Hoàngquang’s Blog

15/09/2011

Biển Đông là tương lai của xung đột

Chiến trường đặc trưng của thế kỷ 21 sẽ là trên biển.
Tác giả: Robert D. Kaplan, Tạp chí Foreign Policy, Tháng 9 / 10 năm 2011

Phusa Người Hoa lục dưới cái nhìn của một cựu sinh viên người Nhựt Đỗ Trung Quân Khi nào thành “phiên bang” mới thôi…
Dương Danh Huy – Trong chiến tranh 54-75, có một hay hai Quốc gia trên hai miền Bắc, Nam?
The New York Times Thách thức trên biển đối với Trung Quốc VTV1 Hàng chục dự án điện chậm tiến độ, nhà thầu Trung Quốc không bị phạt thanhnien.com.vn Đằng sau các dự án nghiên cứu trên biển Đông Việt-Long – RFA Tuần lễ những “quan hệ đối tác chiến lược”

***
Robert D. Kaplan, Tạp chí Foreign Policy, Tháng 9 / 10 năm 2011 Biển Đông là tương lai của xung đột

Nhìn Châu Âu thấy đất, nhìn Đông Á thấy biển. Từ đó có một khác biệt quan trọng giữa thế kỷ 20 và 21. Những khu vực bị tranh chấp nhiều nhất trên địa cầu trong thế kỷ trước nằm trên đất liền ở châu Âu, đặc biệt là trên vùng bình địa khiến cho những biên giới phía đông và phía tây của Đức trở nên giả tạo và trơ mình gánh chịu bước chân hành quân không thương tiếc của các lực lượng lục quân. Nhưng trong vòng mấy chục năm, trục dân cư và kinh tế của Trái Đất đã chuyển đáng kể sang đầu bên kia của khu vực Âu-Á, nơi mà những khoảng không gian giữa các trung tâm dân số quan trọng chủ yếu là biển.
Do cách địa lý soi rọi và xác lập các thứ tự ưu tiên, những địa hình đặc thù này của Đông Á tiên đoán một thế kỷ hải quân – hải quân ở đây được hiểu theo nghĩa rộng để bao gồm những đội hình chiến đấu cả trên biển lẫn trên không mà nay ngày càng không thể tách rời nhau. Lý do? Đó là Trung Quốc; quốc gia này đang tiến hành một cuộc bành trướng hải quân không thể chối cãi được, đặc biệt là khi mà các biên giới đất liền của nước này hiện nay vững chắc hơn bất cứ lúc nào kể từ thời kỳ đỉnh cao của triều đại nhà Thanh vào cuối thế kỷ 18. Chính bằng sức mạnh trên biển mà về mặt tâm lý Trung Quốc sẽ xóa sạch hai thế kỷ bị ngoại bang xâm lấn lãnh thổ của họ – buộc tất cả các nước xung quanh họ phải phản ứng.
Tham chiến trên bộ và trên biển khác nhau vô cùng, với những ý nghĩa quan trọng cho các đại chiến lược cần có để thắng – hoặc để tránh – cuộc chiến. Những cuộc chiến trên bộ lôi kéo cả thường dân vào cuộc, trên thực tế khiến cho nhân quyền trở thành một thành tố chính của các nghiên cứu về chiến tranh. Những cuộc chiến trên biển xem xung đột như một vấn đề phân tích lý thuyết và kỹ thuật, trên thực tế biến chiến tranh chỉ còn là một phép toán, trái ngược hẳn với những cuộc đấu trí vốn là đặc trưng của những cuộc xung đột trước kia.
Chiến Tranh Thế Giới Thứ Hai là cuộc đấu tranh luân lý chống lại chủ nghĩa phát xít, cái ý thức hệ dẫn tới sát hại hàng chục triệu thường dân. Chiến Tranh Lạnh là cuộc đấu tranh luân lý chống lại chủ nghĩa cộng sản, một ý thức hệ không kém phần áp bức mà qua đó đặt ách thống trị lên những vùng lãnh thổ bao la bị Hồng Quân đánh chiếm. Thời kỳ ngay sau Chiến Tranh Lạnh trở thành cuộc đấu tranh luân lý chống lại nạn diệt chủng ở vùng Balkan và Trung Phi, hai nơi mà chiến tranh trên bộ và các tội ác chống lại nhân loại không thể nào tách rời nhau. Gần đây hơn, cuộc đấu tranh luân lý chống lại Hồi giáo cực đoan đã kéo Mỹ lún sâu vào những địa hình núi non khép kín của Afghanistan, nơi mà việc đối xử nhân đạo với hàng triệu thường dân có ý nghĩa trọng yếu cho thành công của cuộc chiến. Trong tất cả những nỗ lực này, chiến tranh và chính sách đối ngoại đã trở thành những vấn đề không chỉ cho binh lính và giới ngoại giao, mà còn cho cả giới hoạt động nhân đạo và giới trí thức. Thực vậy, hoạt động chống chiến tranh du kích thể hiện cực điểm của cái có thể xem là sự liên kết giữa các quân nhân và các chuyên gia nhân quyền. Đây là kết quả của việc chiến tranh trên bộ phát triển thành chiến tranh toàn diện trong thời hiện đại.
Đông Á, hay chính xác hơn khu vực Tây Thái Bình Dương, hiện đang nhanh chóng trở thành trung tâm mới của thế giới về hoạt động hải quân, báo trước một thế cục khác căn bản. Có thể sẽ có tương đối ít những thế tiến thoái lưỡng nan về luân lý kiểu như những trường hợp chúng ta đã quen trong thế kỷ 20 và đầu thế kỷ 21, với một ngoại lệ nổi bật nhưng khó xảy ra là chiến tranh trên bộ ở Bán đảo Triều Tiên. Khu vực Tây Thái Bình Dương sẽ đưa các vấn đề quân sự trở lại phạm trù hạn hẹp của các chuyên gia quốc phòng. Sở dĩ như vậy không chỉ vì chúng ta đang bàn tới một phạm trù hải quân, trong đó vắng mặt thường dân. Mà cũng bởi vì bản chất của chính các nước ở Đông Á, mà, giống như Trung Quốc, có thể rất độc tài nhưng trong phần lớn các trường hợp lại không phải là tàn bạo hay quá độc ác.
Cuộc đấu tranh giành thế thượng phong ở khu vực Tây Thái Bình Dương sẽ không nhất thiết sẽ có đánh nhau; phần lớn những gì xảy ra sẽ diễn ra lặng lẽ và ở phía chân trời giữa biển cả mênh mông, với một nhịp độ chậm lừ đừ như băng trôi phù hợp với tiến trình thích nghi từ từ, đều đặn với sức mạnh kinh tế và quân sự ưu việt mà các nước đã trải qua trong lịch sử. Chiến tranh không phải là tất yếu cho dù cạnh tranh là điều hẳn nhiên. Và nếu Trung Quốc và Mỹ xử lý thành công cuộc chuyển giao sắp đến, Châu Á, và thế giới, sẽ là nơi an ninh và thịnh vượng hơn. Còn gì có thể luân lý hơn thế? Nên nhớ: chính chủ nghĩa hiện thực nhằm phục vụ lợi ích quốc gia – với mục tiêu là tránh chiến tranh – trong quá trình lịch sử đã cứu nhiều mạng người hơn sự can thiệp nhân quyền.
ĐÔNG Á LÀ MỘT KHU VỰC MÊNH MÔNG BAO LA trải dài gần như từ Bắc cực tới Nam cực – từ Quần đảo Kuril xuống phía nam tới New Zealand – và có đặc điểm là một chuỗi không liền lạc các bờ biển tách biệt và những quần đảo dàn trải. Ngay cả khi tính đến chuyện khoa học kỹ thuật đã giảm đáng kể khoảng cách, bản thân biển cả vẫn là một rào cản cho việc xâm lấn, ít nhất là trong chừng mực mà đất liền không phải là rào cản. Khác với đất liền, biển tạo ra những biên giới xác định rõ ràng, khiến nó có tiềm năng giảm xung đột. Rồi còn phải kể đến tốc độ. Ngay cả những tàu chiến nhanh nhất cũng đi tương đối chậm, chẳng hạn 35 hải lý, làm giảm xác suất tính toán sai và giúp cho các nhà ngoại giao có thêm nhiều giờ – thậm chí nhiều ngày – để xem lại các quyết định. Hải quân và không quân không thể chiếm đóng lãnh thổ như cách của lục quân. Chính vì các vùng biển xung quanh Đông Á – trung tâm của hoạt động sản xuất toàn cầu cũng như chi tiêu mua sắm quân sự ngày càng tăng – mà thế kỷ 21 có cơ may lớn hơn thế kỷ 20 để tránh những cuộc đại xung đột quân sự.
Dĩ nhiên Đông Á đã gặp nhiều cuộc đại xung đột quân sự trong thế kỷ 20 mà các vùng biển không ngăn chặn được: Chiến Tranh Nga-Nhật; gần nửa thế kỷ nội chiến ở Trung Quốc diễn ra với sự sụp đổ từ từ của nhà Thanh; nhiều cuộc chinh phạt của đế quốc Nhật mà tiếp theo đó là Chiến Tranh Thế Giới Thứ Hai ở Thái Bình Dương; Chiến Tranh Triều Tiên; các cuộc chiến tranh ở Cam Bốt và Lào; và hai cuộc chiến ở Việt Nam có dính líu đến người Pháp và người Mỹ. Chuyện địa lý của Đông Á chủ yếu là biển chẳng có tác động gì tới những cuộc chiến tranh đó vốn dĩ cốt lõi là những cuộc xung đột nhằm thống nhất quốc gia hay giải phóng dân tộc. Nhưng thời kỳ đó nhìn chung đã lùi vào quá khứ. Các quân đội Đông Á, thay vì tập trung vào đất liền với các binh chủng lục quân kỹ thuật thấp, đang tập trung ra ngoài khơi với hải quân và không quân kỹ thuật cao.
Nhiều người so sánh giữa Trung Quốc hiện nay và Đức trước lúc xảy ra Chiến Tranh Thế Giới Thứ Nhất, nhưng so sánh đó sai lầm: Trong khi Đức chủ yếu là một quyền lực trên đất liền do địa lý của Châu Âu, Trung Quốc sẽ chủ yếu là một quyền lực trên biển do địa lý của Đông Á.
Đông Á có thể được chia thành hai khu vực tổng quát: Đông Bắc Á, nổi bật là Bán Đảo Triều Tiên, và Đông Nam Á, nổi bật là Biển Đông. Đông Bắc Á xoay quanh vận mệnh của Bắc Hàn, một nhà nước chuyên chế, cô lập với những viễn cảnh mờ mịt trong một thế giới chịu sự chi phối của chủ nghĩa tư bản và thông tin liên lạc điện tử. Nếu như Bắc Hàn bùng nổ từ bên trong, các lực lượng lục quân Trung Quốc, Mỹ, và Nam Hàn có thể gặp nhau ở phía bắc của bán đảo này với những can thiệp nhân đạo ở quy mô lớn khủng khiếp, ngay cả khi họ tạo ra những vùng ảnh hưởng cho chính mình. Các vấn đề hải quân sẽ là thứ yếu. Nhưng nếu cuối cùng hai nước Triều Tiên thống nhất, thì những vấn đề hải quân sẽ nhanh chóng được đưa lên hàng đầu, với Đại Hàn, Trung Quốc, và Nhật nằm trong thế cân bằng tế nhị, được tách biệt bởi Biển Nhật bản và các biển Hoàng Hải và Bột Hải. Tuy nhiên vì Bắc Hàn vẫn tồn tại, giai đoạn Chiến Tranh Lạnh của lịch sử Đông Bắc Á vẫn chưa hoàn toàn chấm dứt, và sức mạnh trên đất liền rất có thể vẫn chiếm lĩnh thời sự ở đó trước khi sức mạnh trên biển lên ngôi.
Ngược lại, Đông Nam Á đã bước sâu vào giai đoạn hậu Chiến Tranh Lạnh của lịch sử. Việt Nam, chi phối bờ phía tây của Biển Đông, là một cỗ xe khổng lồ băng băng lao tới theo chiều hướng tư bản bất chấp hệ thống chính trị của họ, đang muốn thắt chặt quan hệ quân sự gần gũi hơn với Mỹ. Trung Quốc, được Mao Trạch Đông củng cố thành một nhà nước mang tính triều đại sau nhiều thập niên hỗn loạn và được các chính sách tự do hóa của Đặng Tiểu Bình biến thành nền kinh tế năng động nhất thế giới, đang dùng hải quân của mình để lấn dần ra ngoài tới cái mà nước này gọi là “chuỗi đảo đầu tiên” trong khu vực Tây Thái Bình Dương. Quốc gia Hồi giáo khổng lồ Indonesia, sau khi đã cam chịu và cuối cùng chấm dứt hàng thập niên ách cai trị quân phiệt, đang sẵn sàng trỗi dậy thành một Ấn Độ thứ hai: một nền dân chủ mạnh mẽ và ổn định với tiềm năng phô trương sức mạnh nhờ nền kinh tế lớn mạnh của mình. Singapore và Malaysia cũng đang tiến nhanh về kinh tế, nhiệt thành theo đuổi mô hình “nhà nước đô thị kiêm nhà nước thương mại” và bằng nhiều sắc thái khác nhau pha trộn giữa dân chủ và chế độ độc tài. Bức tranh tổng hợp thể hiện một cụm gồm những nước tuy vẫn còn trĩu nặng những vấn đề về tính chính đáng cúa thể chế trong nước và xây dựng đất nước nhưng đã sẵn sàng thúc đẩy những quyền lãnh thổ do tự họ cảm nhận vượt ra khỏi bờ biển của chính họ. Lực đẩy tổng hợp ra biển khơi này nằm trong vùng tranh chấp dân số của địa cầu, vì chính Đông Nam Á, với 615 triệu người, là nơi 1,3 tỉ dân của Trung Quốc hội tụ với 1,5 tỉ người của tiểu lục địa Ấn Độ. Nơi gặp nhau về mặt địa lý của những nước này và quân đội của họ là trên biển: Biển Đông.
Biển Đông nối các nước Đông Nam Á với khu vực Tây Thái Bình Dương, có chức năng như nút cổ chai của các tuyến đường biển toàn cầu. Đây là trung tâm của vùng biển khu vực Âu-Á, bị chia cắt bởi các eo biển Malacca, Sunda, Lombok, và Makassar. Hơn phân nửa trọng tải tàu thương mại hàng năm của thế giới đi qua những nút thắt chật hẹp này, và một phần ba của toàn bộ lưu lượng giao thông đường biển qua đây. Lượng dầu hỏa được chuyên chở qua Eo biển Malacca từ Ấn Độ Dương, trên đường tới Đông Á qua Biển Đông, là gấp sáu lần lượng dầu đi qua Kênh Suez và gấp 17 lần lượng dầu chở qua Kênh Panama. Khoảng hai phần ba nguồn cung cấp năng lượng của Nam Hàn, gần 60 phần trăm nguồn cung cấp năng lượng của Nhật và Đài Loan, và khoảng 80 phần trăm lượng dầu thô nhập khẩu của Trung Quốc đi qua Biển Đông. Ngoài ra, Biển Đông đã chứng tỏ có trữ lượng dầu 7 tỉ thùng và ước tính 900 ngàn tỉ bộ khối khí đốt tự nhiên, một kho báu khổng lồ.
Không chỉ vị trí và trữ lượng năng lượng hứa hẹn khiến cho Biển Đông có tầm quan trọng địa chiến lược lớn lao, mà còn do những cuộc tranh chấp lãnh thổ tàn khốc từ lâu đã diễn ra xung quanh các vùng biển này. Nhiều cuộc tranh chấp liên quan đến Quần đảo Trường Sa, một quần đảo ở phía đông nam của Biển Đông. Việt Nam, Đài Loan, và Trung Quốc đều tuyên bố chủ quyền toàn bộ hoặc phần lớn Biển Đông, cũng như toàn bộ Quần đảo Trường Sa và Quần đảo Hoàng Sa. Đặc biệt, Bắc Kinh khẳng định một đường lịch sử: Họ tuyên bố chủ quyền tới tận trung tâm của Biển Đông trong một đường vòng khổng lồ (thường được gọi là “đường lưỡi bò”) từ Đảo Hải Nam của Trung Quốc ở đầu cực bắc của Biển Đông kéo dài suốt 1.200 dặm xuống phía nam đến gần Singapore và Malaysia.
Kết quả là tất cả chín nước tiếp giáp với Biển Đông ít nhiều đều dàn trận chống lại Trung Quốc và do đó dựa vào Mỹ để được ủng hộ về ngoại giao và quân sự. Những tuyên bố chủ quyền mâu thuẫn này có thể sẽ càng gay gắt hơn vì các nhu cầu năng lượng tăng dần của Châu Á – mức tiêu thụ năng lượng dự kiến đến năm 2030 sẽ tăng gấp đôi, trong đó Trung Quốc chiếm phân nửa mức gia tăng đó – khiến cho Biển Đông thành nhân tố càng trọng yếu hơn để bảo đảm cho sức mạnh kinh tế của khu vực. Hiện Biển Đông đã ngày càng trở thành một trại vũ trang khi mà các nước giành chủ quyền tăng cường và hiện đại hóa hải quân của họ, ngay cả khi việc tranh giành các đảo và bãi đá ngầm trong những thập niên gần đây hầu như đã chấm dứt. Tính đến nay Trung Quốc đã chiếm giữ 12 vị trí địa lý, Đài Loan một, Việt Nam 25, Philippines tám, và Malaysia năm.
Chính địa lý của Trung Quốc định vị nước này theo hướng Biển Đông. Trung Quốc nhìn về hướng nam tới một vùng biển được định hình, theo chiều kim đồng hồ, bởi Đài Loan, Philippines, đảo Borneo được phân tách giữa Malaysia và Indonesia (cũng như quốc gia bé tí Brunei), và bờ biển dài ngoằn ngèo của Việt Nam: tất cả đều là nước yếu, so với Trung Quốc. Giống như Biển Caribbe, bị chia cắt bởi nhiều đảo quốc nhỏ và bao quanh bởi Mỹ có kích thước bằng cả lục địa, Biển Đông là một đấu trường hẳn nhiên để phô trương sức mạnh của Trung Quốc.
Thực vậy, vị trí của Trung Quốc ở đây về nhiều mặc giống như vị trí của Mỹ đối với khu vực Caribbe có kích thước tương tự trong thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20. Mỹ đã nhận ra sự hiện diện và các tuyên bố chủ quyền của các cường quốc Châu Âu trong vùng Caribbe, thế nhưng vẫn tìm cách thống lĩnh khu vực này. Chính Chiến Tranh Tây Ban Nha – Mỹ 1898 và việc đào Kênh Panama từ năm 1904 đến 1914 đã đánh dấu việc Mỹ trở thành một cường quốc thế giới. Hơn nữa, việc thống lĩnh khu vực đại Lưu vực Caribbe thực sự đã trao cho Mỹ quyền kiểm soát Tây Bán cầu, cho phép họ có ảnh hưởng đến cán cân quyền lực ở Đông Bán cầu. Và ngày nay Trung Quốc thấy mình ở trong một tình thế tương tự ở Biển Đông, một tiền sảnh dẫn vào Ấn Độ Dương, nơi mà Trung Quốc cũng muốn có sự hiện diện hải quân để bảo vệ các nguồn cung năng lượng Trung Đông của mình.
Tuy nhiên có một điều sâu xa hơn và cảm tính hơn địa lý thúc đẩy Trung Quốc tiến tới vào Biển Đông và vươn ra Thái Bình Dương: đó là việc chính Trung Quốc bị các cường quốc phương Tây chia cắt một phần trong quá khứ tương đối gần đây, sau khi đã là một cường quốc vĩ đại và một nền văn minh thế giới trong mấy ngàn năm.
Trong thế kỷ 19, khi nhà Thanh trở thành con bệnh của Đông Á, Trung Quốc mất phần lớn lãnh thổ của mình về tay Anh, Pháp, Nhật, và Nga. Trong thế kỷ 20 xảy ra những vụ tiếp quản đẫm máu của Nhật đối với Bán đảo Sơn Đông và Mãn Châu. Đâu chỉ có những sự kiện này; Trung Quốc còn chịu bao nhục nhã ê chề do các thỏa thuận đặc quyền ngoại giao trong thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, qua đó các nước phương Tây giành giật quyền kiểm soát một số phần của các thành phố Trung Quốc – những cái gọi là “cảng hiệp ước”. Đến năm 1938, như sử gia Jonathan D. Spence thuộc Đại học Yale thuật lại trong cuốn The Search for Modern China (Đi tìm Trung Quốc hiện đại), do những cuộc cướp bóc này cũng như Nội Chiến Trung Hoa, thậm chí có một nỗi sợ ngấm ngầm rằng “Trung Quốc sắp bị chia cắt, rằng nó sẽ không còn tồn tại như một quốc gia, và rằng bốn ngàn năm lịch sử được ghi nhận của nó sẽ đột ngột chấm dứt.” Nỗi khát khao bành trướng của Trung Quốc là lời tuyên ngôn cho biết rằng họ không bao giờ có ý định để cho người nước ngoài lợi dụng họ lần nữa.
CŨNG NHƯ ĐẤT CỦA NƯỚC ĐỨC tạo thành tiền tuyến quân sự của Chiến Tranh Lạnh, vùng nước của Biển Đông có thể tạo thành tiền tuyến quân sự của những thập niên sắp tới. Khi hải quân của Trung Quốc trở nên mạnh hơn và khi tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc ở Biển Đông mâu thuẫn với tuyên bố chủ quyền của những nước ven biển khác, những nước khác này sẽ buộc phải tăng cường năng lực hải quân của họ. Họ cũng sẽ giữ thế cân bằng với Trung Quốc bằng cách ngày càng dựa vào Hải quân Mỹ với sức mạnh có lẽ đã đạt tới đỉnh cao xét về tương đối, ngay cả khi Mỹ phải chuyển hướng khá nhiều nguồn lực sang Trung Đông. Tính đa cực toàn cầu đã là một đặc điểm của ngoại giao và kinh tế học, nhưng Biển Đông có thể cho ta thấy tính đa cực thực sự nghĩa là gì về mặt quân sự.
Không có gì viễn vông về trận tuyến mới này, dù cho nó không có những cuộc đấu tranh luân lý. Trong các cuộc xung đột hải quân, trừ phi có nã pháo lên bờ, không có nạn nhân, cũng không có kẻ thù triết lý để đối đầu. Có thể sẽ không xảy ra chuyện gì cỡ như thanh trừng sắc tộc trong vũ đài xung đột trung tâm này. Tuy vẫn còn những người đối lập chịu đau khổ, Trung Quốc chưa tới mức để được xem là mục tiêu bị phẫn nộ về luân lý. Chế độ Trung Quốc thể hiện chủ nghĩa độc tài chuyên chế chỉ ở mức độ thấp, với một nền kinh tế tư bản chủ nghĩa và chẳng có là bao ý thức hệ cai trị để bàn tới. Hơn nữa, Trung Quốc có thể trở thành một xã hội mở, chứ không khép kín trong tương lai. Thay vì chủ nghĩa phát xít hay chủ nghĩa quân phiệt, Trung Quốc, cùng với những nước khác ở Đông Á, ngày càng được đặc trưng bởi tính bền bỉ của chủ nghĩa dân tộc kiểu cũ: đương nhiên là một quan niệm, nhưng không phải là một quan niệm còn hấp dẫn đối với giới trí thức kể giữa thế kỷ 19. Và ngay cả khi Trung Quốc trở nên dân chủ hơn, chủ nghĩa dân tộc của họ có thể chỉ càng tăng mạnh hơn, như có thể thấy rõ nếu chỉ cần điểm sơ qua các quan điểm của những công dân mạng tương đối được tự do của họ.
Ta thường nghĩ tới chủ nghĩa dân tộc như một cảm nghĩ phản động, một di tích của thế kỷ 19. Nhưng chính chủ nghĩa dân tộc truyền thống là động lực chính thúc đẩy chính trị ở Châu Á, sẽ còn tiếp tục như thế. Chủ nghĩa dân tộc đó đang không ngại ngùng dẫn tới sự tăng cường quân sự trong khu vực – đặc biệt là hải quân và không quân – để bảo vệ chủ quyền và tuyên bố chủ quyền đối với những tài nguyên thiên nhiên bị tranh chấp. Hoàn toàn không có sức hấp dẫn triết lý ở đây. Chỉ là lô gíc lạnh lùng của cán cân quyền lực. Nếu như chủ nghĩa hiện thực không ủy mị, được liên kết với chủ nghĩa dân tộc, có một ngôi nhà địa lý, đó chính là Biển Đông.
Vì thế, bất cứ vở kịch luân lý nào thực sự diễn ra ở Đông Á cũng sẽ dưới dạng chính trị quyền lực khắt khe theo kiểu khiến nhiều tri thức và nhà báo bàng quan. Như Thucydides thuật lại rất đáng nhớ chuyện người Athens cổ đại chinh phục đảo Melos, “Kẻ mạnh làm chuyện họ có thể làm, và kẻ yếu chịu đựng những gì họ phải chịu đựng.” Trong phiên bản của thế kỷ 21, với Trung Quốc trong vai trò của Athens như một quyền lực trên biển ưu việt trong khu vực, kẻ yếu vẫn sẽ quy phục – nhưng chỉ vậy thôi. Đây sẽ là chiến lược không công bố của Trung Quốc, và những nước nhỏ ở Đông Nam Á rất có thể đi cùng với Mỹ để tránh số phận như người Melos. Nhưng sẽ không có cảnh tan xương nát thịt.
Biển Đông báo trước một hình thức xung đột khác với những cuộc xung đột mà chúng ta xưa nay đã quen. Kể từ đầu thế kỷ 20, chúng ta đã đau lòng trước một mặt là những cuộc chiến trên bộ to lớn theo quy ước, và một mặt khác là những cuộc chiến bẩn thỉu, nhỏ không theo quy ước. Bởi vì cả hai loại chiến tranh đều gây ra thương vong lớn cho thường dân, chiến tranh xưa nay là đề tài cho giới hoạt động nhân đạo cũng như giới tướng lĩnh. Nhưng trong tương lai chúng ta có thể chứng kiến một hình thức xung đột tinh khiết hơn, chỉ giới hạn trong lĩnh vực hải quân. Đây là một kịch bản tích cực. Không thể loại trừ hoàn toàn xung đột ra khỏi thế gian. Trong tác phẩm Discourses on Livy (Bàn về Livy) của Machiavelli, có một chủ đề cho rằng xung đột, nếu được kiểm soát đúng mức, có khả năng dẫn tới tiến bộ cho nhân loại hơn là tình trạng ổn định cứng nhắc. Một vùng biển đông đúc tàu chiến không mâu thuẫn với một kỷ nguyên đầy hứa hẹn cho Châu Á. Tình trạng bất an sinh ra tính năng động.
Nhưng liệu xung đột ở Biển Đông có thể được kiểm soát đúng mức hay không? Lập luận của tôi cho tới đây giả định trước rằng sẽ không bùng nổ chiến tranh lớn trong khu vực này, mà thay vì thế, các nước sẽ hài lòng với việc giành giật ưu thế bằng các tàu chiến ngoài khơi xa, trong khi tranh nhau tuyên bố chủ quyền đối với các tài nguyên thiên nhiên và có lẽ thậm chí thỏa thuận một cách phân phối công bằng các tài nguyên này. Nhưng nếu Trung Quốc, bất chấp mọi xu hướng rõ rệt, xâm lược Đài Loan thì sao? Chuyện gì xảy ra nếu Trung Quốc và Việt Nam với lịch sử kình địch khốc liệt từ lâu nay lại đánh nhau như hồi năm 1979, nhưng lần này với vũ khí hiệu nghiệm hơn? Vì không chỉ Trung Quốc mà cả các nước Đông Nam Á cũng mạnh tay xây dựng quân đội của mình. Ngân sách quốc phòng của họ đã tăng khoảng một phần ba trong thập niên vừa qua, trong khi ngân sách quốc phòng của Châu Âu đã giảm. Lượng nhập khẩu vũ khí vào Indonesia, Singapore, và Malaysia đã tăng lần lượt 84%, 146%, và 722% kể từ năm 2000. Khoản chi tiêu này dành cho các hệ thống hải quân và không quân: tàu chiến trên mặt biển, tàu ngầm với các dàn tên lửa tối tân, và máy bay chiến đấu tầm xa. Gần đây Việt Nam chi 2 tỉ đô-la mua sáu chiếc tàu ngầm hạng Kilo thượng hạng của Nga và 1 tỉ đô-la mua máy bay chiến đấu của Nga. Malaysia vừa mới mở một căn cứ tàu ngầm trên đảo Borneo. Trong khi Mỹ đang bị phân tâm bởi những cuộc chiến tranh trên bộ ở khu vực đại Trung Đông, quyền lực quân sự đã và đang lặng lẽ chuyển từ Châu Âu sang Châu Á.
Mỹ hiện tại bảo đảm hiện trạng rối rắm ở Biển Đông, giữ cho sự xâm lấn của Trung Quốc bị hạn chế chủ yếu trên bản đồ của họ và đóng vai trò kìm hãm đối với giới ngoại giao và hải quân của Trung Quốc (mặc dù như vậy không phải để nói rằng Mỹ là trong sáng trong hành động của mình và Trung Quốc đương nhiên là kẻ ác). Mỹ mang đến cho các nước thuộc khu vực Biển Đông sức mạnh thô, chứ không hẳn là giá trị dân chủ. Chính cán cân quyền lực giữa Mỹ và Trung Quốc rốt cuộc sẽ giúp cho Việt Nam, Đài Loan, Philippines, Indonesia, Singapore, và Malaysia được tự do, có thể buộc hai đại cường quốc kình giữ nhau. Và trong không gian tự do đó, chủ nghĩa khu vực có thể nổi lên để tự thân nó là một quyền lực, dưới dạng Hiệp hội Các Quốc gia Đông Nam Á (ASEAN). Tuy nhiên tự do đó không thể được xem là đương nhiên. Bởi thế cân bằng tiếp tục căng thẳng giữa Mỹ và Trung Quốc – bao trùm một loạt vấn đề từ thương mại tới cải cách tiền tệ, từ an ninh mạng tới do thám tình báo – có nguy cơ rốt cuộc sẽ chuyển hướng có lợi cho Trung Quốc ở Đông Á, chủ yếu là do vị trí địa lý trọng tâm của Trung Quốc đối với khu vực này.
BẢN TÓM TẮT TOÀN DIỆN NHẤT về bức tranh địa chính trị Châu Á mới không xuất phát từ Washington hay Bắc Kinh, mà từ Canberra. Trong một bài viết dài 74 trang xuất bản năm ngoái có tựa đề “Power Shift: Australia’s Future Between Washington and Beijing” (Chuyển đổi Quyền lực: Tương lai của Úc giữa Washington và Bắc Kinh), Hugh White, giáo sư nghiên cứu chiến lược ở Đại học Quốc gia Úc, đã mô tả đất nước của ông là quyền lực “hiện trạng” thuần túy – vốn thiết tha muốn tình hình ở Châu Á giữ y nguyên như hiện nay, với Trung Quốc tiếp tục tăng trưởng để Úc có thể giao thương ngày càng nhiều hơn, trong khi Mỹ vẫn là “quyền lực mạnh nhất ở Châu Á”, để là “người bảo vệ cuối cùng” của Úc. Nhưng như giáo sư White viết, vấn đề là ở chỗ cả hai điều này không thể tiếp tục như vậy. Châu Á không thể tiếp tục thay đổi về kinh tế mà không thay đổi về chính trị và chiến lược; con khủng long kinh tế Trung Quốc đương nhiên sẽ không hài lòng với thế thượng phong quân sự của Mỹ ở Châu Á.
Trung Quốc muốn gì? GS White cho rằng người Trung Quốc có thể muốn ở Châu Á có một đế chế kiểu mới giống như kiểu mà Mỹ đã gầy dựng ở Tây Bán cầu sau khi Washington đã nắm chắc vị thế thống lĩnh đối với Lưu vực Caribbe (vì Bắc Kinh hy vọng họ sẽ có được vị thế đó đối với Biển Đông). Theo lời của GS White, đế chế kiểu mới này đã có nghĩa là các nước láng giềng của Mỹ “ít nhiều cũng được tự do cai quản đất nước của họ”, ngay cả khi Washington nhất quyết đòi hỏi rằng những quan điểm của Mỹ phải “được cân nhắc thấu đáo” và được ưu tiên hơn quan điểm của các quyền lực bên ngoài. Trở ngại của mô hình này chính là Nhật, mà có lẽ sẽ không chấp nhận bá quyền Trung Quốc, cho dù có mềm đến đâu chăng nữa. Như vậy là chỉ còn lại mô hình Hòa hợp Châu Âu, trong đó Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật, Mỹ, và có lẽ một hoặc vài nước khác sẽ ngồi chung bàn quyền lực Châu Á với vai trò bình đẳng. Nhưng liệu Mỹ có chấp nhận một vai trò khiêm tốn như vậy, vì xưa nay họ đã gắn sự thịnh vượng và ổn định của Châu Á với thế thượng phong của họ? GS White cho rằng trong bối cảnh quyền lực Trung Quốc đang tăng lên, sự thống lĩnh của Mỹ có thể từ nay dẫn tới bất ổn cho Châu Á.
Sự thống lĩnh của Mỹ dựa trên quan niệm cho rằng bởi vì Trung Quốc độc tài chuyên chế trong nước, họ sẽ hành động “không chấp nhận được ở nước ngoài”. Nhưng có thể không phải như vậy, GS White lập luận. Theo cách Trung Quốc tự nhìn nhận về mình, họ là một cường quốc ôn hòa, không bá quyền, không can thiệp vào những triết lý quốc nội của những nước khác như cách của Mỹ với kiểu luân lý bao biện. Vì Trung Quốc tự xem mình là Vương quốc Trung tâm, nền tảng cho sự thống lĩnh của Trung Quốc là vị thế trọng tâm vốn có của họ đối với lịch sử thế giới, chứ không phải bất kỳ kiểu chế độ nào mà họ muốn xuất khẩu.
Nói cách khác, Mỹ, chứ không phải Trung Quốc, có thể là vấn đề trong tương lai. Chúng ta có thể thực tình quan tâm quá nhiều về bản chất nội tại của chế độ Trung Quốc và mong muốn hạn chế sức mạnh của Trung Quốc ở nước ngoài bởi vì chúng ta không thích những chính sách quốc nội của họ. Thay vì thế, mục tiêu của Mỹ ở Châu Á nên là giữ thế cân bằng, chứ không phải thống lĩnh. Cũng chính vì quyền lực cứng vẫn là thiết yếu cho quan hệ quốc tế mà chúng ta phải chừa chỗ cho một Trung Quốc đang vươn lên. Mỹ không cần phải tăng sức mạnh hải quân của mình ở Tây Thái Bình Dương, nhưng Mỹ không thể giảm đáng kể sức mạnh đó.
Việc giảm bớt một đội tiêm kích từ hàng không mẫu hạm Mỹ ở Tây Thái Bình Dương do cắt giảm ngân sách hay tái triển khai sang Trung Đông có thể gây nên những thảo luận căng thẳng trong khu vực về sự suy tàn của Mỹ, và từ đó dẫn tới nhu cầu cần phải làm lành và thỏa thuận bên lề với Bắc Kinh. Tình thế tối ưu là sự hiện diện không quân và hải quân của Mỹ ít nhiều vẫn ở mức hiện nay, ngay cả khi Mỹ nỗ lực hết mức trong khả năng của mình để gượng gạo giữ những quan hệ thân tình và dễ tiên đoán với Trung Quốc. Bằng cách đó Mỹ có thể dần dần điều chỉnh thích ứng với hải quân có khả năng tác chiến ngoài khơi xa (blue-water navy) của Trung Quốc. Trong quan hệ quốc tế, đằng sau những câu hỏi về luân lý đạo đức luôn có những câu hỏi về sức mạnh. Việc can thiệp nhân đạo ở vùng Balkan đã khả thi chỉ vì chế độ Serbia yếu, chứ không phải như chế độ Nga có những hành động tàn bạo ở quy mô tương tự ở Chechnya trong khi phương Tây chẳng làm gì cả. Tại khu vực Tây Thái Bình Dương trong những thập niên sắp đến, luân lý có thể nghĩa là từ bỏ một số trong những lý tưởng chúng ta hằng ấp ủ để đổi lấy ổn định. Còn cách nào khác nữa để chúng ta chừa chỗ cho một Trung Quốc bán độc tài chuyên chế khi quân đội của họ mở rộng? Bản thân cán cân quyền lực, thậm chí hơn cả những giá trị dân chủ của phương Tây, thường là cách bảo vệ tự do tốt nhất. Đó cũng sẽ là một bài học của Biển Đông trong thế kỷ 21 – một bài học mà những người lý tưởng không muốn nghe.
Robert D. Kaplan là nghiên cứu viên cao cấp ở Center for a New American Security, thông tín viên quốc gia cho tờ Atlantic, và là ủy viên Hội đồng Chính sách Quốc phòng của Bộ Quốc phòng Mỹ. Ông là tác giả của cuốn sách Monsoon: The Indian Ocean and the Future of American Power (Gió mùa: Ấn Độ Dương và Tương lai của Quyền lực Mỹ).
Dịch: PVLH, Blog lên đông xuống đoài,
Bản tiếng Anh: The South China Sea Is the Future of Conflict

Người Hoa lục dưới cái nhìn của một cựu sinh viên người Nhựt

Đây là một bức thư người của một cựu sinh viên người Nhật viết cho người Hoa lục đang lưu hành rất mạnh trên “net”, hầu như người Trung hoa Lục địa, và Đài loan nào cũng đã tìm đọc.

Nhứt châm kiến huyết (Kim châm rỉ máu), lời vàng ngọc, chúng ta cần phải thực sự kiểm thảo và phản tỉnh.

Là một người Nhật Bản, tôi có đôi điều muốn cùng các bạn chia sẻ nơi đây về cái nhìn của tôi đối với người Trung Hoa. Tôi trước kia là một du học sinh của trường đại học Trung Quốc Nhân Dân, tôi đã ngu khờ sống ở Hoa Lục đến 5-6 năm, vì vậy tôi tin rằng tôi hoàn toàn có đủ tư cách để nói lên cái nhìn của tôi.

Về địa lý, Nhật Bản và Trung Hoa rất gần nhau, nhưng mà về tính cách thì hai dân tộc lại xa nhau một trời một vực, người Hoa Lục (Trung Cộng) cho tôi cảm nhận cái ấn tượng lúc ban đầu là rất tốt, nhưng về lâu về dài, thì những khuyết điểm đều bạo lộ hết ra ngoài, người Hoa Lục nhát gan, nịnh hót, hèn yếu, hư ngụy, xảo trá, thích làm tài khôn, và cái điều làm cho tôi không thể nào lý giải được là tại sao người Hoa Lục tự đối đãi với chính đồng bào ruột thịt của họ thì rất ư là vô tình, nhưng lại đối đãi với người ngoại quốc thì họ rất khép nép và cung kính.

Lúc tôi mới vừa đến Hoa Lục, bất quá thì tôi chỉ là một tên học trò nghèo khó, ấy thế mà tôi lại được đãi ngộ như là một “siêu quốc dân”, kinh nghiệm của nhiều năm ở đó, cho tôi một ấn tượng rất sâu đậm, người Hoa Lục chẳng khác nào một thau cát rời rạc, người Hoa Lục đoàn kết một lòng là có, nhưng điều đó chỉ xảy ra ở vào những thời điểm đặc biệt, tỷ dụ như dân tộc họ đang đối diện với sự diệt vong, nhưng mà đó lại cũng không phải là một sự đoàn kết triệt để nữa, người Hoa Lục đối diện với Ngoại Đấu và Nội Tranh thì hầu như nghiêng về phần Nội Tranh nhiều hơn, người Hoa Lục hận nhứt là Hán Gian. Tôi không phải là kẻ xâm lăng (đối với vấn đề xâm chiếm Trung Hoa, tôi tôn trọng lịch sử, thừa nhận đó là cái lỗi lầm của Nhật Bản), người Hoa Lục đã nuôi dưỡng các cô nhi của chúng tôi trong thời kỳ chiến tranh, thế mà họ đã nhẫn tâm tàn hại đồng bào của họ ở thời kỳ Cách Mạng Văn Hóa (thậm chí là giữa thân tình với nhau), những điều này thật tình tôi không làm sao mà hiểu nổi, nếu không phải là người Hoa Lục thì chẳng ai có thể mà hiểu được, các bạn là người Hoa Lục các bạn làm sao lý giải, nếu như nói người Hoa Lục là lương thiện, hư ngụy việc chi, tôi thật chẳng biết đó là chuyện gì, nếu như người Hoa Lục đơn thuần không có việc nồi da xáo thịt, thì đây có thể nói là lương thiện, nhưng khi xảy ra cuộc Cách Mạng Văn Hóa, thì tình huống đã đổi khác, thật tình mà nói, đối với việc làm của các bạn, tôi thấy chẳng có điểm nào để gọi là cảm ơn, nếu có thì chỉ là nghi vấn và không thể nào lý giải mà thôi.

Còn nữa, tôi cũng không thể nào hiểu nổi tại sao các bạn lại không nhận khoản tiền bồi thường sau chiến tranh của Nhật Bản, không có một dân tộc nào giống như dân tộc người Hoa Lục đối nội thì tàn bạo, nhưng đối ngoại thì lại ẩn nhẩn. Điều này đã làm cho tôi liên tưởng đến sự quan hệ giữa Do Thái và Đức Quốc. Thật lòng mà nói tôi rất thán phục người Do Thái, thái độ không khoan thứ không nhờ vả đối với người Đức của họ, đã tỏ rõ sự trọng thị quyền lợi và giá trị tự kỷ, họ không tha thứ người Đức, nhưng người Đức rất kính trọng họ, ngược lại, tại phương Đông, hiện thực người Nhật Bản rất khinh thị người Trung Hoa. Các bạn vứt bỏ bồi khoản, các bạn tha thứ chúng tôi, chúng tôi vẫn hận các bạn, khinh thị các bạn, bỉ thị các bạn, nguyên nhân không phải tại chúng tôi, mà là do bởi tự chính các bạn, các bạn tự khinh tự tiện (đê tiện), người ngoài cũng không làm sao có cách để giúp các bạn, người Hoa Lục không có huyết tính, ý khí đã bị mài cùn lụt hết rồi, cái còn lại chỉ là hơi tàn, tự ti, và ngôn ngữ của các bạn hiện là sùng bái Tây Dương với cung cách nịnh hót để làm cho Ngoại Nhân vui thích.

Các bạn tự cho là Văn Minh Cổ Quốc, nhưng ngoại trừ những kiến trúc giết người rùng rợn, những văn vật trong các viện bảo tàng, sinh hoạt của người Hoa Lục trong hiện thực, có còn lưu lại cái bóng dáng văn minh truyền thống hay không? Không sai, Nhật Bản đã từng chịu sự ảnh hưởng văn minh của Trung Hoa trong thời gian dài lâu, nhưng mà hiện tại sự bảo tồn văn hóa và duy trì được như xưa của người Hoa Lục lại chỉ ở Nhật Bản, Hàn Quốc, Tân Gia Ba, chứ không ở Hoa Lục. Các bạn đem thành tín, tiết nghĩa, lễ nghi, tứ thư ngũ kinh coi như bốn thứ đồ phế thải mà quét vào bãi rác, tiếng nói là kiến lập một xã hội mới, có ngờ đâu lại như thế này, các bạn dĩ nhiên là thấy rõ ràng hơn chúng tôi, một đằng thì tham ô hủ bại (lời quỷ dối người của các bạn: “hủ bại là vấn đề mà các nước trên toàn thế giới đều phải đối diện”), tham bạc mê vàng, ca kỹ dâm ô, chơi chó đua ngựa, còn đằng khác thì nghèo đến nổi cơm ăn chẳng đủ no. Làm đồ giả, Hoa Cộng không ai địch nổi, thổi phồng nói dóc, thấy lợi quên nghĩa, các bạn không có tín ngưỡng, tin chủ nghĩa Marxisme. Nếu mà Marx có biết được cái chủ nghĩa của ông ta mà là một cái xã hội như vậy, chắc là ông ta cũng phải tức chết đi thôi, tinh thần rổng tuếch, chẳng ai tin ai, thật không thể nào mà trách một cái thau cát rời rạc, người Hoa Lục hiện tại, với mức độ vô tri, ngu muội như thế nếu thụt lùi trở về ở thời của năm 1895 thì cũng chẳng tốt hơn được là bao nhiêu.

Trung Cộng là một đại quốc, nhưng mà về chính trị thì tuyệt đối là một kẻ yếu, các bạn từng trào tiếu Nhật Bản chúng tôi là chính trị ải tử (thằng lùn), nhưng mà chúng ta thử so sánh chế độ xã hội, coi xem cái xã hội nào trên thế giới ăn ngủ được ngon, xã hội chủ nghĩa chỉ còn có vài ba nước mà thôi, lại không đoàn kết, chuyên chế, độc tài, thế giới chẳng hoan nghinh, nhưng vì Trung Cộng bạn quá to lớn, cho nên được thấy là trọng yếu, nhưng các bạn vẫn luôn là đối tượng ở thế công chính trị đối với tây phương, chưa bao giờ tự chủ động xuất kích (để cải thiện), lý do là vì các bạn không làm, nhân quyền bị thế giới lên án bao nhiêu năm? Ai đem nhân quyền là quyền sống tối đại của con người đi giáng cách (chà đạp nhân quyền)? Cách Mạng Văn Hóa, Bước Đại Nhảy Vọt, bao nhiêu cái sai lầm của chính phủ của các bạn, các ca xướng gia của các bạn vẫn hát: Người dẫn đường cải cách khai phóng, dắt chúng tôi đi về hướng thời đại mới. Giờ thì không còn người dân Hoa Lục nào ngoan ngoản, nghe theo, ở vào thời đại văn minh như ngày nay, thì cái tình huống như thế thật là hiếm có rồi.

Các bạn người Hoa Lục đang tự hủy hoại chính mình, trí tuệ của chính mình, tài nguyên của chính mình. Kinh tế Hoa Lục các bạn phát triển nhanh, cái giá phải trả có xứng đáng không? Tài nguyên khô kiệt, môi trường sinh thái bị ác hóa. Nguồn tài nguyên năng lượng tuyệt vời của tỉnh Sơn Tây của các bạn, đã bị chính các bạn hoang phí hủy hoại đến thế nào, kinh tế lạc hậu, dân sinh suy thoái, tham quan hoành hành. Các bạn có biết chăng, thời Trung Hoa Dân Quốc thống trị Hoa Lục, Sơn Tây hãy còn là một tỉnh mô phạm, các bạn cũng chẳng biết địa vị của Sơn Tây trong lịch sử Trung Hoa, kinh tế của tỉnh Sơn Tây thịnh vượng ở thời Thanh triều, một nửa số quan tể tướng ở thời nhà Đường đều xuất thân từ tỉnh Sơn Tây, địa vị của Sơn Tây cao hơn xa so với thành phố Thượng Hải mà các bạn đã từng tự hào huênh hoang khen tặng, bây giờ các bạn hãy thử nhìn Sơn Tây, là sẽ biết ngay cái gì là cái khoảng cách giữa lịch sử và hiện thực rồi (GDP bình quân đầu người Hoa Lục là số 1 từ dưới chót đếm lên). Các bạn hoang phí và hủy hoại tài nguyên như thế, giả sử như Sơn Tây được mang cho Nhật Bản, chúng tôi sẽ rất trân trọng như là tổ tiên mà cung phụng để phát triển Sơn Tây, và Sơn Tây sẽ giàu mạnh hơn nhiều so với Bắc Kinh, Thượng Hải cường thịnh mà các bạn đã từng trọng thị. Các bạn kinh tế phát triển nhanh, rồi mừng rỡ mà dùng cái quái gì là Thượng Hải, là Bắc Kinh làm cửa sổ để ngắm nhìn, ngu xuẩn quá! hai thành phố đó chiếm diện tích Hoa Lục là bao nhiêu, dân số bao nhiêu? Các bạn trường kỳ khinh thị nông dân, 9 trăm triệu nông dân mà không chiếu cố tốt cho họ, Hoa Lục các bạn sẽ phải đối diện với đại loạn rồi đó.

Lúc ở Bắc Kinh tôi đã có nói chuyện với một bà lão người đến từ tỉnh Sơn Đông, bà là người đã dắt hai đứa con gái của bà đến Bắc Kinh để cùng bán dâm, bà nói, nhờ ở thân xác mình mà có cơm ăn, không xấu hổ đâu, có xấu hổ chăng là cái xã hội này kìa, vì hơn 40 năm trước, chính quyền sở tại đã khua chiêng gióng trống mang mấy nghìn dân bản xứ (Sơn Đông) di dân đến Tân Cương, đưa đến vùng hoang vu sơn dã, để họ tự sinh tự diệt, số người bị chết nơi đó không biết là bao nhiêu, nhưng họ vẫn không cho trở về Sơn Đông, lén trốn về Sơn Đông cũng chẳng ích gì, Chính quyền nói, họ chẳng phải là người Sơn Đông, không có hộ khẩu, mấy mươi năm lưu lạc, tìm ai để đòi công lý? Những niềm vui công trạng lớn của các bạn, mấy chục tỷ công trình nói làm là làm, chúng tôi những người bị các bạn coi là nghững người Nhật Bản “khó tính”, Hoa Lục giàu, nhưng mà số người thất nghiệp lại gia tăng, thêm một người thất nghiệp là xã hội sẽ có thêm một nhân tố bất ổn định cho xã hội. Các bạn không giải quyết, thu nhập của nông dân thấp, các bạn không quan tâm, khoảng cách giàu nghèo càng xa, các bạn lại làm như là chẳng thấy gì, cái mà các bạn thích là người ngoại quốc tán dương, cái điểm này nhiều người đã thấy rất rõ, các bạn hư vinh, xa xỉ, xã hội của các bạn hổn loạn, các bạn lại muối mặt không biết xấu hổ mà dám nói là thời của người Nhật đã hết rồi, Hoa Lục đã vượt xa Hoa Kỳ rồi, ha ha, cái nhìn thiển cận!

Các bạn bất quá chỉ mới “cởi mở” hai mươi mấy năm, mà đã láo khoét như vậy, kinh tế Nhật Bản đang đình trệ, các bạn liều mạng “phát triển” mười năm vẫn không đạt được 1/4 tổng sản lượng kinh tế của Nhật Bản, vậy mà dám nói vượt xa Hoa Kỳ, chuyện thần thoại chăng? Còn nữa, tình hình thế giới không tốt cho các bạn, nhưng mà Nhật bản, nhờ vào chế độ ưu việt, người dân thật lòng, cùng với sự chân thành giúp đỡ của Tây Phương, là lý do đủ để tái phục hồi. Còn Hoa Lục bởi hình thái ý thức, chế độ, với Hoa Kỳ hoặc với các nước tự do khác không thể dung nhập cùng nhau, Hoa Lục ổn định cái gì, một khi mà xã hội hổn loạn, kinh tế băng hoại, các nước xung quanh không có ai ủng hộ, cũng bởi vì nước của các bạn trước sau vẫn luôn cho người ta cái nhìn phản cảm. Bởi vậy Nhật Bản tuy thua trận, vẫn có cơ hội vươn lên, Hoa Lục thua, chắc chắn sẽ hoàn toàn chia năm xẻ bảy, Các quốc gia xung quanh đều mong muốn Hoa Lục như vậy, nước Nga chẳng muốn các bạn được yên, Ấn Độ hận các bạn, Đông Nam Á hận các bạn, bởi vậy hoàn cảnh của các bạn rất là tệ hại và bấp bênh, ấy thế mà các bạn vẫn chẳng hề thấy được cái nguy cơ đó, vẫn cảm giác lương hảo, như vậy rõ ràng là quá ngu muội.

Trong những sắc dân Đông Phương, chúng tôi tôn kính người Hàn Quốc, bởi vì họ và chúng tôi rất giống nhau, có máu có thịt, dám nói dám làm, lịch sử của chúng tôi và của các bạn đã từng có vấn đề va chạm nhau, người Hàn Quốc từ ông tổng thống đến quốc dân đều có thể kháng nghị, Trung Cộng thì chỉ có vài ba người phát ngôn của bộ ngoại giao với sự hiểu biết thiển cận không biết khinh trọng chỉ biết ở đó ý ý á á. Ha ha, đấy là cái sự khác biệt đó, Người Hàn Quốc hận chúng tôi, nhưng chúng tôi kính trọng người đối thủ này, bạn hận hay không hận chúng tôi, chúng tôi cảm nhận không có chuyện gì để nói, bởi vì tính cách của các bạn, phẩm hạnh của các bạn cho thế giới thấy rõ, người Hoa Lục không có tính thẳng thắn, cương trực. Hiện tôi đang suy nghĩ, Không quên việc trước (lịch sử) sẽ là thầy của việc sau (tiền sự bất vong hậu sự chi sư), như vậy, cuối cùng, giữa Nhật và Hoa Cộng ai là người đã bỏ quên lịch sử?

Chúng tôi tham bái thần xã, sửa lại sách giáo khoa lịch sử, nói rõ là chúng tôi không có quên cái giai đoạn lịch sử đó, còn các bạn? Những người bị hại trong thế chiến thứ hai? Các bạn chỉ vì lo tranh chấp trong đảng phái, mà không nghĩ đến đại nghĩa của dân tộc. Nói gì đến cái chuyện trong 8 năm kháng chiến, dưới sự lãnh đạo của đảng cộng sản Trung Hoa, sách sử của các bạn viết về giai đoạn lịch sử đó so với chúng tôi sao nó quá mơ hồ không rõ ràng, là bởi vì các bạn tự bóp méo lịch sử, ha ha! (một lần nữa cho thấy rõ là nội tranh nặng hơn ngoại kháng) các bạn chửi chúng tôi là không nhìn thẳng vào vấn đề xâm lược Trung Hoa, làm thương tổn đến cảm tình người dân Hoa Lục, thế còn các bạn thì sao? Qua nhiều lần vận động “cải tổ” chính trị, các bạn đã có nhìn thẳng vào sự bức hại của mình đối với người dân hay chưa? Có nhìn thẳng vào sự hủy hoại của cách mạng văn hóa hay chưa? Các bạn cần phải trực thị với rất nhiều điều sai lầm đó, Đó là do ai (?) đã làm tổn hại cảm tình của người dân Trung Hoa vậy hở? Làm phim Tàn Sát Thành Nam Kinh, trong số các bạn lại có những người vô lương đã thốt lên là tại làm sao không có nhiều màn hiếp dâm trên ống kín.

Các bạn người Hoa lục là cái kiểu như vậy, làm sao kêu người ta chấp nhận được hỉ, các bạn có thể không có khả năng, nhưng các bạn lại còn không cần đến nhân cách, người Mỹ đánh chúng tôi đến gần chết, chúng tôi không hận họ, chúng tôi bội phục họ, Hàn Quốc bị chúng tôi thống trị qua, bây giờ họ đã thành công lập được kỳ tích kinh tế, họ dám tranh đấu và dám làm, chúng tôi kính phục họ, còn các bạn người Hoa Lục cộng sản thì chẳng có được một cái điểm nào để cho chúng tôi coi trọng cả, hãy cố gắng phản tỉnh đi, các bạn đất rộng và giàu tài nguyên, lịch sử lâu đời, thế mà phải thua dưới tay chúng tôi, các bạn không cảm thấy xấu hổ hay sao?

Một cái thau cát rời rạc sinh ra đầy chật ních đám người toàn chia rẻ, thời đại của các bạn giờ còn có thể sinh ra được những chí sĩ gì nữa hay không? Trung Hoa Dân Quốc còn có Lỗ Tấn, Thái Ngạc, Chu Tự Thanh là những người mà chúng tôi bội phục. Bây giờ các bạn ngoài những tay tham quan, hư hoa học giả, những phần tử tư tưởng khiếp hèn, thì còn có cái gì nữa đâu? Các bạn chẳng đã từng nói muốn vun bồi tài năng người bản địa để họ được làm chủ nhân của những giải thưởng hòa bình Nobel hay sao? Tại vì sao đến bây giờ vẫn chẳng có được vậy? Vụ máy siêu điện toán dùng chip Loongson của các bạn, tần số chủ mới chỉ có 266Hz (Hertz), thế mà dám lớn lối thổi phồng đòi thương nghiệp hóa, ha ha! người Hoa Lục, chúng tôi kính phục các bạn cái gì chứ?? người cùng cội rể đồng tông Tân Gia Ba ở thời kỳ SARS cũng đã phải chế tài các bạn một lúc, sự kiện La Cương*, đã làm cho người ta không làm sao hiểu nổi, hởi những người Trung Hoa chia rẻ, người Do Thái tề tâm như thế ấy, các bạn lại phân hóa như thế này, các bạn một tỷ mấy người, một tỷ mấy cái tư tưởng rời rạc, chúng tôi một trăm triệu người Nhật Bản đều cùng nhau suy nghĩ làm sao để đưa quốc gia chúng tôi thoát ra khỏi cảnh khó khăn, tất cả chúng ta đều cùng sống trên quả địa cầu này, rõ thật thú vị lạ lùng!

————-

*Sự kiện La Cương: Đài phát thanh tỉnh Hồ Nam, ngày 25/02/2003 lúc 0 giờ 16 phút do ông La Cương phụ trách chương trình trực thoại truyền thanh, có phát đi lời nhục mạ người Hoa Lục của một thính giả người Nhật tên là Tiểu Nguyên Kính Thái Lang trong 3 phút. Kết quả là ông La Cương và một số đồng sự bị cho nghỉ việc cũng như bị phạt vạ tiền.

Đó là cái nhìn của người Nhựt nhìn người Trung Hoa lục địa. Liệu có khách quan lắm không, có thực sự người Trung quốc yếu hèn? Nếu có, có lẽ chỉ với người Nhựt hay những dân tộc hùng cường khác. Nó sẽ hoàn toàn ngược lại với những quốc gia nhỏ bé như Việt Nam, Miến Điện, Lào, Campuchia, … Bài nhận xét của nhà thơ Đỗ Trung Quân nhân dịp tham gia tọa đàm ra mắt sách của một giáo sư người Nhựt tại trường đại học Hoa Sen cho ta thấy được phần nào về sự nhu nhược với ngoại bang của nhà cầm quyền hiện thời, cũng như tham vọng bá quyền của Trung Hoa lục địa, và ý chí sinh tồn của dân Việt.

Đỗ Trung Quân Khi nào thành “phiên bang” mới thôi…
• |
Phòng học trên lầu 8 của Đại học Hoa Sen [9-9-2011] không đủ chỗ ngồi cho buổi tọa đàm về cuốn sách “Nước Đại Nam đối diện với Pháp & Trung Hoa 1847 – 1885”. TS Bùi Trần Phượng, Hiệu trưởng nhà trường, đành thú nhận “Không ngờ đề tài khô khan này lại thu hút người nghe hơn dự định”.
Tác giả cuốn sách GS Yoshiharu Tsuboi trình bày những nhận định của ông không chỉ về cuốn sách mà còn liên hệ đến bối cảnh hôm nay của Việt Nam. Ông cho rằng dường như lịch sử Việt Nam hôm nay đang lặp lại như thời Tự Đức thế kỷ 19. Tự Đức là ông vua không gặp may, lên ngôi trong hoàn cảnh tao loạn, người dân không tin vào triều đình còn triều đình cũng nhiều phe nhóm với mục đích và tham vọng cá nhân. Đất nước sau đó rơi vào tay người Pháp mở đầu cuộc thực dân nô lệ kéo dài trăm năm. GS Tsuboi nhấn mạnh đất nước nào cũng thế, rất cần những người cầm quyền thật sự đặt lợi ích quốc gia cao hơn lợi ích cá nhân. Bàn đến Trung Quốc, ông Tsuboi chỉ ra một điều không bất ngờ nhưng lại ít được Việt Nam chú ý: Ông thấy rằng Trung Quốc thường xuyên nghiên cứu về Việt Nam và nghiên cứu bằng một chiến lược lâu dài. Đúng như ông nhận định, việc nghiên cứu ấy sẽ còn không chỉ hôm nay mà cho đến ngày tham vọng biến được Việt Nam thành “phiên bang” của họ [ý của người viết].
4 năm trước, khi xảy ra vấn đề biển Đông, Trung quốc vẽ một số quần đảo Việt Nam vào bản đồ của họ, Việt Nam khởi phát cuộc biểu tình đầu tiên. Cuộc biểu tình bị dập tắt nhanh chóng, những Thái thú ngày ấy từ lầu cao của Lãnh sự quán tại Sài Gòn gật gù hài lòng. Cũng ngày ấy, không ít trí thức Việt sống ở nước ngoài thông tin như một nhắc nhở, cảnh báo: “Nếu ta không nghiên cứu, nếu ta im lặng mãi khi Trung Quốc nhiều thập niên qua đã đưa sinh viên của họ đến nhiều trường Đại học nước ngoài để nghiên cứu, làm luận án vấn đề biển Đông, ta không thể có tiếng nói khi đưa vấn đề ấy ra quốc tế. Dù muộn, nhưng vẫn cứ phải kêu lên cho thế giới biết ta có vấn đề đấu tranh này”.
Những lời nhắc nhở ấy thật ra với một số trí thức yêu nước trong nước không phải bất ngờ, lâu nay họ vẫn âm thầm nghiên cứu, tìm chứng liệu lịch sử để chứng minh chủ quyền hải đảo Quốc gia. Nhưng với đa số người dân thì hoàn toàn mù mịt bởi lẽ truyền thông, giáo khoa không bao giờ nhắc nhở, đưa tin. GS Tsuboi cũng nhận định rằng: Dường như chưa bao giờ Trung Quốc mạnh như hôm nay trong lịch sử của họ, còn Việt Nam chưa bao giờ yếu như bây giờ. Có nhiều vấn đề, nhưng cái quan trọng là nếu những cá nhân cầm nắm quốc gia không đặt lợi ích cá nhân xuống dưới lợi ích đất nước e việt nam khó tìm được động lực phát triển. Điểm mạnh của các bạn là người Việt rất đoàn kết khi có chiến tranh, lại rất ít đoàn kết trong thời bình”.
Thật đáng khâm phục, một nhà nghiên cứu người nước ngoài với những nhận định về đất nước mà ông nghiên cứu lịch sử của nó, sự am hiểu không khác gì của một trí thức người Việt. Chỉ một băn khoăn sau đây của ông “Hình như chính phủ các bạn cũng chưa sử dụng hết nguồn nhân lực, trí thức của mình” khiến tôi cười chua chát và muốn thông tin cho ông bằng cách hài hước, chua chát vốn có của mình “Riêng điều này thì xin trao đổi rằng ông không chính xác. Nguồn lực trí thức chúng tôi xài không thể hết nổi. chúng tôi có “Tiến sĩ” đông như quân Nguyên đấy ạ”.
Cuốn sách cứ để bạn đọc đọc và nhận định bởi lẽ cách đọc lịch sử phải là cách đọc mà từ đấy mỗi người tự rút ra những nhân định riêng. Lịch sử mà đọc 100% giống hệt nhau đấy không phải là thái độ đọc lịch sử.
Trung Quốc chưa từng từ bỏ việc nghiên cứu Việt Nam có chiến lược, để làm gì? Vì sao?
Cứ nhìn chính sách của họ đối với Việt Nam hôm nay. “Hôn má bên này bật máu má bên kia [Nguyễn Duy], câu trả lời hoàn toàn không khó.
Và đấy là điều cực kỳ quan trọng mà cá nhân người viết tiếp nhận sau buổi tọa đàm.
Đ.T.Q.
Nguồn: quechoa.info

http://phusaonline.free.fr/XaHoi/2010/48_nguoi-hoa-luc.htm

Dương Danh Huy – Trong chiến tranh 54-75, có một hay hai Quốc gia trên hai miền Bắc, Nam?

Theo Quỹ Nghiên cứu Biển Đông
Những gì chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa trước 30/4/1975 (VNDCCH) đã nói hoặc không nói liên quan đến Hoàng Sa, Trường Sa đã để lại một vũ khí tuyên truyền mà Trung Quốc đã, đang và sẽ tiếp tục khai thác trong tranh chấp chủ quyền trên hai quần đảo này với Việt Nam.
Thực tế là VNDCCH đã không hề tuyên bố rằng Hoàng Sa, Trường Sa là của mình, hoặc là của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH). Nổi bật nhất là VNDCCH đã không có lời bảo lưu về hai quần đảo này trong công hàm của Thủ tướng VNDCCH Phạm Văn Đồng gửi Chu Ân Lai ngày 14/9/1958.
Ngoài ra, phía Trung Quốc còn cho rằng tồn tại những sự kiện sau:
● Ngày 15/6/1956, Thứ trưởng Ngoại giao VNDCCH Ung Văn Khiêm đã nói với thường vụ viên của sứ quán Trung Quốc tại Hà Nội rằng Hoàng Sa, Trường Sa là của Trung Quốc. Tuy nhiên, Trung Quốc chưa từng nêu ra biên bản của buổi họp họ cho rằng trong đó Ung Văn Khiêm đã nói điều trên.
● Sách giáo khoa và bản đồ và báo Nhân Dân dưới thời VNDCCH đã thể hiện quan điểm Hoàng Sa, Trường Sa là của Trung Quốc.
Dễ có thể thấy được tại sao những điều trên là vũ khí tuyên truyền lợi hại cho Trung Quốc, nhưng theo pháp lý quốc tế thì không có nghĩa chúng làm cho nước Việt Nam thống nhất mất chủ quyền đối với Hoàng Sa, Trường Sa vào tay Trung Quốc.
Chúng ta có lập luận mạnh mẽ để cho rằng trước khi Việt Nam chia đôi, Hoàng Sa là của Việt Nam, và Pháp đã tuyên bố chủ quyền đối với Trường Sa một cách hợp pháp và sáp nhập Trường Sa vào tỉnh Bà Rịa của Nam Kỳ.
Tuy vậy, giai đoạn Việt Nam chia đôi đã để lại một số nghi vấn cho danh nghĩa chủ quyền của Việt Nam. Vì VNCH và VNDCCH đã có những hành vi rất khác nhau liên quan đến Hoàng Sa, Trường Sa, trả lời cho một số câu hỏi về tính quốc gia và thẩm quyền của VNDCCH và VNCH trong giai đoạn này có nhiều ảnh hưởng đến lập luận của Việt Nam.
Mục đích của bài viết này là tổng hợp một số khả năng và lập luận khác nhau lại thành một bản đồ lý lẽ. Bản đồ đó còn nhiều thiếu sót vì còn nhiều vấn đề cần được các nhà luật học Việt Nam làm sáng tỏ, nhưng hy vọng rằng nó sẽ đóng góp cho thảo luận và khuyến khích việc nghiên cứu. Người đọc có thể tự xét xem quan điểm của mình nằm đâu trên bản đồ đó, hay nằm ở điểm chưa có trên bản đồ, có thể tự bác bỏ một số điểm trên bản đồ, và có thể tự xét xem cần thêm gì để củng cố lập luận cho quan điểm của mình. Với mục đích đó, bài này sẽ xét những trường hợp sau cho giai đoạn chiến tranh 1954-1975.
Ký hiệu Trường hợp
2-B Có 2 Quốc gia, và Quốc gia ở miền Bắc (VNDCCH) thừa kế Hoàng Sa, Trường Sa từ nước Việt Nam trước khi chia đôi.
2-N Có 2 Quốc gia, và Quốc gia ở miền Nam (VNCH) thừa kế Hoàng Sa, Trường Sa từ nước Việt Nam trước khi chia đôi. Trường hợp này bao gồm hai tiểu trường hợp 2-N-K và 2-N-R dưới đây.
2-N-K Có 2 Quốc gia, Quốc gia ở miền Nam (VNCH) thừa kế Hoàng Sa, Trường Sa, và VNDCCH đã không gây ra cho bản thân mình sự ràng buộc không tranh chấp Hoàng Sa, Trường Sa với Trung Quốc
2-N-R Có 2 Quốc gia, Quốc gia ở miền Nam (VNCH) thừa kế Hoàng Sa, Trường Sa, nhưng VNDCCH đã gây ra cho bản thân mình một sự ràng buộc không tranh chấp Hoàng Sa, Trường Sa với Trung Quốc.
1-B Có 1 Quốc gia, và chính phủ miền Bắc là đại diện cho Quốc gia đó trong giai đoạn chiến tranh 1954-1975.
1-N Có 1 Quốc gia, và chính phủ miền Nam là đại diện cho Quốc gia đó trong giai đoạn chiến tranh 1954-1975.
1-X Có 1 Quốc gia, và trong giai đoạn chiến tranh 1954-1975 không có chính phủ nào riêng biệt có thể thay đổi về danh nghĩa chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa, Trường Sa.
Khi viết bài này, một số nhà luật học có nhiều uy tín của Việt Nam đã giúp tác giả một số tư liệu, thông tin, nhiều hướng dẫn quý báu về pháp lý quốc tế, và nhiều thảo luận về lập luận. Tác giả cảm ơn các nhà luật học này. Tất cả những sai sót về kiến thức, phương pháp lập luận, quan điểm, là của tác giả.
Trong giai đoạn Việt Nam chia đôi
Một số sự kiện liên quan đến giai đoạn này là:
● Ngày 2/9/1945 chính quyền Việt Minh tuyên bố sự ra đời của chính thể Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
● Ngày 5/6/1948 Pháp ký hiệp ước Vịnh Hạ Long công nhận một chính thể dưới chính quyền Bảo Đại với tên Quốc gia Việt Nam.
● Ngày 20/7/1954 Pháp và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ký Hiệp định Genève tạm thời chia Việt Nam thành hai vùng tập kết quân sự.
● Ngày 26/10/1955, Ngô Đình Diệm tuyên bố thành lập chính thể Việt Nam Cộng hòa.
● Năm 1969 chính thể Cộng hòa Miền Nam Việt Nam được thành lập với chính quyền là Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam.
● Ngày 30/4/1975 chính quyền Việt Nam Cộng hòa giải thể.
● Ngày 25/4/1976 Việt Nam bầu cử Quốc hội cho nước Việt Nam thống nhất.
● Ngày 2/7/1976 chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và chính quyền Cộng hòa Miền Nam Việt Nam sáp nhập với nhau thành chính quyền của nước Việt Nam thống nhất với tên Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.
Một hay hai Quốc gia?
Câu hỏi trước tiên cho giai đoạn này là câu hỏi: VNDCCH và VNCH là hai Quốc gia độc lập hay là hai vùng lãnh thổ của một Quốc gia trong tình trạng nội chiến?
Theo luật quốc tế, để là một Quốc gia (State), cần có (i) lãnh thổ, (ii) nhân dân, (iii) chính phủ, và (iv) khả năng có quan hệ với các chính phủ khác.
Một số nhà luật học có nhiều uy tín của Việt Nam cho rằng ý kiến của các luật gia quốc tế nổi tiếng nhất, thí dụ như James Crawford, Robert Jennings, Nguyễn Quốc Định, Jules Basdevant, Paul Reuter, Louis Henkin, Grigory Tunkin, cho rằng VNDCCH và VNCH là hai Quốc gia khác biệt.
Trong quyển The Creation of States in International Law, GS James Crawford lập luận như sau để cho rằng VNCH và VNDCCH là hai Quốc gia.
● Sự ra đời của VNDCCH vào năm 1945 không có gì bất hợp pháp và VNDCCH có thể cho rằng mình là đại diện cho toàn Việt Nam. (Lưu ý với luận điểm này GS Crawford không khẳng định VNDCCH là một Quốc gia vào năm 1945). Sau khi Pháp “công nhận sự độc lập” của Quốc Gia Việt Nam (QGVN) trong Hiệp ước Vịnh Hạ Long 1948, với điều kiện QGVN phải nằm trong Liên Hiệp Pháp, VNDCCH và QGVN cũng vẫn chưa là hai Quốc gia, vì VNDCCH thì chưa kiểm soát được toàn bộ lãnh thổ, còn QGVN thì chưa thật sự độc lập.
● Việc Hiệp định Genève 1954 thiết lập hai vùng tập kết quân sự phải được xem như sự thiết lập hai Quốc gia. Trên phương diện luật pháp cũng như trên thực tế, lãnh thổ của mỗi Quốc gia trên không phải là toàn bộ Việt Nam. (Với luận điểm này, GS Crawford cho rằng ranh giới trong Hiệp định Genève đã trở thành biên giới giữa hai Quốc gia, có nghĩa VNDCCH và QGVN (cũng như VNCH, là thể chế tiếp nối QGVN) đáp ứng được các điều kiện về (i) lãnh thổ và (ii) nhân dân).
● Trong Hiệp đinh Paris 1973, VNCH và VNDCCH được xem như hai thể chế trong việc sử dụng quân sự, tự khẳng định, đối nội và đối ngoại. Những thể chế như thế là những Quốc gia. (Với luận điểm này, GS Crawford cho rằng Hiệp đinh Paris 1973 có nghĩa VNDCCH và VNCH đáp ứng được các điều kiện (iii) chính phủ và (iv) khả năng có quan hệ với các chính phủ khác, và vì vậy nó công nhận VNCH và VNDCCH là hai Quốc gia).
Chắc chắn là VNDCCH và VNCH đều có thể đáp ứng được các điều kiện (iii) chính phủ và (iv) khả năng có quan hệ với các chính phủ khác, nhưng còn hai điều kiện (i) lãnh thổ và (ii) nhân dân thì sao?
Theo ý kiến của tác giả, mặc dù thực tế về sự kiểm soát và ngoại giao ủng hộ quan điểm tồn tại hai Quốc gia với lãnh thổ và nhân dân được giới hạn bởi vĩ tuyến 17, để trả lời câu hỏi về có một hay hai Quốc gia, intention cũng là một khía cạnh cần được xét đến song song với thực tế. Intention của VNCH và VNDCCH là gì? Có phải là mình là Quốc gia với lãnh thổ và nhân dân được giới hạn bởi vĩ tuyến 17 hay không?
Hiến pháp đầu tiên của VNDCCH ra đời năm 1946. Đương nhiên lúc đó VNDCCH cho rằng lãnh thổ của mình bao gồm Bắc, Trung, Nam. Điều 2 hiến pháp VNDCCH 1946 ghi, “Đất nước Việt Nam là một khối thống nhất Trung Nam Bắc không thể phân chia”. Lời nói đầu của hiến pháp 1959 của VNDCCH ghi, “Nước Việt Nam ta là một nước thống nhất từ Lạng Sơn đến Cà Mau”, và điều 1 ghi, “Đất nước Việt Nam là một khối Bắc Nam thống nhất không thể chia cắt”.
Việc từ “thống nhất” và các cụm từ “không thể phân chia” “không thể chia cắt” được dùng cho một thực thể địa lý, ở đây là “Đất nước Việt Nam” từ Bắc đến Nam, có vẻ như là sự khẳng định không thể chia thực thể địa lý đó thành hay cho hai Quốc gia. Như vậy, dường như các hiến pháp của VNDCCH không công nhận việc chia thực thể địa lý bao gồm Bắc, Nam thành hai Quốc gia.
Hiến pháp đầu tiên của VNCH ra đời năm 1956. Lời mở đầu viết “Ý thức rằng Hiến pháp phải thực hiện nguyện vọng của nhân dân, từ Mũi Cà Mâu đến Ải Nam Quan”. Điều 1 hiến pháp VNCH 1956 ghi, “Việt Nam là một nước Cộng hòa, Độc lập, Thống nhất, lãnh thổ bất khả phân”. Điều 1 hiến pháp VNCH 1967 lặp lại điều 1 của hiến pháp VNCH 1956. Câu hỏi là “Việt Nam” trong điều 1 hiến pháp VNCH 1956 là từ Cà Mau đến vĩ tuyến 17 hay đến Ải Nam Quan? Nếu là đến Ải Nam Quan thì dường như “Thống nhất” và “bất khả phân” trong hiến pháp VNCH cũng có nghĩa không công nhận việc chia thực thể địa lý bao gồm Bắc, Nam thành hai Quốc gia.
Hiệp định Genève 1954 chia đôi Việt Nam chỉ chia Việt Nam thành hai vùng tập kết quân sự và quy định rằng cho đến khi có tổng tuyển cử thì việc quản lý dân sự trong nằm trong tay VNDCCH và Liên Hiệp Pháp. Như vậy, Hiệp định Genève riêng nó không chia Việt Nam thành hai Quốc gia với hai chính phủ.
Hiệp định Paris 1973 cũng khẳng định là ranh giới trong Hiệp định Genève 1954 chỉ là ranh giới tạm tời giữa hai vùng tập kết quân sự, chứ không phải ranh giới chính trị hay lãnh thổ.
Như vậy, có thể lập luận rằng các hiến pháp của VNDCCH và VNCH đều cho rằng từ Nam Quan đến Cà Mau chỉ có một Quốc gia, tức là lãnh thổ của VNCH hay VNDCCH đều không bị giới hạn bởi vĩ tuyến 17, và Hiệp định Genève 1954 không đi ngược với quan điểm đó. Cũng xin nói thêm là QGVN không ký kết hiệp đinh này.
Phân tích về các hiến pháp này, một trong những nhà luật học có nhiều uy tín của Việt Nam cho rằng:
● Các hiến pháp trên đã cố tình tránh dùng các thuật ngữ pháp lý “lãnh thổ nước VNDCCH” hay “lãnh thổ nước VNCH”, và chỉ thể hiện quan điểm chính trị (thay vì quan điểm pháp lý) của VNCH và VNDCCH không chấp nhận sự chia đôi vĩnh viễn, và không chấp nhận việc có hai Quốc gia.
● Quan điểm chính trị đó đã phải nhường bước trước thực tế chính trị – pháp lý, và VNCH và VNDCCH đã hành xử như hai Quốc gia với lãnh thổ giới hạn bởi vĩ tuyến 17.
● Thực tế quản lý, ngoại giao và những điều trên ủng hộ quan điểm VNDCCH và VNCH là hai Quốc gia.
Câu hỏi ở đây là một phiên tòa quốc tế, hay các nhà luật học quốc tế, sẽ giải thích các hiến pháp trên thế nào? Và nếu giải thích đó đi ngược với thực tế quản lý và ngoại giao nghiêng về có hai quốc gia, thì tòa và các nhà luật học sẽ quyết định thế nào?
Ngoài những cân nhắc trên, chúng ta cũng phải xét đến câu hỏi: Quan điểm của chính phủ Việt Nam ngày nay là gì? Quan điểm đó có thể ảnh hưởng đến việc tranh tụng ở tòa và lập luận mà các tác giả Việt Nam có thể công bố rộng rãi.
Chúng ta có thể xây dựng luồng lập luận chính về Hoàng Sa, Trường Sa dựa trên một trong hai trả lời, nhưng cũng vẫn phải xây dựng luồng lập luận phụ để dự trù cho trường hợp trả lời đó không được tòa, hay ý kiến luật học, hay các nhà chính trị Việt Nam ngày nay chấp nhận.
Các trường hợp hai Quốc gia: 2-B, 2-N, 2-N-K, 2-N-R
Trong trường hợp VNDCCH và VNCH là hai Quốc gia khác biệt, chúng ta phải trả lời câu hỏi: Quốc gia nào đã thừa kế danh nghĩa chủ quyền đối với Hoàng Sa, Trường Sa từ nước Việt Nam trước đó?
Hiêp định Genève không trả lời rõ ràng về vấn đề này.
Thứ nhất, Hiêp định Genève không ghi rõ ràng về Hoàng Sa, Trường Sa thuộc về vùng tập kết quân sự nào. Theo Hiêp định Genève, ranh giới chỉ kéo dài từ đất liền vào lãnh hải theo một đường vuông góc với bờ biển. Lúc đó, lãnh hải chỉ là 3 hải lý hay cùng lắm là 12 hải lý cho nên ranh giới đó không vươn ra đến Hoàng Sa, Trường Sa. Tuy nhiên, một trong những nhà luật học hàng đầu của Việt Nam cho rằng, theo quan điểm của Việt Nam lúc đó, Hoàng Sa, Trường Sa là lãnh thổ phụ thuộc của các tỉnh ven bờ cho nên hai quần đảo này đương nhiên thuộc về vùng tập kết phía nam cùng với các tỉnh đó.
Thứ nhì, Hiệp đinh nói về hai vùng tập kết quân sự chứ không phải về lãnh thổ của hai Quốc gia.
Vì vậy, có lẽ trả lời cho câu hỏi “Quốc gia nào đã thừa kế danh nghĩa chủ quyền quyền đối với Hoàng Sa, Trường Sa từ nước Việt Nam trước đó?” tùy thuộc vào thực tế quản lý và nhận thức của VNDCCH và VNCH. Như vậy, trên lý thuyết có hai trường hợp sau.
Trường hợp 2-B
VNDCCH và VNCH đã trở thành hai Quốc gia khác biệt và VNDCCH là Quốc gia thừa kế danh nghĩa chủ quyền đối với Hoàng Sa, Trường Sa. Trong trường hợp này, các hành vi của VNDCCH liên quan đến Hoàng Sa, Trường Sa sẽ bất lợi cho chủ quyền Việt Nam đối với Hoàng Sa, Trường Sa. Việt Nam phải bác bỏ trường hợp này. Để dự trù cho trường hợp sự bác bỏ không thuyết phục được toà án quốc tế hay ý kiến học thuật, các nhà nghiên cứu Việt Nam phải nghiên cứu về các nguyên tắc recognition, acquiescence và estoppel trong luật quốc tế để lập luận rằng các hành vi của VNDCCH không làm cho VNDCCH bị mất danh nghĩa chủ quyền đối với Hoàng Sa, Trường Sa.
Trường hợp 2-N
VNDCCH và VNCH đã trở thành hai Quốc gia khác biệt và VNCH là Quốc gia thừa kế danh nghĩa chủ quyền đối với Hoàng Sa, Trường Sa. Trong trường hợp này, các hành vi của VNDCCH không ảnh hưởng đến danh nghĩa chủ quyền mà VNCH duy trì. Trường hợp này có sẽ lợi cho Việt Nam.
Trên thực tế, QGVN và sau đó là VNCH luôn luôn khẳng định chủ quyền đối với Hoàng Sa, Trường Sa, trong khi cho đến năm 1975 VNDCCH mới gửi quân đội đến Trường Sa, cho nên trường hợp 2-N, cũng là trường hợp có lợi cho Việt Nam, là hợp lý hơn trường hợp 2-B.
Riêng về Trường Sa thì có thể lập luận rằng Pháp đã sáp nhập Trường Sa vào tỉnh Bà Rịa, không bảo lưu gì về Trường Sa khi VNCH trở thành một Quốc gia hoàn toàn độc lập bao gồm tỉnh Bà Rịa, và sau đó Pháp cũng không phản đối việc VNCH thực thi chủ quyền đối với Trường Sa, cho nên VNCH đã thừa kế chủ quyền đối với Trường Sa từ Pháp. Với lập luận đó, về Trường Sa, VNDCCH là một bên hoàn toàn không liên quan, và trường hợp 2-N là hoàn toàn áp dụng.
Xin nói bên lề ở đây rằng không những lập luận “thừa kế Trường Sa từ Pháp” khẳng định được trường hợp 2-N (thay vì 2-B), tức là trường hợp có lợi cho Việt Nam, nó còn vững chắc hơn lập luận “thừa kế Trường Sa từ nhà nước phong kiến Việt Nam” (vì khó chứng minh được rằng nhà nhà nước phong kiến Việt Nam đã tuyên bố chủ quyền trên toàn bộ quần đảo Trường Sa và đội Bắc Hải đã thực thi chủ quyền trên toàn bộ vùng lãnh thổ đó.
Trong trường hợp 2-N, mặc dù VNDCCH không thể ảnh hưởng đến danh nghĩa chủ quyền mà VNCH thừa kế và duy trì, và không thể gây ra sự ràng buộc gì cho VNCH, chúng ta vẫn cần phải xét xem VNDCCH có đã gây ra nghĩa vụ có tính ràng buộc nào cho bản thân mình hay không. Vì vậy, trường hợp 2-N bao gồm 2 tiểu trường hợp sau:
Tiểu trường hợp 2-N-K
VNDCCH đã không gây ra nghĩa vụ có tính ràng buộc nào cho bản thân mình, cho nên nước Việt Nam thống nhất chỉ thừa kế danh nghĩa chủ quyền từ VNCH, không phải thừa kế nghĩa vụ gì từ VNDCCH. Trường hợp này sẽ hoàn toàn có lợi cho Việt Nam.
Tiểu trường hợp 2-N-R
VNDCCH đã gây ra nghĩa vụ có tính ràng buộc nào đó cho bản thân mình, cho nên nước Việt Nam thống nhất có thể phải thừa kế nghĩa vụ đó từ VNDCCH cùng với thừa kế danh nghĩa chủ quyền từ VNCH. Trường hợp này để lại một di sản có hại cho Việt Nam, một di sản có lợi, và sẽ được phân tích sau.
2-N-K hay 2-N-R?
Định nghĩa của trường hợp 2-N là VNCH là Quốc gia thừa kế chủ quyền đối với Hoàng Sa, Trường Sa. Trong trường hợp 2-N, không thể có chuyện VNDCCH gây ra nghĩa vụ ràng buộc VNDCCH phải chuyển nhượng hai quần đảo này cho Trung Quốc, hoặc phải từ bỏ chủ quyền đối với hai quần đảo này. VNDCCH cũng không thể gây ra sự ràng buộc gì cho VNCH.
Tuy nhiên, VNDCCH vẫn có tiềm năng gây ra một sự ràng buộc về tự giới hạn quyền tự do hành động của bản thân mình, ở đây là quyền trong tương lai VNDCCH có thể tranh chấp Hoàng Sa, Trường Sa với Trung Quốc. Có thể minh hoạ khái niệm “ràng buộc về tự giới hạn quyền tự do hành động của bản thân mình” bằng kịch bản giả định sau.
● Nhật và Hàn Quốc tranh chấp nhóm đảo Takeshima/Dokdo, Trung Quốc là bên thứ ba trong tranh chấp này.
● Trung Quốc ký một thoả thuận với Nhật trong đó Trung Quốc sẽ không bao giờ tranh chấp nhóm đảo Takeshima/Dokdo với Nhật để đổi với một khoản viện trợ. Rõ ràng thoả thuận này không có giá trị chuyển nhượng Takeshima/Dokdo cho Nhật và không có giá trị ràng buộc gì đối với Hàn Quốc.
● Sau đó Hàn Quốc chuyển nhượng danh nghĩa chủ quyền đối với Takeshima/Dokdo cho Trung Quốc.
● Trong kịch bản giả định này, khả năng là toà quốc tế sẽ không cho phép Trung Quốc tranh chấp Takeshima/Dokdo với Nhật.
Minh hoạ này cho thấy trong trường hợp Hoàng Sa, Trường Sa là của VNCH, và VNDCCH không phải là một bên trong tranh chấp, thì VNDCCH vẫn có tiềm năng gây ra nghĩa vụ ràng buộc giới hạn quyền tự do hành động của bản thân mình, cụ thể nghĩa vụ ràng buộc VNDCCH không được tranh chấp Hoàng Sa, Trường Sa với Trung Quốc, và chúng ta phải xét xem tiền năng đó có đã trở thành thực tế hay không.
Mặc dù hành vi của VNDCCH có thể bị hiểu là công nhận hay thừa nhận Hoàng Sa, Trường Sa là của Trung Quốc, hoặc bị diễn giải là VNDCCH tự giới hạn quyền tự do hành động của mình, hành vi đó là những động thái đơn phương. Theo luật quốc tế, cần phải có nhiều điều kiện trước khi các động thái đơn phương, hay các lời hứa, có thể gây ra nghĩa vụ ràng buộc. Nguyên tắc này bao gồm:
● Khi một Quốc gia tuyên bố về tự giới hạn quyền tự do hành động của mình thì cần phải giải thích tuyên bố đó một cách có giới hạn.
● Cần phải xét đến bối cảnh của tuyên bố đó.
● Phải rõ ràng là bên tuyên bố thể hiện ý muốn bị ràng buộc bởi tuyên bố đó.
● Bên kiện bên tuyên bố phải đã có hành động dựa trên tuyên bố đó.
Phán quyết của Toà án Công lý Quốc tế về tranh chấp các đảo/đá Pedra Branca, Middle Rocks và South Ledge giữa Malaysia và Singapore thể hiện rất rõ những nguyên tắc trên.
Năm 1953 Singapore hỏi bang Johor, một trong những tiền thân của Malaysia, về chủ quyền đối với đảo Pedra Branca. Johor trả lời bằng công hàm rằng họ không có tuyên bố chủ quyền đối với Pedra Branca.
Singapore đưa ra trước Toà ba luận điểm về công hàm 1953 của Johor: (a) Johor đã từ bỏ chủ quyền, (b) một estoppel, và (c) có tính cách ràng buộc.
Toà bác bỏ cả ba quan điểm trên của Singapore với những lý do:
● Công hàm 1953 của Johor không có hiệu quả pháp lý có tính quyết định.
● Bên viện nguyên tắc estoppel phải chứng minh là mình đã có hành động dựa vào tuyên bố của bên kia, nhưng các hành động của Singapore không phải là dựa vào công hàm 1953 của Johor.
● Khi một nước tuyên bố một điều tự hạn chế quyền tự do hành động của mình thì cần phải giải thích tuyên bố đó một cách có giới hạn.
● Công hàm 1953 của Johor không phải là trong văn cảnh tranh chấp chủ quyền giữa Singapore và Johor cho nên không thể giải thích nó là có tính ràng buộc.
Có nhiều điều song song giữa công hàm 1953 của Johor và hành vi của VNDCCH, bao gồm cả công hàm Phạm Văn Đồng:
● Các tuyên bố và ấn phẩm của VNDCCH không có hiệu quả pháp lý có tính quyết định.
● Không có chứng cớ rằng những hành động của Trung Quốc như đánh chiếm Hoàng Sa, hay viện trợ cho VNDCCH là vì dựa vào các tuyên bố của VNDCCH. Không những thế, vì VNDCCH không phải là Quốc gia thừa kế Hoàng Sa, Trường Sa, những tuyên bố của VNDCCH không có thẩm quyền để Trung Quốc có thể dựa vào.
● Nếu VNDCCH có tuyên bố tự giới hạn quyền tự do hành động của mình, thí dụ như tuyên bố “tán thành” và “tôn trọng” về những gì trong tuyên bố 1958 của Trung Quốc về đường cơ sở và lãnh hải, thì cần phải giải thích những tuyên bố đó một cách có giới hạn. Có thể dùng nguyên tắc “giải thích những tuyên bố đó một cách có giới hạn” để ủng hộ lập luận cho rằng chủ ý của công hàm Phạm Văn Đồng không phải là để công nhận Hoàng Sa, Trường Sa là của Trung Quốc.
● Những tuyên bố hay ấn phẩm của VNDCCH không phải là để trả lời Trung Quốc trong tranh chấp Hoàng Sa, Trường Sa giữa VNDCCH và Trung Quốc, cho nên không thể cho rằng chúng có tính ràng buộc.
Những điểm song song trên ủng hộ quan điểm VNDCCH đã không hề gây ra nghĩa vụ ràng buộc cho mình, và trường hợp 2-N-K, cũng là trường hợp có lợi cho Việt Nam, là hợp lý hơn 2-N-R.
Lưu ý trong trường hợp 2-N (dẫn đến 2-N-K hoặc 2-N-R), danh nghĩa chủ quyền đối với Hoàng Sa, Trường Sa không thuộc về VNDCCH cho nên các nguyên tắc recognition hay acquiescence không áp dụng, vì việc công nhận hay thừa nhân là của người khác những gì không phải của mình là những hành động không có giá trị.
Để khẳng định trường hợp 2-N-K thay vì 2-N-R, các nhà nghiên cứu Việt Nam phải nghiên cứu về nguyên tắc estoppel để chứng minh rằng VNDCCH đã không gây ra một estoppel ràng buộc mình không được tranh chấp Hoàng Sa, Trường Sa với Trung Quốc.
Các trường hợp một Quốc gia: 1-B, 1-N, 1-X
Nếu trong giai đoạn chiến tranh 1954-1975 chỉ tồn tại một Quốc gia Việt Nam trong tình trạng nội chiến, chúng sẽ phải trả lời câu hỏi: VNDCCH hay VNCH là đại diện cho toàn Việt Nam trong giai đoạn đó, bao gồm cả về vấn đề Hoàng Sa, Trường Sa? Sẽ có ba trường hợp sau.
Trường hợp 1-B
Chỉ tồn tại một nước Việt Nam trong tình trạng nội chiến, và VNDCCH là đại diện hợp pháp của toàn Việt Nam trong giai đoạn đó. Trường hợp này bất lợi cho Việt Nam như trường hợp 2-B. Việt Nam phải bác bỏ trường hợp này. Để dự trù cho trường hợp sự bác bỏ không thuyết phục được toà án quốc tế hay ý kiến học thuật, các nhà nghiên cứu Việt Nam phải nghiên cứu về các nguyên tắc recognition, acquiescence và estoppel trong luật quốc để lập luận rằng các hành vi của VNDCCH không làm cho VNDCCH bị mất danh nghĩa chủ quyền đối với Hoàng Sa, Trường Sa.
Trường hợp 1-N
Chỉ tồn tại một nước Việt Nam trong tình trạng nội chiến, và chính phủ VNCH là đại diện của toàn Việt Nam trong giai đoạn đó. Vì VNCH luôn luôn duy trì danh nghĩa chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa, Trường Sa, trường hợp này sẽ có lợi cho lập luận của Việt Nam như trường hợp 2-N-K. Xác suất trường hợp 1-N được chính phủ Việt Nam ngày nay chọn là thấp.
Trường hợp 1-X
Chỉ tồn tại một nước Việt Nam trong tình trạng nội chiến, nhưng với Hiệp định Genève và tình trạng nội chiến thì mỗi chính phủ VNCH hay VNDCCH riêng biệt không có đủ thẩm quyền để làm thay đổi danh nghĩa chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa, Trường Sa. Trong trường hợp này, một mặt thì VNCH duy trì chủ quyền Việt Nam đối với Hoàng Sa, Trường Sa, mặt kia thì những hành vi liên quan của VNDCCH không thay đổi được danh nghĩa chủ quyền đó. Vì vậy, trường hợp này cũng có lợi cho Việt Nam như trường hợp 1-N và 2-N-K.
Trong giai đoạn chiến tranh 1954-1975, quốc hội VNDCCH không có đại biểu được bầu bởi nhân dân miền Nam, và nghị viện VNCH và nghị viện VNCH không có đại biểu được bầu bởi nhân dân miền Bắc. Vì vậy, phải chăng có thể lập luận rằng mỗi chính phủ VNCH hay VNDCCH riêng biệt không có đủ thẩm quyền để làm thay đổi danh nghĩa chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa, Trường Sa, tức là trường hợp 1-X?
Khi Việt Nam thống nhất
Khi Việt Nam thống nhất, danh nghĩa chủ quyền của Việt Nam sẽ tuỳ thuộc vào kịch bản nào áp dụng trong giai đoạn Việt Nam chia đôi.
Các trường hợp hai Quốc gia: 2-B, 2-N, 2-N-K, 2-N-R
Trong trường hợp giai đoạn chiến tranh 1954-1975 có hai Quốc qia, sẽ có vấn đề thừa kế giữa các Quốc gia Việt. Danh nghĩa chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa, Trường Sa sẽ đi từ nước Việt Nam trước chia đôi đến một trong hai Quốc gia trong giai đoạn chiến tranh 1954-1975, và sẽ đi từ Quốc gia đó đến nước Việt Nam thống nhất.
Trường hợp 2-B có nghĩa VNDCCH thừa kế danh nghĩa chủ quyền từ nước Việt Nam trước đó, và các hành vi hữu quan của VNDCCH làm tổn hại danh nghĩa đó. Nước Việt Nam thống nhất sẽ thừa kế danh nghĩa chủ quyền đã bị tổn hại và khó có thể cạnh tranh pháp lý với Trung Quốc. Như đã nói, Việt Nam phải bác bỏ trường hợp này
Trường hợp 2-N-K có nghĩa VNCH thừa kế danh nghĩa chủ quyền từ nước Việt Nam trước đó, và nước Việt Nam thống nhất thừa kế danh nghĩa chủ quyền này từ VNCH. Vì Hoàng Sa, Trường Sa thuộc về Việt Nam (hay Pháp, trong trường hợp Trường Sa) trước 1954, sau 1976 và ngày nay hai quần đảo này cũng thuộc về Việt Nam. Trường hợp này có lợi cho Việt Nam.
Trường hợp 2-N-R có nghĩa VNCH thừa kế danh nghĩa chủ quyền từ nước Việt Nam trước đó, và nước Việt Nam thống nhất thừa kế danh nghĩa chủ quyền này từ VNCH. Tuy nhiên nước Việt Nam thống nhất cũng phải thừa kế nghĩa vụ ràng buộc gây ra bởi VNDCCH, thí dụ như không được tranh chấp Hoàng Sa, Trường Sa với Trung Quốc. Như vậy, nước Việt Nam thống nhất sẽ thừa kế hai điều trái nghịch nhau (danh nghĩa chủ quyền thừa kế từ VNCH và nghĩa vụ ràng buộc thừa kế từ VNDCCH) và một phiên toà quốc tế sẽ phải quyết định xoá bỏ điều nào thì sẽ công bằng hơn.
Như đã trình bày, những hành vi của VNDCCH đã không đáp ứng được các điều kiện để gây ra nghĩa vụ ràng buộc cho VNDCCH. Vì vậy, trong trường hợp VNDCCH và VNCH là hai Quốc gia độc lập, khả năng là chúng ta sẽ có trường hợp 2-N-K, có lợi cho Việt Nam, thay vì 2-N-R.
Giả sử như chúng ta có bị rơi vào trường hợp 2-N-R đi nữa, thì tác giả cũng cho rằng toà sẽ cho rằng việc xoá bỏ nghĩa vụ thừa kế từ VNDCCH sẽ công bằng hơn xoá bỏ danh nghĩa chủ quyền thừa kế từ VNCH.
Các trường hợp một Quốc gia: 1-B, 1-N, 1-X
Trong trường hợp giai đoạn chiến tranh 1954-1975 chỉ có duy nhất một Quốc qia, sẽ không có vấn đề thừa kế giữa các thể chế Việt, vì danh nghĩa chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa, Trường Sa, sau khi đã thuộc về Việt Nam, sẽ chỉ thuộc về một Quốc gia Việt.
Trường hợp 1-B có nghĩa hành vi hữu quan của VNDCCH trong giai đoạn chiến tranh 1954-1975 đã gây tổn hại cho danh nghĩa chủ quyền của Việt Nam, và Việt Nam khó có thể cạnh tranh pháp lý với Trung Quốc. Đó là vì sao lập luận của Trung Quốc mặc nhiên cho rằng VNDCCH là đồng nghĩa với Việt Nam, bỏ qua sự kiện Việt Nam chia đôi và VNCH. Như đã nói, Việt Nam phải bác bỏ trường hợp này.
Trường hợp 1-N và 1-X thì sẽ hoàn toàn có lợi cho Việt Nam. Trong hai trường hợp này, danh nghĩa chủ quyền của Việt Nam không thay đổi trong giai đoạn chiến tranh 1954-1975. Vì Hoàng Sa, Trường Sa thuộc về Việt Nam (hay Pháp, trong trường hợp Trường Sa) trước 1954, sau 1976 và ngày nay hai quần đảo này cũng thuộc về Việt Nam.
Kết luận
Các trường hợp bất lợi cho Việt Nam: 2-B và 1-B
Các trường hợp bất lợi cho Việt Nam là 2-B và 1-B. Như đã trình bày, khả năng là trường hợp 2-B bị pháp lý quốc tế loại bỏ. Lập luận của Trung Quốc dùng trường hợp 1-B. Trung Quốc mặc nhiên cho rằng VNDCCH là Việt Nam, bỏ qua VNCH. Theo ý kiến của tác giả,
● Quan điểm chính trị của chúng ta phải bác bỏ 1-B và 2-B.
● Chúng ta cần nghiên cứu luật pháp quốc tế để bác bỏ 1-B và 2-B, cũng như xác định khả năng có thể bác bỏ hai trường hợp này.
● Để dự trù cho trường hợp toà án quốc tế hay ý kiến học thuật không chấp nhận việc bác bỏ 1-B và 2-B, các nhà nghiên cứu Việt Nam phải nghiên cứu về các nguyên tắc recognition, acquiescence và estoppel trong luật quốc tế (đó là những nguyên tắc phía Trung Quốc có thể dùng) để lập luận rằng các hành vi của VNDCCH không làm cho VNDCCH bị mất danh nghĩa chủ quyền đối với Hoàng Sa, Trường Sa.
Trường hợp trung bình: 2-N-R
Trường hợp 2-N-R là trường hợp trung bình cho Việt Nam. Trong trường hợp này, nước Việt Nam thống nhất thừa kế hai điều đối nghịch với nhau: một bên là danh nghĩa chủ quyền đối với Hoàng Sa, Trường Sa từ VNCH, và bên kia là nghĩa vụ ràng buộc nào đó ảnh hưởng đến Hoàng Sa, Trường Sa từ VNDCCH. Việc thắng thua sẽ tuỳ vào toà cho rằng xoá bỏ nghĩa vụ VNDCCH gây ra hay xoá bỏ chủ quyền Việt Nam đối với Hoàng Sa, Trường Sa là công bằng hơn. Tất cả những chứng cớ chúng ta có hiện nay nghiêng về 2-N-K (VNDCCH đã không gây ra nghĩa vụ ràng buộc, trường hợp có lợi cho Việt Nam) thay vì 2-N-R. Tuy nhiên, để dự trù cho mọi trường hợp, chúng ta vẫn cần nghiên cứu về luật pháp quốc tế, để
● Củng cố lập luận để khẳng định trường hợp 2-N-K (thay vì 2-N-R), và xác định khả năng trường hợp 2-N-R được tòa chấp nhận.Điều này cần nghiên cứu về nguyên tắc estoppel và những tuyên bố đơn phương trong luật quốc tế.
● Xác định khả năng, trong trường hợp 2-N-R, tòa sẽ xoá bỏ nghĩa vụ VNDCCH gây ra hay xoá bỏ chủ quyền Việt Nam đối với Hoàng Sa, Trường Sa. Điều này cần nghiên cứu về luật quốc tế về bồi thường: nếu, trong trường hợp 2-N-R, CHXHCNVN phải bồi thường cho Trung Quốc vì hành vi của VNDCCH thì bồi thường thế nào là công bằng? Theo ý kiến của tác giả, giả sử Việt Nam có bị rơi vào trường hợp 2-N-R đi nữa, thì một toà án quốc tế cũng sẽ không đòi hỏi CHXHCNVN phải bồi thường cho Trung Quốc bằng danh nghĩa chủ quyền đối với Hoàng Sa, Trường Sa.
Các trường hợp có lợi: 2-N-K, 1-N, 1-X
Các trường hợp có lợi cho Việt Nam là 2-N-K, 1-N và 1-X. Nếu Việt Nam khẳng định được một trong ba trường hợp này trước toà, khả năng là Việt Nam sẽ thắng Trung Quốc trong tranh chấp Hoàng Sa, Trường Sa.
Xác suất trường hợp 1-N được chính phủ Việt Nam ngày nay chọn là thấp. Như vậy, trong 6 trường hợp đã nêu ra, 2-N-K và 1-X là vừa có lợi cho Việt Nam, vừa khả thi trên diện chính trị. Lựa chọn cho Việt Nam là giữa hai trường hợp này.
Nếu Việt Nam cho rằng VNDCCH và VNCH không phải là hai Quốc gia, thì Việt Nam phải khẳng định trường hợp 1-X. Để khẳng định 1-X, Việt Nam có thể lập luận rằng trong giai đoạn chiến tranh 1954-1975, quốc hội VNDCCH không có đại biểu được bầu bởi nhân dân miền Nam, và nghị viện VNCH không có đại biểu được bầu bởi nhân dân miền Bắc, cho nên mỗi chính phủ VNCH hay VNDCCH riêng biệt không có đủ thẩm quyền để làm thay đổi danh nghĩa chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa, Trường Sa. Nếu lập luận đó được chấp nhận thì Việt Nam sẽ thắng. Trước khi có thể chọn 1-X, chúng ta phải xác định khả năng tòa sẽ chấp nhận quan điểm “mỗi chính phủ VNDCCH và VNCH riêng biệt không có đủ thẩm quyền để thay đổi về danh nghã chủ quyền đối với Hoàng Sa, trường Sa” hay không.
Sách trắng của Việt Nam về Hoàng Sa, Trường Sa lập luận rằng trong giai đoạn chiến tranh 1954-1975, VNCH luôn khẳng định chủ quyền Việt Nam. Như vậy có thể hiểu được là thừa nhận rằng VNCH là một Quốc gia, vì trong luật quốc tế sự khẳng định chủ quyền phải là của Quốc gia mới có giá trị. Ngoài ra, có thể cho rằng quan điểm trên hình thức của VNDCCH về Cộng Hoà Miền Nam và Chính phủ Lâm thời Mặt trận Giải phóng Miền Nam là hình thức công nhận miền Nam là một Quốc gia khác biệt.
Phần lớn các luật gia quốc tế nổi tiếng nhất cho rằng VNCH và VNDCCH là hai Quốc gia. Trong quyển “Chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa”, giáo sư luật quốc tế Monique Chemillier-Gendreau cũng dùng quan điểm đó. Trong sách dựa trên luận văn tiến sĩ của mình, giáo sư Nguyễn Hồng Thao cũng dùng quan điểm đó. Lập luận trong sách trắng của Việt Nam cũng dựa trên quan điểm đó.
Như vậy có vẻ như các lập luận ủng hộ chủ quyền Việt Nam dựa trên quan điểm VNCH và VNDCCH là hai Quốc gia.
Trên diện pháp lý, để khẳng định được trường hợp 2-N-K, Việt Nam phải
● Cho rằng VNDCCH và VNCH là 2 Quốc gia. Đây là lãnh vực của các nhà chính trị.
● Thuyết phục được tòa về rằng VNDCCH và VNCH là 2 Quốc gia. Điều này và các điều sau là lãnh vực của các nhà luật học.
● Bác bỏ được trường hợp 2-B.
● Bác bỏ được trường hợp 2-N-R.
Trên diện truyền thông đại chúng hiện nay, dường như Việt Nam không khẳng định cụ thể rằng VNCH và VNDCCH là hai Quốc gia khác biệt. Có lẽ Việt Nam e ngại rằng nếu VNCH và VNDCCH là hai Quốc gia khác biệt thì sẽ có câu hỏi là việc VNDCCH tham gia chiến tranh 1954-1975 có phải là một Quốc gia can thiệp vào nội bộ của Quốc gia khác hay không. Trong lãnh vực tuyên truyền về Hoàng Sa, Trường Sa, Trung Quốc đã, đang và sẽ tiếp tục lợi dụng tình hình đó bằng cách mặc nhiên cho rằng luôn luôn chỉ tồn tại duy nhất một Quốc gia Việt Nam, và VNDCCH là đại diện cho Quốc gia đó, để nói rằng Việt Nam đã công nhận rằng Hoàng Sa, Trường Sa là của Trung Quốc.
Tuyên truyền của Trung Quốc cho thấy việc lựa chọn giữa các khả năng thí dụ như được nêu ra trong bài này không chỉ là một vấn đề cho các nhà sử học và các nhà chính trị, mà nó còn ảnh hưởng đến lập luận của Việt Nam về chủ quyền đối với Hoàng Sa, Trường Sa, và đến việc tranh thủ dư luận quốc tế.
Trong việc lựa chọn, người lựa chọn nên cho rằng VNDCCH và VNCH là quá khứ, trong khi nước Việt Nam thống nhất và sự vẹn toàn lãnh thổ, bao gồm Hoàng Sa, Trường Sa, Biển Đông, là hiện tại và tương lai. Sự vẹn toàn lãnh thổ, bao gồm Hoàng Sa, Trường Sa, Biển Đông, phải được nước Việt Nam thống nhất cho là ưu tiên hơn việc đánh giá những gì đã trở thành quá khứ. Mặt khác, chúng ta cũng không nên dùng sự lựa chọn trên để phục vụ những mục đích chính trị khác với đem lại cho Việt Nam lập luận mạnh mẽ nhất về chủ quyền đối với Hoàng Sa, Trường Sa.
Hồ Gươm gửi hôm Thứ Hai, 12/09/2011 Bạn đánh giá bài v
http://danluan.org/node/9913

Để lại phản hồi »

Chưa có phản hồi.

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Blog at WordPress.com.

%d bloggers like this: