” (*) năm 1907-1909, một hành động đã được thiết kế để ngăn không cho Đế quốc Nhật tạo ra một khu vực mà họ muốn kiểm soát trên biển ở Tây Thái Bình Dương. Tự do ở các vùng biển là nguyên tắc không thể thương lượng đối với Roosevelt, và điều đó phải được tiếp tục cho đến ngày nay. Cây gậy lớn của ông là một kim chỉ nam tuyệt vời đối với chính sách ngoại giao Mỹ, chứ không phải theo cách mà Goldstein muốn khuyên chính phủ làm theo. !

Tác giả: ông James Holmes là phụ tá giáo sư chiến lược ở Trường Cao đẳng Hải chiến Hoa Kỳ. Bài viết này thể hiện quan điểm của riêng tác giả.

___
(*) Ghi chú của BTV: “Great White Fleet” là tên của hạm đội chiến đấu Hải quân Hoa Kỳ dưới thời Tổng thống Theodore Roosevelt, do những chiếc tàu chiến này được sơn màu trắng nên có tên “White Fleet”. Những con tàu này có mặt khắp nơi trên thế giới, thường là những chuyến viếng thăm, thể hiện thiện chí của Mỹ, nhưng đôi khi những chiếc tàu này còn hộ tống các viên chức ngoại giao Mỹ, khi đến nói chuyện với những nước “cứng cổ”, có tham vọng bành trướng trên biển. Trên bờ, các viên chức ngoại giao thể hiện thiện chí của Mỹ (củ cà rốt), nhưng ở dưới biển là những chiếc tàu chiến của “Great White Fleet” đang đậu, với ngụ ý rằng, nếu “cứng cổ” thì sẽ bị ăn gậy
Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2011
Nguồn : tiengnoidanchu

1 Phản hồi »

  1. thiet nghi: Trung Quoc tu xua van chua tu bo y tuong xam chiem nuoc ta. Vi the day la luc de chung no thuc hien y do nay. Tuc la no se chiem vung bien dao truoc de lam ban dap thon tinh nuoc ta.

    Phản hồi bởi 9 — 20/04/2012 @ 3:40 chiều | Trả lời


RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Tạo một website miễn phí hoặc 1 blog với WordPress.com.