Hoàngquang’s Blog

19/09/2011

“Chủ lực quân cách mạng” đang yếu thế nhất!

Tống văn Công

Hoàng Kim (Đồng Tháp) Chính phủ chúng ta: đã thiệt!!!
Ngô Nhân Dụng Thời Sự Kinh Tế: Kinh tế không người lái Phạm Tuyên Kiến nghị xem lại chất lượng nhà thầu Trung Quốc
Lê Thanh Ba cái nhất đáng buồn trong quản lý đất đai Tô Văn Trường Dự án Bauxite Tây Nguyên – Lối ra rẻ nhất, có lợi nhất cho đất nước BVN Chảy máu quặng sang Trung Quốc, xe phá nát đường, dân bức xúc chặn đường đốt xe PV Quốc Doanh Cơ chế phá và xây
Trần Minh Quân Điệu ru buồn ray rứt mang tên “lao động Trung Quốc” BVN Trung Quốc không muốn Ấn Độ vào Biển Đông?
***

Tống văn Công “Chủ lực quân cách mạng” đang yếu thế nhất!

Đó là nhận định của Giáo sư nông học Đào Thế Tuấn khi trả lời nhà báo Hàm Châu trên báo Nông nghiệp Việt Nam xuân Tân Mão 2011. Giáo sư nói: “Nghịch cảnh thay, nông dân từng là “chủ lực quân của cách mạng giải phóng dân tộc”, cũng là người lặng lẽ âm thầm khởi xướng công cuộc đổi mới, nhưng lại ít được hưởng lợị nhất từ đổi mới… Đáng lo thay, nông dân là bộ phận yếu thế nhất trong nhân dân… Quyền lợi của nông dân không được bảo vệ. Nông dân thiếu chủ quyền về đất đai, mất đất mà không có ai bênh vực”!

Càng đáng lo thay, khi nhìn lại lịch sử, nông dân từng hăm hở đi theo Đảng bởi khẩu hiệu “Người cày có ruộng!”; và hai nhà lãnh đạo nổi tiếng của Đảng là Trường Chinh và Võ Nguyên Giáp cùng viết chung quyển sách lớn đầu tiên là Vấn đế dân cày!

Hằng chục năm nay, nông dân rỉ tai nhau về những “nỗi kinh hoàng”. Trước Đổi mới, NỖI KINH HOÀNG có tên là “VÀO HỢP TÁC XÔ! Sau Đổi mới, NỖI KINH HOÀNG được đổi tên là “GIẢI PHÓNG MẶT BẰNG”!

Tài liệu mới nhất tôi được đọc là bài Nỗi lo hậu giải tỏa ở Đà Nẵng của nhà báo Hoàng Dũng đăng trên Người Lao Động ngày 12-9-2011, kể:

“Ông Lê Đức H. (50 tuổi, phường Mỹ An, quận Ngũ Hành Sơn) cho biết năm 1998, gia đình ông thuộc diện giải tỏa đền bù đi hẳn. Toàn bộ diện tích đất ở của gia đình ông là 198 m2 được đền bù 155 triệu đồng. Ngoài ra gần 1500 m2 đất nông nghiệp của gia đình ông được đền bù gần 30 triệu đồng. Sau đó, gia đình ông được bố trí mua một lô đất tái định cư 100 m2 ở phường Mỹ An với giá 180 triệu đồng. Không đủ tiền mua đất và xây nhà, gia đình ông phải nợ 50% tiền đất và tiền nợ được quy theo giá vàng. Giá vàng lúc đó 850.000 đồng chỉ, nhưng bây giờ giá vàng lên cao quá nên khoản nợ cao dần, khó có khả năng thanh toán. Khi không còn đất canh tác ông H. chuyển sang nghề xe thồ, nhưng không đủ sống. Không còn cách nào khác, ông H. vác cuốc đến những khu dân cư mới để trồng rau kiếm sống, nuôi 4 đứa con ăn học”. (Vừa qua, TP Đà Nẵng giảm mức giá quy ra vàng xuống 1,6 triệu/chỉ, vẫn còn cao gấp đôi lúc mua đất!). Theo bài báo, có ông Ph. 56 tuổi và hằng trăm người khác cùng cảnh ngộ như ông H.!

Theo ông giám đốc Trung tâm Giới thiệu việc làm Đà Nẵng thì nhà nước có chính sách và định hướng thị trường việc làm, giúp tham gia học nghề, tìm việc làm, chứ không thể bốc người dân đặt vào việc làm đó. “Mình giúp người thuộc diện giải tỏa hướng đi, nhưng quyết định là ở họ”. Nói như ông, tức là những người nông dân đang bị khốn khổ là tại họ quyết định chọn cái khốn khổ đó! Ông không thấy rằng, những người như ông H. 50 tuổi, ông Ph. 56 tuổi làm sao có thể vào trường đào tạo nghề đây? Và dù các ông muốn đi học thì làm sao có cơm gạo cho gia đình và các con sống đây?

Bài báo không cho biết nhiều điều: Đây là có phải dự án thuộc diện thu hồi đất hay không? Người nông dân ở đây có quyền đòi đền bù theo giá thị trường hay không? Tại sao lấy của người nông dân 198 m2 đất ở, 1500 m2 đất ruộng mà lại bán cho họ loại đất ở có diện tích chỉ bằng nửa số đất ở cũ mà giá cao gấp đôi số tiền họ được đền bù cho 1655 m2 đất? Tại sao người nông dân thiếu tiền đồng ViệtNam lại bị quy ra nợ bằng giá vàng? Như vậy tức là nhà nước đẩy sự rủi ro do mình gây ra vì quản lý kém, cho người nông dân phải gánh chịu?

Những người nông dân trong bài báo nói trên không hề thắc mắc, đặt ra những câu hỏi nào cho chính quyền Đà Nẵng. Như vậy có thể biết rằng bao nhiêu người ở rất nhiều cuộc khiếu kiện vượt cấp, nhiều vụ từ miền Nam ra tận Thủ đô ăn chực nằm chờ, thì phải là oan khuất nặng nề lắm! Chỉ điểm lại vài vụ (chưa hẳn là tiêu biểu).

1- Vụ dự án Lấn biển ở Kiên Giang năm 2010. Lúc đầu, người dân rất hoan nghênh dự án, nhưng khi thực hiện thì hằng trăm hộ bị giải tỏa 420 ha, trong đó đất của nhiều hộ đã có sổ đỏ. Giá đền bù 1 m2 đất không bằng giá 1 kg cá linh. Người dân không chấp nhận giá đền bù. Chính quyền ra quyết định cưỡng chế! Người dân hô hào:”Bỏ mạng chứ không bỏ đất”, và kéo đi biểu tình với những khẩu hiệu bảo vệ Đảng, bảo vệ nhà nước, chỉ đả đảo ông Chủ tịch UBND Rạch Giá BNS áp chế dân!

2- Vụ hơn 30 hộ dân ở Bình Dương ra Hà Nội khiếu kiện chính quyền tỉnh thu hồi và đền bù tiền đất trái pháp luật. Vụ này kéo dài 7 năm. Những người khiếu kiện bị cưỡng chế thô bạo. Bắt đầu ra các quyết định thu hồi đất năm 2005, nhưng tỉnh đã phê duyệt các phương án đền bù giải tỏa từ năm 2003; Thành lập ban chỉ đạo giải tỏa bồi thường mà không thành lập Hội đồng đền bù thiệt hại có đại diện các hộ dân theo quy định; không có biên bản khảo sát thực địa, làm cơ sở lập phương án đền bù… Sau khi Thanh tra kết luận sai trái, tỉnh vẫn giấu nhẹm và ra văn bản công bố với dân là Tỉnh làm đúng!

3- Vụ thu hồi đất ở Cồn Dầu – Đà Nẵng, không được người dân đồng tình vì: Chính quyền thành phố Đà Nẵng thu hồi đất, đền bù với giá rất rẻ, rồi bán lại cho Công ty cổ phần Mặt Trời, đầu tư xây dựng khu du lịch sinh thái, không phù hợp với quy định thu hồi đất của Luật đất đai 2003. Thành phố Đà Nẵng thực hiện cưỡng chế gây hậu quả nghiêm trọng: một người chết, nhiều người bị bắt, hằng chục người bỏ trốn sang nước khác và xin tỵ nạn gây nhiều dư luận không tốt.

Còn có thể nhiều vụ khác ở Long An, Bến Tre, khu tứ giác Eden ở TP Hồ Chí Minh… và mới nhất là vụ thu hồi đất ở Bắc Giang tháng 4 năm 2011, nhiều chủ đất vốn là cựu chiến binh như Nguyễn Thị Thanh, Phạm Thị Sửu bị bắt và bị đánh đập. Cuối cùng, Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Ngọc Khoa phải đứng ra giải quyết.

Mỗi năm cả nước mất trung bình 100.000 ha đất nông nghiệp cho các loại dự án, tai tiếng nhất là các dự án sân golf (phần lớn là trá hình để kinh doanh bất động sản). Nông nghiệp được quản lý bởi 5 Bộ và chính quyền địa phương, có lúc dẫm chân nhau, có lúc không rõ trách nhiệm. Hội Nông dân không có chức năng bảo vệ lợi ích, can thiệp những vụ thu hồi đất và đền bù giải tỏa không đúng pháp luật. Việc thực hiện Nghị quyết Đảng về những vấn đề quan trọng còn quá chậm chạp như: “Sửa đổi Luật đất đai”; “Xây dựng nền nông nghiệp phát triển toàn diện và hiện đại”; “Phát triển các hình thức kinh tế tập thể trong nông nghiệp”…

Để giai cấp nông dân khôi phục được vai trò “chủ lực quân” trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, khắc phục tình trạng yếu thế nhất, chấm dứt tình trạng khiếu kiện dai dẳng, cần thực hiện những việc cấp bách nhất:

1- Sửa đổi Luật đất đai theo hướng trả lại quyền sở hữu cho nông dân, thực chất là khẩu hiệu “Người cày có ruộng” mà Đảng nêu ra ngày xưa. Người nông dân đối thoại với tư cách chủ sở hữu đất đai, chống lại có hiệu quả mọi sự lạm quyền nhân danh ông chủ “sở hữu toàn dân”.

2- Đổi mới Hội Nông dân, thực chất là tạo điều kiện cho nông dân thực hiện dân chủ, bầu chọn đúng người họ tín nhiệm, có khả năng bảo vệ lợi ích khi nảy sinh tranh chấp, như mua bán đất cho các dự án, định giá lúa gạo với các doanh nghiệp xuất khẩu lương thực.

Sau khi, hình thành được các hình thức kinh tế tập thể, như công ty cổ phần sản xuất và chế biến nông sản, lúc ấy sẽ chín mùi cho việc thành lập tổ chức công đoàn trong nông dân như ý giáo sư Đào Thế Tuấn.

3- Tích cực thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 (khóa 10) về “phát triển các hình thức kinh tế tập thể”. Nhà nước cần khắc phục tình trạng đầu tư cho nông nghiệp quá sút giảm trong hằng chục năm qua. Năm 1986, đầu tư cho nông nghiệp từ ODA là 20%, đến năm 2006 chỉ còn chưa tới 3%. Mấy năm gần đây cũng chỉ nhích lên 5% – 6%. Đầu tư thỏa đáng cho nông nghiệp, tạo điều kiện hình thành những công ty cổ phần trong sản xuất và chế biến nông sản, sẽ đạt được một lúc ít nhất là hai mục tiêu: Một là làm cho hạt gạo Việt Nam thoát khỏi tình trạng “5 cha, 3 mẹ”, do mỗi hộ cá thể trồng một giống lúa, làm giảm sức cạnh tranh khi xuất khẩu. Hai là nông dân có thu nhập cao, tự mình xây dựng nông thôn mới, có tiếng nói mạnh mẽ của Công ty cổ phần khi đối thoại với đối tác như Hiệp hội Lương thực, và có tổ chức công đoàn bảo vệ lợi ích, bàn bạc với chính quyền địa phương, không còn phải chạy đi khiếu kiện vượt cấp, gây bất ổn.

Ngày 13-9- 2011
T.V.C.
http://www.boxitvn.net/bai/28682

Hoàng Kim (Đồng Tháp) Chính phủ chúng ta: đã thiệt!!!

Nông dân trồng lúa: lúa ngày một trúng, nông dân nghèo ngày một mạt.
Chính phủ ở xa nông dân quá, Chính phủ chẳng có chính sách gì hiệu quả để giúp nông dân trồng lúa, Chính phủ để nông dân bị đè đầu cởi cổ bởi các nhóm lợi ích, đến nổi GS. TS Võ Tòng Xuân đưa ra nhận xét hết sức xác đáng rằng: nông dân đang “ tự bơi”.
Không những không có những chính sách hiệu quả để giúp nông dân làm giàu, Chính phủ còn thực hiện một số chính sách làm nghèo nông dân.
Chính phủ không có một chính sách nào hiệu quả để phát triển lúa gạo
Chính phủ nói nhiều đến việc cơ giới hóa thu hoạch và sau thu hoạch, nhưng Chính phủ không có một chính sách nào hiệu quả. Chính sách cơ giới hóa của Chính phủ chỉ dừng lại ở mức cho nông dân vay tiền mua máy.
Là một nước nông nghiệp, thế mà Chính phủ không hề phát triển nền công nghiệp phục vụ nông nghiệp, cũng không hỗ trợ giá cánh kéo cho nông dân, để nông dân phải mua máy gặt đập liên hợp của Kubota với giá khoảng 500 triệu một chiếc thì việc cơ giới hóa vẫn là tự phát.
Chính phủ không có chính sách tạo thương hiệu cho gạo ViệtNam, không có chính sách nâng cao giá trị hạt gạo, không đầu tư xây dựng kho bãi liên hợp với nhà máy xay lúa và máy sấy.
Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng ra lệnh xây dựng 4 triệu tấn kho từ năm 2008 đến nay đã quá hạn mà kho vẫn chưa đủ.
Hễ lúa lên giá là cấm xuất khẩu
Năm nào cũng vậy, khi lúa lên giá là Chính phủ vội ngừng xuất khẩu vì lý do an ninh lương thực, sau đó lúa rớt giá, Chính phủ ra lệnh Hiệp hội Lương thực Việt Nam ( VFA) mua lúa tạm trữ để cứu nông dân: giá tạm trữ rẻ như bèo.
Điển hình năm 2008, lúc giá lúa lên 975 đô la Mỹ/ tấn Chính phủ vội ký lệnh cấm xuất khẩu, sau đó lúa hè thu ế ẩm, không người mua, Chính phủ giúp đỡ nông dân bằng cách lệnh cho Hiệp hội Lương thực Việt Nam mua tạm trử, với giá lúa từ 3.800 – 4.000 đồng.
Năm 2009 cũng vậy, khi giá lúa lên cao, Chính phủ kêu VFA ký văn bản cấm xuất khẩu gạo, sau đó lại giúp nông dân bằng cách cho VFA vay không lãi mua lúa cũng với giá 4.000 đồng/kg.
Bán lúa giá 4.000 đồng/ kg nông dân hòa vốn, làm lúa hòa vốn nông dân phải đi vay tiền để sống, nông dân ngày càng nợ nần chồng chất.
Giá lúa lên là cấm xuất khẩu, hỏi nông dân làm sao không ngày càng tàn mạt?
Chính phủ dùng thu nhập của nông dân để chống lạm phát
Lý do được nêu để ngừng xuất khẩu là an ninh lương thực, nhưng thực chất là ngừng xuất khẩu để khống chế giá lúa gạo trong nước, không cho tăng theo giá lúa gạo thế giới, để chống lạm phát.
Chống lạm phát bằng cách này, tức là, Chính phủ dùng thu nhập của nông dân để chống lạm phát.
Sự việc này, được chứng minh, bởi phát biểu trên báo Tuổi trẻ của ông Thứ trưởng Bộ Công thương Nguyễn Thành Biên kiêm Tổ trưởng Tổ điều hành xuất khẩu gạo của Chính phủ: “Trong những tháng cuối năm, mục tiêu kiềm chế lạm phát là quan trọng nên điều hành lúa gạo phải hướng tới mục tiêu này, không thể chạy theo mục tiêu đảm bảo có lãi cao cho nông dân”.
Chính phủ hãy nhìn sang Thái Lan, Sắp tới Chính phủ Thái lan tăng giá bán mua lúa của nông dân họ lên khoảng 500 đô la Mỹ/ tấn, tăng giá bán gạo lên khoảng 750 đô la Mỹ/ tấn, mà Chính phủ Thái Lan đâu có sợ lạm phát.
Chính phủ ViệtNammà không thay đổi tư duy chống lạm phát, nông dân ViệtNamcòn nghèo dài dài.
Chính phủ mua lúa tạm trữ: đang bần cùng nông dân
Từ năm 2008 đến nay, Chính phủ thường xuyên cho phép VFA mua lúa của nông dân để tạm trữ.
Mua lúa tạm trữ để đảm bảo quyền lợi cho nông dân, Chính phủ phải ấn định giá mua lúa tối thiểu cho VFA, thế nhưng, Chính phủ lại giao toàn quyền việc ấn định giá mua bán lúa gạo cho VFA, mà không hề có sự kiểm tra kiểm soát gì cả.
Vừa độc quyền lại được đặc quyền nên VFA lấy cướp hết lợi nhuận của nông dân.
Tôi đã phân tích việc mua lúa tạm trữ, mà trong đó VFA cướp hết lợi nhuận của nông dân ở bài: “Mua lúa gạo tạm trữ để giữ giá cái con… khỉ khô, ăn cướp thì có” đăng trên Bauxite ViệtNam. Tôi xin được nhắc lại.
Năm 2008 VFA bán gạo xuất khẩu giá qui ra giá lúa 6.432 đồng/ kg, mua lúa nông dân với giá 4.000 đồng/ kg. VFA lời 2.432 đồng/kg, nông dân bán lúa hòa vốn.
Năm 2009, bán gạo xuất khẩu qui lúa giá 6.362 đồng/ kg, mua lúa của nông dân với giá 4.000 đồng/ kg. VFA lời 2.362 đồng/ kg, nông dân hòa vốn.
Năm 2010, VFA mua lúa tạm trữ cả hai vụ đông xuân và hè thu với giá vẫn 4.000 đồng/ kg, nhưng bán gạo với giá qui lúa 5.365 đồng/ kg.
Làm lúa hòa vốn, nông dân phải ăn vào đất, nợ nần ngày càng chồng chất, như vậy nông dân đang bị bần cùng hóa.
Chính phủ vi phạm luật cạnh tranh
Trong bài, “Độc quyền lúa gạo: cái ách đang quàng lên cổ nông dân” đăng trên Bauxite ViệtNam, tôi đã chứng minh rằng: lúa gạo của nông dân đang chịu sự độc quyền của các doanh nghiệp Nhà nước. Hay nói cách khác lúa gạo thuộc lĩnh vực độc quyền Nhà nước.
Điều 15 khoản 1 mục a của luật cạnh tranh qui định: Nhà nước kiểm soát doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực độc quyền nhà nước bằng các biện pháp: “Quyết định giá mua, giá bán hàng hóa, dịch vụ thuộc lĩnh vực độc quyền nhà nước”.
Hiện nay, Nhà nước đang độc quyền lĩnh vực lúa gạo, nhưng Chính phủ lại giao sự độc quyền này lại cho VFA là một hiệp hội ngành hàng hoạt động vì lợi nhuận, khiến cho VFA có quyền ấn định thu nhập cho nông dân và tự để lại lợi nhuận. Vì thế VFA luôn ăn cướp hết lợi nhuận của nông dân.
Như vậy, việc cho phép VFA mua lúa tạm trữ, cho phép VFA toàn quyền ấn định giá sàn xuất khẩu gạo và giá thu mua lúa, tức là, Chính phủ và VFA đang vi phạm Luật Cạnh tranh.
Chính phủ không thực hiện Nghị quyết do chính Thủ tướng ký
Ngày 23/12/2009 Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng ký Nghị Quyết số 63/NQ-CP “về đảm bảo an ninh lương thực quốc gia”. Nghị Quyết qui định: “Thực hiện đồng bộ cách giải pháp giảm chi phí sản xuất, tăng thu nhập cho người sản xuất lúa gạo, đảm bảo người sản xuất lúa gạo có lãi trên 30% so với giá thành sản xuất”.
Trong bài, “Tại sao nông dân chỉ lời 30% so với giá thành?” đăng trên Bauxite Việt Nam, tôi đã chứng minh rằng: giá lúa đảm bảo cho nông dân lời 30% so với giá thành là một mức giá rẻ như bèo (qui ra giá bán gạo khoảng 380 đô la Mỹ/ tấn, đây là mức giá quá rẻ so với giá thị trường thế giới).
Vậy mà, vào vụ hè thu năm 2010, VFA mua lúa của nông dân chúng tôi với giá chỉ 3.800 – 4.000 đồng/ kg, trong khi giá thành khoảng 3.100 đồng/ kg, tức là giá lúa không “ đảm bảo người sản xuất lúa gạo có lãi trên 30% so với giá thành sản xuất” theo qui định của Nghị Quyết số 63/NQ-CP.
Báo Điện tử Sài Gòn Tiếp thị (bài “Đồng Tháp: nông dân lỗ 300 – 600 đồng/kg lúa hè thu 2010”) cho biết: “Theo tính toán của ngành nông nghiệp và UBND tỉnh Đồng Tháp, giá thành sản xuất một ký lúa hè thu đã lên đến gần 3.100 đồng, trong khi giá thu mua lúa tại ruộng chỉ dao động khoảng 2.500 đồng/kg đến 2.800 đồng/kg”.
Không có bất cứ hành động nào để thực hiện Nghị quyết do chính Chính phủ ban hành, ngày 30/6/2010 Phó Thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng thản nhiên ký ,em>Quyết định số 993/ QĐ-TTg “Về mua tạm trữ lúa, gạo hè thu năm 2010”. Quyết định này giao VFA mua tạm trữ 1 triệu tấn qui gạo vụ hè thu, bắt đầu thực hiện ngày 15/7/2010, nhưng không đưa ra giá thành sản xuất lúa, cũng như không ấn định giá thu mua lúa cho VFA, mà lại qui định: “Các doanh nghiệp thực hiện mua lúa, gạo tạm trữ theo cơ chế thị trường, tự chịu trách nhiệm về hiệu quả kinh doanh”.
Thủ tướng ký Nghị Quyết: “Đảm bảo người sản xuất lúa gạo có lãi trên 30% so với giá thành sản xuất”, vậy mà Phó Thủ tướng ký Quyết định: “Các doanh nghiệp thực hiện mua lúa, gạo tạm trữ theo cơ chế thị trường, tự chịu trách nhiệm về hiệu quả kinh doanh”, tức là cho phép VFA muốn mua lúa của nông dân tạm trữ với giá nào thì mua.
Nghị quyết của Chính phủ ban hành là một cam kết đối với nông dân, mà Chính phủ muốn thì thực hiện, không muốn thì thôi, giống chuyện giỡn chơi, chẳng cần giải thích, khiến cho nông dân chúng tôi không biết Nghị quyết của Chính phủ có còn giá trị hay không?!
Chính phủ không thực hiện được Nghị định do Chính phủ ban hành
Ngày 4/11/2010, Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng thay mặt Chính phủ ký Nghị định số 109/2010/NĐ-CP về kinh doanh xuất khẩu gạo, có hiệu lực từ ngày 1/1/2011.
Tôi đã phê phán Nghị định này trong bài viết: “Nghị định kinh doanh xuất khẩu gạo số 109/2010/NĐ-CP: Sự quan liêu, vô trách nhiệm đối với quyền lợi nông dân” đăng trên Bauxite ViệtNam, và sự phê phán này đã được thực tế xuất khẩu gạo năm 2011 chứng minh là đúng đắn.
Nghị định 109 có hiệu lực từ ngày 1/1/2011, nông dân thu hoạch lúa đông xuân và đầu tháng 2/2011, thế nhưng đến tháng 3/2011 Bộ Tài chính mới đưa dự thảo Thông tư “hướng dẫn về phương pháp xác định giá sàn gạo xuất khẩu” ra lấy ý kiến.
Một lần nữa, trên Thời báo Kinh tế Sài Gòn trong bài, “Nông dân góp ý dự thảo thông tư giá sàn xuất khẩu gạo”, tôi lại góp ý cho dự thảo Thông tư rằng: dựa vào dự thảo Thông tư chẳng thể ấn định được giá sàn.
Tôi dám chắc rằng chính tác giả của Thông tư cũng không thể dựa vào thông tư này mà ấn định được giá sàn.
Như vậy, Nghị định số 109/2010/NĐ-CP về kinh doanh xuất khẩu gạo, đến ngày hôm nay chỉ là tờ giấy lộn, vì không thế áp dụng vào thực tế xuất khẩu gạo.
Chính phủ tự tạo thêm cạnh tranh trong xuất khẩu gạo
Năm nào VFA cũng tuyên bố rằng không có đủ khách hàng mua lúa, nên không mua lúa của nông dân chúng tôi, lúa thừa mứa không ai mua, nên Chính phủ phải cho VFA vay không lãi để mua lúa tạm trữ với giá rẻ như bèo.
Lúa ế giá rẻ. Lẽ ra, Chính phủ phải tìm cách bán được lúa với giá cao. Thế nhưng Chính phủ lại ra lệnh cho Tổng công ty lương thực miềnNamliên doanh với Campuchia để xuất khẩu gạo của Campuchia.
Tôi đã phản đối việc lập liên doanh này, và tranh luận với ông Nguyễn Thọ Trí Phó Chủ tịch VFA trên Thời báo Kinh tế Sài Gòn sau cùng ông Trí cho biết “Về việc thành lập Công ty cổ phần Lương thực Cambodia Việt Nam (Cavifood) giữa Tổng công ty Lương thực Miền Nam và Greentrade Co. (thuộc Bộ Công thương Cambodia) thì đây là liên doanh theo thỏa thuận cấp cao của Thủ tướng Chính phủ hai nước”.
Như vậy là, Chính phủ bắt nông dân chúng tôi phải cạnh tranh với khoảng 1 triệu tấn gạo của Campuchia.
Không những Chính phủ tự tạo ra cạnh tranh về xuất khẩu gạo với Campuchia, Chính phủ còn cho phép Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn nhảy tưng qua châu Phi lập liên doanh trồng lúa, biến các nước châu Phi thành các quốc gia xuất khẩu lúa gạo.
Hợp tác cấp quốc gia phải nói đến quyền lợi, hợp tác cấp quốc gia không thể xuất phát từ mục đích từ thiện nếu nó gây hại cho nông dân.
Tư duy bao đồng của Chính phủ đang gây hại cho nông dân.
Thủ tướng Thái Lan nói phải giúp cho nông dân, vậy là, cả Chính phủ Thái Lan tìm mọi cách tăng giá thu mua lúa lên khoảng 50%.
Thủ tướng Việt Nam cũng nói phải giúp cho nông dân, thế mà, cả Chính phủ tìm mọi cách khống chế giá lúa gạo, kể cả việc đưa ông Thứ trưởng Bộ Công thương Nguyễn Thành Biên tung tin đồn nhảm để hạ giá lúa gạo.
Phải chi Chính phủ ViệtNamlo cho nông dân ViệtNambằng phân nửa Chính phủ Thái Lan lo cho nông dân Thái Lan, nông dân ViệtNamkhông càng ngày càng nghèo như hiện nay.

H.K.

http://www.boxitvn.net/bai/28735

Advertisements

Gửi bình luận »

Không có bình luận

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: