Hoàngquang’s Blog

19/09/2011

Tội yêu nước. Đế quốc ác.Vương quốc trung bình


Lê Hiếu Đằng-RFI Biển Đông : Cần đối thoại công khai với dân, không quỵ lụy trước Trung Quốc
Ronald Reagan- Trần Quốc Việt (danlambao) trích dịch Đế quốc ác
Salvatore Babones -Trần Ngọc Cư dịch Vương quốc trung bình (Sự cường điệu và thực tế về sự trỗi dậy của Trung Quốc)
Vũ Cao Đàm “Dis moi qui tu fréquentes et je te dirais qui tu es” – “Hãy nói cho tôi anh hay qua lại với ai, tôi sẽ nói cho anh biết, anh là người thế nào”
Nguyễn Thượng Long: Vì sao họ không đến (1) BA NHAM NHỞ MANG TÊN GIÁO DỤC ĐÀO TẠO + (2) “Ôi… ngài Bộ Trưởng!” + (3) “Không thể vô can” + (4) – Sự nổi dậy của NHÂN CÁCH anhbasam Thư ngỏ gửi Chủ tịch nước của một nữ Việt kiều cùng gia đình đi biểu tình yêu nước, bị bắt giữ, quấy rầy, trục xuất
Phạm viết Đào Còn Tàu còn nhiễu Tam Giang, Tàu về Bắc quốc mo nang che lồn! quechoa Há miệng mắc… Tình hữu nghị! J.B Nguyễn Hữu Vinh Hà Nội, một ngày “bình yên” DÂN LÀM BÁO Thanh niên yêu nước Sài Gòn sáng tạo biểu tình thầm lặng trong mưa.

***

Nguyễn Hưng Quốc Tội yêu nước

Ở đời, có nhiều thứ tội. Tôi giết người. Tội cướp của. Tội ăn trộm. Tội lường gạt. Tội hiếp dâm. Tội tàng trữ hay buôn bán ma túy. Tội hành hung người khác. Tội trốn thuế. Tội lái xe quá tốc độ hoặc lúc đang say. Tội khai man hay làm giấy tờ giả (kể cả bằng cấp giả!). Tội phá rối trật tự công cộng. Tội bôi nhọ hay xâm phạm đời tư người khác. Vân vân.
Hầu hết các tội ấy đều được ghi rõ trong luật pháp với những khung án rõ ràng ở từng nước.
Riêng trong Hiến pháp, ít nhất là Hiến pháp Việt Nam, người ta còn nêu đích danh một tội: “phản bội tổ quốc là tội nặng nhất” (điều 76).
Cả trong Hiến pháp lẫn luật pháp, không những của Việt Nam mà còn của cả thế giới, tôi dám chắc không ở đâu ghi cái tội này: Tội yêu nước.
Vậy mà, trên thực tế, nó lại bị xem là một cái tội, thậm chí, tương đương với cái tội được ghi là “nặng nhất” trong Hiến pháp.
Chứ không phải sao? Thì hãy cứ nhớ lại thời Pháp thuộc mà xem. Hầu hết những người mà chúng ta xem là anh hùng của thời ấy đều là những kẻ từng bị buộc “tội yêu nước” đấy! Trong phong trào Cần Vương, ở Quảng Nam, Trần Văn Dư bị xử bắn, Nguyễn Duy Hiệu bị hành hình; ở Quảng Ngãi, Lê Trung Đỉnh bị giết; ở miền Bắc, Nguyễn Cao bị xử trảm; trong các cuộc vận động chống Pháp sau đó, Trần Quý Cáp, Trần Cao Vân, Thái Phiên, Nguyễn Thái Học, v.v… bị tử hình; Phan Bội Châu bị tuyên án tù chung thân, sau, đổi thành án quản thúc; tất cả đều bị ghép vào một tội: Tội yêu nước!
Dĩ nhiên, chữ “tội yêu nước” ấy là chữ của lịch sử, về sau. Thời ấy, trước tòa án, qua miệng của công tố viên cũng như chánh án, tội của họ là tội “làm loạn” hay “làm giặc”. Không ai dám nói là họ mắc “tội phản bội tổ quốc”. Nhưng thực chất ý nghĩa của “làm loạn” hay “làm giặc” thì cũng vậy.
Có điều, ai ghép tội và tuyên án họ? Đó là thực dân Pháp và tay sai của Pháp: kẻ thì không được quyền nói đến sự trung thành đối với tổ quốc trên đất Việt Nam và kẻ thì không được phép nói vì bản chất của họ, khi chấp nhận làm việc cho Pháp, đã không đặt ra vấn đề trung thành hay không trung thành với tổ quốc rồi. Vậy mà, suốt gần cả trăm năm, cả Pháp lẫn những người làm tay sai cho Pháp đều nhân danh lòng yêu nước, hoặc ít nhất, sự ổn định của đất nước, để xét xử những người yêu nước thực sự.
May, lịch sử công minh. Những sự hy sinh của bậc anh hùng dám chấp nhận ngay cả cái chết để cứu nước ấy đã được mọi người ghi nhận. Hiện nay, tên tuổi của họ còn sáng rỡ trên sử sách. Ai cũng biết rõ một điều: Họ không có tội gì cả, trừ “tội” yêu nước.
Không ngờ cái điều hài hước một cách cay đắng như thế bây giờ lại lặp lại.
Trong suốt mấy chục năm vừa qua, có vô số người bị bắt ở tù, thậm chí, bị hành hình, chỉ vì “tội” duy nhất: tội yêu nước.
Xin miễn nhắc lại những chuyện đau lòng ngay sau năm 1975 với trại tù và trại cải tạo nhan nhản khắp nơi: Tạm thời cứ coi đó là chuyện thuộc quá khứ, gắn liền với những “điều kiện lịch sử và khách quan” nhất định. Cũng xin miễn nhắc lại những vụ án gắn liền với các cuộc vận động đánh đổ chính quyền một cách bạo động: Đó là nhiệm vụ của các sử gia sau này.
Chỉ xin mọi người nghĩ và nhớ đến những người bị bắt bớ chỉ vì “tội” duy nhất là chống lại Trung Quốc, và một phần nhỏ, nạn độc tài trong nước, như nhà báo Điếu Cày Nguyễn Văn Hải, blogger Anh Ba Sài Gòn Phan Thanh Hải và Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ.
Còn nữa. Những người vì tham gia các cuộc biểu tình chống sự gây hấn và xâm lấn của Trung Quốc trong các ngày Chủ nhật vào tháng 6 vừa qua mà bị công an bắt bớ, quấy nhiễu và đe dọa, đã phạm tội gì?
Vâng, tất cả những người đó đã phạm tội gì?
Câu trả lời không thể tránh được: Tội yêu nước.
Tôi cho không có gì phản ánh đầy đủ diện mạo của nhà cầm quyền bằng sự kiện biến lòng yêu nước thành một cái tội.
Ngày xưa, chỉ có bọn cướp nước và bán nước mới làm điều đó.
Còn bây giờ?
Tôi không nghĩ, và thực tình, không muốn nghĩ những người cầm quyền hiện nay là bán nước. Không, nhìn vào quá khứ của nhiều người trong họ, tôi không nghĩ vậy.
Nhưng nếu vậy, tại sao họ lại trấn áp những người yêu nước? Tôi nghĩ nguyên nhân chính là họ muốn được độc quyền yêu nước: Chỉ có họ mới yêu nước; chỉ có cách yêu nước của họ mới có hiệu quả. Còn người khác? “Bọn mày hãy câm mồm lại! Hãy ở yên trong nhà! Đừng hoan hô, đừng đả đảo, đừng tụ tập, đừng biểu tình gì cả! Hãy để tao lo! Bọn mày mà xớ rớ là tao bắt, tao đánh, tao nhốt! Nghe chưa?” Dĩ nhiên, họ không nói thẳng ra như thế. Nhưng bất cứ ai theo dõi các sinh hoạt chính trị tại Việt Nam hiện nay đều biết rõ là họ nghĩ thế.
Bán nước và độc quyền yêu nước khác hẳn nhau về động cơ. Nhưng biểu hiện bên ngoài và không chừng cả hậu quả nữa, lại là một.
VOA NguỒn

Ronald Reagan-
Trần Quốc Việt (danlambao) trích dịch
Đế quốc ác


Ronald Reagan “Tôi tin chủ nghĩa cộng sản là một chương buồn, kỳ quặc khác trong lịch sử con người mà những trang cuối cùng của chương ấy thậm chí hiện nay đang được viết. Tôi tin điều này vì nguồn gốc sức mạnh của chúng ta trong sự tìm kiếm tự do của con người không phải là vật chất mà tinh thần. Và vì sức mạnh ấy không có giới hạn, nó ắt hẳn phải làm khiếp đảm rồi cuối cùng chiến thắng những kẻ nào muốn áp đặt ách nô lệ lên đồng loại của họ…”

Ronald Reagan (1911-2004) là một trong những vị Tổng thống Hoa Kỳ tài ba nhất và nổi tiếng nhất. Ông là một trong số ít người có công rất lớn trong việc đánh bại chủ nghĩa cộng sản trên thế giới. Năm 1983 ông đọc một bài diễn văn trước Hội nghị Phúc âm quốc gia tại thành phố Orlando, tiểu bang Florida. Bài diễn văn “Đế Quốc Ác” này đã gây ra làn sóng bất bình lớn trong khối cộng sản, nhất là Liên Xô, và cả ngay ở Mỹ vì một số người sợ rằng chiến tranh sẽ nổ ra giữa hai siêu cường. Tổng thống Reagan là vị nguyên thủ quốc gia đầu tiên trên thế giới đã nói ra sự thật trần trụi rằng Liên Xô là đế quốc Ác. Như nhà văn Anh Geogre Orwell từng nói trong thời dối trá phổ quát nói ra sự thật là một hành động cách mạng. Tổng thống Reagan bằng can đảm của mình đã nói ra một sự thật mà từ đấy đưa đến sự sụp đổ của các chế độ toàn trị cộng sản.

*

Trần Quốc Việt (danlambao) trích dịch
Bây giờ, rõ ràng, đa phần sự đồng thuận về chính trị và xã hội mà tôi đã đề cập đến đều được dựa trên quan điểm tích cực về lịch sử Mỹ, một lịch sử đáng tự hào về những thành tựu và ưu việt. Nhưng chúng ta không bao giờ được quên rằng không có chương trình hành động nào của chính phủ sẽ làm cho con người trở nên hoàn thiện. Chúng ta biết sống trên đời này có nghĩa là chấp nhận điều mà các triết gia gọi là hiện tượng luận về cái ác hay, như các nhà thần học diễn tả, giáo lý về tội lỗi.
Ác và thiện luôn luôn hiện diện ở trên đời, và chúng ta được Kinh thánh và Đức Chúa Jesus răn hãy chống lại cái ác bằng tất cả sức mạnh của mình. Quốc gia của chúng ta cũng có di sản của cái ác mà cần phải giải quyết. Từ xưa đến nay vinh quang của đất nước này chính là khả năng vượt qua bao cái ác về đạo lý trong quá khứ của mình. Chẳng hạn, cuộc đấu tranh lâu dài của những công dân thiểu số đòi các quyền bình đẳng, vốn từng là cội nguồn của sự chia rẽ và nội chiến, giờ đây lại là điều tự hào cho tất cả những người Mỹ. Chúng ta không được lùi bước. Đất nước này không có chỗ cho kỳ thị chủng tộc, chủ nghĩa bài Do Thái, hay những hình thức hận thù sắc tộc và chủng tộc khác.
Nhưng cho dù các trang sử buồn nào tồn tại trong quá khứ chăng nữa, bất kỳ ai khách quan nhận xét đều phải có quan điểm tích cực về lịch sử Mỹ, một lịch sử đã trở thành câu chuyện xưa nay về bao hy vọng được toại nguyện và bao giấc mơ thành hiện thực. Nhất là trong thế kỷ này, nước Mỹ đã gìn giữ ngọn lửa của đuốc tự do, nhưng giữ lửa không phải cho mình mà cho hàng triệu người khác trên toàn thế giới.
Và điều này đưa tôi đến phần cuối cùng trong bài diễn văn hôm nay. Trong cuộc họp báo lần đầu tiên trên cương vị Tổng thống, để trả lời cho một câu hỏi trực tiếp, tôi đã chỉ ra rằng, với tư cách là những người Mác-xít Lê nin nít tốt, các nhà lãnh đạo Xô viết đã tuyên bố công khai và minh bạch rằng đạo đức duy nhất họ thừa nhận là đạo đức sẽ đẩy mạnh sự nghiệp của họ, tức cách mạng thế giới. Tôi nghĩ tôi nên nói rõ ra rằng tôi đã chỉ đang trích dẫn Lê nin, tinh thần hướng dẫn của họ, người mà vào năm 1920 nói rằng họ bác bỏ tất cả các đạo đức xuất phát từ các tư tưởng siêu nhiên–tức là tên họ đặt cho tôn giáo –hay những tư tưởng bên ngoài các khái niệm giai cấp. Đạo đức hoàn toàn phụ thuộc vào quyền lợi của cuộc chiến tranh giai cấp. Cho nên tất cả những gì cần thiết cho sự tiêu diệt trật tự xã hội bóc lột cũ và cho sự đoàn kết những người vô sản lại đều được coi là đạo đức.
Từ đấy tôi nghĩ việc nhiều người có tầm ảnh hưởng lớn từ chối thừa nhận sự thật cơ bản này của học thuyết Xô Viết minh hoạ sự miễn cưỡng lịch sử nhìn thấy bản chất thật sự của các chính quyền toàn trị. Chúng ta đã nhìn thấy hiện tượng này trong thập niên 1930. Ngày nay chúng ta cũng nhìn thấy hiện tượng này rất nhiều lần.
Điều này không có nghĩa chúng ta nên tự cô lập và từ chối mưu tìm sự cảm thông với họ. Tôi có ý định làm tất cả mọi thứ tôi có thể làm nhằm thuyết phục họ mục đích hoà bình của chúng ta, nhắc cho họ nhớ rằng chính Phương tây từ chối xử dụng độc quyền hạt nhân của mình trong thập niên bốn mươi và năm mươi để tranh đoạt lãnh thổ và hiện nay đề nghị cắt giảm 50 phần trăm hoả tiễn đạn đạo chiến lược và loại bỏ hoàn toàn loại hoả tiễn hạt nhân tầm trung đặt trên đất liền.
Tuy nhiên, đồng thời, chúng ta phải làm cho họ hiểu rằng chúng ta nhất định không bao giờ thoả hiệp các nguyên tắc và tiêu chuẩn của chúng ta. Chúng ta nhất định không bao giờ cho không tự do của chúng ta. Chúng ta nhất định không bao giờ từ bỏ niềm tin vào Chúa. Hơn nữa chúng ta nhất định không bao giờ ngưng tìm kiếm một nền hoà bình đích thực. Nhưng chúng ta không thể đảm bảo cho bất kỳ điều nào trong các điều mà Mỹ luôn luôn tượng trưng này qua cái gọi là các giải pháp ngưng phát triễn vũ khí hạt nhân do một số người đề nghị.
Sự thật là ngưng bây giờ sẽ là một sự gian lận rất nguy hiểm, vì đó chỉ là ảo tưởng về hoà bình. Hiện thực là chúng ta phải tìm hoà bình qua sức mạnh.
Tôi sẽ đồng ý ngưng chỉ nếu chúng ta có thể ngưng tất cả các tham vọng của Xô viết. Ngưng ở mức độ vũ khí hiện nay sẽ khiến cho những người Xô viết không thấy bất kỳ khích lệ nào để thương lượng nghiêm túc ở Geneva và chúng ta thật sự không còn các cơ hội đạt được sự cắt giảm vũ khí quan trọng mà chúng ta đã đề nghị. Ngược lại, nhờ việc ngưng như thế họ sẽ đạt được các mục tiêu của họ.
Ngưng phát triễn vũ khí hạt nhân sẽ thưởng cho Liên Xô về sự phát triển quân sự cực kỳ lớn và không ai bì được của họ. Ngưng như thế sẽ ngăn cản sự hiện đại hoá thiết yếu và quá muộn của quốc phòng đồng minh và Hoa Kỳ và sẽ làm cho lực lượng vũ trang già cỗi của chúng ta ngày càng dễ bị tổn thương. Và một sự ngưng trung thực sẽ cần rất nhiều sự thương lượng trước đó về hệ thống và số lượng phải được hạn chế và về những biện pháp nhằm đảm bảo sự xác minh và sự tuân thủ có hiệu quả. Cho nên ngưng kiểu như được đề nghị sẽ hầu như không thể nào xác minh được. Một nỗ lực quan trọng như thế sẽ khiến chúng ta hoàn toàn không tập trung vào những thương lượng hiện nay của chúng ta để đạt đến những cắt giảm đáng kể.
Cách đây nhiều năm, tôi nghe một người cha trẻ, một người trẻ rất nổi tiếng trong giới giải trí, phát biểu trước một đám đông rất lớn ở California. Ngày đó trong thời chiến tranh lạnh, và chủ nghĩa cộng sản và nếp sống của chúng ta đè nặng trong tâm tưởng của mọi người. Và anh ta nói về chủ đề đó. Rồi bỗng đột nhiên tôi nghe anh nói, “Tôi thương những đứa con gái bé bỏng của tôi hơn tất cả mọi thứ —” Tôi liền nhủ thầm, ” Thôi hỏng rồi, đừng. Anh không thể –không nói thế được.” Nhưng tôi đã đánh giá thấp anh. Anh nói tiếp: “Tôi thà thấy các con của tôi chết ngay lúc này, tuy nhiên vẫn còn tin ở Chúa, còn hơn thấy chúng lớn lên dưới chế độ cộng sản rồi một ngày kia chết đi không còn tin ở Chúa.”
Trong đám thính giả ấy có đến hàng ngàn người trẻ. Họ đứng lên hoan hô vui sướng. Họ đã nhận ra tức thì sự thật sâu xa trong lời anh ta vừa nói, sự thật về thân xác và linh hồn và về điều gì thật sự quan trọng.
Vì thế, chúng ta hãy cầu nguyện cho sự cứu rỗi của tất cả những ai hiện sống trong bóng tối toàn trị đó — cầu nguyện rằng họ sẽ khám phá niềm vui biết Chúa. Nhưng cho tới lúc đó, chúng ta hãy ý thức rằng trong khi họ rao giảng bản chất ưu việt của nhà nước họ, tuyên bố quyền toàn năng của nhà nước áp đặt lên con người cá nhân, và tiên đoán sự thống trị cuối cùng của nhà nước lên trên tất cả các dân tộc trên Trái Đất, họ chính là tâm điểm của cái ác trong thế giới hiện đại.
Chính C.S.Lewis, trong tác phẩm “Screwtape Letters”, đã viết: “Cái ác lớn nhất bây giờ không được gây ra trong những “hang ổ tội ác” bẩn thỉu hôi hám mà Dickens thích miêu tả. Nó lại càng không được gây ra trong các trại tập trung và các trại lao động. Tại những nơi đó chúng ta chỉ thấy kết quả cuối cùng của nó. Nhưng nó được thai nghén và được ra lệnh (được truyền đi, được ủng hộ, được thực hiện và được ghi lại) trong những căn phòng làm việc sạch sẽ, ấm cúng, có thảm êm và đèn sáng, bởi những người trầm lặng ,áo trắng tinh, móng tay cắt ngắn, má cạo láng, những người không cần lớn tiếng.”
Cho nên, vì “những người trầm lặng này” không “lớn tiếng”, vì họ đôi lúc nói giọng êm ái mượt mà về tình huynh đệ và hoà bình, vì, giống như những nhà độc tài trước họ, họ luôn luôn “đòi lãnh thổ cuối cùng”, một số người bắt chúng ta tin những lời họ nói và chiều theo bản năng hiếu chiến của họ. Nhưng nếu lịch sử dạy chúng ta điều gì, lịch sử dạy ta rằng sự xoa dịu xuẫn ngốc hay mơ ước hão huyền về các đối thủ của chúng ta thực là khờ dại. Điều đấy có nghĩa là phản bội quá khứ của chúng ta, hoang phí tự do của chúng ta.
Vì thế, tôi kêu gọi quý vị hãy lên tiếng chống lại những kẻ muốn đặt Hoa Kỳ vào vị trí thấp kém về đạo đức và quân sự. Vì thế, khi thảo luận về các đề nghị ngưng vũ khí hạt nhân, tôi kêu gọi quý vị hãy coi chừng sự quyến rũ của lòng kiêu hãnh — sự quyến rũ khi vô tâm tuyên bố mình hoàn toàn đứng trên chuyện này và gán cho cả hai phía lỗi lầm như nhau, khi bỏ qua những sự thật của lịch sử và bản năng hiếu chiến của đế quốc Ác, khi dại dột gọi cuộc chạy đua vũ trang là một sự hiểu lầm lớn và qua đó tự tách rời mình ra khỏi cuộc đấu tranh giữa đúng và sai và giữa thiện và ác.
Tuy sức mạnh quân sự của Mỹ quan trọng, nhưng để tôi nói thêm ở đây rằng tôi trước sau luôn luôn khẳng định cuộc đấu tranh hiện nay đang diễn ra trên thế giới sẽ không bao giờ được quyết định bởi bom đạn hay hỏa tiễn, bởi quân đội hay sức mạnh quân sự. Khủng hoảng thật sự chúng ta đối mặt ngày nay là cuộc khủng hoảng tinh thần; cội rễ của nó là sự thử thách ý chí đạo đức và đức tin.
Whittaker Chambers, người mà nhờ sự trở lại đạo đã ra làm nhân chứng cho một trong những vụ gây chấn động khủng khiếp trong thời đại của chúng ta, vụ án Hiss-Chambers, viết rằng cuộc khủng hoảng của Thế giới Tây phương tồn tại tới mức độ Tây phương thờ ơ với Chúa, tới mức độ mà Tây phương hợp tác trong nỗ lực của chủ nghĩa cộng sản để làm cho con người đứng bơ vơ không có Chúa. Rồi ông nói, vì chủ nghĩa Mác-xít Lê nin nít thực sự là tín ngưỡng xưa nhất thứ hai, đầu tiên đã được tuyên bố trong Vườn Địa Đàng qua những lời đầy quyến rũ, “Các ngươi sẽ trở nên như các chúa”. Thế giới Tây phương có thể đối phó lại thách thức này, ông viết, ” nhưng chỉ miễn là lòng tin của Tây phương vào Chúa và vào tự do Người ban cho lớn bằng lòng tin của chủ nghĩa cộng sản vào Con người.” (1)
Tôi tin chúng ta sẽ vươn lên để đối phó lại thách thức ấy. Tôi tin chủ nghĩa cộng sản là một chương buồn, kỳ quặc khác trong lịch sử con người mà những trang cuối cùng của chương ấy thậm chí hiện nay đang được viết. Tôi tin điều này vì nguồn gốc sức mạnh của chúng ta trong sự tìm kiếm tự do của con người không phải là vật chất mà tinh thần. Và vì sức mạnh ấy không có giới hạn, nó ắt hẳn phải làm khiếp đảm rồi cuối cùng chiến thắng những kẻ nào muốn áp đặt ách nô lệ lên đồng loại của họ. Vì trong lời của Isaiah:” Người ban sức mạnh cho ai mệt mỏi, kẻ kiệt lực, Người làm cho nên cường tráng. . . Nhưng những người cậy trông Ðức Chúa thì được thêm sức mạnh; như thể chim bằng, họ tung cánh; Họ chạy hoài mà không mỏi mệt…” (1)
Đúng, hãy thay đổi thế giới của ta. Thomas Paine, một trong những vị Cha Lập Quốc, nói: ” Bằng sức mạnh trong lòng của mình chúng ta có khả năng bắt đầu thể giới lại từ đầu.” Chúng ta có thể thực hiện được điều này, chung sức làm những gì không một nhà thờ nào có thể tự mình làm được.
Nguồn:Thư viện Ronald Reagan

Theo Trần Quốc Việt (danlambao) trích dịch

___________________

Chú thích của người dịch:

1) Whittaker Chambers (1901-1961) là nhà báo Mỹ và từng là đảng viên Đảng Cộng sản Mỹ. Về sau ông từ bỏ chủ nghĩa cộng sản. Năm 1948 ông ra làm chứng trước quốc hội Mỹ, tại đây ông đã tố cáo Alger Hiss (1904-1996) , nhân viên ngoại giao Mỹ, là gián điệp cho Liên Xô.
(2) Bản dịch Việt Ngữ của Nhóm Phiên Dịch Các Giờ Kinh Phụng Vụ
Nguồn danlambaovn

Salvatore Babones -Trần Ngọc Cư dịch Vương quốc trung bình (Sự cường điệu và thực tế về sự trỗi dậy của Trung Quốc)
Foreign Affairs, (tháng Chín/tháng Mười 2011)

Người Trung Hoa xưa (có lẽ không ít cả ngày nay) coi nước họ là trung tâm của thế giới, từ đó mới có tên nước là Trung Quốc, được dịch ra tiếng Anh là “the Middle Kingdom”. Nhưng với lập luận cho rằng Trung Quốc sẽ chỉ là một nước có lợi tức trung bình và không thể giành địa vị siêu cường của Mỹ, học giả Salvatore Babones bằng một lối chơi chữ đã gọi Trung Quốc là “the Middling Kindom” hay “Vương quốc trung bình”. Bài tiểu luận sau đây tiêu biểu cho một quan điểm trái chiều với quan điểm cho rằng Trung Quốc sẽ là một “Siêu cường tất yếu”, một quan điểm mà học giả Arvind Subramanian cũng đã đưa ra trên cùng một số báo của tờ Foreign Affairs, mà bản dịch đã được đăng trên BVN trước đây.
Theo chúng tôi, đây là một bài viết cần được tham khảo nghiêm túc, nhằm xem xét đầy đủ các cơ sở dẫn đến luận cứ cho rằng dù có cố gắng đến mấy thì Trung Quốc rốt cục vẫn chỉ là một quốc gia trung bình trong thế kỷ XXI này. Ý kiến của tác giả Salvatore Babones vô tình có sự tương hợp với một phân tích gần đây khi chỉ xét về sự cách biệt giàu nghèo thôi, Trung Quốc hiện đang lâm vào một tình thế đối cực cực kỳ nghiêm trọng (và trước sau thế nào cũng sẽ bùng vỡ): chỉ hơn 2% số dân lại đang chiếm giữ đến hơn 75% tổng sản lượng kinh tế của cả nước Trung Hoa. Nếu tìm thấy thêm nhiều căn cứ khoa học trong ý kiến của Salvatore Babones thì chắc chắn đây sẽ là phương thuốc hiệu nghiệm để giải quyết căn bệnh “động kinh” cho mấy ông hoàng bà chúa trước “con ngoáo ộp Trung Quốc” vốn đang là mối đe dọa thường trực khả năng phát huy truyền thống quật cường vốn có của không ít dân tộc từ hàng mấy nghìn năm nay phải sống sát biên giới Trung Quốc. Không hiểu vì sao thứ bệnh lạ này làm cho họ trở nên “mất cân bằng sinh lý” đến mức nói về mặt ăn thì họ ngày càng khỏe, mặt trông béo tốt, ăn được đến cả giấy polyme, nhưng khốn thay càng ăn đầu lại càng teo tóp, óc trở nên rỗng, đặc biệt bộ gan bé tẹo lại và hình như bị siêu vi S. gặm cho xơ tướp. Vì thế, hễ nghe người dân bày tỏ lòng yêu nước là căn bệnh kinh niên của họ lại nổi lên, đến nước phải bắt dân xuôi tay ngậm miệng bệnh mới tạm lui.

Bauxite Việt Nam

Dù bằng bất cứ thước đo nào, sự tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc (TQ) là chưa từng thấy, thậm chí là một phép lạ. Theo Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), kinh tế TQ đã tăng trưởng ở mức trung bình 9,6% mỗi năm từ năm 1990 đến 2010. Vào đầu cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu gần đây, nhiều người đã lo sợ rằng cỗ máy tăng trưởng kinh tế của TQ sẽ từ từ khựng lại. Cuối năm 2008, ngành xuất khẩu TQ suy sụp, khiến nhiều người lo sợ về tình trạng bất ổn chính trị và dân chúng nổi loạn trong nước. Tuy nhiên, cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu rốt cuộc cũng chỉ là một ổ gà trên con đường tăng trưởng kinh tế của TQ. Mặc dù sức ép lạm phát hiện đang gia tăng tại TQ và bong bóng địa ốc của TQ có nguy cơ bùng nổ, nhưng hầu hết các nhà kinh tế vẫn tiếp tục tiên đoán sự tăng trưởng nhanh chóng của quốc gia này sẽ tiếp diễn vào tương lai. Mặc dù những tiên đoán của họ khác nhau xa, nhưng dường như họ có cùng quan điểm cho rằng sự tăng trưởng của TQ sẽ là nhanh chóng – nếu không thể nói là nhanh như trước – và rằng tỉ lệ tăng trưởng này sẽ tiếp diễn nhiều thập niên nữa. Những tiên đoán này cùng một lúc vừa là dè dặt về tương lai gần (thành tích kinh tế của TQ sẽ không còn phi thường như trước) vừa là lạc quan về tương lai xa (chúng cho thấy hướng đi lên của TQ là không ngừng). Dù với sự trùng hợp tình cờ hay có theo một bài bản, những dự đoán này chỉ là những suy diễn có liều lượng dựa vào các xu thế phát triển hiện nay.
Chẳng hạn, Robert Fogel, một nhà kinh tế học được giải Nobel, tin rằng TQ sẽ tăng trưởng trung bình 8% mỗi năm cho đến năm 2040, vào thời điểm đó TQ sẽ giàu gấp đôi châu Âu (tính theo lợi tức đầu người) và sẽ chiếm 40% GDP toàn cầu (so với con số 14% của Hoa Kỳ và 5% của Liên minh châu Âu). Những nhà kinh tế khác tỏ ra dè dặt hơn một chút: Uri Dadush và Bennett Stancil thuộc tổ chức Carnegie Endowment for International Peace [một viện nghiên cứu chính sách đối ngoại có trụ sở tại Washington, D.C.] tiên đoán rằng TQ sẽ tăng trưởng 5,6% mỗi năm cho đến hết năm 2050.
Cũng như nhiều dự báo khác về sự trỗi dậy liên tục của TQ, những dự báo này đã dựa vào việc sử dụng mô hình kinh tế nghiêm chỉnh, thận trọng. Nhưng liệu chúng có khả năng thuyết phục hay không? Suy diễn từ những xu thế kinh tế hiện tại để dự đoán tương lai có thể là một việc hợp lý khi chúng ta dự đoán mức tăng trưởng kinh tế trong năm sau và năm tới, nhưng khi thời gian là hàng thập kỷ, thì những giả định như thế có vẻ đáng hoài nghi hơn. Nếu tổ tiên tôi đầu tư một xu (a penny) vào năm 1800 để cho tôi hưởng, ở mức lãi kép (compound interest rate) thực sự 6% một năm sau khi khấu trừ lạm phát, thì đồng xu đó hôm nay đã trở thành 280 nghìn đôla. Nhưng, điều này không có nghĩa là người ta dễ dàng tìm ra những cách đầu tư có lợi nhuận cao và vững chắc qua thời hạn 211 năm. Thế sự thăng trầm, và nhiều điều sai hỏng sẽ xảy đến. Lợi nhuận quá khứ không đảm bảo thành tích tương lai.
Đối với việc đo lường mức tăng trưởng kinh tế TQ trong tương lai, việc sử dụng các mô hình kinh tế chỉ hướng dẫn hạn chế mà thôi. Những mô hình này tiên đoán đầu ra kinh tế tương lai (future economic outputs) dựa vào những con số được dự đoán cho đầu vào kinh tế tương lai (projected future levels of economic inputs); nhưng những đầu vào kinh tế tương lai là không thể dự đoán được. Rốt cuộc, chúng ta chỉ có thể dựa vào đầu vào hiện tại để suy đoán tương lai. Nhưng những đầu vào, cũng như những đặc điểm khác của bất cứ nền kinh tế nào, lại thay đổi theo thời gian. Kinh tế TQ diễn biến nhanh chóng: từ nông nghiệp tự túc đến các công nghiệp chế tạo dùng than khoáng (smokestack industries) đến các ngành điện tử hiện đại nhất đến các dịch vụ cho người tiêu thụ. Và ở một thời điểm nào đó trong tương lai, có lẽ trong một tương lai không xa, tốc độ tăng trưởng thái quá của TQ sẽ dần dần giảm xuống và sự tăng trưởng kinh tế của TQ sẽ chậm lại, trở về với tốc độ gần giống tốc độ mà các nước có đặc tính tương tự đã kinh qua.
Khi sự tăng trưởng trở nên khó khăn
Ở thời điểm 2011 này, ngay cả việc xác định một điểm đỉnh cho thị trường TQ cũng có vẻ là thiếu khôn ngoan. Nếu dùng những mô hình của Fogel và Dadush-Stancil để phán đoán, người ta gần như không thấy có một cản trở nào cho sự tăng trưởng kinh tế của TQ trong trung hạn. Bao lâu mà lực lượng lao động thành thị ở trong nước vẫn tiếp tục bành trướng, trình độ giáo dục của họ gia tăng, và vốn nước ngoài tiếp tục đổ vào TQ, thì nền kinh tế TQ nhất định sẽ tiếp tục tăng trưởng.
Nhưng mọi việc có giản dị như thế không? Một lý do là, các mô hình kinh tế có chiều hướng coi thường sự kiện là khi các nước tăng trưởng, thì tiến trình tăng trưởng ngày càng trở nên khó khăn hơn trước. Khi các nền kinh tế gia tăng giá trị các hoạt động công nghiệp toàn cầu của mình, bằng cách từng bước tiến lên từ việc sản xuất các mặt hàng chế biến đơn giản đến việc dựa vào sáng kiến của người dân để phát triển các công nghiệp mới, thì các nền kinh tế ấy sẽ ngày càng giảm bớt đà tăng trưởng. Nam Hàn phải mất 30 năm, từ 1960 đến 1990, để nâng GDP đầu người của họ từ 1/30 lên 1/3 GDP đầu người của Hoa Kỳ – nhưng sau đó Nam Hàn phải mất thêm 20 năm nữa mới nhích lên từ 1/3 lên 1/2 GDP đầu người của Hoa Kỳ. Và ngày nay Nam Hàn vẫn còn phải đi một đoạn đường rất xa mới có thể bắt kịp Hoa Kỳ. Nhật Bản đã bắt kịp phương Tây (và trên nhiều mặt vượt quá phương Tây) vào thập niên 1980, nhưng rồi bong bóng đầu tư của họ bị vỡ, và từ 1990 đến nay kinh tế Nhật Bản chỉ tăng trưởng trung bình 1% mỗi năm.
Hơn nữa, Nam Hàn và Nhật Bản đã thành công vượt bực so với hầu hết mọi quốc gia khác. Cho đến nay không một nước có diện tích trung bình hay một nước rộng lớn nào với một nền kinh tế đa dạng thậm chí đạt được những thành quả gần giống như Nhật Bản. Trong bốn “con hổ châu Á”, hai con giàu nhất (Hồng Kông và Singapore) chỉ là những thành phố, và hai con kia (Nam Hàn và Đài Loan) cơ bản là lớn hơn các thành phố một bậc (cities-plus) và thua xa Nhật Bản về kinh tế. Một số nước nghèo đã trở nên giàu có khác thì hoặc chỉ là những trung tâm tài chính nằm ngoài biển khơi hoặc chỉ là những lãnh thổ nhỏ bé có mỏ dầu do một lãnh tụ Hồi giáo cai trị. Trong đó, không một xứ nào có đủ kích cỡ để làm một nước có nhiều thành phố và nhiều vùng khác nhau, một dân số nông thôn đông đảo, và những khối cử tri cạnh tranh nhau về quyền lực chính trị. Ngay cả Nhật Bản cũng tượng trưng cho một mô hình đầy nghi vấn của một quốc gia vừa mới nhanh chóng bắt kịp phương Tây, nếu chỉ vì nó đã đạt được phần lớn tiến bộ trước Thế chiến II. Cũng như các nước tiên tiến phương Tây, Nhật Bản đã công nghiệp hóa vào cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, một phần nhờ chính sách bóc lột thuộc địa thô bạo. Thế rồi trong Thế chiến II, kinh tế Nhật Bản đã bị bom đạn xóa sạch; như vậy, sự tăng trưởng của Nhật Bản thời hậu chiến trong một cách nào đó chỉ là trở về với mức phát triển đã có trước chiến tranh. Nói thế khác, cho đến ngày nay vẫn chưa có một bằng chứng nào cho thấy một quốc gia có thể đi theo một đường tăng trưởng rất nhanh chóng để đến đỉnh cao nhất của kinh tế thế giới; sự kiện này khiến phải nghi ngờ về khả năng TQ có thể trở thành một biệt lệ hi hữu.
Sự tăng trưởng kinh tế gần đây của TQ thường được gán cho đặc tính của một cuộc phục hồi địa vị lịch sử đương nhiên và xứng đáng của TQ, nhưng luận cứ này chỉ là một cách nói khéo chứ không chính xác. Theo cố sử gia kinh tế Angus Maddison, lần cuối cùng TQ đạt được địa vị ngang hàng với phương Tây là vào thời của Marco Polo [tức thế kỷ XIII-XIV, DG]. Sự suy yếu sau đó của TQ so với phương Tây đã diễn ra rất lâu trước cuộc Cách mạng Công nghiệp, trước chủ nghĩa thực dân phương Tây, và trước cả thời kỳ hướng nội của TQ ở thế kỷ XVI. Lịch sử của năm thế kỷ qua không phải là câu chuyện chính yếu về sự suy yếu tuyệt đối của TQ, nhưng về sự tiến bộ tương đối của phương Tây. Các nền kinh tế châu Âu tăng trưởng rất nhanh chóng trong khoảng từ 1500 đến 1800. Theo Maddison, vào khoảng năm 1820 – trước khi có đường sắt, điện tín, và công nghiệp thép hiện đại, và trước Chiến tranh Nha phiến, trước khi Hồng Kông trở thành thuộc địa, và trước cuộc Khởi nghĩa Nghĩa Hòa Đoàn – lợi tức đầu người của TQ chưa được 1/2 lợi tức đầu người trung bình của các nước châu Âu. Khoảng năm 1870, lợi tức đầu người TQ đã rơi xuống mức 25% lợi tức đầu người châu Âu, và vào năm 1970, con số này chỉ còn 7%. Ngoài ra, nếu xét rằng những con số mà Maddison đưa ra đều là những con số ước tính dựa vào sức mua nội địa, thì lợi tức đầu người của TQ nếu tính theo tiền tệ cứng [như đôla Mỹ] sẽ có vẻ thê thảm hơn nhiều. Theo số liệu thống kê về tiền tệ cứng của Ngân hàng thế giới, giữa những năm 1976 và 1994, GDP đầu người của TQ là chưa được 2% GDP đầu người của Mỹ, và hiện nay tỉ lệ này vẫn còn ở dưới 10%.
Nói thế khác, sự tăng trưởng kinh tế to lớn của TQ trong hai thập kỷ qua chưa hẳn đã đưa được [lợi tức đầu người của] TQ trở về vị trí của nó trong năm 1870 (tính theo sức mua nội địa). Những người lạc quan sẽ coi điều này như có thêm một bằng chứng nữa về tiềm năng của TQ: nếu hiện nay TQ chỉ ở lằn mức của năm 1870, thì nó còn nhiều khả năng tăng trưởng thêm nữa. Nhưng những người bi quan có thể nhận xét rằng nếu TQ có thể tuột dốc từ vị trí này vào năm 1870, thì nó có thể sẽ tuột dốc từ vị trí này thêm một lần nữa. Nếu chỉ nhìn bề ngoài, người ta không có đủ lý do để chờ đợi kết quả này hay kết quả khác; những người đánh cuộc dè dặt sẽ cho rằng TQ vẫn đứng yên ở vị trí hiện nay.
Những lợi điểm nhất thời
Một luận cứ khác cho rằng các mô hình kinh tế dự báo về sự trỗi dậy liên tục của TQ là quá thô thiển, vì những mô hình này có khuynh hướng bỏ qua những sức đẩy nhất thời trong quá khứ và không đếm xỉa đến những trở ngại chính trị, môi trường và cơ cấu, những trở ngại sẽ hạn chế đà tăng trưởng của TQ trong tương lai. TQ hiện nay đang ở trong một tư thế chính trị và quân sự mạnh hơn nhiều so với tư thế mà nó có được vào năm 1870 khi đối mặt với phương Tây, và TQ gần như sẽ không bao giờ chìm đắm thêm một lần nữa vào một thế kỷ dài khốn đốn vì những thảm họa liên tục ảnh hưởng đến con người và kinh tế. Nhưng liệu điều này nhất thiết có nghĩa là TQ sẽ tiếp tục tăng trưởng để trở thành một nước giàu có nhất thế giới hay không?
Sự trỗi dậy nhanh chóng của TQ trong 20 năm qua được thúc đẩy bởi hai ưu thế nhất thời: sinh suất (fertility rate) của dân chúng giảm sút và tiến trình đô thị hóa dân chúng gia tăng. Cả hai yếu tố này đã gia tăng năng suất kinh tế rất lớn, nhưng chúng là những tiến trình hạn chế mà TQ không thể dựa vào trong tương lai. Sinh suất của TQ vốn đã giảm sút ngay cả trước khi Nhà nước thực thi lần đầu chính sách một con rất nghiêm khắc vào năm 1979. Sự giảm sút tỉ lệ sinh sản vào thập niên 1970 có nghĩa là suốt thập niên 1980 và thập niên 1990, cả các hộ gia đình lẫn Nhà nước có thể tập trung nguồn lực hạn chế của mình vào số trẻ em tương đối nhỏ. Hiện nay, những đứa trẻ này đang ở vào tuổi khoảng 35 và tích cực đóng góp vào việc phát triển vốn nhân lực (human capital) và GDP của TQ. Mặc dù các thế hệ tương lai có thể có trình độ giáo dục thậm chí cao hơn, nhưng các thành quả chính yếu thì đã đạt được hết rồi. Hơn nữa, sinh suất thấp trong những thập kỷ vừa qua cho phép giới đã thành niên, đặc biệt phụ nữ, tham gia thị trường lao động chính thức. Hàng trăm triệu phụ nữ TQ lẽ ra chỉ lo việc nội trợ hay đồng áng hiện nay đang lao động trong nền kinh tế tiền tệ (the money economy), nâng cao thành tích GDP của đất nước. Sự kiện này tạo được lực đẩy nhất thời cho TQ – duy trì một đầu ra cao hơn trước – nhưng sẽ không giúp GDP tiếp tục tăng trưởng trong tương lai. TQ không thể giảm việc sinh sản thêm nữa, vì TQ không thể tiến tới chính sách không con.
Ngoài ra, tại TQ ngày nay có những số công nhân tương đối lớn được sinh ra trong những thập niên có sinh suất cao, từ năm 1950 đến đầu những năm 1970, hiện đang còn chen vai thích cánh với đời. Vì thế hệ các bậc sinh thành của họ lần lượt qua đời tương đối sớm, những công nhân này phần lớn ít bận tâm về việc phụng dưỡng cha mẹ hay nuôi dạy con cái. Trong tất cả các thế hệ người Trung Hoa suốt chiều dài lịch sử, thế hệ này có những thuận lợi độc đáo để theo đuổi công việc và tạo ra của cải. Các thế hệ công nhân TQ tương lai sẽ ít đông đảo hơn và sẽ mang thêm trách nhiệm săn sóc nhiều thân nhân già cả hơn. Ngoài ra, sinh suất tại TQ chỉ có việc gia tăng mà thôi, nghĩa là những công nhân này có thể có thêm nhiều con cái cần phải săn sóc.
Tiến trình đô thị hóa là một lợi thế nhất thời khác đã đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế của TQ trong 20 năm qua. Chương trình đô thị hóa nâng cao GDP vì dân chúng thành thị thường thường có năng suất cao hơn dân nông thôn và vì dân thành thị thường làm việc ngoài nhà của mình và được trả lương, trong khi người ở vùng quê làm nghề nông tự túc không được trả lương. Nhưng cũng như việc giảm sinh đẻ, chương trình đô thị hóa là một tiến trình có những giới hạn tự nhiên. Mức độ đô thị hóa của TQ hãy còn rất thấp so với phương Tây, và sự bành trướng đô thị tại TQ không có dấu hiệu giảm bớt. (Ở tỉ lệ tăng trưởng hiện nay, thì phải đợi đến thập niên 2040 mức độ đô thị hóa tại TQ mới bắt kịp mức đô thị hóa ở phương Tây hay châu Mỹ La-tinh). Nhưng việc bành trướng đô thị này sẽ diễn ra dưới hình thức nào? Nhiều khu rộng lớn gồm toàn nhà lụp xụp tồi tàn đã bắt đầu thành hình ở vùng biên của Bắc Kinh và các đại đô thị khác. Chính phủ TQ đã cho ủi sập hàng trăm nghìn căn nhà xập xệ mỗi năm, nhưng không ai biết chắc là những cư dân tại đó đang được tái định cư hay trở thành vô gia cư. Dù Chính phủ thắng hay thua trong cuộc chiến chống lại nạn tràn lan nhà ổ chuột, cái thời kỳ mà tiến trình đô thị hóa kích thích sự tăng trưởng kinh tế cũng đã qua rồi.
Những cản trở có tính cơ cáu
Ngoài ra, TQ đang đối đầu với những trở ngại chính trị, môi trường, và cơ cấu, những trở ngại sẽ giới hạn tăng trưởng kinh tế của TQ trong tương lai. Chẳng hạn, nhiều nhà phân tích thời sự cho rằng TQ sẽ không thể đưa công nghiệp toàn cầu của mình lên trình độ cao hơn nữa nếu chính trị TQ không cởi mở. Họ lý luận rằng các hoạt động công nghiệp có giá trị cao, như tạo thương hiệu, thiết kế, và phát minh, đòi hỏi một loại tư duy tự do chỉ có được ở các xã hội dân chủ. Mặc dù có thể đào tạo hàng trăm nghìn kỹ sư, nhưng nếu TQ vẫn tiếp tục bóp nghẹt sáng kiến của họ, những chuyên viên này sẽ không bao giờ thành công ở trình độ cao nhất của kinh tế toàn cầu. TQ sẽ không vươn tới đẳng cấp cao nhất của kinh tế toàn cầu (tính theo GDP đầu người) cho đến khi nào trường học, xí nghiệp, và người dân TQ biết đổi mới nhiều hơn họ đã làm trong quá khứ. Việc đổi mới đang diễn ra, nhưng văn hóa chính trị bóp nghẹt tự do của TQ đang cản trở tiến trình này. Thật khó tưởng tượng được một nền kinh tế tri thức năng động xuất hiện trong một quốc gia độc đảng áp bức chính trị; việc này chưa bao giờ xảy ra trước đây.
Những trở ngại vì lý do môi trường đối với sự tăng trưởng liên tục của TQ thường được thống kê đầy đủ hơn. Cơ quan Y tế Thế giới ước tính rằng ô nhiễm không khí tại TQ giết chết 656.000 người một năm và ô nhiễm nước uống giết thêm 95.600 người nữa; Bộ Tài nguyên Nước của TQ ước tính rằng khoảng 300 triệu người, hai phần ba trong số này sống ở nông thôn, dựa vào nguồn nước có chứa những chất độc hại”. Theo The New York Times,những quan chức từ Quốc vụ viện TQ đã nói rằng Đập Tam Hiệp vĩ đại đang gặp phải “những vấn đề khẩn cấp… cần phải được giải quyết liên quan việc tái định cư dân chúng trong vùng, việc bảo vệ môi sinh, và ngăn ngừa tai họa địa chất”. TQ hiện nay cũng là nước thải khí nhà kính lớn nhất thế giới. Dù nạn khô hạn và lũ lụt thảm khốc xảy đến cho TQ năm nay có liên quan đến hồ sơ môi trường của TQ hay không, nhưng rõ ràng là khả năng khai thác môi trường của TQ để làm tiền nhằm nâng cao mức tăng trưởng kinh tế bất chấp cả việc tàn phá môi trường sắp đến ngày phải chấm dứt. Sự tăng trưởng kinh tế của TQ trong tương lai cần phải sạch hơn sự tăng trưởng kinh tế của nó trong quá khứ, vì vậy sẽ tốn kém hơn. Qua một thời kỳ lâu dài có mật độ dân số cao, TQ luôn luôn có một trong những môi trường bị khai thác ráo riết nhất thế giới. Ngày nay, TQ chẳng còn bao nhiêu môi trường để khai thác thêm nữa.
Tuy nhiên, những trở ngại lớn nhất cho việc tăng trưởng kinh tế liên tục của TQ thuộc về cấu trúc. Mãi cho đến năm 1980, TQ thực sự vẫn còn đóng cửa với thế giới bên ngoài; nhưng khoảng năm 1992, gần như hầu hết các thành thị TQ đều được sáp nhập vào các đặc khu kinh tế sẵn sàng đón nhận các doanh nghiệp tư và đầu tư nước ngoài. Nền kinh tế Mao-ít cực kỳ thiếu hiệu năng không còn nữa và đã được thay thế bằng một số công ty có sức cạnh tranh lớn nhất thế giới. Việc tạo ra nhiều thành phẩm giá trị hơn các công nghiệp nhà nước thời Cách mạng Văn hóa không phải là điều khó. Nhưng việc tạo ra nhiều thành phẩm giá trị hơn các công ty TQ có hiệu năng hiện nay sẽ là điều khó khăn hơn nhiều. Sự khó khăn này sẽ trở nên nghiêm trọng hơn do những thay đổi cấu trúc quan trọng trong nền kinh tế. Kể từ năm 1960, tuổi thọ trung bình tại TQ đã tăng lên từ 47 tuổi đến 74 tuổi, nhưng số con trong mỗi gia đình đã giảm từ trên 5 đứa xuống dưới 2 đứa. Những ông hoàng bé ngày nay sẽ phải phụng dưỡng cha mẹ trong những năm có năng suất cao nhất của đời họ. Và vào thời điểm họ phải săn sóc thế hệ già nua, hoạt động kinh tế của TQ sẽ giảm bớt sự tập trung vào các công nghiệp chế tạo có năng suất cao và sẽ hướng tới các dịch vụ y tế có năng suất thấp. Sự thay đổi có tính cơ cấu này sẽ giới hạn thêm nữa các triển vọng tăng trưởng kinh tế của TQ trong tương lai, vì cố gắng gia tăng năng suất trong các ngành dịch vụ sẽ là khó khăn hơn trong các ngành chế tạo, khai thác khoáng sản, và nông nghiệp. Trong quá khứ, để tận dụng lợi thế tương tự của họ đối với các nước tiên tiến, các nhà sản xuất TQ đã tập trung vào việc chế tạo để bán ra trên thị trường công nghiệp thế giới. Trong tương lai, các công ty cung cấp dịch vụ TQ sẽ không còn lựa chọn nào khác hơn là phải tập trung vào thị trường y tế trong nước, bất chấp việc tranh giành lợi thế kinh tế.
Hăm hở về tương lai hay tự hào về thành tích?
Nhiều nhà bình luận, nổi bật nhất là hai nhà nghiên cứu chính trị George Gilboy và Eric Heginbotham, gần đây đã cảnh báo về hiện tượng “châu Mỹ La-tinh hóa” TQ (the “Latin Americanization” of China), đặc biệt là sự chênh lệch giàu nghèo ngày càng gia tăng tại TQ. Vào năm 2003, TQ chỉ có một tỉ phú (tính bằng đôla Mỹ); vào năm 2011, theo tạp chí Forbes, TQ có tới 115 tỉ phú. Tuy vậy, TQ vẫn còn là một nước nghèo: GDP đầu người tính bằng tiền tệ cứng là rất thấp tại TQ (dưới 5.000 đôla) khi so vớiBrasil,Mexico, và Nga (9.000-10.000 đôla), ba nước có lợi tức trung bình của thế giới. Nhưng khi TQ bắt kịp các nước này, thì mức chênh lệch lợi tức của dân TQ cũng sẽ tăng lên gần mức chênh lệch lợi tức tại các nước nói trên.
TQ có chung nhiều đặc điểm vớiBrazil,Mexico, và Nga. Các nhà xã hội học xếp bốn nước này vào “nhóm lưng chừng” (semi-periphery) của kinh tế thế giới, một nhóm các quốc gia không giàu mạnh bằng các nước dân chủ đã phát triển nhưng cũng không nghèo bằng các nước nhỏ tại châu Phi, Trung Mỹ, và Đông Nam Á. (Các nước lưng chừng khác gồm có Indonesia và Thổ Nhĩ Kỳ). Những nước này có đặc tính là: nhà nước mạnh nhưng các định chế thì yếu kém, Chính phủ bị những công dân giàu có nhất chi phối, và đại đa số dân chúng là nghèo khổ.
Với mức tăng trưởng hiện nay, TQ có thể sẽ bắt kịp Brazil, Mexico, và Nga vào khoảng năm 2020 về GDP tính theo đầu người. Đến lúc đó, tất cả bốn quốc gia này sẽ có lợi tức đầu người từ 10.000 đến 15.000 đôla Mỹ mỗi năm (tính theo trị giá đôla Mỹ hiện nay). Tất cả những nước này sẽ có mức chênh lệch lợi tức của người dân giống nhau – và cao hơn mức chênh lệch lợi tức tại các nước phát triển rất nhiều. Dân chúng của các nước này sẽ không trải qua nạn đói hay suy dinh dưỡng nghiêm trọng, nhưng đại đa số sẽ nếm mùi nghèo khổ, thiếu vệ sinh. Khoảng 40% dân số của các nước này sẽ sống trong các đại đô thị, khoảng 20% sẽ sống ở vùng nông thôn, và phần còn lại sẽ sống trong các thành phố nhỏ và các thị xã. Sinh suất tại những nước này sẽ giảm xuống dưới mức thay thế một chút, và khoảng 2/3 dân số sẽ nằm trong lứa tuổi từ 16 đến 65. Để đối phó với một dân số già nua nhanh chóng, những nước này sẽ cần phải chuyển trọng tâm nền kinh tế của mình xa dần các công nghiệp có khả năng thúc đẩy tăng trưởng và tiến tới các dịch vụ y tế có mức tăng trưởng chậm chạp.
Tất cả những điều nói trên nêu lên câu hỏi này: Nếu vào năm 2020, TQ gần như chắc chắn sẽ đối phó các tình trạng cơ cấu xã hội-kinh tế gần giống hệt các tình trạng ở Brazil, Mexico, và Nga, thì tại sao ta phải kỳ vọng TQ sẽ tăng trưởng nhanh hơn các nước ấy?BrazilvàMexicođã gia nhập hàng ngũ các nước có lợi tức trung bình qua nhiều thế hệ rồi. Nga lọt vào mức lợi tức trung bình vào đầu thế kỷ 20 và đã trở lại mức lợi tức này ngay sau khi chế độ cộng sản sụp đổ. TQ đã nằm ở mức lợi tức trung bình năm 1870, và hiện nay đã trở lại mức đó. Đành rằng TQ lớn hơn các nước kia, nhưng ta không có lý do để cho rằng nước lớn thì sẽ khác hơn. Những con số thống kê lịch sử cho thấy không có sự tương quan giữa diện tích của một nước với sự tăng trưởng kinh tế của nó.
Địa vị tương đối của TQ vào năm 2020 sẽ rất giống với địa vị của TQ năm 1870 và giống địa vị của Brazil, Mexico, và Nga hiện nay. Không có lý do đặc thù nào để tin rằng TQ của năm 2020 sẽ thành công vượt trội hơn các quốc gia đã từng thành công nói trên. Có lẽ thái độ biết tiên liệu của TQ đối với vấn đề phát triển sẽ pho phép nước này đủ sức đi vào mức trung bình trong bảng phân phối lợi tức toàn cầu, bất chấp một xã hội dân sự yếu kém, một dân số già nua, và một môi trường bị tàn phá. Và một khi đã trở về được địa vị của nó ở thế kỷ XIX so với phương Tây, biết đâu cuối cùng TQ cũng có thể lấy lại địa vị siêu cường của nó đối với phương Tây ở thế kỷ XIII. Cấu trúc của một xã hội không nhất thiết là một định mệnh, [nghĩa là nó có thể thay đổi, DG]. Và nếu TQ thực sự khắc phục được những hạn chế của nó, nó cũng có thể thúc đẩy một sự sắp xếp lại toàn bộ hệ thống quốc tế.
Nhưng hợp lý hơn nữa là, ta nên coi thái độ hăm hở khét tiếng của TQ chỉ là thái độ của một nước đã đạt được một số thành tích: một sự tự hào chính đáng về những thành tựu trong quá khứ gần đây hơn là một báo hiệu về sự thành công nào trong tương lai. Cũng như những nước có lợi tức trung bình khác, TQ có thể sẽ tiếp tục tăng trưởng nhanh hơn các nước phương Tây một chút, mặc dù không nhanh như tốc độ tăng trưởng của TQ trong khoảng thời gian từ 1990 đến 2010, và với nhiều bấp bênh hơn trước. Nhưng dân số TQ sẽ bắt đầu giảm xuống liền sau năm 2020, trong khi đó dân số Mỹ sẽ tiếp tục gia tăng. Vì vậy, toàn bộ nền kinh tế TQ có thể vẫn ngang hàng với toàn bộ kinh tế Hoa Kỳ cho đến hết thế kỷ 21. Điều này không có nghĩa là TQ sẽ không đóng một vai trò quan trọng trên thế giới. Cho dù TQ chỉ đạt được mức độ ngang hàng với Hoa Kỳ về GDP tổng quát và đạt được chỉ khoảng 1/4 GDP đầu người của Hoa Kỳ, TQ vẫn sẽ là một cường quốc đáng nể sợ. TQ sẽ là một nước tối quan trọng thứ hai trong hệ thống quốc tế.
Nhưng với mạng lưới liên minh và địa vị địa chiến lược của Hoa Kỳ to lớn hơn nhiều, sức mạnh bá quyền Mỹ không bị đe dọa bởi sự trỗi dậy của TQ. Hoa Kỳ được bao bọc bởi những đồng minh lâu đời (Canadavà các nước Tây Âu) hay các nước ổn định nhưng yếu và không tranh giành ảnh hưởng với Hoa Kỳ (châu Mỹ La tinh). Những nước láng giềng của TQ là Nhật Bản giàu có và hùng mạnh, Nam Hàn và Việt Nam đang vươn lên, hai nước khổng lồ Ấn Độ và Nga, một loạt các quốc gia suy sụp hay đang suy sụp ở Trung Á và Đông Nam Á. Hoa Kỳ ngự trị trên các đại dương, trên các vùng trời, và ngoài khí quyển; TQ đang phải phấn đấu để duy trì trật tự ngay trong biên giới lãnh thổ của mình. TQ sẽ, và một cách chính đáng có bổn phận phải, đóng một vai trò ngày càng to lớn trong chính trị châu Á và thế giới, nhưng TQ không có đủ tư thế để khống chế ngay cả châu Á, đừng nói chi cả thế giới.
Các học giả uyên thâm có thể tận hưởng cơ hội này để suy đoán về một tương lai hậu-Hoa Kỳ, trong đó cả thế giới phải học tiếng Quan thoại, nhưng sự thật cho thấy rằng điều họ suy đoán sẽ không xảy ra trong thế kỷ này. Đã đến lúc ta cần bắt đầu coi TQ như một nước rộng lớn nhưng tầm thường. Phần còn lại của thế giới không nên ngây ngất hay lo sợ về viễn cảnh TQ sẽ khống chế thiên hạ. Dẹp qua một bên sự phóng đại và hoảng sợ, ta nên thấy ở TQ một nước đã chịu đựng một thảm kịch khủng khiếp kéo dài 200 năm và cuối cùng đang trở lại bình thường. Đây là một điều tốt lành – cho TQ, cho Hoa Kỳ, và cho cả thế giới. Nếu hệ thống quốc tế bắt đầu coi TQ, và TQ bắt đầu tự coi mình, như một thành viên quan trọng nhưng không phải vô địch trong hệ thống toàn cầu, thì những sợ hãi phi lý sẽ giảm thiểu về mọi phía, và phải là như vậy. TQ trong tương lai có thể phải dồn mọi nỗ lực để thoả mãn nhu cầu của dân chúng trong nước hơn là giành lấy cho mình địa vị của một bá quyền toàn cầu mới.
Salvatore Babones là Giảng viên Thâm niên môn Xã hội học và Chính sách Xã hội tại Đại học Sydney, Australia.
Nguồn BVN

Vũ Cao Đàm “Dis moi qui tu fréquentes et je te dirais qui tu es”

Đó là câu ngạn ngữ Pháp, nghĩa là “Hãy nói cho tôi anh hay qua lại với ai, tôi sẽ nói cho anh biết, anh là người thế nào”
Dư luận dân tình rất phân vân, vì một nhóm người có quyền cao chức trọng cứ … fréquenter, tức là qua lại với cái “đồng chí tốt” là bọn đế quốc Trung Cộng, một nhà nước đế quốc bất hảo nhất trong lịch sử của chủ nghĩa đế quốc? Chúng ta dành ít phút xem xét thử tư cách của cái nhà nước này ra sao?
Cái tư cách bất hảo nhất của nhà nước đế quốc này, là luôn ngụy tạo cái vỏ bọc mỹ miểu cho mọi hành vi bất nhân. Người dân không cần mất nhiều thời gian cũng có thể tìm được trên các phương tiện truyền thông đại chúng những ngôn từ “ráo hoảnh” của các nhà lãnh đạo Trung Cộng, từ người lãnh đạo cao nhất của cái nhà nước này đến những kẻ sống sát nách chúng ta, như ngài đại sứ Tôn Quốc Tường, đại loại như tâng bốc các nhà lãnh đạo ở nước ta là “đồng chí tốt”, khuyên bảo các nhà lãnh đạo “nhìn về đại cục”, dạy bảo dân ta “kiên nhẫn chờ đợi”[1], nhưng cũng ngay chính lúc đó, đế quốc Trung Cộng tung tầu bè đủ các hạng xâm lấn biển của Việt Nam, từng giờ từng phút cho bọn thương nhân và đủ các hạng người len lỏi rất sâu vào từng ngõ xóm của Việt Nam triệt phá kinh tế, tàn hại môi trường, tha hóa chính trị, gây hàng loạt tội ác với nhân dân Việt Nam.
Trung Cộng tung hoành diễu võ giương oai khắp biển đông, xưng hùng xưng bá với tất cả các nước có chung biên giới. Thế giới thay đổi cách nhìn với Trung Cộng, từ những cái nhìn đầy thiện cảm, khâm phục một cuộc “trỗi dậy hòa bình” đến chỗ ghê tởm Trung Cộng vì họ ngày càng lộ mặt phát xít hóa ngông cuồng.
Cái điều đáng buồn là những người mắc mưu Trung Cộng không chỉ có người nông dân hám vài cái lợi trước mắt, như triệt phá đồi chè, nương ngô, sức kéo để có những mặt hàng kỳ lạ như “chè bẩn”, “râu ngô non”, “đuôi trâu”, “móng trâu” mang bán cho thương lái Trung Cộng, mà ngay cả những người chức cao vọng trọng cũng bị lừa để cam tâm ký cho giặc Tầu vào trấn đóng Tây Nguyên… Và cũng không chỉ có thế, người ta cũng có thể tìm ra không mấy khó khăn những người mang danh “công ty” nghiêm túc, mà lại tổ chức từng đoàn tàu đi cắt cáp quang của mạng thông tin viễn thông để bán cho Tàu Cộng, … Và cũng không chỉ có thế, chúng ta cũng tìm thấy cả các vị có đẳng cấp về học hàm học vị, cũng xưng tụng cái sự “tương quan huyết thống”, “tương đồng văn hóa”, … và “tình cảm tri ân” của các vị với thương lái Tàu Cộng đã tạo ngồn đầu ra cho nông sản với một cái nhìn không kém thiển cận so với mấy bác nông dân ngờ nghệch triệt phá nương ngô đến ngày trổ bắp để kiếm mấy kí râu ngô non mang bán cho thương nhân Trung Cộng.
Một người dân bình thường cũng có thể đặt ra những câu hỏi, … Vì sao anh em “cảnh sát khu vực” trong các khu dân cư làm công việc quản lý “tạm trú, tạm vắng” rất chặt chẽ, một hộ gia đình dân cư sẽ bị theo dõi rất nghiêm ngặt nếu cho người nước ngoài ngủ đêm trong nhà. Vậy vì sao các nhân viên ngành an ninh, cảnh sát không xem xét những hành vi cho cả ngàn người vào trấn đóng Tây Nguyên? Người dân chở hàng lậu qua biên giới bị săn lùng dữ tợn, vậy vì sao bọn thương lái “nước lạ” tự do hoành hành trên đất ViệtNam, thậm chí gây phương hại cho an ninh kinh tế ViệtNammà không có cơ quan nào giám sát?
Đấy là những điều lạ. Còn một điều lạ nữa chúng ta không thể tưởng tưởng được cách hành xử đổi trắng thay đen khi đọc trong một bản dịch của nhà nghiên cứu Dương Danh Dy đã đăng trên mạng BVN những dòng về quyết tâm của Trung Cộng triệt hạ Việt Nam như sau đây:
[…]
“Cuộc chiến hoàn toàn diễn ra trên lục địa ViệtNam. Đánh Việt Nam vừa để dạy bài học, vừa thu hồi lãnh thổ bị chiếm, vùng gần biên giới trên bộ bị Việt Nam chiếm giữ đã thu hồi hết, cớ làm sao không thu hồi các đảo, bãi trên Biển Đông bị Việt Nam chiếm giữ? Chẳng lẽ lo rằng chiến sự sẽ leo thang vô hạn ư? Chẳng phải là hai nước đã đánh nhau toàn diện rồi ư? Chẳng lẽ đó không phải là đảo, bãi của ta? Thế mà chẳng phải là chúng ta vẫn luôn kêu gào rằng đó là lãnh thổ thần thánh không thể xâm phạm của mình?
Đánh ViệtNamchúng ta chỉ muốn dạy cho nhà đương cục ViệtNammột chút, nên quân gần đến Hà Nội đã vội vàng rút quân. Cho dù chúng ta đã đánh vào vùng đất hiểm của ViệtNam, đã là xâm lược rồi sao còn cố sống cố chết giữ lấy cái mặt nạ chính nghĩa, tự cho mình là những đấu sĩ chính nghĩa. Quân đội đã tới gần Hà Nội, một nửa ViệtNamđã ở trong tay chúng ta, giả sử chúng ta không muốn tiếp tục tiến nữa để hoàn toàn tiêu diệt nhà đương cục ViệtNam, thì cũng nên gây dựng một chính quyền ViệtNamthân Trung Quốc. Sau khi dựng nên một chính quyền Việt Nam thân Trung Quốc rồi sẽ vũ trang, viện trợ và ủng hộ nó giải phóng toàn Việt Nam, hoặc nhân đó chia ra Nam Bắc để trị, chia cắt Việt Nam thành hai nuớc.
Một khi điều đó xảy ra, một chính quyền Việt Nam thân Trung Quốc, hoặc một chính quyền Bắc Việt Nam thân Trung Quốc sẽ trở thành láng giềng hữu hảo của Trung Quốc, không chỉ một lần đến tay, có thể giải quyết xong vấn đề lãnh thổ và chủ quyền của Việt Nam mà còn có thể từ một cú đánh, đập tan hành vi bá quyền của Việt Nam tại Đông Nam Á. Đáng tiếc là chúng ta đã không có tính toán đó, không có chiến lược đó, nói làm gì đến chuyện có sự chuẩn bị trước”
[…] (hết trích)
Và đây nữa, chúng ta hãy nghe người Trung Quốc nói về họ. Chúng ta hãy vào trang “Đại kỷ nguyên” [2] của những người Trung Quốc để nghe họ nói về xã hội Trung Hoa dưới sự cai trị của Đảng Trung Cộng của họ:
[…]
“Trong quá khứ, người dân Trung Quốc quý trọng chữ trinh hơn tất cả mọi thứ khác, còn ngày nay mọi người khinh người nghèo chứ không khinh gái bán dâm. Quá trình hủy hoại nhân tính và đạo đức ở Trung Quốc đã được mô tả sống động trong các câu sau:
Trong những năm 50 mọi người giúp đỡ lẫn nhau,
Trong những năm 60 mọi người đấu tranh với nhau,
Trong những năm 70 mọi người lừa đảo lẫn nhau,
Trong những năm 80 mọi người chỉ lo cho chính mình,
Trong những năm 90 mọi người lợi dụng bất cứ ai mà họ gặp”.
Đó là đoạn trong bài viết “Đảng CSTQ một tà giáo”, Bài số 8 trong loạt bài viết “Cửu bình” về Đảng Cộng sản Trung Quốc. Họ đã viết chi tiết hơn trong đoạn trích sau đây:
[…]

“Sự bại hoại của Tà giáo Đảng Cộng sản Trung Quốc
Tà giáo ĐCSTQ thực chất là đang cai trị theo cách đối lập với nhân tính và đạo trời. ĐCSTQ nổi tiếng là ngạo mạn, tự cao, ích kỷ, và hành ác dã man, không còn kiêng nể gì nữa. Nó luôn luôn đem lại tai họa cho đất nước và nhân dân, nhưng nó không bao giờ thừa nhận những sai lầm của nó, và sẽ không bao giờ tiết lộ bản chất thật sự của nó cho nhân dân biết. ĐCSTQ chưa bao giờ ngần ngại việc thay đổi khẩu hiệu và thủ đoạn của nó, những thứ mà ĐCSTQ dùng làm phương tiện để duy trì quyền lực của nó. Nó sẽ làm bất cứ việc gì để duy trì quyền lực mà không thèm đếm xỉa gì đến đạo đức, công lý và nhân mạng.
Việc thể chế hóa và xã hội hóa của tà giáo này sẽ dẫn đến sự sụp đổ của nó. Kết quả của việc tập trung hóa quyền lực đã dẫn đến việc công luận bị bịt miệng và tất cả các cơ chế giám sát có thể có đã bị tiêu hủy, làm cho không còn có lực lượng nào khác để ngăn không cho ĐCSTQ trượt vào hủ bại và tan rã.
[…]
ĐCSTQ ngày nay đã trở thành “đảng cầm quyền tham nhũng và biển thủ” lớn nhất thế giới. Theo thống kê chính thức ở Trung Quốc, trong số 20 triệu quan chức, viên chức hoặc cán bộ trong ĐCSTQ hoặc chính quyền trong 20 năm qua, 8 triệu người đã bị phát hiện là có phạm tội tham nhũng và bị kỷ luật hoặc bị trừng phạt theo quy định của đảng hoặc chính quyền. Nếu tính cả những quan chức tham nhũng chưa bị phát hiện thì tổng số các quan chức đảng và chính phủ tham nhũng là vào khoảng hơn 2 phần 3, chỉ có một phần nhỏ trong số đó đã bị điều tra và phanh phui.
Việc cướp đoạt lợi ích vật chất bằng cách tham nhũng và vòi tiền đã trở thành lực kết dính mạnh nhất cho sự thống nhất của ĐCSTQ ngày nay. Các quan chức tham nhũng biết rằng nếu không có ĐCSTQ thì họ sẽ không có cơ hội để trục lợi và nếu ĐCSTQ sụp đổ thì họ sẽ không chỉ mất quyền lực và địa vị mà còn phải đối mặt với việc bị điều tra. Trong “Sự phẫn nộ của Trời” (Thiên Nộ), một tiểu thuyết vạch trần những vụ việc ở đằng sau hậu trường của các quan chức ĐCSTQ, tác giả Chen Fang đã chỉ ra điều tối mật của ĐCSTQ qua miệng của Hác Tương Thọ, Phó Chánh Văn phòng của một Văn phòng Thành ủy của ĐCSTQ, “tham nhũng đã làm ổn định chính quyền của chúng ta”.
Nhân dân Trung Quốc đã nhìn thấy rất rõ điều đó, “nếu chúng ta chống tham nhũng thì đảng sẽ sụp đổ; nếu chúng ta không chống tham nhũng thì đất nước sẽ diệt vong”. Tuy nhiên ĐCSTQ sẽ không chống tham nhũng để rồi phải đối mặt với rủi ro cho sự tồn vong của nó. Cái mà nó sẽ làm là tử hình một số cá nhân tham nhũng làm vật hy sinh tượng trưng để bảo vệ hình ảnh của nó. Điều này đã kéo dài sự tồn tại của nó thêm một vài năm nữa bằng cách thí mạng một vài quan chức tham nhũng. Ngày nay, mục đích duy nhất của tà giáo ĐCSTQ là duy trì quyền lực và tránh khỏi bị sụp đổ.
Ở Trung Quốc ngày nay, luân thường đạo lý đã suy đồi đến mức không còn nhận ra được nữa. Nạn làm hàng giả, mãi dâm, ma túy, thông đồng giữa các quan chức và những kẻ tội phạm, tội phạm có tổ chức, cờ bạc, hối lộ – tham nhũng đủ loại đang diễn ra tràn lan. ĐCSTQ đã phớt lờ sự suy đồi về mặt đạo đức đó, trong khi nhiều quan chức cao cấp cũng là những ông trùm trong hậu trường đang vòi tiền những người dân cảm thấy lo sợ và muốn được bảo vệ. Sái Thiểu Khanh, một chuyên gia nghiên cứu về xã hội đen và các tổ chức tội phạm ở Trường Đại học Nam Kinh, ước tính rằng tổng số tội phạm có tổ chức ở Trung Quốc là vào khoảng 1 triệu. Mỗi một tên tội phạm có tổ chức bị bắt đều khai ra những người cộng sản hủ bại ở đằng sau hậu trường là các quan chức chính quyền, các quan tòa hoặc cảnh sát.
ĐCSTQ sợ rằng nhân dân Trung Quốc có thể cảm nhận về lương tâm và đạo đức, nên nó không dám cho phép nhân dân được có tín ngưỡng tôn giáo hoặc sự tự do tư tưởng. ĐCSTQ sợ rằng dân chủ sẽ kết liễu chế độ một đảng của nó nên nó không dám cho nhân dân quyền được tự do về mặt chính trị. Nó nhanh chóng hành động và bỏ tù những người theo chủ nghĩa tự do độc lập và những người hoạt động vì nhân quyền. Tuy nhiên, nó cho nhân dân một quyền tự do lệch lạc. Chỉ cần người ta không quan tâm đến chính trị và không phản đối sự lãnh đạo của ĐCSTQ, thì người ta có thể muốn gì thì muốn, thậm chí người ta còn có thể làm cả những điều tà ác vô đạo đức. Kết quả là ĐCSTQ đã suy đồi rất nhanh và đạo đức xã hội ở Trung Quốc đang xuống dốc nhanh chóng ở mức báo động”.
[…]
Vẫn trong bài viết này, chúng ta đọc được đoạn sau:
“Tại sao nhân dân vẫn chưa nhận ra?
ĐCSTQ đã hành động tà ác và dã man trong suốt hơn 50 năm cầm quyền ở Trung Quốc. Nhưng tại sao nhân dân Trung Quốc vẫn thiếu hiểu biết thực tế về bản chất tà ác của ĐCSTQ? Đó là vì người Trung Quốc kém hiểu biết? Không. Người Trung Quốc đã xây dựng nên một trong những đất nước uyên thâm nhất trên thế giới và tự hào với một nền văn hóa truyền thống giàu có và một di sản 5.000 năm. Vậy mà nhân dân Trung Quốc vẫn đang phải sống dưới sự thống trị của ĐCSTQ, hoàn toàn sợ hãi không dám biểu đạt sự bất bình của mình. Vấn đề nằm ở sự kiểm soát tư tưởng của ĐCSTQ.
Nếu nhân dân Trung Quốc có quyền tự do biểu đạt và có thể bàn luận công khai về công và tội của ĐCSTQ, thì chúng ta có thể tưởng tượng được rằng người Trung Quốc từ lâu đã có thể thấy rõ được bản chất tà ác của ĐCSTQ và tự giải phóng cho chính mình khỏi sự ảnh hưởng của tà giáo này. Không may là, nhân dân Trung Quốc đã bị mất đi các quyền tự do biểu đạt và tự do tư tưởng của mình đã hơn một nửa thế kỷ sau khi chế độ của ĐCSTQ ra đời. Mục đích đằng sau việc đàn áp những người cánh hữu trong số những trí thức vào năm 1957 là để đè bẹp quyền tự do biểu đạt và kiểm soát tư tưởng của nhân dân. Trong một xã hội không có những quyền tự do cơ bản như vậy, phần lớn những thanh niên toàn tâm nghiên cứu các tác phẩm của Mác và Ăng ghen trong Cách mạng Văn hóa đã bị trớ trêu dán nhãn là “bè lũ chống đảng” và sau đó đã bị đàn áp. Việc bàn luận về đúng sai của ĐCSTQ đơn giản là không được phép.
Không mấy người Trung Quốc dám nghĩ đến việc gọi ĐCSTQ là một tà giáo. Tuy nhiên, nếu điều đó được khẳng định thì những người đã từng sống ở Trung Quốc sẽ thấy không khó khăn gì trong việc tìm ra những bằng chứng thuyết phục để chứng minh cho nhận định đó từ những trải nghiệm của chính họ và gia đình, bạn bè.
Nhân dân Trung Quốc đã không chỉ bị tước đi quyền tự do tư tưởng, mà họ còn bị nhồi nhét vào trong đầu những học thuyết và văn hóa của ĐCSTQ. Do đó, tất cả những điều mà nhân dân có thể nghe thấy là những lời ca ngợi đảng và đầu óc của họ đã bị làm nghèo nàn đi tới mức chỉ còn lại những ý tưởng về việc củng cố ĐCSTQ. Hãy lấy cuộc thảm sát trên quảng trường Thiên An Môn làm ví dụ. Khi súng bắt đầu nổ vào ngày 4/6/1989, nhiều người theo bản năng đã chạy trốn. Một lúc sau, bất chấp rủi ro, họ đã dũng cảm bước ra khỏi chỗ ẩn náu và cùng nhau hát bài “Quốc tế ca”. Những người Trung Quốc này thực sự dũng cảm, vô tội và đáng kính trọng nhưng tại sao họ lại hát bài “Quốc tế ca”, một bài hát của những người cộng sản, khi đang phải đối mặt với việc giết chóc của những người cộng sản? Lý do rất đơn giản. Bị giáo dục trong văn hóa đảng, tất cả những gì mà những con người đáng thương đó biết chỉ là chủ nghĩa cộng sản. Những người trên quảng trường Thiên An Môn lúc đó không biết bất cứ bài hát nào ngoài bài “Quốc tế ca” và một số bài hát khác ca ngợi đảng cộng sản”.
Bàn về lối thoát cho dân tộc Trung Hoa, bài báo viết tiếp:
“Đâu là lối thoát?
ĐCSTQ đang tiến đến tận diệt. Thật đáng buồn là, nó vẫn đang cố gắng trói buộc số phận của mình với đất nước Trung Quốc trước khi nó tan rã.
ĐCSTQ đang giãy chết có vẻ như đang yếu dần và sự kiểm soát của nó đối với tâm trí của nhân dân đang bị lỏng dần. Với sự phát triển của viễn thông và Internet, ĐCSTQ đang thấy khó khăn trong việc kiểm soát thông tin và trong việc bịt miệng công luận. Khi các quan chức hủ bại càng ngày càng áp bức bóc lột nhân dân, công chúng đang bắt đầu thức tỉnh từ những ảo tưởng của mình về ĐCSTQ, và nhiều người trong số họ đã bắt đầu thực hiện việc bất tuân lệnh chính quyền. ĐCSTQ không chỉ đã thất bại trong việc cố đạt cho được mục đích của nó là tăng cường việc kiểm soát tư tưởng trong cuộc đàn áp Pháp Luân Công mà còn càng tự làm suy yếu chính bản thân nó trong khi đã lộ rõ chân tướng cực kỳ tàn bạo của nó. Thời gian thích hợp này đã khiến cho nhân dân xem xét lại ĐCSTQ, mở đường cho đất nước Trung Quốc tự giải phóng cho mình khỏi cảnh nô lệ về mặt tư tưởng và hoàn toàn thoát khỏi sự kiểm soát của tà ma cộng sản.
Sau khi đã sống dưới sự thống trị tà ác của ĐCSTQ trong hơn 50 năm qua, nhân dân Trung Quốc không cần một cuộc cách mạng bạo lực; mà họ cần phải lấy lại tâm hồn của mình. Điều này có thể đạt được bằng cách tự cứu mình, và bước đầu tiên để tiến đến mục đích đó là việc cần phải nhận ra bản chất tà ác của ĐCSTQ.
Ngày đó sẽ đến khi mọi người vứt sang một bên các tổ chức đảng gắn liền với bộ máy nhà nước, để cho các hệ thống xã hội hoạt động một cách độc lập, và được sự trợ giúp của các lực lượng nòng cốt trong xã hội. Với sự ra đi của tổ chức độc tài của ĐCSTQ, hiệu quả hoạt động của chính quyền sẽ được cải thiện và tăng cường. Và ngày đó đã đang tới rất gần rồi. Trên thực tế, từ hồi đầu những năm 1980, những người theo đường lối cải cách ở trong đảng đã ủng hộ ý tưởng “tách đảng ra khỏi chính quyền”, trong một nỗ lực nhằm tách đảng ra khỏi chính quyền. Các nỗ lực cải cách từ trong nội bộ ĐCSTQ đã cho thấy là chưa đầy đủ và không thành công khi tư tưởng “quyền lãnh đạo tuyệt đối của đảng” vẫn chưa được loại bỏ hoàn toàn”.
Người “đồng chí tốt” của một số người Việt chúng ta là như thế đấy.
Hãy tự hỏi xem chúng ta là ai, và nhớ lấy điều nhắc nhở trong câu ngạn ngữ rất hay của Pháp được sử dụng làm tiêu đề cho bài viết này: “Dis moi qui tu fréquentes et je te dirais qui tu es”
V.C.D
Tham khảo:
[1] Trích lời nhà lãnh đạo Trung Cộng Tiếp Cận Bình trong buổi tiếp Tướng Ngô Xuân Lịch của Việt Nam ngày 16/9/2011 tại Bắc Kinh
[2] Trang mạng “The Epoch Times” (Bản Anh ngữ); “Đại kỷ nguyên” (Bản Việt ngữ); “大纪元”(Bản Hán ngữ)
http://dajiyuan.com/gb/4/12/3/n735942.htm
Nguồn BVN

Advertisements

Gửi bình luận »

Không có bình luận

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: