Hoàngquang’s Blog

23/09/2011

Liệu Trung Quốc có thể gây ra cuộc chiến một khi Việt Nam và Ấn Độ cũng như Hoa Kỳ và Nhật bản, Úc cùng nhiều quốc gia Đông Nam Á kết thành một khối?

Nguyễn Hoàng Hà

Việt Nam đang cùng Ấn Độ ký kết khai thác thăm dò dầu khí tại vùng lãnh hải của Việt Nam ( ảnh của BBC tiếng Việt

Trần Bình

Thế tiến thoái lưỡng nan của Trung Quốc và cuộc đọ sức tại Châu Á Thái Bình Dương
Lê Ngọc Thống Trung Quốc: sự thay đổi lớn đang đến gần

Mặc Lâm, biên tập viên RFA Trung Quốc khống chế Việt Nam trên lĩnh vực Chính trị + trên lãnh vực Kinh tế
+ trên lãnh vực Văn Hóa BVN Hai bài viết phơi bày cái gọi là tương quan giữa thực lực và tâm lý hiếu chiến Trung Quốc + Philippines tổ chức hội thảo ASEAN về Trường Sa + Nhật Bản ủng hộ Ấn Độ thăm dò dầu khí ở Biển Đông + Nhật Bản kêu gọi thông qua bộ quy tắc ứng xử ở Biển Đông + Đợt căng thẳng mới ở Biển Đông Đinh Kim Phúc Phản biện quan điểm của Yu Xiang Dong (Vu Hướng Đông) Ngọc Bi – Văn Khoa Lo ngại về các cảng biển Trung Quốc Anh hùng Lê Mã Lương: “Trung Quốc sẽ nhận một bài học xác đáng”
***
Nguyễn Hoàng Hà Liệu Trung Quốc có thể gây ra cuộc chiến một khi Việt Nam và Ấn Độ cũng như Hoa Kỳ và Nhật bản, Úc cùng nhiều quốc gia Đông Nam Á kết thành một khối?

Thông tin về dự án hợp tác ngoài khơi Biển Đông của hai tập đoàn dầu khí quốc gia Việt Nam và Ấn Độ từ khi loan tải đã làm cho nhà cầm quyền Trung Quốc tức giận và báo chí Trung Quốc từ nhiều kênh đã đưa ra nhiều lời đe dọa. Cụ thể là các phát ngôn viên của Trung Quốc, mới nhất là ông Hồng Lỗi vào hôm thứ Hai 19/09, lặp lại khẳng định rằng “Trung Quốc có chủ quyền lãnh thổ không thể tranh cãi ở Biển Ðông” và ông ta lớn giọng tuyên bố “Bất cứ nước nào thăm dò dầu khí ở trong vùng này mà không có sự chấp thuận của chính quyền Trung Quốc cũng đều vi phạm chủ quyền và lợi ích quốc gia của Trung Quốc, là bất hợp pháp và vô giá trị.”
Một số quan sát viên Trung Quốc nhìn nhận dự án hợp tác dầu khí trên như bước tiến của Ấn Độ vào Biển Đông nhằm đối trọng với Trung Quốc trong việc giành ảnh hưởng ở khu vực.
Tạp chí Time của Hoa Kỳ tuần này đăng bài tựa đề ‘Liệu chiến tranh bắt đầu thế này chăng?’ nhận định rằng bất đồng lãnh thổ thuộc loại khó phân giải nhất thế giới “đang trở nên hầm hập” và nếu các quốc gia liên quan không kiềm chế thì nguy cơ xung đột “khó mà tính trước được”.
Truyền thông Trung Quốc cũng nhanh chóng vào cuộc, với nhiều bài báo và chương trình truyền hình phân tích việc Việt Nam và Ấn Độ hợp tác dầu khí ở Biển Đông.
Kênh CCTV-4 của Truyền hình Trung ương Trung Quốc có buổi tọa đàm về chủ đề này hôm Chủ nhật 18/09, trong đó các khách mời nhận xét rằng việc này “chắc chắn sẽ tăng căng thẳng trong khu vực”.
Ông Vinh Ưng, Phó Chủ tịch Viện Quan hệ Quốc tế Trung Quốc, nói Việt Nam đã tìm cách quốc tế hóa chủ đề Biển Đông bằng cách chịu cho các công ty dầu khí nước ngoài lấy tới 70% lợi nhuận trong tương lai và Ấn Độ có vẻ quyết tâm giơ đầu chịu báng khi tham gia dự án mà ngay cả Tập đoàn khổng lồ British Petroleum cũng cho là quá rủi ro.

Đang có cảnh báo về nguy cơ đụng độ hải quân ở Biển Đông
Ông Vinh Ưng cũng cho hay Chính phủ Ấn Độ đã không thông báo qua các kênh chính thức cho Trung Quốc về dự án liên doanh với Việt Nam mà chỉ đề cập việc này sau khi Bộ Ngoại giao Trung Quốc phản ứng mạnh.
“Với tư cách một cường quốc đang lên, Ấn Độ đang trở thành quốc gia ở giữa mà các nước trong khu vực, kể cả Hoa Kỳ, muốn kéo về phía mình. Quyết định của Ấn Độ có khả năng xác lập tình hình an ninh ở châu Á-Thái Bình Dương, cũng như vị thế của chính nước này trong khu vực”.
Nhưng câu hỏi được đặt ra là liệu họ có thể dám gây chiến như trên bộ đã làm không? Câu trả lời là không thể. Vì sao? Vì Trung quốc phải tính đến mọi rủi ro quá lớn đem đến cho họ sự thất bại cay đắng nếu phát động một cuộc chiến tranh.
Thứ nhất đó là chính nghĩa thuộc về phía Việt nam và vì thế Việt nam sẽ được cả thế giới đồng tình ủng hộ.
Người ta ai cũng biết tập đoàn ONGC Videsh (OVL) của Ấn Độ loan báo về quá trình thảo luận với đối tác PetroVietnam để thăm dò dầu khí hai lô 127 và 128 ngoài khơi hai tỉnh Khánh Hòa và Ninh Thuận là thuộc vùng biển và lãnh hải của Việt nam, tính theo đường chim bay thì cách bờ 80 đến 200 hải lý. Như vậy vẫn là nằm sâu trong vùng lãnh hải của Việt Nam chứ không phải nằm trong vùng đang tranh chấp chủ quyền. Việt Nam nhân đây sẽ có thể đưa ra các bằng chứng lịch sử không thể chối cãi được về chủ quyền của mình ở khu vực này mà cả đối với Hoàng Sa và Trường Sa trong một hội nghị quốc tế hay tòa án quốc tế. Đến lúc đó nhiều đảo và khu vực mà Trung Quốc đã chiếm đóng của Việt Nam Trung Quốc sẽ phải cay đắng bị dư luận quốc tế lên án và buộc phải trao trả dưới sức ép của Liên hợp quốc.
Thứ hai là cho dù Trung Quốc có sự trang bị hải quân lớn như hiện nay nhưng không phải là vô địch, vì hai lẽ:
1. Riêng khả năng hải quân và không quân của Ấn Độ đã khiến Trung Quốc phải lo ngại vì thực tế nó được tân trang bằng các tàu chiến của Nga chế tạo hay cùng phối hợp chế tạo, còn máy bay thì Ấn Độ ưu việt hơn hẳn Trung Quốc vì toàn là máy bay hiện đại mua cả của Nga và Mỹ cùng nhiều nước, trong đó phải kể đến công nghệ chế tạo máy bay rất tinh xảo của chính Ấn Độ. Trong khi đó các tàu chiến Trung Quốc phần lớn là do chính nước này chế tạo và công nghệ chắc chắn không thể ưu việt bằng.
Còn Việt Nam thì lại có dải bờ biển dài là pháo đài ngăn chặn có hiệu quả các hàng không mẫu hạm, tàu chiến từ hạng lớn đến loại vừa đi vào khu vực này nếu họ chỉ cần tân trang hỏa tiễn và pháo tầm xa, tầm trung. Người ta có câu: “mục tiêu càng to thì càng dễ hạ”. Các tàu chiến lớn của Trung Quốc có thể sẽ bị đắm trên bể Đông và làm nơi cho san hô sinh nở và cá cư ngụ. Còn với loại tàu chiến nhỏ thì rõ ràng Trung Quốc không dám mạo hiểm làm mồi cho pháo bờ biển đủ loại vốn rất mạnh của Việt Nam được trang bị qua các cuộc chiến tranh trước đó để lại và cả mua mới.
2. Nếu một cuộc chiến tranh xảy ra thì buộc Mỹ phải vào cuộc và kéo theo là cả châu Âu và khối Na To cũng phải nhảy vào tham chiến chứ không thể nói là đứng ngoài chỉ trỏ. Trung Quốc sẽ bị Nhật Bản, Nam Hàn kẹp chặt phía Bắc còn phía Đông Nam thì Ấn Độ, Việt Nam và Hoa Kỳ, Úc và các nước khác ngăn chặn và phong tỏa. Chắc chắn lợi bất cập hại và tranh thủ cơ hội này Đài Loan và các phần ly khai của Trung Quốc sẽ tuyên bố độc lập giành quyền kiểm soát từ trong tay Đảng cộng sản Trung Quốc. Ngày nay ai cũng biết người dân lao động Trung Quốc vô cùng căm ghét chế độ cộng sản Trung Quốc đang là người cướp đất, phá nhà, bóc lột họ, đối xử với họ chẳng khác gì nô lệ. Nhất định họ sẽ vùng lên như là xăng được châm mồi lửa và sức mạnh đó đủ đưa đến cái chết không thể tránh khỏi của chế độ này.
Cho nên mặc dù có nhiều quan chức, tướng lĩnh Trung Quốc nói lời đe dọa Việt Nam và Ấn Độ nhưng đó chỉ là tiếng nói của những kẻ hiếu chiến với tư tưởng bành trướng nước lớn ít hiểu biết. Còn các nhà lãnh đạo Trung Quốc thừa biết là họ không có đủ sức mạnh để làm một việc dại dột đến như vậy. Làm như thế chẳng khác nào đem xăng tưới vào nhà mình để tự đốt nhà vậy.
Việt Nam và Ấn Độ đã có cả bề dày kinh nghiệm lịch sử chống đế quốc phong kiến Trung Quốc trước kia và mới đây. Chắc chắn nếu Trung Quốc liều lĩnh phát động chiến tranh thì phần thất bại nằm trong tầm tay và hậu quả là rất nặng nề không sao tính xuể. Hai quốc gia này luôn là những nước yêu chuộng hòa bình, giàu sự bao dung, nhẫn nại nhưng không có nghĩa là run sợ một khi thế lực bên ngoài lại cố tình xâm phạn chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ, lãnh hải của mình. Trước kia Ấn Độ bị Trung Quốc xâm lăng chiếm đất cũng là lúc Việt Nam đang trong chiến tranh (đang cần sự giúp đỡ vũ khí của Trung Quốc) cho nên hai dân tộc này vốn có tình hữu nghị gắn bó mà không thể chung lưng, đấu cật để chống lại kẻ thù. Nay có thể sẽ là cơ hội cho một liên minh thần thánh? Trong lịch sử, Trung Quốc gây chiến thì nhiều mà luôn thất bại chẳng thắng ai bao giờ. Bài học này họ phải tự nhớ lấy. Tuy vậy người dân hai nước càng phải tỉnh táo và đoàn kết cảnh giác cao độ.
Biển Đông nổi sóng là do đâu nếu không phải là do từ phương Bắc với hơi độc bành trướng?
Ngày 22 tháng 9 năm 2011
N.H.H.

http://www.boxitvn.net/bai/28924
Trần Bình Thế tiến thoái lưỡng nan của Trung Quốc và cuộc đọ sức tại Châu Á Thái Bình Dương

Thế giới đang trải qua một thời kỳ với những biến chuyển trọng đại trên cả hai mặt kinh tế và chính trị.
Gần một thập niên trước, các nhà kinh tế của Goldman Sachs ghép bốn nền kinh tế đang phát triển Brazil, Russia, India, và China thành “BRIC” với dự đoán các nền kinh tế này sẽ khống chế thế giới. Năm 2010, Trung Quốc trở thành cường quốc có nền kinh tế lớn thứ 2, Bazril – 7, India – 10, Russia – 11. Trung Quốc cũng đã vượt qua Đức ở vị thế là quốc gia có nền xuất khẩu lớn nhất thế giới (1).
Trước trình trạng suy thoái kinh tế của các nuớc phát triển, đặc biệt Hoa Kỳ, các nhà kinh tế kỳ vọng vào sự phát triển của các nước đang phát triển, dẫn đầu bởi Trung Quốc, Ba Tây và Ấn sẽ giúp thế giới sớm thoát khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế, và góp phần cho sự phát triển bền vững trong trường kỳ. Song, mối quan ngại và nỗi hoài nghi của thế giới cũng lớn dần theo sự lớn mạnh của Trung Quốc vì những mối giao dịch đầu tư ra nước ngoài thiếu minh bạch và nhất là lối hành xử hung hãn gần đây của quốc gia này với các nước láng giềng.
Tháng 11/2010, tiến sĩ Okonjo-Iweala, giám đốc điều hành Ngân hàng Thế giới đã cảnh báo Trung Quốc “phải minh bạch trong các hoạt động đầu tư, hoặc phải gánh chịu hậu quả vì những cuộc thương thảo không sáng tỏ ở hậu trường” (2). Trên bài bình luận tháng 6/2011, Arthur Herman, New York Post, nhận xét “Trung Quốc trông không giống một siêu cường đang lên mà giống như một kẻ bắt nạt mất kiểm soát” (3)
Dư luận dân chúng quanh thế giới?
Tuy rằng Kết quả của cuộc điều tra tháng 3/2011 do BBC thực hiện với 28 ngàn người tham dự tại 28 quốc gia cho thấy 50% có quan điểm tích cực đối với sự phát triển của TQ và 33% có quan điểm tiêu cực, song số người tin rằng “Sự lớn mạnh của Trung Quốc (TQ) về kinh tế là điều không tốt” tăng mạnh khi so sánh với cuộc điều tra năm 2005, đặc biệt tại các nước phát triển có quan hệ mậu dịch lớn với TQ. Số người có quan điểm tiêu cực về TQ hiện chiếm đa số tại Hoa Kỳ, Pháp, Canada, Đức, Ý, và tăng nhanh tại Anh và Mexico (4).
Đối với người dân Hoa Kỳ, sự lớn mạnh của TQ còn là sự thách thức và nỗi ám ảnh. Theo cuộc điều tra tháng 2/2011 do Gallup thực hiện, có đến 52% dân Mỹ cho rằng TQ hiện là nước có quyền lực kinh tế dẫn đầu thế giới so con số 32% của Hoa Kỳ, dẫu rằng nền kinh tế của Hoa Kỳ (GDP) hiện vẫn vượt trội TQ hơn hai lần theo số liệu của IMF và WB (5).
Từ một góc độ khác, sự lớn mạnh của Trung quốc diễn ra trong bối cảnh các nền kinh tế mới nổi (emerging markets) và các nước Châu Á đã đạt được những bước phát triển rất khả quan trong những thập niên gần đây. Vào đầu thu năm 2004 trên chương trình PBS The Charlie Rose Show, ông Lý Quang Diệu đã tiên đoán Châu Á sẽ tiếp tục phát triển, trở thành trung tâm kinh tế và quyền lực lớn của thế giới trong những thập niên tới. Tháng 11/2010, giáo sư Peter Petri, đại học Brandeis, Massachusetts, Hoa Kỳ, nhận định rằng trong vòng hai mươi năm tới, Trung Quốc và các nước châu Á sẽ thay thế ngôi vị của Hoa Kỳ và châu Âu. Vào năm 2030, thị trường chứng khoán và nền ngoại thương châu Á sẽ lớn hơn các nước phương Tây khoảng 20% (6).
Khu vực Châu Á Thái Bình Dương vốn nằm trung vòng ảnh hưởng chi phối của Hoa Kỳ từ nhiều thập niên qua. Song ảnh hưởng này bị xói mòn nghiêm trọng trong những năm gần đây do sự phát triển kinh tế và mở rộng tầm ảnh hưởng của Trung Quốc, trong khi Hoa kỳ phải tối mặt đối đầu với hai trận chiến Irag, Afghanistan, và các khó khăn kinh tế.
Tuy nhiên, thời gian gần đây Hoa Kỳ đã có nhiều nỗ lực phục hồi ảnh hưởng tại khu vực chiến lược quan yếu Châu Á, và sự chuyển hướng của chính sách này có thể thấy rõ qua phát biểu của các nhân vật quan trọng trên chính trường Hoa Kỳ. Trong buổi hội thảo về an ninh hàng hải trên biển Đông do Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược Quốc tế (CSIS) tổ chức tháng 6/2011 tại Hoa Kỳ, ông John McCain khẳng định “Khu vực biển Đông là nguồn quan trọng về công việc làm và tài nguyên thiên nhiên có lợi cho nhiều người Mỹ. Tuy nhiên, có lẽ xét rộng hơn là yếu tố chiến lược. Trung tâm địa chính trị thế giới hấp dẫn đang chuyển sang khu vực châu Á-Thái Bình Dương – một khu vực, trong đó nhiều nước đang trỗi dậy cùng một lúc về sự giàu có và sức mạnh” (7).
Đối với các nước trong khu vực, mối bang giao với Hoa Kỳ và TQ ngày càng phức tạp. Về phương diện kinh tế, quan hệ giữa các nước Châu Á và TQ ngày càng gia tăng và gắn bó. Kim ngạch mậu dịch giữa 11 quốc gia ASEAN và TQ tăng 12 lần trong giai đoạn từ 1995-2008, và tỷ phần giao thương giai đoạn 2000-2008 giữa hai bên tăng từ 4% lên 11.3%, trong khi đó, tỷ phần mậu dịch giữa Hoa Kỳ và ASEAN giảm từ 15% xuống 10.6%. Từ năm 2008, kim ngạch mậu dịch của TQ với ASEAN đã vượt Hoa Kỳ, chiếm vị trí thứ ba, sau Nhật và EU.
Song về phương diện bang giao quốc tế, các quốc gia khu vực không khỏi lo âu trước sức bành trướng và tham vọng của TQ. Vì thế, các nước này một mặt cố duy trì mối giao hảo với TQ, và mặt khác hoan nghênh sự quay trở lại của Hoa kỳ, như theo phân tích của John Roberts tháng 1/2010, nhân dịp TQ và ASEAN thành lập khối tự do mậu dịch: “sự mong muốn duy trì mối bang giao tốt đẹp với Hoa Kỳ của một số nước ASEAN không phải chỉ vì thị trường tiêu thụ khổng lồ của nước này, mà còn là vì Hoa Kỳ là sức đối trọng kinh tế và chính trị đối với TQ” (8). Đây cũng là quan điểm của Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ, Robert gates, phát biểu nhân dịp tham gia Hội nghị An ninh Châu Á hàng năm, do Viện Nghiên cứu Chiến lược tổ chức tháng 6/2011 tại Singapore: “Một trong những điều gây ấn tượng và ngạc nhiên nhất trong chuyến thăm viếng Á Châu lần này là sự mong muốn khắp khu vực được tăng cường mối quan hệ quân sự với Hoa Kỳ, và sự mong muốn này mạnh mẽ hơn rất nhiều so với lần viếng thăm 20 năm trước đây” (9).
Sự hợp tác gần đây giữa Hoa Kỳ với Việt Nam và các nước khu vực trong chiến lược đối phó với TQ về vấn biển Đông là một trong những biểu hiện của chiều hướng nói trên.
Những mối giao dịch đáng quan ngại:
Mối quan ngại của thế giới đối với sự trỗi dậy của TQ được Đại sứ Hoa kỳ tại TQ giai đoạn 1991-1995, Stapleton Roy, sinh ra tại Trung Quốc và đã từng chứng kiến cuộc cách mạng văn hoá bày tỏ: “Điều đáng sợ là khi Trung Quốc giàu mạnh hơn, quốc gia này liệu sẽ có ý thức đúng đắn về trách nhiệm của họ đối với cộng đồng thế giới”.
TQ đầu tư và chi viện nước ngoài nhằm đẩy mạnh phát triển và phát huy thanh thế là hoạt động bình thường cũng như mọi cường quốc khác. Song, vấn đề là TQ có tuân thủ các qui ước quốc tế khi thực thi các hoạt động kinh tế?
Theo như các sự kiện tường thuật từ loạt bài thứ năm bàn về chính sách ngoại giao của Trung Quốc trên tờ The Newyork Times dưới chủ đề “Những mối giao dịch đáng quan ngại – Uneasy engagements” thì các mối giao dịch đi ngang về tắt của TQ đã gây không ít nỗi ngờ vực và quan ngại trong cộng đồng quốc tế.
Song, phải chăng việc sử dụng ngoại viện và đầu tư một cách vụ lợi và nhập nhằng là đặc sản của TQ hay là tình trạng chung của các nước giàu mạnh? Sharon Lafraniere và John grobler đã trả lời câu hỏi này qua bài viết Trung Quốc viện trợ sang Châu Phi, với sợi dây thòng lọng – China Spreads Aid in Africa, With a Catch (10):
“Phải nói rằng cho đến những năm gần đây, các nước giàu có cũng không phải là tấm gương tốt về chính sách ngoại viện. Nhiều dự án đã bị dấy bẩn vì tham nhũng hoặc nhằm làm lợi cho các công ty của nước viện trợ. Song từ 10, 15 năm qua, các nước này đã rất nỗ lực lành mạnh hóa các chương trình viện trợ.
Chính sách ngoại viện của TQ trái hẳn với khuynh hướng chung về lối hành xử của đất nước này đối với các qui ước quốc tế. Chánh sách ngoại viện hết sức mờ ám khiến người ta tự hỏi – TQ đang giấu giếm điều gì?”.
Bates Gill, giám đốc Học viện Hòa bình Thế giới Stockholm, The Stockholm International Peace Institute giải thích nguyên nhân của lối hành xử này là vì “TQ đã quen với sự mập mờ, sự kiểm soát và lối quan hệ trực tiếp cấp chính phủ” (11).
Một số nhà quan sát và bình luận lại cho rằng mặc dù TQ đã đã không tuân thủ các tiêu chuẩn trong các mối giao dịch, song cũng chính nhờ vào ngoại viện và đầu tư của TQ mà các nước nghèo, chẳng hạn như các nước Châu Phi, mới có được hệ thống cơ sở hạ tầng mở rộng như ngày hôm nay. “Lãnh tụ các nước đang phát triển đón nhận TQ vì sự dễ dàng về tín dụng và không kèm theo các đòi hỏi cải cách chính trị, kinh tế như các nước phát triển khác”
Song, đối với những ngưòi chỉ trích thì hậu quả của lối giao dịch “cửa hậu” này là tình trạng cạnh tranh kinh tế bất chánh, không công bằng, và là mầm móng của nạn tham nhũng. Một số trường hợp điển hình của những mối giao dịch thiếu quang minh chánh đại này đã được nhóm này nêu ra:
Bắc Kinh đã bí mật cung cấp học bổng (không thông qua Bộ Giáo dục) cho con em của chín lãnh tụ nước Namibia, trong đó gồm con gái của Tổng Thống Hifikepunye Pohamba; con trai Bộ trưởng bộ Quốc phòng, là cơ quan mua vũ khí của TQ, và con trai Bộ trưởng bộ Di trú, nơi cấp giấy phép thường trú cho công nhân Trung Quốc (12).
Cũng tại Namibia, nhà chức trách điều tra vụ công ty quốc doanh TQ hợp đồng bán máy scanner cho cơ quan an ninh chính phủ với những khoảng tiền “lại quả” nhiều triệu mỹ kim. Cuộc điều tra này gây sự chú ý của dư luận vì không bao lâu trước khi xãy ta vụ xì căn đan, chính người con trai Chủ tịch TQ Hu Jintao đã điều hành công ty. Một vụ đìều tra khác khiến tướng Martin Shalli chỉ huy lực lượng quốc phòng Namibia bị cách chức vì nhận hối lộ 700 ngàn mỹ kim từ một công ty buôn vũ khí của TQ (13).
Các giao dịch gỗ lậu xảy ra tại nước Madagascar, Châu Phi, được phóng viên môi trường của BBC, Richard Black tường thuật tháng 10/2010. Kết quả điều tra của tổ chức Nhân chứng thế giới và Cơ quan Điều tra Môi sinh, ước tính đến “98% gỗ khai thác lọt qua TQ, và phần còn mới đến Hoa Kỳ và các nước Châu Âu” (14).
Qua bài viết Những Xung đột từ các cuộc Khai thác Khoáng sản của TQ tại Peru, Nam Mỹ, trên The New York Time số ngày 14/8/2010, Simon Romeo tường thuật cuộc đình công của công nhân Peru, vùng mỏ Shougang, chống đối việc công ty TQ xa thải 1300 công nhân, thay thế bởi các công nhân TQ, khiến công ty TQ phải nhượng bộ, cho rút công nhân TQ về nước (15).
Tại Philippines, hợp đồng trị giá 329 triệu USD với công ty quốc doanh TQ, ZTE Corporation, phải hủy bỏ vì bị dính líu đến việc “lại quả”. Tháng 1/2009, Ngân hàng Thế giới cấm 4 công ty quốc doanh TQ tham gia đấu thầu sau khi điều tra biết được các công ty này có những hành vi phi pháp nhằm đạt được hợp đồng các dự án ngân hàng tại Philippines (16).
Vụ công ty TQ trúng thầu khai thác mỏ Aynak, Afghanistan, trị giá 3.4 tỷ USD khiến Bộ trưởng Bộ khoáng sản Mohammad Ibrahim Adel phải mất chức vì bị tố giác nhận hối lộ (17).
Với những mối giao dịch “phòng sau – back room” phổ biến như vậy, Tom Lynch, nhà nghiên cứu của Học viện Quốc phòng Quốc gia – The National Defense University Institute for National Strategic Studies, khu vực Nam Á đã kết luận:
“Những truờng hợp tương tự như vụ Aynak cũng đã từng xảy ra nhiều nơi khác trên thế giới. Điều này cho thấy TQ là nhà đầu tư tài nguyên thiên nhiên không đáng tin cậy, hiếm khi đóng góp cho cộng đồng địa phương như đã hứa hẹn, và thường để lại những mảnh đất đầy vết tích của tàn phá môi sinh” (18)
Đằng sau các động thái của Trung Quốc:
Từ bao nhiêu năm qua Trung Quốc đã dày công chứng tỏ đang theo đuổi chánh sách gọi là “Hòa bình Trỗi dậy – peaceful rise strategy”. Song những động thái hung hăng của TQ tại biển Đông và khu vực Đông Á gần đây đã dấy động dư luận thế giới. Zakaria, qua bài “Những Sai lầm trong Chánh sách Ngoại giao của Bắc kinh – Beijing’s foreign policy blunders”, CNN tháng 6/2011, viết “Trong vùng biển phía nam, Bắc kinh gây hấn với Việt Nam, Philippines và Nhật Bản. TQ cũng làm Nam Hàn nổi giận vì không hề lên án Bắc Hàn trong vụ đánh chìm tàu chiến của Nam Hàn” (19) F5/5. Vậy thì đâu là động lực của các động thái gây hấn của TQ gần đây?
Zakaria cho rằng những thành công về kinh tế, ngay cả trong bối cảnh ảm đạm của nền kinh tế toàn cầu, khiến TQ trở nên “cả tin và thậm chí ngạo mạn”.
Trên bài bình luận “US hay China: A sẽ thắng thế kỳ 21 – China vs. USA: Who will win the 21st Century”, Zakaria nhận định chìa khoá để mở cánh cửa thế kỷ 21 là “Sáng kiến và Năng lượng – Ideas and energy”, vì hầu như nước nào cũng có khả năng sản xuất hàng hoá nên cần có sáng kiến để phân biệt hơn kém, và vì ai cũng tiến nhanh, nên ai cũng cần năng lượng để sản xuất (20).
Ngày nay, dầu vẫn là nguồn năng lượng quan trọng nhất cho sản xuất, và TQ là nước đang rất đói dầu. Từ một nước xuất khẩu dầu năm 1992, ngày nay TQ là nước tiêu thụ lượng dầu lớn thứ hai chỉ sau Hoa Kỳ. TQ chiếm gần 40% số lượng dầu tiêu thụ tăng lên trong giai đoạn 2004-2007 (21). Cùng chạy đua với TQ, các nước kinh tế mới nổi thuộc nhóm “BRIC” cũng tiêu thụ khối lượng dầu rất lớn: India – thứ 4, Russian – 6, và Brazil – 8. Biểu đồ dưới đây cho thấy TQ đã đầu tư năng lượng trên khắp thế giới để bảo đảm nguồn cung ứng nguyên, nhiên vật liệu cho sản xuất (22).
Arthur Herman, trong bài viết “Bắc Kinh Tham chiến – Beijing belligerence” trên NewYork Post ngày 19/6/2011 lại cho rằng “Nỗi sợ mất kiểm soát ở trong nước đã góp phần thúc đẩy cuộc phiêu lưu và sự kiêu căng của Trung Quốc với các nước ngoài, và Việt Nam cũng chỉ là trường hợp mới đây nhất”. Những cuộc bạo động không ngừng gia tăng, lên đến 127 ngàn vụ trong năm 2008, và TQ cũng đang gặp khó khăn trong trấn áp các lực lượng chống đối trên internet (23).
Song, Tetsuo Kotani, thuộc Viện Okazaki, Tokyo, trong bài viết “Vì sao TQ muốn Biển Nam China – Why China Wants South China Sea” lưu ý rằng “Mặc dù mọi chú ý đổ dồn vào nguyên do TQ đang thèm khát nguồn hải sản và năng lượng, nhưng nếu không hiểu được tầm quan trọng của vùng biển nam TQ đối với chiến lược nguyên tử của TQ, thì không thể hiểu được ý vì sao TQ lại muốn mở rộng lãnh hải”. Tetsuo so sánh nỗ lực thống trị vùng biển đông của TQ tương tự với chiến lược nguyên tử của Liên Xô cũ ở vùng biển Okhotsk thời kỳ chiến tranh lạnh, tức là tạo ra một lá chắn nguyên tử trên biển đáng tin cậy, mở rộng tuyến phòng ngự và địa bàn căn cứ tấn công địch. “Để hoả tiễn JL-2 có thể tấn công Los Angeles, Hoa Kỳ, tàu ngầm loại 094 của TQ phải tiến sâu vào vùng biển Philippine, nơi Hoa Kỳ và Philippine thường thao diễn lực lượng phòng vệ chống tàu ngầm” (24).
Cuộc đọ sức ở Biển Đông và Khu vực Châu Á Thái Bình Dương:
Tuy nhiên, theo phân tích của Tetsuo, TQ sẽ gặp nhiều thách thức trong chiến lược khống chế biển Đông. Thứ nhất, khác với vùng biển Okhotsk của Liên Xô, khu vực biển Đông là đường hàng hải quốc tế được thế giới thừa nhận. Hơn thế nữa, kế hoạch biển Đông của đầy tham vọng của TQ đụng chạm đến quyền lợi chiến lược của nhiều quốc gia liên hệ.
Trước tiên, Hoa kỳ đã tỏ rõ sự phản đối chủ trương quyết đoán của Trung Quốc về chủ quyền biển Đông tại nhiều diễn đàn khu vực khác nhau bằng cách nhấn mạnh lợi ích của Washington trong tự do hàng hải. “Hillary Clinton đã làm TQ nổi giận khi tuyên bố hôm tháng 7 vừa qua rằng tự do hàng hải trong khu vực là quyền lợi quốc gia của Hoa Kỳ và Hoa kỳ sẵn sàng hỗ trợ một cuộc đối thoại đa phương” (25). Sự quan tâm của Hoa kỳ đối với khu vực biển Đông nói riêng và Châu Á nói chung còn thể hiện qua lời tuyên bố mới đây của Bộ trưởng Quốc phòng Robert Gates. Qua bài viết “Robert Gates Cảnh cáo Đụng độ có thể xảy ra tại khu vực biển phía nam TQ – Robert Gates warns of possible clashes in the South China Sea” ngày 4/6/2011″, Liz Neisloss, CNN, tường thuật: “Gates đã tuyên bố với cử tọa gồm các Bộ trưởng Quốc phòng và các lãnh đạo quân sự tại cuộc họp an ninh Châu Á hàng năm rằng Hoa Kỳ tăng cường mối quan hệ với các nước Châu Á trong những năm gần đây cho dù đang phải đối đầu với những khó khăn kinh tế và hai trận chiến đang tiếp diễn tại Irag và Afghanistan (26)”. Tetsuo lại ví động thái của Hoa Kỳ mới đây trong việc di chuyển các tàu chiến đến gần bờ ở Singapore với việc Anh Quốc triển khai các tàu HMS Prince of Wales và HMS Repulse tại “Gibraltar của phương Đông” để ngăn chặn Đế quốc Nhật năm 1941.
Đối với Ấn Độ, cho đến khi nước này thành công chế tạo loại hoả tiễn tầm xa (SLBM), thì Ấn sẽ còn cần hoạt động trên vùng biển Đông để có thể tấn công TQ.
Vị thế của biển Đông cũng rất quan trọng đối với nước Nhật, không những vì 90% dầu nhập cảng phải đi qua vùng biển này, mà còn là vì nếu TQ khống chế được biển Đông thì điều này sẽ làm suy yếu khả năng ngăn chặn của đồng minh Hoa Kỳ trong chiến lược an ninh bảo vệ Nhật Bản.
Nước Úc cũng rất quan tâm đến vùng biển Đông, sẽ duy trì sự hiện diện quân sự ở khu vực này để bảo vệ tuyến cung cấp nguyên liệu, đường giao thương, và đồng thời cho phép quân đội Hoa Kỳ tiếp cận sâu hơn với các căn cứ của mình.
Vì vậy, Tetsuo cho rằng Trung Quốc đang ở thế tiến thoái lưỡng nan, “càng có thái độ quyết liệt trong chiến lược thống trị biển Đông, thì các nước láng giềng càng thắt chặt mối hợp tác chiến lược với các nước Hoa Kỳ, Ấn, Nhật và Úc”.
Dường như Trung Quốc cũng đã nhận ra sự “quá trớn và đang điều chỉnh”, theo nhận định của Zakaria. Và, mặc khác, “Hoa Kỳ đang khẳng định với các nước Châu Á về hiện diện của mình” trong khu vực. Zakaria kết luận (27):
“Cuộc tranh chấp chính trị địa dư Châu Á chỉ mới là bắt đầu. Tôi đang có cảm tưởng rằng chúng ta sẽ chứng kiến cuộc đọ sức ra miếng, trả miếng giữa hai đại cường này trong nhiều năm tới”.
© Trần Bình
(1) List of countries by GDP – Wikipedia
(2) China’s Africa resource hunt needs transparency Reuter – David Stanway & Lucy Hornby, 11/2010
(3) Beijing belligerence NewYorkPost – Arthur Herman, 19/6/2011
(4) China’s new economic power fans fear, BBC poll finds BBC – Andrew Walker
(5) China the top world economy, Americans say CNN – 14/2/2011
(6) China Boss in Peru on $50 Billion Peak Bought for $810 Million Bloomberg News – Elliot Blair Smith & Fan Wenxin, 11/2010
(7) Maritime Security in the South China Sea with John McCain CSIS – 20/6/2011
(8) China and ASEAN create free trade bloc WSWS – John Roberts, 12/1/2010
(9) Robert Gates warns of possible clashes in the South China Sea CNN, Liz Neisloss – 6/4/2011
(10) China Spreads Aid in Africa, With a Catch The NewYorks Times, Sharon Lafraniere & John Grobler, 9/21/2009
(11) China Helps the Powerful in Namibia The NewYorks Times – Sharon Lafraniere, 11/19/2009
(12) China Helps the Powerful in Namibia
(13) China Boss in Peru
(14) Million-dollar beds fuel Madagascar timber crisis BBC, Richard Black – 26/10/2010
(15) Tensions Over Chinese Mining Venture in Per The NewYork Times, Simon Romero – 8/14/2010
(16) China Spreads Aid in Africa, With a Catch
(17) Will Chinese Mining Venture Bring Wealth or Heartbreak to Afghanistan? Politicsdaily – 8/29/2010
(18) Will Chinese Mining Venture Bring Wealth or Heartbreak to Afghanistan?
(19) Zakaria: Beijing’s foreign policy blunders CNN – 14/6/2011
(20) China vs. USA: Who will win the 21st Century? CNN, Zakaria – 14/7/2011
(21) China’s Oil Supply Dependence Journal of Energy Security, David L.O. Hayward – 18/6/2009
(22) Oil consumption by country
(23) Beijing belligerence
(24) Why China Wants South China Sea The Diplomat, Tetsuo Kotani – 18/6/2011
(25) Top Chinese general takes aim at U.S. military policy CNN, Steven Jiang – 7/11/2011
(26) Robert Gates warns of possible clashes in the South China Sea
(27) Beijing’s foreign policy blunders
Nguồn: http://www.vanhoanghean.com.vn/goc-nhin-van-hoa/nhin-ra-the-gioi/3082-the-tien-thoi-luong-nan-cua-trung-quoc-va-cuoc-do-suc-tai-chau-a-thai-binh-duong.html
Xem thêm: Chinese dilemmas in the South China Sea của John D. Ciorciari, for CNN (Came ơn Vũ Đức Liêm về đường link này!)
http://edition.cnn.com/2011/OPINION/06/23/china.tensions/index.html?iref=allsearch
http://www.danchimviet.info/archives/41324

Lê Ngọc Thống Trung Quốc: sự thay đổi lớn đang đến gần

Trong xã hội loài người khi có sự phân công lao động là có sự phân hóa giàu- nghèo. Sự phân hóa theo tự nhiên diễn ra chậm, quy mô nhỏ. Số lượng người giàu được tăng lên đồng nghĩa với số lượng người nghèo giảm đi. Sự phân hóa này mang tính tích cực. Chẳng hạn đội ngũ những người có học, có điều kiện tiếp xúc với khoa học, họ biết cách làm giàu và sẽ trở nên giàu có. Những người giàu loại này được xã hội tôn vinh, vị nể.
Sự phân hóa theo cơ học tức do bất công của nền kinh tế và chính trị gây ra thì nhanh, quy mô lớn tạo ra rất nhiều người nghèo, tạo ra người giàu ít hơn nhưng loại người giàu này phất lên rất nhanh, chiếm hầu hết tổng sản phẩm xã hội. Và đương nhiên một khi nền kinh tế bất công với chế độ bất công sinh ra họ, o bế họ thì chính họ làm chủ và chi phối kinh tế và chính trị quốc gia. Tầng lớp này mới thực sự là giai cấp thống trị. Mâu thuẫn giữa giai cấp thống trị và bị trị thực chất là mâu thuẫn giữa người nghèo và người giàu loại này. Khi sự chênh lệch giữa giàu và nghèo quá ngưỡng chịu đựng thì mâu thuẫn sẽ trở thành đối kháng, là mầm họa bất ổn cho xã hội. Thực tế những cuộc cách mạng “màu” xảy ra gần đây đều chứng minh điều đó.
Lý luận chủ nghĩa Mác-Lênin cho rằng…“Giai cấp công nhân là người đào mồ chôn chủ nghĩa Tư bản” là chung chung không chính xác. Nếu vậy thì Mỹ, Anh… bị chôn lâu rồi nhưng tại sao họ vẫn tồn tại và phát triển không ngừng? Bởi lẽ khoảng cách giàu nghèo không quá lớn. Điều đó cho thấy xã hội có sự công bằng, dân chủ, đồng thời cũng khẳng định loại người giàu mà do nền kinh tế và chế độ bất công sinh ra ít, không đủ sức lũng đoạn kinh tế và nhà nước của quốc gia đó. Công nhân, người lao động, họ được bảo đảm một quyền lợi tối thiểu và một nền dân chủ tối đa ứng với khả năng của mình thì họ thỏa mãn. Không đình công, biểu tình, bạo loạn là điều chắc chắn, dễ hiểu.
Mọi người sẽ rất ngạc nhiên là tại sao một nước như Trung Quốc giàu có như thế, GDP chỉ sau Mỹ, lại là chủ nợ 15000 tỷ USD của Mỹ mà dân lại nghèo (Ngân hàng thế giới xếp thứ 100). Đặc biệt là một đất nước sắp bá chủ thế giới mà dân chúng bạo động liên tục gia tăng. Năm 2006: 60 ngàn vụ. Năm 2007: 84 ngàn vụ; năm 2008: 128 ngàn vụ và 180 ngàn vụ là con số cho năm 2010. Và đa số người giàu họ chỉ coi Tổ quốc của mình chỉ là nơi kiếm tiền; có tiền là chuyển ra nước ngoài; tìm mọi cách để trở thành công dân của nước khác là tại sao?
Thế giới chính xác khi gọi Trung Quốc là một “nước nghèo giàu có”, nghĩa là người dân thì nghèo nhưng tổng khối lượng kinh tế cả nước thì giàu. Một điều phi lý vô cùng là sau bao nhiêu năm tích lũy, của cải của quốc dân tăng lên rất nhiều nhưng sự phân phối tài sản lại mất công bằng nghiêm trọng. Ông Kỷ Ngọc Thành – Hiệu trưởng trường Đại học Nhân dân Bắc Kinh nói: “Theo số liệu chính thức nhà nước công bố thì chỉ 10% số người giàu đã chiếm 45% tổng tài sản quốc dân”. Đến nay con số đó đã khác, có một tỷ lệ ít trong xã hội (thành phần thượng lưu) 0,2% dân số – khoảng 2,5 triệu người lại nắm gần 70% tài sản của Trung Quốc (Theo báo cáo của doanh nghiệp tư vấn Boston Consulting Group). Không những thế, điều đặc biệt nguy hiểm là sự chênh lệch về giàu nghèo quá lớn: 23 lần là con số do chính phủ đưa ra, trong khi con số điều tra độc lập là 25 và của thế giới đưa ra là 65 lần.
Chênh lệch giàu nghèo là chênh lệch về mức thu nhập, là chênh lệch về việc sử dụng các tiện ích trong xã hội như giáo dục, sức khỏe, việc làm, đi lại, nhà ở … Tỷ lệ chênh lệch càng lớn thì sự oán hờn càng tăng là điều tất yếu. Chênh lệch giàu nghèo chính là sản phẩm của sự bất công của nền kinh tế và sự bất công của chế độ chính trị. Là nguồn gốc của sự bất ổn.
Thực tế cho thấy lực lượng can thiệp từ bên ngoài dù có hùng hậu, mạnh mẽ bao nhiêu cũng không thể làm gì và chẳng là cái gì nếu như không có “lực lượng” bên trong do nền kinh tế và chế độ chính trị của nhà nước đó “sinh ra và nuôi dưỡng”.
Đến đây chúng ta không còn ngạc nhiên khi chỉ một đụng độ nhỏ giữa cảnh sát với một người dân thôi là lập tức có hàng vạn người nổi dậy. Điều đáng nói là chính quyền chỉ có một cách giải quyết là đàn áp. Nhưng càng đàn áp bạo loạn càng nổ ra và số lượng tham gia tăng đột biến. Có cảm giác như lòng oán hờn, căm phẫn của nhân dân với chính quyền đã tích tụ quá lâu, quá gay gắt, ngột ngạt. Ngay như Thủ tướng Trung Quốc cũng đã phải thừa nhận sự “oán hờn ghê gớm” của dân chúng trước một loạt vấn đề như chênh lệch giàu nghèo, tham nhũng, giá nhà đất, lạm phát…
Vậy tăng trưởng, tăng trưởng để GDP đứng hàng đầu thế giới làm chi? Người dân có được lợi lộc gì hơn so với hậu quả mà họ phải gánh chịu? Với lại tiền của về tay ai, họ làm gì và họ đi đâu? Trả lời những câu hỏi này không phải là quá khó, và khi đó những người hiểu biết và yêu nước chân chính Trung Quốc không thể không đặt vấn đề về cái giá của sự trỗi dậy trong 3 thập kỷ qua để lại là: Phải chăng cái “chế độ XHCN mang màu sắc Trung Quốc” thực chất là chế độ thực dân kiểu mới ngay tại đất nước của mình hay không?
Khi phê phán Trung Quốc có biểu hiện “ chủ nghĩa thực dân mới” ở châu Phi bà Ngoại trưởng Mỹ nói, đại ý: “ Chúng ta đã thấy trong thời thuộc địa, rất dễ đến, lấy đi các nguồn tài nguyên thiên nhiên, trả tiền cho nhà lãnh đạo và ra đi. Và khi bạn ra đi, bạn không để lại nhiều thứ phía sau cho người dân nơi ấy”. Ngẫm nghĩ lại thì biểu hiện đặc điểm “chủ nghĩa thực dân mới” của Trung Quốc đâu chỉ có ở châu Phi mà còn ngay ở chính quốc của mình. Bởi lẽ, tăng trưởng kinh tế thì phải gắn liền với sự phát triển xã hội dân chủ văn minh… và phải hướng đến con người, vì con người. Nhưng ở Trung Quốc thì không như thế. Thế giới chỉ cảm nhận được qua sự tăng trưởng của Trung Quốc bằng máy bay, tàu chiến và hành động “quả quyết, cơ bắp”; những tuyên bố hoanh hoang hiếu chiến, bắt nạt, chèn ép các nước nhỏ láng giềng mà thôi.
Nếu như bất ổn chính trị là một quả bom đe dọa sự tồn vong của xã hội Trung Quốc hiện hành thì quả bom này có 3 ngòi nổ nguy hiểm mà Trung Quốc bằng mọi giá ngăn chặn. Đó là lạm phát; thất nghiệp và khu tự trị.
Một nền kinh tế phát triển lành mạnh là phải đem lại hiệu quả ngày càng cao cho người dân, thân thiện với môi trường. Trung Quốc với mục tiêu tăng trưởng cao đã bất chấp tất cả. Vùng tự trị như Tân Cương, Nội Mông, Tây Tạng chính phủ hành xử và đối xử như Thực dân khai thác thuộc địa gây nên thảm họa về môi trường, bóp chết môi trường sống của người dân…( Nên nhớ đây là những khu tự trị của đất nước Trung Hoa vĩ đại chứ đâu phải châu Phi) Họ không uất ức, vùng lên bạo loạn đối đầu với chính quyền mới là chuyện lạ. Vụ ngày 15/5 xảy ra ở khu tự trị Nôi Mông vừa qua khiến một sinh viên ĐHSP Nội Mông cắt tay lấy máu viết huyết thư rằng: “Các người coi khinh người Mông Cổ chúng tôi như thế này, chúng tôi quyết liều mạng với các người” Không hồ nghi gì nữa đó là một ngòi nổ nguy hiểm.
Ngòi nổ thứ hai là thất nghiệp, mất việc làm. Kinh tế Trung Quốc tồn tại 3 loại doanh nghiệp tạo thành một hình chóp: DN nhà nước trên cùng, được ưu đãi đặc biệt về chính sách. Phía dưới là DN tư nhân lớn cũng được ưu đãi nhờ quan hệ chính trị và tiền bạc với giới “tai to mặt lớn”. Dưới cùng là hàng triệu DN vừa và nhỏ sống nhờ vào hệ thống sản xuất và làm gia công cho các đại gia ở trên với mức lời rất thấp nhưng lại có vị trí xã hội rất quan trọng vì tạo ra công ăn việc làm và thu nhập cho dân chúng địa phương. Tại cái “hình chóp” này tỷ lệ phá sản của các DN nhỏ và vừa tăng đột ngột từ 0,3% năm ngoái lên 16% năm nay, tức là nền móng của cái “hình chóp” ấy bị xói mòn và đương nhiên hàng chục triệu công dân bị đẩy ra đường, con số thất nghiệp tăng. Trong khi kinh tế Trung Quốc chủ yếu là xuất khẩu. Thị trường xuất khẩu quan trọng nhất và lớn nhất là Mỹ. Nếu Mỹ ngừng nhập khẩu vì ‘hết tiền” thì lập tức hàng trăm triệu công nhân mất việc. Vì vậy, dân Mỹ thì giàu hơn 10 lần dân Trung Quốc nhưng Trung Quốc vẫn phải cho Mỹ vay tiền để dân Mỹ tiêu xài, còn bắt dân Trung Quốc thì thắt lưng buộc bụng chi tiêu thấp nhất thế giới 34% so với Mỹ 70%. Cái giá phải trả quá đắt nhưng thất nghiệp với số lượng lớn trong tình hình hiện nay của Trung Quốc thì thảm họa còn khủng khiếp hơn.
Đối với ngòi nổ lạm phát. Lạm phát thì nước nào cũng có nhưng với Trung Quốc thì có một dân số quá lớn có nghĩa là cũng có quá lớn người bần cùng theo tỷ lệ. Cho nên khi đã rơi vào lạm phát là đất nước có sự bất ổn, luôn gieo vào lòng giới lãnh đạo Bắc Kinh nỗi khủng khiếp. Hơn 30 năm nay Trung Quốc chủ yếu là giảm phát, nghĩa là hàng hóa chỉ giảm giá chứ không tăng giá. Chỉ có 3 lần lạm phát là các năm 1985; 1989 và 93-1996. lần nào cũng có sự cố, đặc biệt vụ Thiên An Môn vào 6/1989.
Lạm phát lần này xảy ra trong tình hình mức thu nhập của các hộ gia đình giảm, có hàng nghìn cuộc bạo động xảy ra. Nếu như hàng ngàn cuộc bạo động xảy ra là do nhiều nguyên nhân khác nhau cho nên các cuộc bạo động mang tính riêng lẻ ở từng địa phương thì lạm phát là nguyên nhân chung ảnh hưởng trực tiếp đến bát cơm manh áo của tầng lớp nghèo trong xã hội, nên không cần kêu gọi, tuyên truyền, không cần Interrnet cũng huy động được nạn nhân của sự lạm phát. Nạn nhân của nó thì số lượng quá lớn không thể đàn áp. Lạm phát là chất dẫn hết sức nhanh nhạy cho các mâu thuẫn bùng nổ.
Không còn nghi ngờ gì nữa, Trung quốc đang bất ổn. Khi tiêu chuẩn đánh giá cán bộ bằng mức độ bất ổn của địa phương; khi chi phí cho chính quyền nhiều hơn cả quốc phòng; khi có hàng trăm ngàn cuộc bạo động liên tiếp xảy ra; khi người giàu chuyển tiền của ra ngoài chuẩn bị sẵn sàng “biến”… thì một đất nước như thế sao gọi là ổn định, hạnh phúc…? Một đất nước như thế làm sao bá chủ được thế giới?.
Trung Quốc rất có kinh nghiệm để đàn áp các cuộc bạo loạn , khởi nghĩa trong nước mình. Một trong các kinh nghiệm đó là dùng chiến tranh xâm lược các nước láng giềng để hạ nhiệt bên trong. Tuy nhiên thời nay, ngoài những kẻ ngu đần ra thì dân Trung Quốc chẳng ai tin có một nước nào đó “khiêu khích Trung Quốc”, “xâm lược trung Quốc cả”.
Dừng lại để cải cách chính trị toàn diện hay choạnh choạng tiến lên? Câu trả lời vốn thuộc về giới lãnh đạo Bắc Kinh nhưng e là quá muộn, không còn cơ hội nữa. Nhân dân Trung Quốc sẽ trả lời câu hỏi đó. Những dấu hiệu của một sự đổi thay lớn đang đến gần.

Tác giả gủi cho viet-studies ngày 12-9-11
http://viet-studies.info/kinhte/LeNgocThong_KinhTeTrungQuoc.htm

Để lại phản hồi »

Chưa có phản hồi.

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Blog at WordPress.com.

%d bloggers like this: