Hoàngquang’s Blog

01/10/2011

Chuyện hiến pháp (I.II&III)

Trần Minh Khôi

& Phan Thành Đạt Hiến pháp và sửa đổi Hiến pháp(1,2&3)
Nguyễn Huy Canh (Đảng viên) Thảo luận: Quyền lực chính trị và Hiến pháp
Nguyễn Hưng Quốc Nhà nước pháp quyền Đặng Minh Tuấn – Tiêu chí đánh giá một hiến pháp thành công
RFI So sánh hai chế độ độc đoán của Việt Nam và Trung Quốc Hãy dành thời gian VẤN ĐỀ BIÊN GIỚI GIỮA VIỆT NAM VÀ TRUNG QUỐC TRONG SÁCH TRẮNG CÔNG BỐ NĂM 1979

***
Trần Minh Khôi – Chuyện hiến pháp (I)
Theo blog Trần Minh Khôi

Vai trò của hiến pháp trong một hệ thống chính trị là gì?

Để trả lời câu hỏi này người ta buộc, trước hết, phải trả lời câu hỏi “hiến pháp là gì?”.
Theo nhà lý thuyết chính trị Giovanni Sartori, trong tiểu luận “Constitutionalism: A Preliminary Discussion”, thì cả hai câu hỏi đều không có câu trả lời duy nhất. Hiến pháp và vai trò của nó trong hệ thống chính trị là chuyện của từng quốc gia. Cũng trong tiểu luận này, Sartori đưa ra khái niệm “hiến pháp trang trí” khi khảo sát hiến pháp ở các quốc gia toàn trị. Theo ông, có ba loại hiến pháp: 1) hiến pháp bảo đảm quyền (garantiste constitutions), 2) hiến pháp hư danh (nomimal constitutions), và 3) hiến pháp trang trí (façade constitutions*).
Loại hiến pháp thứ nhất, thường thấy ở các quốc gia dân chủ tự do, bao gồm các điều khoản quy định các quyền tự do của công dân và vai trò giới hạn của nhà nước. Nó là một bản khế ước giữa quốc gia và nhà nước. Nó quy định điều gì nhà nước có thể làm và điều gì nhà nước không thể làm, đồng thời liệt kê các quyền tự do mà nhà nước phải bảo đảm cho công dân. Loại hiến pháp này đóng vai trò của một văn bản pháp quy tối cao của quốc gia.
Loại thứ hai chỉ nhằm mô tả một cơ chế nhà nước dựa trên quyền lực chính trị đang tồn tại, mục tiêu là để chính thức hóa quyền lợi của nhóm người đang cầm quyền. Nó bao gồm những điều khoản về cơ cấu quyền lực nhà nước nhưng không bao gồm những điều khoản giới hạn quyền lực này. Quyền lực nhà nước, và qua đó quyền lực của nhóm cầm quyền, là vô tận. Hiến pháp hư danh cũng không có ý làm dáng muốn trở thành một hiến pháp thực sự: nó không mô tả các quyền tự do không được thực hiện. Trong một hệ thống chính trị, nó đóng vai trò của một công cụ biện minh cho hành xử độc tài của nhóm cầm quyền.
Loại thứ ba, hiến pháp trang trí, là chỉ dùng để trang trí cho hệ thống chính trị. Nó có đầy đủ các điều khoản về quyền và cơ chế nhà nước nhưng các quyền và cơ chế này không được hiện thực hóa. Người nắm quyền lực chính trị theo hiến pháp và người thực sự nắm quyền luôn là hai người khác nhau. Nó là hiến pháp giả tạo. Loại hiến pháp này là phát minh của các quốc gia cộng sản, bắt đầu ở Nga từ thời Stalin. Nó không có vai trò gì quan trọng trong hệ thống chính trị ngoài vai trò của một công cụ lừa gạt trong các mối quan hệ quốc tế và đối với công dân của nó (**).
Nay trở lại với vấn đề thay đổi hiến pháp (đang ồn ào, sẽ tốn rất nhiều công của, và sẽ làm nhiều người thất vọng) ở Việt Nam. Ba vấn đề:
1. Hiếp pháp Việt Nam thuộc loại nào?
2. Tại sao phải thay đổi hiến pháp trong lúc này?
3. Thay đổi cái gì?
Định nghĩa:
Đảng: là một nhóm, trên dưới 200 người, đang ở các vị trí lãnh đạo cao cấp của Đảng Cộng sản Việt Nam, thực sự có quyền lực. Trong số này, một nhóm nhỏ trên dưới 20 người nắm gần như toàn bộ quyền lực trong quân đội, an ninh, và kinh tế. Tuyệt đại đa số đảng viên của Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ là công chức nhà nước thuần túy. Đảng trong bài này là để chỉ một nhóm nhỏ, ràng buộc với nhau bởi quyền lợi, trong Đảng Cộng sản Việt Nam.
Đảng thay đổi hiến pháp năm 1992, ngay sau khi thế giới cộng sản sụp đổ. Cố gắng củng cố quyền lực, vào thời điểm đó, đi đôi với cố gắng chính đáng hóa quyền lực của Đảng bằng hiến pháp. Hay nói cách khác, hiến pháp trang trí, đã trở nên quá lộ liễu và chứa đầy nguy cơ, phải ra đi. Công cuộc xây dựng một hiến pháp hư danh bắt đầu. Điều 4 xuất hiện, khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng bằng hiến pháp. Hậu quả trực tiếp của lựa chọn này là quyền lực trước đây thuộc về Tổng Bí thư, người lãnh đạo Đảng, nay chuyển sang cho Thủ tướng, người lãnh đạo nhà nước. Tuy nhiên, trong hai thập niên vừa qua, Đảng đã không làm gì thêm để thực sự luật pháp hóa quyền lực của Đảng trong thực tế. Hiến pháp 1992, do đó, vẫn là một cố gắng nửa vời. Ban Chấp hành Trung ương đóng vai trò của một quốc hội. Cơ cấu tổ chức của Đảng Cộng sản Việt Nam tồn tại song song và tiếm quyền cơ cấu tổ chức nhà nước. Những cơ cấu này không có trong hiến pháp. Dó đó, các cơ cấu quyền lực của Đảng trên các cơ cấu quyền lực nhà nước là vi hiến. Ngoài vai trò thủ tướng chính phủ, Hiến pháp 1992 không phản ảnh đúng quyền lực thực sự của các cơ cấu nhà nước.
Bên cạnh đó, Hiến pháp 1992 vẫn chứa đựng đầy đũ các quyền tự do không bao giờ được hiện thực hóa, dù chỉ là từng phần. Các quyền này tồn tại để đóng vai trò trang trí như ở các hiến pháp trước. Tóm lại, Hiến pháp 1992 vẫn thuộc loại hiến pháp trang trí, mặc dù nó đã đặt những nền tảng cần thiết cho sự hình thành một hiến pháp hư danh để thay thế nó về sau.
Lý do thay đổi hiến pháp lần này là để thực hiện những gì Hiến pháp 1992 bỏ dỡ, nghĩa là tiếp tục luật hóa quyền lực vô tận đã có của Đảng bằng hiến pháp. Nó không có mục đích nào khác. Không có lý do gì để tin rằng Đảng sẽ hiện thực hóa những điều khoản về quyền tự do của công dân, ví dụ như các điều ghi trong Chương V của Hiến pháp 1992, bằng cách viết thêm một bản hiến pháp mới. Cũng không có lý do gì để tin rằng Đảng sẽ hiện thực hóa hoạt động tư pháp độc lập, như đã ghi trong Chương X của Hiến pháp 1992, bằng một hiến pháp mới. Những điều này không phải là quan tâm của Đảng. Nếu Đảng thật sự quan tâm đến quyền tự do của công dân, quan tâm đến hoạt động tư pháp độc lập thì Đảng không cần phải đợi hai mươi năm sau khi bản hiến pháp ra đời. Không nên mơ mộng thêm nữa về điều dó.
(còn tiếp)
_____________________
(*): Façade có nghĩa là mặt tiền. Từ này và những từ khác được kèm theo từ gốc để người đọc có thể tự dịch lại cho chuẩn.
(**): Andrey Vyshinsky, tên đao phủ của Stalin, từng viết từ những năm 1950, trong “Luật pháp của Nhà nước Sô Viết”, rằng hiến pháp của Stalin đã đem quyền lực đến cho nhân dân, rằng nó thặt chặt mối quan hệ giữa người dân và chính quyền Sô Viết, nó xác nhận các quyền dân chủ và tự do thật sự. Lập luận này được các đảng cộng sản khác từ trước đến nay lập lại.
http://danluan.org/node/9923

Trần Minh Khôi
Theo blog Trần Minh Khôi
Trần Minh Khôi – Chuyện hiến pháp (II)
Tại sao phải thay đổi hiến pháp trong lúc này?

Định nghĩa:
Đảng: là một nhóm, trên dưới 200 người, đang ở các vị trí lãnh đạo cao cấp của Đảng Cộng sản Việt Nam, thực sự có quyền lực. Trong số này, một nhóm nhỏ trên dưới 20 người nắm gần như toàn bộ quyền lực trong quân đội, an ninh, và kinh tế. Tuyệt đại đa số đảng viên của Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ là công chức nhà nước thuần túy. Đảng trong bài này là để chỉ một nhóm nhỏ, ràng buộc với nhau bởi quyền lợi, trong Đảng Cộng sản Việt Nam.
Từ hai mươi năm nay, nếu Đảng thực hiện một cách trung thành những điều khoản đã đưa ra trong Hiến pháp 1992 – các quyền tự do của công dân được bảo đảm bằng luật pháp (Chương V), hệ thống tư pháp độc lập (Chương X), quốc hội bầu chủ tịch nước (Chương VII), chính quyền là bộ phận hành pháp của quốc hội (Chương VIII) – thì Việt Nam đã là một quốc gia tiến bộ, ngay cả trong sự thiếu vắng các cơ chế bầu cử dân chủ và sự tồn tại của một đảng độc tài. Công lý, mục tiêu tối thượng của hiến pháp, đã một phần được thực hiện.
Nhưng Đảng đã không làm điều đó. Cái logic của quyền lực không cho phép Đảng thực hiện điều đó, ngay cả khi có những thành viên của Đảng muốn. Quyền tự do của công dân, được bảo vệ bởi một hệ thống tư pháp độc lập, không thể đứng chung với quyền lực độc tôn của chỉ mỗi một đảng trong bất cứ hệ thống chính trị nào. Chúng chỉ có thể được bảo đảm trong sự hy sinh quyền lực độc tôn của đảng cầm quyền. Lịch sử chính trị thế giới chứng minh rằng không có một đảng chính trị nào hy sinh quyền lực của mình cho quyền tự do của công dân. Có lý do gì để tin rằng Đảng sẽ là một ngoại lệ?
(Ở đây cần phải mở ngoặc để có một ghi chú về những quan điểm cho rằng với Hiến pháp 1992, Đảng đã “trả lại” cho công dân một số quyền, trong đó chủ yếu là quyền kinh doanh cá thể. Thật ra, Đảng không trả lại cho công dân quyền nào cả. Quyền kinh doanh cá thể (Chương II – Điều 21) là quyền tự có của công dân khi Đảng, từ trong khủng hoảng của cơ chế kinh tế tập trung, chuyển sang kinh tế thị trường. Tự do kinh doanh cá thể là đặc trưng của kinh tế thị trường mà Đảng không thể đảm đương được. Trong các điều còn lại của Chương II, Đảng đã rất kỹ lưỡng liệt kê tất cả những tài sản quốc gia thuộc về mình. Đảng chưa bao giờ có quyền lực lớn như lúc này. Đảng chưa bao giờ giàu có hơn lúc này. Những gì công dân có được từ sự thay đổi trong Hiến pháp 1992 so với những gì Đảng có được là không đáng kể. Tỉ lệ quyền lực của Đảng và quyền của công dân lúc này lớn hơn tỉ lệ đó hai mươi năm trước. Tỉ lệ sự giàu có của Đảng và của công dân lúc này còn lớn hơn rất nhiều lần. Do đó, không thể lập luận là Đảng đã “trả lại” cho công dân những quyền gì.
Tương tự, có quan điểm cho rằng trong giới hạn nào đó Đảng đã trả lại một không gian, dù nhỏ, cho tự do ngôn luận. Những người cổ xúy quan điểm này đưa ra bằng chứng cho rằng so với hai mươi năm trước thì công dân hiện nay có quyền tiếp cận đến những nguồn thông tin phong phú hơn. Đúng là như tế, nhưng với một lý do hoàn toàn khác: sự bùng nổ của công nghệ thông tin chứ không phải sự tự nguyện hy sinh quyền lực của Đảng là nguyên nhân của không gian tự do thông tin mà công dân đang có này.)
Một vấn đề nhức nhối khác, và đây là vấn đề của công lý, trong thực tiển xã hội Việt Nam hiện nay là những điều khoản trong Chương II của Hiến Pháp 1992 đã trang bị cho Đảng, qua cơ chế sở hữu nhà nước, một công cụ tước đoạt tài sản (quyền sử dụng đất đai) của công dân. Nó tạo ra những biến chứng xã hội càng lúc càng có nguy cơ bùng nổ. Người ta có lý do để hy vọng, với sự ra đời của hiến pháp mới, Đảng sẽ dũng cảm chia tay với sự chà đạp công lý đã xảy ra quá lâu này. Tuy nhiên hy vọng này cũng không có cơ sở. Một khi Đảng công khai chấp nhận, bằng hiến pháp, sở hữu cá nhân đối với tài nguyên quốc gia (ở đây chủ yếu là đất đai) thì Đảng cũng sẽ làm vỡ tung một cái ung nhọt đã âm ỉ từ hơn nửa thế kỷ qua. Quyền lực của Đảng hiện nay không đủ mạnh để giải quyết cái ung nhọt này một cách thỏa đáng mà vẫn giữ được vị thế cầm quyền của mình. Đảng sẽ không làm như thế.
Nói chung, Đảng thay đổi hiến pháp lần này không có mục đích nào khác hơn là mục đích đã nói đến ở trên: hợp pháp hóa quyền lực tuyệt đối đang có của Đảng đối với nhà nước và đối với quốc gia.
Tại sao Đảng cần phải làm như vậy?
Lý do là Đảng cần tính chính đáng của quyền lực mà Đảng đang có. Tính chính đáng của quyền lực của người cai trị, bằng cách này hay cách khác, đến từ sự chấp thuận quyền lực đó của người bị cai trị. Hoặc nói theo ngôn ngữ chính trị, tính chính đáng của quyền lực của người cầm quyền phải bắt nguồn từ quyền lực tổng thể của xã hội (collective social power). Đối với các thế hệ trước, tính chính đáng của Đảng đến từ vai trò của Đảng, và của Đảng Cộng sản Việt Nam, trong công cuộc thống nhất đất nước. (Không có khái niệm “chính nghĩa” ở đây. Nếu lúc đó Việt Nam Cộng Hòa thống nhất đất nước thì thế lực quân phiệt tham nhũng ở Miền Nam cũng sẽ có được tính chính đáng này). Thế hệ công thần lần lượt ra đi. Các thế hệ Đảng kế tiếp thừa hưởng tính chính đáng này để tiếp tục cai trị. Bốn mươi năm là một quảng thời gian quá dài và đến nay nó đã cạn kiệt. Thế hệ Đảng hiện nay, để tiếp tục cầm quyền, phải tự tạo cho họ tính chính đáng mới. Cách lý tưởng nhất để tạo tính chính đáng của quyền lực là được công dân bầu lên qua một tiến trình bầu cử tự do. Điều này sẽ không xảy ra. Lựa chọn khả thi kế tiếp là tự viết ra hiến pháp để chính đáng hóa quyền lực của mình qua hệ thống pháp lý.
Ngoài ra Đảng không có lựa chọn nào khác.
(còn tiếp – Phần III, Thay đổi cái gì?)
Admin gửi hôm Thứ Tư, 14/09/2011 Bạn
http://danluan.org/node/9924

Trần Minh Khôi – Chuyện hiến pháp (III)
Thay đổi cái gì?

Đảng không phải là thế lực chính trị đầu tiên muốn dùng hiến pháp để chính đáng hóa quyền lực đang có. Chuyện này xưa nay các thế lực độc tài trên thế giới vẫn làm, và làm với nguồn trí tuệ và truyền thống không thua kém trí tuệ và truyền thống của Đảng. Tuy nhiên chưa có một đảng, hay cá nhân, cầm quyền chuyên chế nào thành công hay thất bại vì có hay không có hiến pháp. Lý do sụp đổ của một đảng, hay cá nhân, độc tài luôn nằm ngoài hiến pháp. Điều này gợi ý rằng sự thành công, nếu có, của cố gắng chính đáng hóa quyền lực qua việc viết lại hiến pháp này có tính tạm thời.
Về khuôn mẫu thì kinh nghiệm thế giới cũng để lại nhiều. Năm mươi năm cầm quyền liên tục, trong một môi trường chính trị dân chủ, của Đảng Dân chủ Tự do Nhật Bản có thể là một gợi ý hấp dẫn cho các viện nghiên cứu chính trị của Đảng. Các đảng độc tài Á Châu như Quốc Dân Đảng Đài Loan, TNT của Indonesia,… là những gợi ý khác.
Những người quan tâm đến việc thay đổi hiến pháp lần này cũng đã đưa ra những mô hình thú vị. Đáng chú ý nhất là mô hình trong đó, để đổi lại việc kết hợp cơ cấu quyền lực của Đảng vào cơ cấu quyền lực nhà nước, qua việc công dân trực tiếp bầu các ứng cử viên Đảng chọn vào các vị trí quyền lực nhà nước, Đảng cho phép tạo ra một không gian chính trị ngoài Đảng (một số đại biểu ngoài Đảng nhất định, không do Đảng chọn, trong quốc hội và hội đồng nhân dân). Đây là một quan điểm có tính thỏa hiệp được thấy ở thời kỳ đầu hình thành cơ cấu quyền lực công dân bên cạnh quyền lực vua chúa ở Phương Tây. Quân chủ lập hiến, đi đến dân chủ hóa sinh hoạt chính trị, là một mô hình thành công. Nó giúp tránh những cuộc cách mạng đưa đến đổ vỡ xã hội như đã xãy ra ở Pháp và Nga. Nhưng thời đại đó đã đi qua. Ngày nay khó mà hình dung được 90 triệu công dân Việt Nam chấp nhận sự tồn tại vĩnh viễn của Đảng như một thực thể có tính vương triều đại diện quốc gia. Một khi cách cửa dân chủ đã mở, bằng sự tồn tại của một không gian chính trị ngoài Đảng, thì Đảng không thể chi phối nó được nữa. Cái không gian chính trị ngoài Đảng này sẽ sản sinh các tổ chức đảng phái chính trị khác, và khi chúng đũ lớn chúng sẽ trực tiếp thách thức quyền lực của Đảng. Đảng hiểu điều này hơn ai hết.
Thỏa hiệp có khả năng xảy ra là Đảng cho phép công dân được trực tiếp sinh hoạt chính trị, bầu cử và ứng cử, ở các cơ quan nhà nước cấp thấp, ít ảnh hưởng đến quyền lực tập trung của Đảng ở trung ương. Thỏa hiệp này, được các nhà độc tài ở Á Châu thực hiện hồi giữa thế kỷ trước, giúp giảm sức ép chính trị từ phía xã hội dân sự đang ngày càng trưởng thành và duy trì quyền lực của Đảng trong một thời gian dài hơn.
Như đã nói ở trên, các vấn đề bảo đảm quyền tự do hiến định của công dân, hoặc vấn đề xây dựng hoạt động tư pháp độc lập, không cần đến một hiến pháp mới. Vấn đề xã hội lớn nhất mà hiến pháp mới có thể giúp giải quyết là công nhận quyền tư hữu đất đai. Chưa có một đảng cầm quyền nào trên thế giới tự nguyện từ bỏ quyền lực của mình, đặc biệt là loại quyền lực đem lại sự giàu có. Không có dấu hiệu gì cho thấy Đảng tự nguyện từ bỏ một công cụ tước đoạt tài sản công dân đã giúp Đảng giàu có lên rất nhiều trong hai thập niên qua. Nhưng, trong sự cân nhắc kỹ lưỡng khả năng kiểm soát xã hội như đã nói đến ở trên, có khả năng Đảng sẽ thực hiện điều này để đảm bảo quyền sở hữu trên chính tài sản đất đai đã có cho các thành viên của Đảng.
(Có nhiều người lập luận rằng Đảng không công nhận quyền tư hữu là vì lấn cấn trong lý luận của chủ nghĩa Marx. Lập luận này không có cơ sở. Khi cần thì Đảng đã không ngần ngại từ bỏ toàn bộ lý luận của hệ thống kinh tế chủ nghĩa xã hội của Marx để đi theo con đường kinh tế tư bản. Không có một yếu tố nào của chủ nghĩa xã hội Đảng giữ lại, tư bản nhà nước chẳng hạn, mà không trực tiếp phục vụ lợi ích của Đảng. Bên cạnh đó, Đảng đã không làm gì để bảo vệ quyền lợi của đông đảo giai cấp công nhân, giai cấp mà Đảng tự nhận là đại diện, đang bán sức lao động và sống lây lất ở các khu chế xuất và ở nước ngoài. Không có bằng chứng cho thấy Đảng trung thành với chủ nghĩa Marx-Lenin. Đảng dùng chủ nghĩa này như một công cụ cai trị mà thôi.)
Một thay đổi khác, nhằm hiến pháp hóa thực tiễn, là thừa nhận thành phần doanh nhân trong các cơ chế quyền lực. Thói quen của khuôn mẫu cộng sản chia công dân thành những thành phần khác biệt có thể vẫn tiếp tục hiện diện trong hiến pháp mới. Nhưng điều này không còn có ý nghĩa thực tiển gì nhiều.
Quay qua quay lại, không còn bao nhiêu điều Đảng có thể thay đổi trong hiến pháp để đem lại thực chất cho những tiến triển của sinh hoạt chính trị xã hội trong vài thập niên tới. Sự tiến triển này chỉ đến từ sự trưởng thành của xã hội dân sự, độc lập với những gì có hay không có trong hiến pháp, đến mức độ đũ để tạo áp lực chính trị cho việc ra đời của một hiến pháp bảo đảm quyền tự do thực sự của công dân. Hiến pháp sắp tới đây cũng sẽ dừng lại ở mức độ của những hiến pháp trang trí và hư danh.
Để kết luận

Sự thay đổi hiến pháp, dù đi theo chiều hướng nào, bao giờ cũng quan trọng. Trước hết là nó tạo một cơ hội đánh thức ý thức hiến pháp ở công dân. Tuyệt đại đa số công dân Việt Nam không biết đến, hoặc không đọc, hiến pháp. Không chỉ thế lực cầm quyền, chính công dân cũng phải chịu trách nhiệm về tính trang trí và hư danh của hiến pháp. Hiến pháp là trang trí, là hư danh chính vì công dân cho phép nó như thế. Một ý thức thường trực về hiến pháp ở công dân sẽ giúp thúc đẩy tiến trình hoàn thiện hiến pháp để bảo đảm các quyền tự do của họ.
Xã hội Việt Nam vẫn đang ở trong giai đoạn chuyển tiếp từ xã hội thần dân, với sự khiếp sợ truyền thống đối với nhà nước, sang xã hội công dân, coi nhà nước chỉ là một công cụ quản lý quốc gia do họ dựng nên. Sự tồn tại tiếp tục của Đảng ở vị trí quyền lực có thể được coi như là sự tồn tại của một vương triều cuối cùng. Thời gian tồn tại này dài hay ngắn tùy thuộc hoàn toàn vào sự trưởng thành và ý thức chính trị của xã hội dân sự. Đảng cần thay đổi hiến pháp là để điều chỉnh mối quan hệ của Đảng với xã hội dân sự. Cố gắng này đánh dấu sự trưởng thành từng bước của xã hội dân sự. Đó là điều đáng mừng.
Quan tâm lớn nhất của Đảng, cũng như của tất cả các đảng cầm quyền trong lịch sử chính trị hiện đại, là duy trì quyền lực của mình. Điều này bình thường. Điều không bình thường là công dân và xã hội dân sự giao phó toàn bộ sứ mạng quốc gia cho Đảng, như trước đây người dân trong xã hội thần dân giao phó toàn bộ sứ mạng quốc gia cho vương triều. Nếu, trong một giai đoạn lịch sử nào đó, xã hội dân sự buộc phải thừa nhận quyền lực tuyệt đối của một đảng trong quyền lực nhà nước thì nó cũng phải đũ trưởng thành để kiểm soát quyền lực này trong khi chờ đợi quyền kiểm soát này được hiến định. Nếu không thì nó sẽ tiếp tục bị nhà nước thao túng.
Xã hội dân sự Việt Nam chưa đũ trưởng thành. Và Đảng hiểu điều đó. Trong ngắn hạn, Đảng sẽ vẫn tiếp tục những cố gắng để kéo dài quyền lãnh đạo của mình và đè nén sự phát triển của xã hội dân sự trong chừng mực vẫn có thể đè nén được.
Xã hội dân sự phải tận dụng cơ hội thay đổi hiến pháp này để khẳng định mình. Những đòi hỏi của xã hội dân sự đối với hiến pháp trong thời điểm này chắc chắn sẽ không được thực hiện. (Chúng đã có trong hiến pháp hiện nay rồi và không được thực hiện). Hiến pháp kế tiếp sẽ vẫn là hiến pháp của Đảng, nhằm bảo vệ quyền lực và quyền lợi của Đảng. Nhưng sự thức tỉnh của ý thức hiến pháp trong xã hội dân sự sẽ giúp cho chính xã hội dân sự trưởng thành, từ đó giúp kiến tạo nền tảng cho tiến trình hiện thực hóa những điều khoản nhằm bảo vệ quyền tự do công dân ghi trong hiến pháp.
Không ai khác, và không phải thế lực cầm quyền, mà chính xã hội dân sự là lực lượng duy nhất có khả năng biến một hiến pháp trang trí và hư danh trở nên một hiến pháp thực sự.
http://danluan.org/node/9925
________________
Phan Thành Đạt Hiến pháp và sửa đổi Hiến pháp

Hiến pháp và sửa đổi Hiến pháp – Kỳ 1

Un gouvernement n’a pas d’oreilles pour écouter, n’a pas de tête pour diriger. Proverbe latin
Một Nhà nước không biết lắng nghe, sẽ không có đủ trí tuệ để lãnh đạo. Tục ngữ La-tinh
I. Giới thiệu chung về Hiến pháp
Hiến pháp là một văn bản có giá trị cao nhất trong hệ thống luật pháp của một đất nước. Hiến pháp quy định hình thức tổ chức của Nhà nước và xác định các mối quan hệ giữa các cơ quan công quyền và nhân dân, đồng thời Hiến pháp cũng nêu rõ các quyền tự do cơ bản của con người và bảo vệ các quyền đó. Hiến pháp bao gồm hai loại: Hiến pháp mềm và Hiến pháp cứng, hay còn được gọi là Hiến pháp dễ sửa và Hiến pháp khó sửa.
Hiến pháp mềm là những nguyên tắc bất thành văn, đó là những quy định mang tính phong tục, tập quán tồn tại lâu đời mà chế độ quân chủ dưới thời phong kiến phải tuân theo. Ví dụ, quyền lực của vương quốc phải được trao cho người con trai cả của vua, vua phải được giáo hội phong vương, và quyền lực không được trao cho phụ nữ trong hoàng tộc. Hiến pháp mềm vẫn đang được một số nước áp dụng, tuy nhiên Hiến pháp mềm được bổ sung bằng một số văn bản viết. Việc sửa đổi một điều trong Hiến pháp mềm cũng dễ dàng giống như sửa đổi một đạo luật, và như vậy không có sự khác nhau giữa luật và Hiến pháp. Một số nước như Anh, Israel, Ả-rập Xê-út vẫn đang áp dụng Hiến pháp mềm. Nước Anh mặc dù không có Hiến pháp thành văn nhưng một số nguyên tắc cơ bản như bảo vệ quyền con người hay mối quan hệ giữa Nghị viện và Hoàng gia lại được quy định bằng văn bản viết. Ví dụ bản “La Magna Carta”, bản Hiến chương năm 1215 quy định nhà vua phải từ bỏ một số quyền lực, hay bản “Bill of Rights” năm 1689 quy định các quyền cơ bản của công dân mà chế độ quân chủ phải tôn trọng.
Hiếp pháp cứng hay còn gọi là Hiến pháp khó sửa được hầu hết các quốc gia sử dụng. Sửa đổi Hiến pháp cứng khác với sửa đổi một đạo luật bởi vì các nguyên tắc sửa đổi được Hiến pháp quy định khác với sửa đổi luật. Thông thường Hiến pháp được sửa đổi thông qua hai cách:
– Các điều sửa đổi sẽ được đệ trình trước toàn dân, nhân dân sẽ phúc quyết thông qua hình thức trưng cầu dân ý.
– Hiến pháp sẽ được sửa đổi với 2/3 hay 3/4 số phiếu tán thành của Nghị viện gồm cả Thượng viện và Hạ viện ở các quốc gia có hai cơ quan dân biểu, hoặc của Quốc hội ở các quốc gia có một cơ quan dân biểu.
Các nguyên tắc sửa đổi của Hiến pháp cứng sẽ rất khó thực hiện nếu không có sự thống nhất của đa số nhân dân hoặc nghị sĩ.
Nhân loại đã biết đến những bản Hiến pháp thành văn đầu tiên (Hiến pháp cứng) như Hiến pháp nước Cộng hòa Saint-Marin năm 1600, bản Hiến pháp đầu tiên của một quốc gia nhỏ bé nằm trong lòng nước Ý, tiếp theo là bản Hiến pháp của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ ngày 17 tháng 9 năm 1787 và bản Hiến pháp của Pháp ngày 3 tháng 9 năm 1791.
II. Các bản Hiến pháp dân chủ tiêu biểu trên thế giới
2.1. Hiến pháp Mỹ ngày 17 tháng 9 năm 1787
Đây là một trong những bản Hiến pháp có ảnh hưởng lớn nhất đối với quá trình xây dựng nền dân chủ ở các nước trên thế giới. Bản Hiến pháp tuy ngắn gọn nhưng đã đưa ra được những nguyên tắc cơ bản của một nền dân chủ tiêu biểu, đó là bảo vệ các quyền tự do của công dân, xây dựng một nhà nước pháp quyền theo chính thể liên bang, và tôn trọng nguyên tắc tam quyền phân lập.
Bản Hiến pháp gồm lời giới thiệu, và bảy điều cơ bản được chia ra thành các mục nhỏ. Lời giới thiệu của bản Hiến pháp: “Chúng tôi, nhân dân Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, với mục đích xây dựng một liên minh hoàn thiện, nhằm thiết lập nền luật pháp và đảm bảo nền hòa bình ở trong nước, nhằm tăng cường quốc phòng đồng thời đóng góp vào sự phát triển và thịnh vượng chung, chúng tôi mong muốn đảm bảo những lợi ích của tự do cho chính nhân dân chúng tôi và cho các thế hệ mai sau. Chúng tôi thừa lệnh và ban ra bản Hiến pháp này, bản Hiến pháp của nước Mỹ”.
Điều 1 xác định rõ các quyền hạn của Nghị viện, bao gồm Thượng viện và Hạ viện. Các nghị sĩ được nhân dân trực tiếp bầu ra. Số lượng dân biểu ở Hạ viện được quy định theo số dân ở các bang, còn ở Thượng viện, mỗi bang chỉ có hai đại diện cho dù dân số ở các bang rất chênh lệch.
Điều 2 quy định quyền hạn của cơ quan hành pháp mà ở đây là Tổng thống Mỹ:
“Không ai được bầu làm Tổng thống nếu như người đó không phải là công dân Mỹ từ khi mới ra đời, hay người đó chưa phải là công dân Mỹ khi bản Hiến pháp này được thông qua. Công dân phải từ 35 tuổi trở lên mới được là ứng cử viên Tổng thống”.
“Tổng thống sẽ được nhận một khoản thù lao trong thời gian phụng sự của mình, giá trị của khoản thù lao ấy không được thay đổi trong suốt thời gian đương nhiệm. Tổng thống sẽ không được nhận bất cứ một khoản thù lao nào khác của nước Mỹ hay của các bang”.
Trước khi nhận chức, Tổng thống sẽ tuyên thệ hay sẽ tuyên bố như sau: “Tôi xin thề (hay tôi tuyên bố), tôi sẽ luôn trung thành và đảm đương tốt nhiệm vụ của Tổng thống Mỹ, với khả năng quyền hạn của mình, tôi sẽ bảo vệ, giữ gìn những giá trị của bản Hiến pháp Mỹ”.
Các nhà soạn thảo Hiến pháp viết ra điều này vì họ giữ gìn được những lễ nghi của cha ông, những nghi thức tôn giáo có từ thời Trung cổ được du nhập từ Châu Âu bởi những người nhập cư. Đó là nghi lễ phong tặng danh hiệu Hiệp sĩ. Người được phong danh hiệu Hiệp sĩ phải là người dũng cảm và lập được những chiến công. Để được phong tặng danh hiệu này, họ phải trải qua một đêm trắng, cầu nguyện bên cây thánh giá. Họ phải thề sẽ luôn chiến đấu bảo vệ lẽ phải, bảo vệ niềm tin và bênh vực những người yếu đuối. Họ không được dùng sức mạnh để làm điều ác. Nếu họ vi phạm những nguyên tắc của bộ luật Hiệp sĩ, họ sẽ bị rút phép thông công và bị mất danh dự. Nghi lễ bãi bỏ danh hiệu Hiệp sĩ diễn ra quanh một bãi phân bò với sự tham gia của các Hiệp sĩ khác, thanh gươm của Hiệp sĩ bị phế truất, bị bẻ gẫy.
Các nhà soạn thảo Hiến pháp dựa trên nghi lễ này, và họ mong muốn Tổng thống Mỹ phải là một hiệp sĩ bảo vệ lẽ phải, bảo vệ Hiến pháp và đặc biệt phải trung thực. Tổng thống Nixon đã phải trả giá cho sự gian dối của mình trong vụ Watergate khi cho đặt máy ghi âm để nghe trộm tin tức của Đảng Dân chủ trong chiến dịch tái tranh cử Tổng thống của mình.
Điều 3 xác định quyền hạn của cơ quan lập pháp. Cơ quan này độc lập, các quan tòa có nhiều quyền hạn và được luật pháp bảo vệ. Họ không thể bị bãi miễn và có quyền giữ chức vụ đến suốt đời nếu không vi phạm pháp luật.
Các điều còn lại quy định quyền hạn của Nhà nước liên bang và các bang cùng các thủ tục sửa đổi Hiến pháp.
Bản Hiến pháp được hoàn thiện sau 27 lần sửa đổi. Các quyền tự do ngôn luận, tự do tôn giáo, tự do hội họp được bổ sung qua lần sửa đổi thứ nhất. Chế độ nô lệ được bãi bỏ qua lần sửa đổi thứ 13. Lần sửa đổi quan trọng này gắn liền với sự nghiệp của Tổng thống Abraham Lincoln. Ông nhận xét rằng nếu chế độ nô lệ không bị coi là xấu xa thì sẽ chẳng có gì là xấu xa cả, để xã hội trở nên tốt đẹp hơn cần phải loại bỏ chế độ người bóc lột người. Lần sửa đổi thứ 19 khẳng định quyền bình đẳng giới. Lần sửa đổi thứ 24 thừa nhận rằng các công dân được bầu ra Tổng thống hay các đại cử tri và quyền bầu cử của họ không thể bị tước đoạt vì không đóng thuế.
Hiến pháp Mỹ ngày 17 tháng 9 năm 1787 đã tồn tại được 224 năm. Bản Hiến pháp này vẫn đang được áp dụng, đó là điều kì diệu, minh chứng cho sức sống lâu bền của một bản Hiến pháp. Các nguyên tắc được nêu ra cách đây hơn hai thế kỷ vẫn giữ nguyên giá trị cho đến ngày nay. Ví dụ như nguyên tắc tam quyền phân lập. Các nhà soạn thảo Hiến pháp rất lo lắng khi nghĩ đến sự lạm quyền của nhà nước. Theo họ, nếu không có sự tách biệt rõ ràng về vai trò của ba cơ quan hành pháp, lập pháp và tư pháp sẽ dẫn đến độc tài, hoặc sẽ là mầm mống của các chính thể đầu sỏ, độc đoán. Vì vậy họ cố gắng tạo sự độc lập giữa ba cơ quan này. Alexander Hamilton, một trong các tác giả của bản Hiến pháp đã viết những lời sáng suốt dưới đây, trong quá trình chuẩn bị biên soạn Hiến pháp: “Con người thường yêu quyền lực, nếu trao quyền lực cho số đông, thiểu số sẽ bị chèn ép, còn nếu trao quyền lực cho thiểu số, số đông sẽ bị chèn ép”. Để chế ra phương thuốc chống căn bệnh quyền lực, cách duy nhất là dùng quyền lực để ngăn chặn quyền lực theo cách nói của Montesquieu. Nghĩa là phải áp dụng nguyên tắc phân quyền, một cơ quan soạn luật, một cơ quan thi hành và cơ quan thứ ba kiểm soát và xét xử hai cơ quan kia. Chính vì vậy người Mỹ đã áp dụng triệt để nguyên tắc tam quyền phân lập. Khi bản Hiến pháp mới được ban hành, nước Mỹ vẫn còn là một đất nước rất nghèo (nước Mỹ khi đó chỉ có khoảng 4 triệu dân, chủ yếu người Mỹ sống bằng nghề buôn bán hàng hải với Châu Âu và nông nghiệp), thì ngày nay khi đã trở thành một cường quốc số một thế giới với hơn 300 triệu dân, bản Hiến pháp vẫn đang được áp dụng. Điều này đánh dấu thành công rất lớn của những người soạn thảo Hiến pháp. Họ đã viết ra một bản Hiến pháp cho thế hệ tương lai.
2.2. Hiến pháp nước Cộng hòa Pháp, ngày 4 tháng 10 năm 1958
Nước Pháp từ cách mạng 1789 đến nay đã biên soạn 15 bản Hiến pháp. Hiến pháp năm 1958 được viết ra để giải quyết những khó khăn cho nước Pháp, một là cuộc khủng hoảng của nền cộng hòa thứ 4 kể từ thất bại của Pháp tại Đông Dương, hai là cuộc khủng hoảng chính trị tại Algerie. Bản Hiến pháp đã được 85% dân Pháp bỏ phiếu ủng hộ thông qua trưng cầu dân ý ngày 28 tháng 9 năm 1958. Hiến pháp bao gồm 89 điều và đã được sửa đổi 24 lần. Bản Hiến pháp đã thiết lập nền Cộng hòa thứ 5. Đây là một bản Hiến pháp dân chủ và rất linh hoạt. Cùng với Luật Cơ bản Đức, bản Hiến pháp này có ảnh hưởng sâu rộng ở Châu Âu. Các nước Đông Âu đã dựa theo hai bản Hiến pháp này để biên soạn Hiến pháp mới cho mình sau khi khối Xã hội chủ nghĩa sụp đổ. Hiến pháp xác nhận nước Pháp là một nước Cộng hòa, một số quyền lực được chuyển giao cho các vùng và nước Pháp theo chế độ Nghị viện.
Vì bản Hiến pháp được soạn ra để giải quyết tình hình chính trị khó khăn lúc ấy nên có nhiều thiếu sót, ví dụ như các quyền con người không được nêu rõ trong Hiến pháp. Để bổ sung cho khiếm khuyết này, năm 1971, Hội đồng Hiến pháp đã có một quyết định mang tính lịch sử, quyết định có tên “Tự do lập hội”. Theo đó bản tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền ngày 26 tháng 8 năm 1789 và lời tựa của bản Hiến pháp năm 1946 được bổ sung vào Hiến pháp năm 1958. Năm 2004, Hiến pháp được bổ sung thêm bản Hiến chương về môi trường gồm 10 điều. Như vậy Hiến pháp năm 1958 có 151 điều, trong đó bao gồm một số điều tiêu biểu dưới đây:
Theo bản tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền năm 1789:
– Điều 2 xác định mục đích của tất cả các tổ chức chính trị là bảo vệ các quyền tự nhiên và vĩnh cửu của con người. Đó là các quyền tự do, quyền sở hữu, quyền được đảm bảo an toàn, quyền đối kháng khi bị áp bức.
– Điều 4 quy định tự do là có thể làm tất cả những gì mà không hại đến người khác, đó là các quyền tự nhiên của mỗi người. Các quyền ấy cũng có giới hạn là làm sao phải đảm bảo cho những người khác cũng được hưởng các quyền tự do, và những giới hạn ấy được quy định bằng pháp luật.
– Điều 11 khẳng định tự do trình bày suy nghĩ và ý kiến của mình là một trong những quyền cao quý nhất của con người. Mỗi công dân có quyền nói, viết hay in ra các văn bản trình bày suy nghĩ của mình, trừ khi lạm dụng các quyền ấy trong một số trường hợp được pháp luật quy định.
Theo lời tựa của bản Hiến pháp năm 1946:
– Điều 11 nêu rõ nhà nước đảm bảo cho tất cả công dân, nhất là người già và trẻ em được khám, chữa bệnh và có chế độ bảo hiểm, chế độ nghỉ dưỡng. Tất cả mọi người tùy theo điều kiện tuổi tác, tình trạng sức khỏe hay tình trạng tâm lý, hoặc ở những hoàn cảnh kinh tế khác nhau, người không có khả năng làm việc được hưởng những điều kiện thích hợp để tồn tại.
– Điều 14 khẳng định Cộng hòa Pháp luôn trung thành với những truyền thống tốt đẹp của mình. Nước Pháp tôn trọng luật quốc tế và sẽ không tiến hành bất cứ cuộc chiến tranh nào với mục đích chinh phục nước khác. Nước Pháp không bao giờ sử dụng sức mạng của mình để chống lại tự do của các dân tộc khác.
Hiến pháp Cộng hòa Pháp qua 24 lần sửa đổi để phù hợp với luật của Tòa án về quyền con người của Hội đồng Châu Âu và luật của Liên minh Châu Âu. Về cơ bản, bản Hiến pháp này vẫn giữ nguyên các tiêu chuẩn về dân chủ như: bảo vệ quyền con người, tôn trọng nguyên tắc tam quyền phân lập. Tuy vậy thể chế nghị viện của Pháp đang dần chuyển hóa thành thể chế tổng thống theo mô hình của nước Mỹ. Qua lần sửa đổi Hiến pháp năm 1962 dưới thời Tổng thống Charles de Gaulle, Tổng thống Pháp từ đó do người dân trực tiếp bầu chọn. Hiến pháp ngày 4 tháng 10 năm 1958 đã được các nước như Bungari, Ba Lan, Rumani… nguyên cứu và dựa theo để viết ra các bản Hiến pháp mới vào năm 1991. Ngoài ra bản Hiến pháp này có ảnh hưởng rất lớn ở các nước Châu phi như Marốc, Algeria, Mali, Senegan…, trước đây vốn là thuộc địa của Pháp.
2.3. Luật Cơ bản nước Cộng hòa Liên bang Đức
Luât Cơ bản nước Cộng hòa Liên bang Đức (tạm gọi là Hiến pháp Đức) được ban hành ngày 23 tháng 5 năm 1949, gồm 141 điều. Đây là bản Hiến pháp rất đầy đủ và chi tiết về các quyền tự do của công dân, về cơ chế của nhà nước liên bang và mối quan hệ giữa Bundestag và Bundesrat (Thượng viện và Hạ viện). Bản Hiến pháp được các nước đồng minh Mỹ, Anh, Pháp giúp đỡ biên soạn cho Cộng hòa Liên bang Đức. Sau khi bức tường Berlin sụp đổ, bản Hiến pháp dân chủ này được áp dung cho toàn bộ nước Đức thống nhất.
Luật Cơ bản xác lập một nhà nước liên bang theo cơ chế Nghị viện. Việc bảo vệ các quyền cơ bản của con người được chú trọng nhất trong bản Hiến pháp, nên được đưa lên phần đầu (từ điều 1 đến điều 20). Luật Cơ bản khẳng định các quyền này và giải thích rất chi tiết. Lý do là vì nước Đức đã trải qua một thời kỳ đau thương và xấu hổ, là đất nước đã gây ra cuộc chiến tranh thế giới thứ hai và là nước bại trận. Dưới thời Đức quốc xã, các quyền con người bị vi phạm nặng nề, 10 triệu người chết trong các trại tập trung, 5 triệu người Đức chết trong cuộc chiến, vì vậy nhiệm vụ bảo vệ quyền con người là trách nhiệm đầu tiên của các nước đồng minh khi giúp Cộng hòa Liên bang Đức soạn thảo Hiến pháp. Hơn nữa mối lo lắng trường trực về khả năng thiết lập một chế độ độc tài theo kiểu Hitler là có thể xảy ra. Chính vì vậy, để tránh nguy cơ này, các nước đồng minh muốn xây dựng một nhà nước liên bang, trong đó sức mạnh của nhà nước được chia nhỏ cho các Länder (các bang). Phe đồng minh đứng đầu là Mỹ lập ra bản Hiến pháp xây dựng nước Đức theo thể chế liên bang kiểu Mỹ, và họ đã thành công.
Luật Cơ bản Đức được sửa đổi, bổ sung nhiều lần. Nhờ có những nguyên tắc chuẩn của một thể chế Nghị viện nên tình hình chính trị của Đức về cơ bản là ổn định.
Lời tựa: “Ý thức rõ về trách nhiệm của mình trước Chúa trời và trước con người, cùng với ước muốn được đóng góp và phục vụ nền hòa bình trên thế giới, nhân dân Đức, với tư cách là thành viên bình đẳng trong một Châu Âu thống nhất, xin giới thiệu Luật Cơ bản này. Đó là Hiến pháp của nhân dân, và nhân dân nắm giữ quyền lập hiến…”.
Điều 1 khẳng định phẩm giá của con người là điều bất biến. Tất cả các cơ quan công quyền bắt buộc phải tôn trọng và bảo vệ phẩm giá của con người. Bởi vậy, nhân dân Đức tôn trọng các quyền bất khả xâm phạm vì các quyền đó gắn bó chặt chẽ với con người và là cơ sở của cộng đồng, của hòa bình và công lý trên thế giới.
Điều 2 nêu rõ quyền tự do của con người là bất khả xâm phạm, những vi phạm quyền này chỉ có thể minh chứng bằng luật pháp.
Điều 5 khẳng định mỗi người đều có quyền bày tỏ, tuyên truyền, tự do phát biểu ý kiến của mình thông qua lời nói, văn bản hay hình ảnh. Mỗi người đều có quyền được thông tin và tiếp cận các nguồn thông tin. Tự do báo chí , tự do thông tin qua đài, ti vi, điện ảnh phải được đảm bảo và không có kiểm duyệt. Các quyền này có một số giới hạn thông qua luật, và thông qua một số những quy định hợp pháp trong việc bảo vệ thanh thiếu niên, hay bảo vệ quyền được tôn trọng danh dự cá nhân. Khoa học nghệ thuật, nghiên cứu và giảng dạy phải được tự do. Tự do giảng dạy không tách rời với quy định của Hiến pháp.
Điều 70 quy định các bang (Les Länder) có quyền ban hành các đạo luật trong trường hợp mà bộ Luật Cơ bản Đức không dành cho Nhà nước liên bang quyền ban hành. Giới hạn thẩm quyền của nhà nước liên bang và các bang được phân định theo Hiến pháp. Đó là thẩm quyền riêng và thẩm quyền chung giữa Nhà nước liên bang và các bang. Có nghĩa là nếu Hiến pháp không nêu ra thẩm quyền của Nhà nước liên bang thì các thẩm quyền này thuộc về các bang.
Điều 79 dòng 3 của Hiến pháp được coi là sáng tạo và hấp dẫn nhất trong toàn bộ bản Hiến pháp: “Cấm sửa đổi Hiến pháp liên quan đến các điều xác định thể chế liên bang của nước Đức, và các điều từ số 1 đến số 20”. Có nghĩa là mô hình của Nhà nước liên bang và các quyền cơ bản bảo vệ con người trong bản Hiến pháp này là bất biến, cấm được sửa đổi. Đó cũng là mối quan tâm lớn nhất của các nước đồng minh khi giúp Cộng hòa Liên bang Đức soạn thảo Hiến pháp này.
Luật Cơ bản của Đức ngày 23 tháng 5 năm 1949 được coi là một bản Hiến pháp tiến bộ và rất chi tiết.
Sau chiến tranh thế giới thứ hai, nước Đức là một nước đầu hàng phe đồng minh, nền luật pháp được xây dựng lại từ đầu vì Đức và các nước đồng minh không thể lấy lại các bộ luật và Hiến pháp của Đức quốc xã. Trải qua quá trình xây dựng nền luật pháp cho mình, nước Đức đã hoàn thiện Luật Cơ bản và các bộ luật. Luật Cơ bản đã trở thành bản Hiến pháp có ảnh hưởng lớn ở Châu Âu. Sau khi khối Xã hội chủ nghĩa sụp đổ, các nước như Tiệp, Slovaquia, Ucraina … đã biên soạn Hiến pháp mới dựa trên Luật Cơ bản Đức.
Hiện nay bản Luật Cơ bản này được đánh giá cao nhất Châu Âu. Cùng với Hiến pháp Mỹ, Pháp, Tây Ban Nha và Ý, Luật Cơ bản Đức đã tạo dựng nền dân chủ tiêu biểu trên thế giới, và trở thành mô hình cho các nước noi theo.
(Còn tiếp)
http://www.boxitvn.net/bai/28603

Phan Thành Đạt Hiến pháp và sửa đổi Hiến pháp – Kỳ 2

III. Sửa đổi Hiến pháp
Hiến pháp phải được sửa đổi cho phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh mới (nhất là trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay). Hiến pháp chịu sự tác động của luật quốc tế thông qua các Công ước quốc tế, hay các hiệp ước song phương và đa phương. Các nước đều phải sửa đổi Hiến pháp cho phù hợp với luật quốc tế. Hiến pháp của nền cộng hòa thứ nhất ngày 24 tháng 6 năm 1793 (Hiến pháp năm thứ nhất theo lịch cộng hòa), điều 28 có ghi rằng: “Một dân tộc có quyền xem xét, sửa đổi hay lập ra Hiến pháp mới. Thế hệ đi trước không thể lập ra các đạo luật bắt thế hệ đi sau phải tuân theo”. Nhất là khi hoàn cảnh thay đổi, một số điều ghi trong Hiến pháp không còn phù hợp với điều kiện mới. Sửa đổi Hiến pháp trở thành nhu cầu cấp bách, nó trở thành mối quan tâm hàng đầu của Nhà nước và nhân dân. Nhưng cũng cần lưu ý rằng sửa đổi Hiến pháp phải theo chiều hướng tích cực, nghĩa là các điều sửa đổi phải góp phần vào tiến trình dân chủ, phát triển kinh tế văn hóa, bảo vệ các quyền tự do của công dân… Một bản Hiến pháp có thể được sửa đổi toàn bộ hoặc sửa đổi một phần, nhưng điều quan trọng là Hiến pháp sau khi được sửa phải tiến bộ hơn Hiến pháp cũ.
Các nhà soạn thảo Hiến pháp rất thận trọng với nguy cơ sửa đổi Hiến pháp theo chiều hướng ngược lại, vì vậy trong quá trình soạn thảo, họ cố gắng đưa vào Hiến pháp một số nguyên tắc và khẳng định các nguyên tắc đó không được phép sửa đổi. Ví dụ trong lần sửa Hiến pháp lần thứ 8, Nghị viện Mỹ ghi thêm điều này: “Việc bổ sung thêm một số quyền công dân vào Hiến pháp phải luôn tôn trọng điều kiện đi kèm là các quyền mới được công nhận này không thể hạn chế hay ngăn cấm các quyền công dân đã được thừa nhận trước đây”. Hay ở điều 79 dòng 3 của Luật Cơ bản Đức có ghi: “Chính thể liên bang của nước Đức cùng với các quyền tự do của con người được điều 1 đến điều 20 công nhận sẽ không bao giờ được phép sửa đổi”. Điều 89 của Hiến pháp nền cộng hòa thứ 5 của nước Pháp ghi nhận: “Toàn vẹn lãnh thổ của quốc gia và thể chế cộng hòa của nước Pháp sẽ không bao giờ được sửa đổi trong Hiến Pháp”. Các điều này thể hiện nguyện vọng của các nhà soạn thảo Hiến pháp, họ đại diện cho ý chí và mong ước của nhân dân, họ viết ra các điều này nhằm giữ gìn các giá trị quý nhất mà Hiến pháp ghi nhận như bảo vệ các quyền thiêng liêng của con người, bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ, duy trì và củng cố nền dân chủ.
Thủ tục sửa đổi Hiến pháp
Ý tưởng sửa đổi Hiến pháp xuất phát từ nhân dân hay từ các cơ quan công quyền như Chính phủ, Quốc hội… Nhìn chung, Nhà nước chủ động trong việc sửa đổi Hiến pháp. Sửa đổi Hiến pháp cũng như soạn thảo Hiến pháp phải được phổ biến rộng rãi đến toàn dân, nhân dân mới là những người chủ thực sự trong việc sửa đổi Hiến pháp, ví dụ ở Thụy Sĩ, nhân dân đưa ra ý kiến sửa đổi Hiến pháp. Nếu họ tập hợp được đa số chữ ký ủng hộ trong một vùng thì Nhà nước bắt buộc phải sửa Hiến pháp theo ý nguyện của nhân dân. Tuy nhiên, thủ tục này rất khó thực hiện ở các nước đông dân, do đó Nhà nước thường bầu ra một Ủy ban sửa đổi Hiến pháp, trong đó các thành viên là nghị sĩ Quốc hội có uy tín và hiểu biết về luật pháp, ngoài ra Ủy ban còn có các thành viên độc lập như các giáo sư luật, các nhà văn hóa ưu tú của đất nước… Ủy ban sửa đổi Hiến pháp càng được mở rộng thì tính dân chủ và hiệu quả công việc càng cao.
Khi các điều cần sửa đổi được thảo luận và quyết định xong, Ủy ban đệ trình lên Quốc hội xem xét lần cuối, sau đó Tổng thống (Chủ tịch nước) sẽ thông qua bằng hai cách. Một là dự án sửa đổi Hiến pháp sẽ được đệ trình trước nhân dân để nhân dân phúc quyết bằng hình thức trưng cầu dân ý, đây là cách thức mang tính dân chủ cao nhất. Hai là Tổng thống quyết định sửa đổi bằng con đường Nghị viện. Các nghị sĩ sẽ bỏ phiếu, việc sửa đổi Hiến pháp chỉ được thông qua với 3/4 hay 4/5 số phiếu ủng hộ của các đại biểu tham dự. Ngày sửa Hiến pháp đánh dấu một sự kiện chính trị quan trọng của đất nước. Đại hội sửa đổi Hiến pháp tại Pháp được tổ chức tại cung điện Versailles, tất cả các nghị sĩ của hai viện tham dự, đó là sự kiện chính trị quan trọng. Trong hai cách sửa đổi Hiến pháp bằng trưng cầu dân ý và bỏ phiếu tại đại hội, người đứng đầu Nhà nước thường chọn cách thứ hai vì trưng cầu dân ý có thể tiềm ẩn những nguy cơ khi nhân dân không đồng tình với các chính sách của Nhà nước. Nhân dân sẽ biểu hiện nỗi tức giận và thất vọng của mình với Nhà nước bằng cách không đi bỏ phiếu hoặc bỏ phiếu từ chối. Kết quả là kế hoạch của Nhà nước bị thất bại, điều này thể hiện niềm tin của nhân dân đối với nhà cầm quyền bị suy giảm nghiêm trọng, Chính phủ cầm quyền bị lung lay vì không được lòng dân. Ví dụ tiêu biểu là cuộc trưng cầu dân ý năm 1968 tại Pháp, Tổng thống Charles de Galle muốn thông qua trưng cầu dân ý để cải cách Thượng viện bằng cách sửa đổi Hiến pháp xong nhân dân Pháp đã bỏ phiếu để gạt bỏ kế hoạch này. Kết quả là Tổng thống đã quyết định từ chức vì chính sách của ông không hợp lòng dân.
Một bản Hiến pháp dân chủ và cách thức sửa đổi cho dù minh bạch cũng sẽ không có ý nghĩa gì nếu không có mặt của một Tòa án Hiến Pháp.
IV. Tòa án Hiến pháp
Các nước đều thiết lập một Tòa án Hiến pháp, trừ các quốc gia như Anh và các nước Bắc Âu, không có Tòa án Hiến pháp hoặc Tòa án Hiến pháp tồn tại dưới dạng một ủy ban trong Nghị viện. Nhưng đó là đặc điểm riêng của các quốc gia này, nơi mà Nghị viện có vai trò quan trọng hơn Chính phủ, cho dù các quan tòa Hiến pháp vắng mặt nhưng nền dân chủ và các nguyên tắc của nhà nước pháp quyền vẫn được đảm bảo.
4.1. Vai trò của Tòa án Hiến pháp
Tòa án Hiến pháp có vai trò chính là giám sát các đạo luật của Nghị viện để xem xét chúng có hợp hiến không. Nếu đạo luật hay một số điều trong đạo luật không tôn trọng các quy định của Hiến pháp. Tòa án Hiến pháp ra phán quyết đạo luật vi hiến và cấm không cho ban hành. Nghị viện có hai lựa chọn, thứ nhất, hủy bỏ đạo luật vi hiến, thứ hai, Nghị viện phải nghiên cứu và thảo luận lại đạo luật đó cho phù hợp với Hiến Pháp. Tiếp theo, đạo luật sau khi đã sửa đổi, lại được Tòa án Hiến pháp xem xét lần hai. Nếu các quan tòa Hiến pháp vẫn cho rằng đạo luật vi hiến, Nghị viện phải xem xét và sửa lại cho đến khi đạo luật đúng với Hiến pháp thì thôi. Đạo luật hợp hiến sẽ được Tổng thống (Chủ tịch nước) ban hành và đạo luật sẽ có hiệu lực từ ngày ban hành.
Đây là hình thức giám sát luật trước khi ban hành của Tòa án Hiến pháp, nguyên tắc này được áp dụng rộng rãi tại Châu Âu. Nguyên tắc thứ hai là hình thức giám sát luật sau khi ban hành, nguyên tắc này được áp dụng chủ yếu tại Mỹ và tỏ ra rất hiệu quả. Nghị viện thông qua đạo luật và sau đó luật được ban hành, đạo luật ấy sẽ được xem xét trong từng trường hợp cụ thể. Các quan tòa của Tòa án liên bang và Tòa án tối cao sẽ giám sát tính hợp hiến của đạo luật trong từng vụ việc cụ thể và loại bỏ nó khi bị coi là vi hiến. Nhưng đạo luật vi hiến ấy chỉ không có giá trị trong vụ việc này nhưng lại hợp hiến trong vụ việc khác, do đó đạo luật vi hiến không mất đi mà tiếp tục tồn tại. Ở Mỹ, tất cả các quan tòa đều có nghĩa vụ giám sát luật để bảo đảm những giá trị cơ bản của Hiến pháp, còn tại Châu Âu, nhiệm vụ này được giao cho một cơ quan duy nhất là Tòa án Hiến pháp. Các nước hiện nay áp dụng cả hai hình thức giám sát này. Tòa án Hiến pháp chỉ thực hiện nhiệm vụ giám sát luật khi Nghị viện hay Chính phủ yêu cầu. Qua việc giám sát luật, Tòa án Hiến pháp bảo vệ các quyền tự do của công dân được Hiến Pháp công nhận. Ngoài ra, Tòa án Hiến pháp còn kiểm tra và công bố kết quả các cuộc bầu cử quan trọng như bầu cử Nghị viện, bầu cử Tổng thống để bảo vệ tính minh bạch trong quá trình bầu cử.
4.2. Bầu chọn các quan tòa cho Tòa án Hiến pháp
Tòa án Hiến pháp giữ vai trò độc lập. Các quyết định của Tòa phải được tuân thủ, tất cả các cơ quan công quyền đều phải tôn trọng các phán quyết của Tòa án Hiến pháp vì Tòa án này có vị trí cao nhất trong hệ thống luật pháp. Quan tòa ở Tòa án Hiến pháp là người bảo vệ các giá trị của Hiến pháp.
Các thành viên của Tòa án Hiến pháp là những gương mặt ưu tú của đất nước, họ là các luật sư giỏi, các giáo sư luật hay những quan chức cao cấp có uy tín… Phán quyết của họ mang tính độc lập và không chịu sự chi phối của bất cứ cơ quan nào vì vậy mỗi quyết định của Tòa thường chuẩn xác và được nhân dân mong đợi.
Hội đồng Hiến pháp ở Pháp gồm 9 thành viên chính thức và hai thành viên là các Tổng thống mãn nhiệm được Hiến pháp công nhận là các thành viên suốt đời, 9 thành viên lần lượt được Tổng thống, chủ tịch Thượng viện và chủ tịch Quốc hội cử ra, quan tòa Hiến pháp có nhiệm kỳ 9 năm và không được bầu lại.
Tòa án Hiến pháp Đức gồm 16 thành viên, do Thủ tướng và Thượng viện bầu ra.
Tòa án tối cao Mỹ có 9 thành viên, đều do Tổng thống bầu, quan tòa ở Tòa án tối cao có thể giữ chức vụ bao lâu mà họ muốn. Họ không thể bị bãi miễn, trừ trường hợp vi phạm pháp luật. Chính vì vậy, có nhiều vị giữ chức vụ qua nhiều đời Tổng thống Mỹ, khiến nhiều người có chung nhận xét là: “Các quan tòa ở Mỹ không chết và chẳng bao giờ già đi!”.
Tòa án Hiến pháp có ngân sách riêng do nhà nước chu cấp và giữ vai trò độc lập.
(Còn tiếp)
Kỳ 3 – Hiến pháp và sửa đổi Hiến pháp ở Việt Nam
P.T.Đ
http://www.boxitvn.net/bai/28622

Phan Thành Đạt Hiến pháp và sửa đổi Hiến pháp – Kỳ 3

V. Hiến pháp và sửa đổi Hiến pháp ở Việt Nam
Việt Nam đã biên soạn được 4 bản Hiến pháp, đó là Hiến pháp năm 1946, năm 1959, năm 1980 và năm 1992. Người viết bài này chỉ đề cập đến hai bản Hiến pháp năm 1946 và năm 1992.
5.1. Hiến pháp năm 1946
Hiến pháp năm 1946 của Chính phủ liên hiệp nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là một văn bản pháp lý rất có giá trị, đây là bản Hiến pháp dân chủ nhất trong 4 bản Hiến pháp. Điều này khiến nhiều người ngạc nhiên vì nhìn chung các Hiến pháp soạn thảo về sau phải đầy đủ và dân chủ hơn các bản Hiến pháp trước đó, nhưng trong trường hợp này lại ngược lại.
Hiến pháp năm 1946 thiết lập nền cộng hòa và đặt tên nước là Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Cái tên ngày nay vẫn giữ nguyên giá trị và là mục tiêu hướng đến của nước Việt Nam độc lập, dân chủ và giàu mạnh.
Hồ Chí Minh được bầu là Chủ tịch đầu tiên của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Bản Hiến pháp năm 1946 công nhận các quyền cơ bản của công dân như quyền bầu cử, quyền tự do ngôn luận, quyền sở hữu…
Nguyên tắc tam quyền phân lập chưa được nêu ra đích danh nhưng các nhà soạn thảo Hiến pháp đã tách biệt được các quyền hành pháp, lập pháp và tư pháp.
Đăc biệt vai trò của Nghị viện được nhấn mạnh và nhắc đến nhiều lần, các nhà soạn thảo mong muốn thiết lập chế độ Nghị viện ở Việt Nam, đó là một thể chế chính trị dân chủ phổ biến tại Châu Âu. Ví dụ điều thứ 25: “Nghị viện không phải chỉ thay mặt cho địa phương mình mà còn thay mặt cho toàn thể nhân dân”. Hiến pháp năm 1946 nêu ra chế độ bầu cử trực tiếp và thực hiện bình đẳng giới. Hiến pháp này còn đưa ra quyền phúc đáp của nhân dân, điều đặc biệt là bản Hiến pháp đề cao và giữ gìn tiếng nói, văn hóa của các dân tộc thiểu số. Đây là những giá trị rất nhân văn và tiến bộ, ngay cả các nước có truyền thống soạn thảo Hiến pháp như nước Pháp cũng còn bỏ quên ý này trong các bản Hiến pháp đầu tiên.
Hiến pháp năm 1946 là một văn bản pháp lý ngắn gọn, súc tích, nêu được những nguyên tắc cơ bản của nền dân chủ. Thành công của bản Hiến pháp này là do các thành viên trong ban soạn thảo có hiểu biết sâu sắc về pháp luật và họ biết vận dụng các bản Hiến pháp dân chủ của nước Pháp. Ảnh hưởng của nền luật pháp phương Tây được thể hiện rất rõ qua một số điều được lấy lại từ Hiến pháp của Pháp và được chuyển hóa cho phù hợp với hoàn cảnh Việt Nam, ví dụ điều thứ 16: “Những người ngoại quốc tranh đấu cho dân chủ và tự do mà phải trốn tránh thì được trú ngụ trên đất Việt Nam” được dựa trên điều 120 của bản Hiến pháp ngày 24 tháng 6 năm 1793 (Hiến pháp năm thứ nhất của nền cộng hòa): “Nhân dân Pháp cho phép những người ngoại quốc được cư trú trên đất nước mình một khi những người này bị truy đuổi khỏi tổ quốc của họ vì sự nghiệp đấu tranh cho tự do. Nhân dân Pháp không chấp nhận những tên bạo chúa cư trú trên đất Pháp”.
Hiến pháp năm 1992 lấy lại điều này và bổ sung thêm khái niệm Chủ nghĩa xã hội ở điều 82 khiến ý nghĩa điều này trở nên lan man: “Người nước ngoài đấu tranh vì tự do và độc lập dân tộc, vì Chủ nghĩa xã hội… Nhà nước CHXHCH Việt Nam xem xét việc cư trú ”. Nếu được chọn giữa hai bản Hiến pháp năm 1946 và Hiến pháp năm 1992, tôi sẽ chọn Hiến pháp năm 1946 đồng thời bổ sung thêm một số điều cho phù hợp với hoàn cảnh mới.
5.2. Hiến pháp năm 1992
Đây là một bản Hiến pháp dài, một số điều có những câu từ lan man và khó hiểu, qua đó có thể thấy năng lực của những người soạn thảo Hiến pháp năm 1992 thua xa thế hệ đi trước. Tuy vậy, Hiến pháp năm 1992 cũng có một số điều tiến bộ và có tính nhân văn như điều 29, điều 32, điều 61, điều 67, điều 119. Các điều 17 đến điều 22 không nhất thiết phải đưa vào Hiến pháp mà nên chuyển thành luật vì Hiến pháp phải có giá trị khái quát cao, thể hiện được tầm nhìn của Nhà nước ở mức độ vĩ mô. Hiến pháp phải thể hiện khát vọng và cái đích hướng đến của nhân dân Việt Nam vì một tương lai tươi sáng. Một số điều như điều 34, điều 42 hay nhưng lại thiếu ý, còn các điều khác như điều 47, 48 có thể gộp làm một.
Ví dụ điều 49: “Công dân nước CHXHCN Việt Nam là người có quốc tịch Việt Nam”.
Điều này tuy ngắn gọn và định nghĩa được người mang quốc tịch Việt Nam là ai nhưng lại không nêu rõ được những điều kiện để trở thành công dân Việt Nam. Xin được sửa là: Công dân Việt Nam là người sinh ra trên lãnh thổ Việt Nam, là người Việt Nam sinh sống và làm việc tại nước ngoài. Công dân Việt Nam là người có cha mẹ hoặc cha hoặc mẹ là người Việt Nam nhưng sinh ra ở nước ngoài, biết nói, viết tiếng Việt, nếu có nguyện vọng giữ quốc tịch Việt Nam, sẽ được chấp thuận và được hưởng mọi quyền lợi và nghĩa vụ của người Việt Nam. Những người nước ngoài có đóng góp lớn lao cho sự nghiệp khoa học kỹ thuật, văn hóa, giáo dục. Hay họ sát cánh cùng nhân dân Việt Nam trong cuộc đấu tranh dựng nước và giữ nước. Nhà nước Việt Nam sẽ ban tặng quốc tịch Việt Nam theo nguyện vọng của họ.
Ủy ban sửa đổi Hiến pháp lần này cần sửa lại một số điều cho ngắn gọn, súc tích nhưng cũng giải thích cụ thể các điều chưa rõ ràng, đặc biệt cần đưa thêm một số điều quan trọng vào Hiến pháp cho phù hợp với hoàn cảnh và tình hình mới. Hiến pháp năm 1992 sẽ trở nên thực sự dân chủ, tiến bộ hơn, phù hợp với thế hệ tương lai, đó cũng là nguyện vọng của nhân dân.
5.3. Những đề nghị sửa đổi Hiến pháp
Đề nghị thứ 1: Đổi tên nước “Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam” thành nước “Việt Nam Dân chủ Cộng hòa” điều này rất quan trọng và mang tính chiến lược lâu dài. Quốc hiệu Việt Nam Dân chủ Cộng hòa có nhiều ý nghĩa đó là mục tiêu hướng đến của nhân dân Việt Nam, nhân dân thiết lập nền cộng hòa.
Ý nghĩa gốc của từ cộng hòa trong tiếng la tinh: Res publica , nghĩa là cái của chung, Nhà nước được nhân dân bầu ra, Nhà nước bao gồm các cơ quan công quyền như Quốc hội, Chính phủ, Tòa án… để phục vụ nhân dân, công nhận nền cộng hòa có nghĩa là từ bỏ chế độ quân chủ, chính thể đầu sỏ, hay độc tài mà quyền lực tập trung trong tay một số người hay một gia đình… Nền cộng hòa ở đây được hiểu là quyền lực nằm trong tay nhân dân và nhân dân bầu ra những người đại diện cho mình để thực thi những quyền nhân dân giao phó. Nền cộng hòa thể hiện ở chỗ các cơ quan công quyền phải phục vị lợi ích chung của nhân dân, luật pháp thể hiện ý nguyện của nhân dân. Dân chủ thể hiện qua chế độ bầu cử trực tiếp, nhà nước thuộc về tay nhân dân và đáp ứng những đòi hỏi của nhân dân. Hai khái niệm dân chủ và cộng hòa bổ sung và đan xen nhau, góp phần tạo dựng một nước Việt Nam tiến bộ, giàu mạnh, người dân được tự do, hạnh phúc. Quốc hiệu Việt Nam Dân chủ Cộng hòa bao hàm tất cả những ý nghĩa tốt đẹp đó, đây cũng là ước muốn của thế hệ đi trước muốn gửi đến chúng ta hôm nay và thế hệ mai sau. Vì vậy Quốc hiệu Việt Nam Dân chủ Cộng hòa luôn đúng và phù hợp với đà phát triển của nhân loại tiến bộ. Còn Quốc hiệu hiện nay: “Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam” – một khái niệm mơ hồ, không biết con đường đi của đất nước sẽ ra sao, không thể hiện được ý nguyện của nhân dân, khái niệm này không nhắc đến từ dân chủ.
Ở đây cũng cần giải thích vì sao Quốc hiệu Việt Nam Dân chủ Cộng hòa lại chuyển thành Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Hiến pháp năm 1946 và 1959 không hề nhắc đến khái niệm Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Khái niệm này chỉ xuất hiện ở Hiến pháp năm 1980 và sau đó được lặp lại ở Hiến pháp 1992, vì sao như vậy?
Từ những năm 50 cho đến những năm 90, đó là thời kì chiến tranh lạnh, là giai đoạn đối đầu giữa Mỹ và Liên Xô. Hai cường quốc này chạy đua vũ trang. Mỹ tập hợp được các đồng minh như Anh, Pháp, Tây Đức còn Liên Xô kiểm soát được một loạt các quốc gia Đông Âu bằng bàn tay sắt của mình. Việt Nam với vị trí địa lý chiến lược ở Đông Nam Á, không thoát khỏi tầm ảnh hưởng của các cường quốc đó. Mỹ muốn biến miền Nam Việt Nam thành đồng minh và xây dựng một nhà nước theo kiểu Mỹ, còn miền Bắc Việt Nam lại trong vòng ảnh hưởng của Liên Xô va Trung Quốc. Hai quốc gia này giúp đỡ miền Bắc Việt Nam đánh Mỹ giải phóng đất nước. Miền Bắc nhận được nhiều viện trợ và càng ngày càng ngả theo Liên Xô và Trung Quốc đồng thời chịu ảnh hưởng về ý thức hệ của các cường quốc này, kết quả là miền Bắc trở thành đồng minh chiến lược của Liên Xô và là một bộ phận của khối XHCN do Liên Xô áp đặt để đối đầu với khối Tư bản. Quốc hiệu Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chuyển thành Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam là một hệ quả lịch sử, minh chứng cho hoàn cảnh lúc đó bởi vì khi trở thành đồng minh của khối XHCN, miền Bắc Việt Nam có nhiều điểm lợi như tranh thủ được sự giúp đỡ của nhiều nước cùng ý thức hệ. Hàng vạn thanh niên miền Bắc được đào tạo tại các nước XHCN để trở thành lực lượng cán bộ sau này, năm 1991 khối XHCN sụp đổ, cái tên XHCN giờ chỉ còn trên văn bản. Chúng ta không còn lý do gì để níu kéo khái niệm này, chúng ta cần trở lại với Quốc hiệu Việt Nam Dân chủ Cộng hòa mà những người con ưu tú đã chọn lựa trước đây.
Đề nghị thứ 2: Bổ sung nguyên tắc tam quyền phân lập trong bản Hiến pháp năm 1992. Các cơ quan hành pháp, lập pháp và tư pháp phải có vai trò và vị trí độc lập, ba cơ quan này có thể hợp tác với nhau trong một mức độ giới hạn. Cơ quan lập pháp phải được củng cố bằng việc cử ra quan tòa, thẩm phán có vai trò độc lập và không thể bãi miễn trừ khi vi phạm luật. Ở mỗi tòa án từ cấp cơ sở đến tòa án tối cao phải được phân ra thành các phòng ban, đặc biệt phải có phòng phụ trách hành chính gọi là tòa án hành chính. Các quan tòa hành chính xét xử các vi phạm của Nhà nước đối với công dân và buộc Nhà nước phải đền bù những thiệt hại do mình gây ra. Tòa án hành chính là một bộ phận trong tòa án nhân dân, có thêm trách nhiệm xử lý các thông tư, nghị định, nghị quyết vi phạm luật và phải hủy bỏ các quyết định đó.
Đề nghị thứ 3: Thiết lập Tòa án Hiến pháp Việt Nam gồm 11 thành viên, trong đó 3 thành viên do Chủ tịch nước bầu ra, 3 thành viên do Thủ tướng bầu ra, 3 thành viên khác được Ủy ban thường vụ Quốc hội bầu, 1 thành viên do Tổng liên đoàn lao động cử ra, một thành viên khác do Mặt trận tổ quốc bầu ra. Các thành viên được bầu phải là những trí thức có uy tín, có hiểu biết về pháp luật, họ không nhất thiết phải nằm trong bộ máy hành chính nhà nước. Tòa án Hiến pháp có vai trò độc lập, không chịu sức ép từ Đảng, Chính phủ hay Quốc hội. Quyết định của Tòa án Hiến pháp có giá trị cao hơn luật và không thể khiếu nại. Tòa án Hiến pháp có một khoản ngân sách độc lập, có quy chế làm việc và nội quy riêng. Ngân sách của Tòa án và lương trả cho quan tòa Hiến pháp do nhà nước chi, khoản chi ngân sách phải được công bố trên các phương tiện thông tin đại chúng vào trước Tết Nguyên Đán hàng năm. Nhiệm kì của quan tòa Hiến pháp là 10 năm và không được bầu lại. Xây dựng một Tòa án Hiến pháp ở Việt Nam là chiến lược rất quan trọng để bảo đảm sự tồn tại của một Nhà nước pháp quyền.
Đề nghị thứ 4: Tổ chức Hội nghị Diên Hồng khi tình hình đất nước lâm nguy: Khi giặc ngoại xâm đe dọa bờ cõi và biển đảo của Tổ Quốc, khi đất nước bị thiên tai, lụt lội nghiêm trọng… Chủ tịch nước sau khi thảo luận với Thủ tướng Chính phủ và Chủ tịch Quốc hội, Chủ tịch nước cần hỏi ý kiến của Tòa án Hiến pháp, sau đó triệu tập Hội nghị Diên Hồng tại thủ đô Hà Nội để bàn bạc và tìm ra biện pháp đối phó với tình hình nguy nan của đất nước.
Các đại biểu dự Hội nghị Diên Hồng đến từ 63 tỉnh thành của cả nước, họ đại diện cho các tầng lớp nhân dân trong xã hội Việt Nam. Mỗi tỉnh thành cử từ 20 đến 100 đại diện tùy theo dân số của các tỉnh thành (ví dụ: Hà Nội cử 80 đại biểu, HưngYên cử 20 đại biểu…) Hội nghị Diên Hồng dưới sự chủ trì của Nhà nước, các đại biểu dự hội nghị bày tỏ ý kiến bằng cách bỏ phiếu. Nhà nước phải xem xét và theo quyết định của Hội nghị.
Nếu tình hình quá khẩn cấp, Nhà nước không kịp triệu tập Hội nghị Diên Hồng, Chủ tịch nước sẽ họp bàn với Tòa án Hiến pháp cùng với sự tham gia của Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng chính phủ và các Bộ trưởng Quốc phòng, Ngoại giao và Công an. Quyết định sẽ được thi hành ngay sau cuộc họp.
Mô hình Hội nghị Diên Hồng cần được nhân rộng trong nhiều lĩnh vực đời sống, các thành viên tham gia phải có chuyên môn theo từng lĩnh vực của Hội nghị: Hội nghị Diên Hồng khoa học kĩ thuật, Hội nghị Diên Hồng giáo dục…
Nhà nước cần tài trợ và tổ chức Hội Nghị Diên Hồng đồng thời tiếp thu các ý kiến từ Hội nghị.
Đề nghị thứ 5: Chủ tịch nước được nhân dân trực tiếp bầu ra, tất cả các công dân Việt Nam trên 30 tuổi không có tiền án, tiền sự, không có dấu hiệu tâm thần đều có quyền ứng cử chức Chủ tịch nước nếu tập hợp được 3000 chữ ký của nhân dân trên 63 tỉnh thành, ứng cử viên Chủ tịch nước còn được các cơ quan công quyền cử ra.
Nhà nước nên bỏ một số chức danh như Phó thủ tướng Chính phủ, Phó Chủ tịch nước thay vào đó bầu ra các Bộ trưởng thường trực, không cần thiết giữ vị trí Phó Chủ tịch nước vì nhiệm vụ của Chủ tịch nước được Hiến pháp giao cho không nhiều. Chủ tịch nước hoàn toàn đàm nhiệm được công việc của Phó Chủ tịch nước.
Công việc của các Phó Thủ tướng sẽ do Thủ tướng và các bộ trưởng đảm nhiệm, như vậy bộ máy của Chính phủ sẽ đỡ cồng kềnh và hiệu quả hơn, nếu thấy cần thiết Chính phủ có thể tuyển thêm cố vấn.
Để tôn trọng nguyên tắc tam quyền phân lập, các thành viên Chính phủ không nên ứng cử Quốc hội hoặc các nghị sĩ Quốc hội không là thành viên của Chính phủ.
Đề nghị thứ ¬6: Thành lập Hội đồng ngân sách Quốc gia gồm 13 thành viên là các chuyên gia tài chính, cơ quan này hoạt động độc lập có thẩm quyền giám sát việc chi tiêu của Chính phủ, Quốc hội, các bộ và các cơ quan hành chính cơ sở. Tất cả các cơ quan công quyền phải có báo cáo chi tiêu hàng năm cho Hội đồng ngân sách Quốc gia. Hội đồng công bố kết quả giám sát trước Tết Nguyên Đán. Hội đồng cũng là cơ quan tiếp thu các đơn, thư tố cáo tham nhũng của nhân dân. Các thư ký Hội đồng xem xét và gửi các đơn tố cáo đến tòa án hành chính các cấp. Hội đồng tổ chức họp báo và công bố các vụ việc tham nhũng nghiêm trọng.
Đề nghị thứ 7: Mở rộng các quyền tự do cho nhân dân, nhất là tự do ngôn luận, tự do hội họp và lập hội, tự do biểu tình đặc biệt là biểu tình yêu nước…
Đề nghị thứ 8: Việt Nam ủng hộ sự nghiệp đấu tranh vì hòa bình, dân chủ và tiến bộ của các dân tộc trên thế giới. Việt Nam sẵn sàng tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình của Liên Hiệp Quốc (Điều này có lợi để giúp Việt Nam xích lại gần hơn với Mỹ và Châu Âu, hơn nữa đây là cơ hội học hỏi của Quân đội nhân dân Việt Nam với quân đội của các nước tiên tiến, thế giới sẽ ủng hộ Việt Nam nhiều hơn trong cuộc đấu tranh giữ vững chủ quyền lãnh thổ và biển đảo của tổ quốc).
Đề nghị thứ 9: Tất cả các hiệp định song phương và đa phương ký kết giữa Việt Nam và nước ngoài liên quan đến lãnh thổ và lãnh hải Việt Nam đều phải được thảo luận ở Quốc hội trước khi ký kết. Mọi hiệp định hay công hàm ngoại giao liên quan đến nhượng bộ đất đai và biển đảo của tổ quốc đều không có giá trị, toàn vẹn lãnh thổ và lãnh hải Việt Nam là bất khả xâm phạm, cấm sửa đổi điều này trong Hiến pháp.
(Hoàng Sa và Trường Sa là mảnh đất thiêng liêng của dân tộc Việt Nam. Thế hệ hôm nay chưa lấy lại được Hoàng Sa, thì trách nhiệm này thuộc về các thế hệ tương lai, khi điều kiện và hoàn cảnh cho phép. Việt Nam cần lấy lại Hoàng Sa, ải Nam Quan, một nửa thác bản Dốc, dãy núi Đất. Chúng ta không đi ăn cướp, chúng ta chỉ lấy lại những gì thuộc về của mình, điều đó cũng hợp với mệnh trời và lòng người, cuộc đấu tranh trên mặt trận ngoại giao sẽ rất khó khăn nhưng chúng ta không lùi bước).
Đề nghị thứ 10: Tất cả các hiệp ước quốc tế một khi được ký kết, đều có giá trị cao hơn luật pháp, tuy nhiên khi luật quốc tế trái với Hiến pháp, để luật quốc tế được thực thi trên lãnh thổ Việt Nam, trước hết, Hiến pháp cần được sửa đổi.
Đề nghị thứ 11: Mọi công dân Việt Nam đều có quyền được sống, học tập và làm việc trong một môi trường trong lành. Bảo vệ môi trường là trách nhiệm của Nhà nước và nhân dân, Nhà nước phải làm mọi việc cần thiết để giữ gìn tài nguyên thiên nhiên vì một môi trường xanh, sạch, đẹp.
Kết luận
Trên đây là bài phân tích đi kèm những ý kiến đóng góp của một người con sống xa đất mẹ Việt Nam, với tấm lòng yêu quê hương thiết tha như bao nhiêu người con Việt Nam khác, người viết bài này kính mong Bộ chính trị, Ban chấp hành Trung ương, Quốc hội quan tâm đến ý kiến đóng góp của mình cũng như các ý kiến đóng góp của các trí thức ưu tú trong và ngoài nước. Là người Việt Nam, ai cũng mong muốn đất nước giàu mạnh, dân chủ, văn minh. Đất đai và biển đảo quê hương được giữ gìn để trao lại cho con cháu. Người viết bài này không có một ý định nào khác ngoài những ước nguyện trên. Đất nước Việt Nam đang phải hứng chịu nhiều mối đe doạ của chủ nghĩa dân tộc Đại Hán với chính sách bành trướng hung bạo. Trung Quốc thường xuyên hãm hại những ngư dân Việt Nam đánh cá trên vùng biển truyền thống của mình. Chủ quyền biển đảo quê hương đang dần bị thôn tính theo kiểu tằm ăn rỗi.
Nhân dân Việt Nam đã chịu nhiều mất mát hy sinh trong chiến tranh, nay lại thêm nạn tham nhũng hoành hành, cùng thói hách dịch và coi thường nhân dân của một bộ phận quan chức. Tài nguyên thiên nhiên của cha ông để lại, đang bị đào bới, khai thác vô tội vạ. Những nguy cơ về môi trường, an ninh, cùng sự mai một văn hóa của các dân tộc thiểu số là rõ ràng, thêm vào đó là các tệ nạn xã hội, nhất là nạn buôn người đang đe dọa đến đạo đức và truyền thống của dân tộc.
Chúng ta sẽ để lại gì cho con cháu mai sau ngoài các khoản nợ nước ngoài ngày càng gia tăng ? Tài nguyên thiên nhiên đang dần cạn kiệt, môi trường bị ô nhiễm nghiêm trọng. Chất lượng cuộc sống ở các thành phố lớn, nhất là Hà Nội, Đà Nẵng, thành phố Hồ Chí Minh… đang bị giảm sút do môi trường ô nhiễm quá mức, những người dễ bị tổn thương nhiều nhất là người già và trẻ em.
Thế hệ tương lai sẽ nghĩ gì về chúng ta hôm nay, nếu như Việt Nam không đổi mới về chính trị ? Con tàu Việt Nam phải được những người tài giỏi và có tầm nhìn cầm lái. Chúng ta cần mạnh dạn tiến về hướng Tây, vì ở đó có dân chủ, đất nước sẽ giàu mạnh và chúng ta cần tránh xa hướng Bắc vì ở đó chỉ có sấm sét và giông tố đang đe dọa. Tiến về hướng Tây, Việt Nam hợp tác mật thiết với các nước như Mỹ, các quốc gia Châu Âu và cả Nhật và Ấn Độ sẽ tạo thế cân bằng đối trọng với Trung Quốc, thêm nữa sẽ giúp Việt Nam thoát khỏi vòng kiểm soát của Trung Quốc mà vòng vây đang ngày càng siết chặt.
Đảng và nhà nước cần đổi mới về chính trị, một cuộc cải cách sâu rộng về chính trị đem lại tự do, dân chủ sẽ giúp Việt Nam xích lại gần hơn với các nước tư bản. Tất cả đều phụ thuộc vào Bộ chính trị, Ban chấp hành Trung ương, Quốc hội, Chính phủ chỉ có lòng yêu nước và tư duy đổi mới sẽ chuyển biến những ý tưởng ấy thành sự thực.
Nhân dân Việt Nam đang chờ đợi quyết định của các đồng chí thông qua đợt sửa đổi Hiến pháp mang ý nghĩa lịch sử này.
P.T.Đ.
http://boxitvn.blogspot.com/2011/09/hien-phap-va-sua-oi-hien-phap_15.html#more

Nguyễn Huy Canh (Đảng viên) Thảo luận: Quyền lực chính trị và Hiến pháp

Công việc sửa đổi HIẾN PHÁP1992 (HP) đặt ra rất nhiều nội dung phải giải quyết từ tổ chức bộ máy nhà nước, quyền sở hữu đất đai, đến quyền phúc quyết HP của người dân… Và đặc biệt, nó đã được sự quan tâm, kỳ vọng rất lớn của nhân dân.
Tôi cho rằng các nhà chính trị, các luật gia sẽ là khó khăn trong việc giải quyết các nội dung này, nếu như ngay từ đầu, không có một quan niệm đúng đắn và đầy đủ về HP.
HP đã được chúng ta quan niệm như thế nào? Đó là bộ luật gốc, luật mẹ, luật cơ bản và có hiệu lực pháp lý cao nhất. Mọi văn bản pháp luật khác không được trái với nó. Đó là một hệ thống những quy định về bản chất nhà nước, chế độ chính trị-kinh tế-xã hội; những quy định về quyền và nghĩa vụ công dân… Đó là những quan điểm đúng về HP, nhưng tôi cho rằng chưa đầy đủ, chưa đi vào thực chất cốt lõi của nó. Nếu không có một lý thuyết về HP dẫn đường, soi sáng những vấn đề, những nhu cầu của xã hội, cái logic vận động của đời sống hiện thực thì tôi e rằng lần sửa đổi HP này vẫn chưa thể đáp ứng được tâm nguyện và ước vọng sâu xa của nhân dân.
Một lý thuyết mới về HP dẫn đường không thể không nói đến vấn đề QUYỀN LỰC và mối quan hệ của quyền lực chính trị của Đảng với bản thân nó. Khi nói về vấn đề này, GS Nguyễn Đăng Dung đã có một ý kiến đúng rằng, cốt lõi của HP là ở sự giới hạn quyền lực. Tôi xin được nói thêm, bản chất của HP là quyền lực chính trị của nhân dân được trao cho, ủy thác cho Nhà nước. Nếu nội dung này không được khẳng định, không được làm rõ thì cũng không có vấn đề được đặt ra về sự giới hạn quyền lực Nhà nước.
Quyền lực chính trị của nhân dân trao cho Nhà nước bằng HP và thông qua HP là gì? Chúng ta phải nói đến đó là quyền được quyết định những vấn đề lớn, trọng đại của đất nước về đối nội, đối ngoại; về an ninh, quốc phòng; về kinh tế, văn hóa-xã hội; về dự toán ngân sách; về cách thức tổ chức bộ máy Nhà nước; về cơ chế kiểm soát, hạn chế quyền lực…
Nhưng có một điều làm chúng ta phải suy nghĩ, phải đặt ra bởi những khó khăn của HP khi nó va chạm, gặp phải những vấn đề gọi là nhạy cảm. Đó là quyền được quyết định những vấn đề lớn của đất nước, của xã hội đã thuộc về ĐẢNG như một tất yếu lịch sử khi Đảng lãnh đạo nhân dân giành được chính quyền, và xây dựng chính quyền Nhà nước trong suốt những năm kháng chiến, chiến tranh chống giặc ngoại xâm.
Một tất yếu lịch sử đã không được soi sáng bởi một trí tuệ, một tư duy chính trị sâu sắc và dũng cảm khi chiến tranh đã đi qua. Đất nước đã được độc lập, được tự do. Kết quả ấy, thành quả ấy đương nhiên thuộc về sự hy sinh, sự lãnh đạo tài tình của Đảng. Nhưng thực tiễn và triết lý lịch sử cũng đã hiểu ra rằng thành quả ấy đầu tiên và cuối cùng cũng là của nhân dân, của sự hy sinh xương máu của nhân dân. Sự hy sinh ấy đã đem lại cho nhân dân cái khả năng, cái tư thế của người làm chủ đất nước, của người có khả năng ra được những quyết định về những vấn đề lớn, hệ trọng của đất nước và của cuộc đời mình dưới sự lãnh đạo của các chính đảng, của một chính đảng.
Ta gọi đó là quyền lực chính trị. Nó phải là của nhân dân, thuộc về nhân dân ngay từ đầu khi cái khả năng nói trên đã xuất hiện. Nhưng tiếc rằng, như một sự trớ trêu của lịch sử, cho đến tận ngày hôm nay chúng ta vẫn chưa có được cái điều tưởng như là logic, là hiển nhiên đó.
Điều lệ Đảng, chương III, điều 19, Đảng đã tự quy định nội dung quyền lực chính trị này thuộc về BCHTW. Như vậy có thể nói quyền lực chính trị đối với đất nước đã không thuộc về nhân dân. Điều ấy có nghĩa là nói: quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, HP là văn bản nhân dân trao quyền lực cho nhà nước chỉ còn là giả, là vật trang trí mà thôi.
Để tránh một sự hiểu lầm tai hại có thể có, tôi cũng phải nói rằng, từ trong lý thuyết đạo đức, ý chí đạo đức của Đảng, ngoài quyền lợi của nhân dân, Đảng không còn quyền lợi nào khác. Từ mệnh đề có tính đạo đức ấy, chúng ta phải suy ra được rằng quyền lực chính trị của Đảng, về thực chất cũng là của nhân dân…
Tuy nhiên từ cách thức tổ chức, từ mô hình chính trị đã được xây dựng, tư duy chính trị phải thấy ra cái logic không chối bỏ được này: do từ trong bản chất, Đảng là một tổ chức thống nhất về quyền lợi, về ý chí và về hành động, nên một lẽ tự nhiên, Đảng đã mang mô hình của một thể chế chính trị “chuyên chế” áp đặt vào cho nhân dân, cho xã hội chúng ta (có thể là do vô thức, vô tình?). Đây cũng là điều đã được một số nhà lãnh đạo cao cấp của Đảng và trí thức lớn của đất nước nhận ra.
Nói theo ngôn ngữ HP, quyền lực chính trị của Đảng là vi hiến (mặc dù đã có quy định của điều 4). Nhưng tiếc rằng thể chế chính trị này đã không có được cơ quan tư pháp (hiểu theo đúng chức năng và nhiệm vụ của nó), và cũng chẳng có được một chính trị gia, một lý luận gia nào cắt nghĩa cho được – một cách rõ ràng và thẳng thắn – cái điều phi logic này ngoài việc cổ vũ cho Đảng phải luật hóa nó (điều 4). Đó là điều không thể làm được vì những hệ lụy của nó đối với sự lãnh đạo của Đảng
Theo logic của lịch sử, của nhà nước pháp quyền hiện đại,quyền lực chính trị thực sự thuộc về nhân dân thì nhân dân phải có được 2 hành động liên tiếp sau:
Bước 1/ nhân dân trao, ủy thác quyền lực của mình cho Nhà nước bằng HP, thông qua HP (nhờ đó Nhà nước mới trở thành cơ quan quyền lực của xã hội);
Bước 2/ nhân dân tiếp tục trao các cơ quan Nhà nước cho các chủ thể chính trị bằng lá phiếu của mình. Bởi vì, các cơ quan Nhà nước phải do những con người bằng xương, bằng thịt thuộc các chính đảng nắm giữ, điều hành.
Trong trường hợp người viết bài này, đó là một tiên đề chính trị đã được mặc định (giống như tiên đề 5 Ơclit vậy), đó là việc nhân dân ta trao các cơ quan Nhà nước, và cùng với điều đó là quyền lực Nhà nước cho ĐCS thông qua các cuộc bầu cử QH và nguyên thủ QG.
Vì không thấy được cách thức tổ chức mô hình chính trị của mình là vi hiến, Đảng đã vô tình tạo ra những cơ chế chính trị cho sự sản sinh và nuôi dưỡng tham nhũng. Đó sẽ là một sự nhầm lẫn tai hại về bản chất.
Một bộ phận bảo thủ không nhỏ trong Đảng đã tìm thấy cơ sở lý luận cho hành động biến quyền lực của Đảng thành lợi ích, thành tiền bạc cho bản thân, cho vợ con mình, cho những đ/c của mình. Điều này càng trở nên rõ ràng và nghiêm trọng hơn bởi lịch sử nước nhà đang bị chi phối mạnh mẽ bởi quy luật đa nguyên (ít ra chúng ta cũng đã nhìn thấy quy luật đó trong lĩnh vực của các quan hệ kinh tế, của các lợi ích kinh tế, của lĩnh vực Tồn Tại).
Cơ sở lý luận cho lực lượng bảo thủ, giáo điều ấy chính là cơ chế quyền lực không được kiểm soát, không có giới hạn và đặt biệt là do đã đứng ở bên ngoài và bên trên HP.
Bộ phận quan chức này đang hàng ngày hàng giờ làm cho Đảng ta suy yếu, xa dân và mất uy tín với nhân dân. Đây chính là điều làm cho tướng VĨNH đau lòng chăng!?
Kết luận: Công cuộc sửa đổi HP chỉ có thể có được thành quả như một bước ngoặt lịch sử, khi Đảng CS nhất định hiểu ra được rằng: Đảng chỉ là một tổ chức chính trị (thuần túy) xét trong mối quan hệ tồn tại với xã hội. Chỉ trở thành một tổ chức có quyền lực, có quyền được ra quyết định về tất cả những vấn đề lớn, trọng đại của đất nước khi Đảng trở thành ĐẢNG CẦM QUYỀN thông qua bầu cử, qua lá phiếu bầu của nhân dân.
Điều đó đòi hỏi Đảng phải dũng cảm, mạnh mẽ thay đổi nhiều nội dung của Điều lệ, thay đổi cách thức tổ chức của mình. Tôi tin rằng, mặc dù là rất khó khăn,với điều đó, Đảng sẽ “trường tồn” cùng dân tộc và, đó cũng chính là cơ sở lý thuyết và thực tiễn cho công cuộc đổi mới HP1992.
N.H.C.
Tác giả gửi trực tiếp cho BVN
http://www.boxitvn.net/bai/29204

Để lại phản hồi »

Chưa có phản hồi.

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Tạo một website miễn phí hoặc 1 blog với WordPress.com.

%d bloggers like this: