Hoàngquang’s Blog

11/09/2011

VÌ SAO TỘI ÁC LÊN NGÔI? & Đừng tiếc nuối những gì mà loài người đã loại bỏ đi!

Tống Văn Công- Hoàng Lại Giang

Hoàng Lại Giang Đừng tiếc nuối những gì mà loài người đã loại bỏ đi!
Nguyễn Hoài Vân (Theo Etienne de la Boétie) Tình nguyện nô lệ hay chọn lựa Tự Do
Nguyễn Trần Bạt Thời nay, có nên lấy hệ tư tưởng để đánh giá hành vi, ý thức chính trị của nhau không? Nguyễn Hoàng Quang Khi cái ác đã đến tột cùng… Lưu Mạnh Anh Hãy trả lại vai trò đích thực của Tôn giáo & Văn hóa – Nghệ thuật mới mong góp phần đẩy lùi tội ác. Philippe Papin và Laurent Passicousset – Người dịch: Hoàng Hà SỐNG VỚI NGƯỜI VIỆT (1) + (2) (3)
Hồ Trung Tú Hãy để máu chúng ta nhuộm đỏ biển Đông
Me. Nâ’m ‘s Blog
HOÀNG SA – GẠC MA : Bao giờ thôi đau??

Tống Văn Công VÌ SAO TỘI ÁC LÊN NGÔI?

Suốt mấy tuần qua, báo chí trong nước đăng nhiều bài phân tích nguyên nhân của hai vụ giết người cướp của ghê rợn xảy ra cùng thời gian ở Bắc Giang và Bình Dương. Nguyên Chủ tịch nước Nguyễn thị Bình vốn là nhà giáo, bà bức xúc “rung chuông về giáo dục nhân cách.” Nhiều vị tiến sĩ tâm lý vào cuộc. TS Thạch Ngọc Yến có bài viết Thiếu vách chắn trước cơn bốc đồng, cho rằng các vụ này có “mẫu số chung là: Họ có một quá khứ không bình thường. Có thể là sự xáo trộn trong gia đình, là tuổi thơ bị bỏ rơi…” PGS-TS Lê Trọng Ân có bài Người lớn hãy làm gương, với mở đầu “Ông bà ta dạy: Con dại cái mang. Do đó con cái hư hỏng, cha mẹ phải xem lại mình..” Nhà báo Cao Tuấn có bài Sức mạnh kháng thể, “khái quát hơn cái ác có vẻ như đang ẩn hiện khắp nơi”. Thế nhưng ông lại nhận định: “Nó là sản phẩm “quái gỡ” (nhưng không nhiều) của một xã hội đang vận động đi lên-các yếu tố cũ, lạc hậu chưa mất hẳn và yếu tố mới, tiến bộ chưa định hình…Xét về mặt triết học, đây là thời kỳ chuyển tiếp không dễ dàng đối với bất cứ xã hội nào”. Lạ lùng là ông khuyên đừng “quá chú tâm truy tìm gốc rễ của những hiện tượng quái gỡ, hãy dành nhiều thời gian hơn để thúc đẩy xã hội phát triển theo hướng lành mạnh”. Thật không khác nào trước con bệnh ngặt, lại khuyên thấy thuốc chớ chẩn đoán bệnh, mà hãy khuyến khích họ vui chơi, chạy nhảy!
Tôi không phải nhà nghiên cứu tâm lý, nhưng có lưu tâm đến vấn đề đạo đức xuống cấp, khi nghe anh Thái Duy (tức nhà văn Trần Đình Vân tác giả Sống như anh) từ miền Nam trở ra Hà Nội tâm sự: “Cậu ạ, Đảng mình có trách nhiệm đã làm xuống cấp đạo đức người dân Hà Nội. Hồi tớ đi học, mỗi khi thấy đám ma từ xa, cả bọn xuống xe đạp, giở mũ cuối đầu, chờ xe đi qua. Còn nay, bọn trẻ ngang nhiên phóng xe, lại còn lớn tiếng chửi thề, tại sao xe tang đi chậm cản đường!”. Tôi nghĩ đạo đức xuống cấp bắt đầu từ chuyện lớp trẻ chửi xe tang cản đường đã phát triển dần từng năm một! Tết Nguyên đán năm 2009, Hà Nội xảy ra vụ hằng trăm người xô đạp nhau tranh cướp hoa anh đào, tôi đã viết bài Vì sao đạo đức băng hoại tặng nhà thơ Hoàng Hưng và giáo sư Nguyễn Huệ Chi là hai người quan tâm vụ việc này. Gần ba năm qua, tình trạng xã hội và con người Việt Nam đã đi tới câu hỏi bức thiết hơn: Vì sao tội ác lên ngôi?
I. Đoạn tuyệt với đạo đức truyền thống!
Xin đọc Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản của Marx-Engels, Phần 2, “Những người vô sản và những người cộng sản” (Nhà xuất bản Sự thật Hà Nội, năm 1974, trang 77):
“Có người sẽ bảo: “Cố nhiên những quan điểm tôn giáo, đạo đức, triết hoc, chính trị, pháp quyền..vv…đã biến đổi trong tiến trình phát triển lịch sử. Nhưng tôn giáo, đạo đức, triết học, chính trị, pháp quyền vẫn luôn được bảo tồn qua những biến đổi ấy.
Vả lại, còn có những chân lý vĩnh cửu như tự do, công lý vv…chung cho mọi chế độ xã hội. Thế mà chủ nghĩa cộng sản lại xóa bỏ những chân lý vĩnh cửu, nó xóa bỏ tôn giáo và đạo đức chứ không đổi mới tôn giáo và đạo đức; làm như thế là trái ngược với tất cả sự phát triển lịch sử trước kia?”
Lời buộc tội ấy rốt cuộc là gì? Lịch sử của tiến bộ xã hội từ trước tới nay đều diễn ra trong đối kháng giai cấp, những đối kháng mang những hình thức khác nhau tùy thời đại. Nhưng dù những đối kháng mang hình thức gì đi nữa, hiện tượng một bộ phận này của xã hội bóc lột một bộ phận khác cũng vẫn là hiện tượng chung cho tất cả các thế kỷ trước kia.Vậy không có gì đáng lấy làm lạ khi thấy rằng ý thức xã hội của mọi thế kỷ mặc dù có muôn màu muôn vẻvà hết sức khác nhau vẫn vận động trong một số hình thức chung nào đó, trong những hình thái ý thức chỉ hoàn toàn tiêu tan khi hoàn toàn không còn có đối kháng giữa các giai cấp nữa.
Cách mạng cộng sản chủ nghĩa là sự đoạn tuyệt một cách triệt để nhất với tư tưởng cổ truyền…”
Từ những năm 50 của thế kỷ 20, người Việt Nam bắt đầu được nghe, “nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á”. Nhà nước này sắp xếp thứ tự của “tứ dân” từ sĩ, nông, công, thương phải thay đổi: Giai cấp công nhân lãnh đạo cách mạng; Giai cấp nông dân là quân chủ lực cách mạng, nhưng lại chia thành: cố nông, bần nông, trung nông. Cố nông, bần nông là cốt cán tin cậy. Trung nông kém tin cậy hơn, chia ra trung nông lớp dưới và trung nông lớp trên. Phú nông vừa lao động vừa bóc lột, phải tước bỏ tính bóc lột của họ. Địa chủ không còn nằm trong lực lượng yêu nước mà là đối tượng phải tiêu diệt. Tầng lớp trí thức có cái đuôi là tiểu tư sản, được gọi đùa là “tạch tạch xè”, bị xem là có lập trường bấp bênh, dễ bị dao động, cần được theo dõi, uốn nắn. Thương nhân là hạng người xấu xa nhất. Giai cấp tư sản là đối tượng phải tiêu diệt, nhưng tư sản thương nghiệp, gọi là bọn mại bản phải tiêu diệt đầu tiên. Nhiều người cho rằng sự sắp xếp lại “tứ dân” như trên là đem tay chân thay thế cho bộ não của xã hội! (Đến nay, ở thời đại kinh tế tri thức việc gọi giai cấp công nhân là giai cấp lãnh đạo thì sự vô lý càng trở nên bức xúc!). Từ lúc ấy, “Đại đoàn kết” đã nhường bước cho “đấu tranh giai cấp”, đạo đức bắt đầu đảo lộn, chữ “tố” lên ngôi thành một loại hoạt động xã hội được tôn vinh, đẻ ra thành ngữ mới “con tố cha, vợ tố chồng”!
Đạo đức cao nhất là trung thành với chủ nghĩa Marx-Lénin. Với nguyên tắc dân chủ tập trung, lãnh tụ Đảng cộng sản trở thành Thượng đế. Lãnh tụ quốc tế cộng sản đáng kính yêu hơn cả cha mẹ mình: “Vui biết mấy khi con học nói. Tiếng đầu đời con gọi Stalin” (Tố Hữu). Chữ trung, chữ hiếu truyền thống cũng thay đổi. Lời Cụ Hồ “trung với nước” bị đổi thành “trung với Đảng”.Trong cuộc chỉnh Đảng Trung ương khóa 2, chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Có người nói, người cộng sản là vô tình, là bất hiếu. Con làm cộng sản có khi phải bỏ cả bố mẹ. Cái đó có hay không? Có! Người cách mạng nhất, là người đa tình, chí hiếu nhất. Vì sao? Nếu không làm cách mạng thì chẳng những bố mẹ mình mà hằng chục triệu bố mẹ người khác cũng bị đế quốc phong kiến dày vò. Mình chẳng những cứu bố mẹ mình mà còn cứu bố mẹ người khác, bố mẹ của cả nước nữa. Phải hiểu chữ hiếu theo tinh thần cách mạng rộng rãi như vậy… Gia đình to là cả nước và gia đình nhỏ: Cái nào nặng? Cái nào nhẹ? Người cách mạng chọn gia đình to! Đó là cách hiểu xa thấy rộng. Phải hy sinh cái nhỏ cho cái lớn. Phải hy sinh cái riêng cho cái chung” (Hồ Chí Minh toàn tập, tâp 4, trang 389).
Sách Đại học (Tập 1 trong Tứ thư) viết: “Có hiếu là phải biết phụng sự vua. Có đễ là biết phụng sự người lớn”, tức là có ý dạy rằng, phụng sự vua cũng có nghĩa là có hiếu với cha mẹ, chứ không phải đòi hỏi chọn việc phụng sự vua mà bỏ cha mẹ.
Có lẽ, vì “cách mạng chọn gia đình to, hy sinh gia đình nhỏ” thể hiện triệt để tư tưởng của chủ nghĩa tập thể, cho nên “5 điều Bác Hồ dạy” không có điều nào dạy con cái phải hiếu thảo, kính yêu cha mẹ, ông bà. Bởi vì cha mẹ, ông bà của gia đình nhỏ đã được đặt trong gia đình lớn là: “Yêu Tổ quốc, yêu đồng bào”.
Trong hồi ký “Chuyện làng ngày ấy” nhà thơ Võ Văn Trực đã kể khá sinh động chuyện làng của ông phá bỏ chùa chiền, miếu mạo, tập thể hóa cả mồ mả ông bà. Tiếp theo đó, hồi ký “Cọng rêu dưới đáy ao”, Võ Văn Trực kể chuyện chính quyền, đoàn thể buộc người ta phải hy sinh mọi lợi ích riêng tư, dành tất cả cho tập thể. Con người muốn cho riêng mình thì buộc phải che giấu, nói dối (lý lịch gia đình, các mối quan hệ xã hội, báo cáo láo thành tích, những lo toan cho cá nhân, gia đình mình…). Do đó, Từ điển có thêm từ “khai man”, “tố điêu”.
II. Xây dựng đạo đức cách mạng
Từ năm 1947, chủ tịch Hồ Chí Minh viết Sửa đổi lề lối làm việc đã đề ra việc chống các bệnh chủ quan, ích kỷ hẹp hòi, cá nhân, bản vị, cục bộ và xây dựng đạo đức cách mạng. Từ đó cho tới năm qua đời, Cụ viết rất nhiều bài mở rộng tư tưởng này, tiêu biểu là bài Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân, viết ngày 3-2-1969, và trong Di chúc đoạn nói về Đảng cầm quyền. Cụ chỉ ra 10 bệnh của chủ nghĩa cá nhân cần phải xóa bỏ và đề ra nội dung đạo đức cách mạng gồm: cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư.
Chí công vô tư vốn là một khái niệm đạo đức cũ. Chí công nghĩa là rất công bằng; vô tư là không có lòng riêng khi làm việc chung. Khái niệm này vốn dành cho quan lại, chứ không phải cho dân thường. Với quan chức, nó cũng chỉ đòi hỏi họ chí công vô tư khi hành xử công việc, chứ không phải trong cuộc sống riêng tư. Bởi vì trong cuộc sống riêng tư, họ cũng muốn lên chức, có lương cao, bổng hậu, vợ đẹp con khôn, thành đạt.
Cụ Hồ biến ý nghĩa cụm từ này thành đạo đức cách mạng, đòi hỏi mọi người đều phải thực hiện. Thậm chí Cụ cho rằng, nhiều đảng viên không thâm nhuần tư tưởng chí công, vô tư cho nên mắc chủ nghĩa cá nhân; và phải chí công, vô tư thì mới có cần, kiệm, liêm, chính. Theo cách hiểu phổ biến thì các nội dung trên đòi hỏi con người phải triệt tiêu cái riêng, đưa cái chung, cái tập thể lên địa vị độc tôn. Trong thời chiến (mà nước ta thời chiến quá dài!), mọi người dân dễ chấp nhận tư tưởng ấy, nhất là khi đặt mình giữa cái sống, cái chết ở chiến trường. Tuy nhiên, theo ông Nguyễn Kiến Giang “trước sự hy sinh, con người thật ra phải có ý thức rất cao về cá nhân mình…Đó là phút thăng hoa của con người cá nhân”.
Tuy nhiên, nếu cho rằng chủ nghĩa tập thể giúp cho Việt Nam chiến thắng hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ thì không đúng. Chính chủ nghĩa yêu nước mới là động lực chiến thắng, còn chủ nghĩa tập thể chỉ hạn chế động lực ấy. Có thể đưa ông Kim Nhật Thành của Triều Tiên làm ví dụ. Ông Kim được cả triệu quân Trung Quốc chi viện, nhưng vẫn không thắng nổi Hàn.Quốc. Bởi ông ta không có Cách mạng Tháng 8, không có Hiến pháp 1946, không có Mặt trân dân tộc giải phóng ở miền Nam với lá cờ Hòa bình, Độc lập, Trung lập.
Nước Mỹ giàu mạnh, nhờ có dân chủ mà người dân có quyền ngăn chặn chiến tranh Việt Nam chỉ trong 5 năm, khi họ thấy chính phủ sai lầm. Việt Nam nghèo, lại bị cấm vận, nhưng đã kéo dài sự có mặt ở Campuchia đến 10 năm, chịu biết bao hậu quả không đáng có!
Chủ nghĩa tập thể vô hiệu hóa trách nhiệm cá nhân và tước mất lực lượng đại đoàn kết dân tộc ngay trong thời chiến.
Những ai từng tham gia kháng chiến chống Pháp đều biết giai thoại này: Các ông Năm Lửa, Ba Gà Mổ bảo nhau: “Bọn Việt Minh hội họp liên miên, cho nên còn rất ít thì giờ tìm đánh mình. Nếu họ bớt hội họp thì nguy cho mình đó!”.Từ những năm 50, do lo sợ bị loại vì chủ trương chấn chỉnh tổ chức, nhiều cán bộ chỉ huy cấp khu đã rời bỏ kháng chiến như Bảy Viễn, Trịnh Khánh Vàng…Trong thời chống Mỹ, rất nhiều nhân tài bị cách chức (như Kim Ngọc), hoặc giam cầm (Đặng Kim Giang, Vũ Đình Huỳnh, Nguyễn Kiến Giang…).
Hơn 60 năm qua, năm nào cũng có chỉ thị, nghị quyết giảm hội họp, nhưng không thể giảm được. Bởi vì, cả hệ thống chính trị đều theo nguyên tắc “tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách”, rất cần có một quyết định tập thể để khi công việc thất bại chăng có ai phải giơ đầu chịu báng! Vinashin nuốt tiền thuế của dân trung bình mỗi đầu người hơn một triệu đồng, nhưng đâu có ai bị kỷ luật. Bauxite Tây Nguyên, dự án lớn của Đảng, nhà nước đang băm nát đường vận chuyển ở hai tỉnh, gây tai nạn giao thông nghiêm trọng, và nếu mai kia xảy ra tai họa trút bùn độc lên đầu 20 triệu nhân dân thì cũng sẽ không có ai phải hầu tòa!
Sau giải phóng miền Bắc, chủ nghĩa tập thể bóp nghẹt mọi quyền tự do cá nhân.Tuy nhiên, chỉ có giới văn nghệ sĩ phản ứng bằng vụ Nhân văn-Giai phẩm. Bởi vì đặc thù của lao động nghệ thuật đòi hỏi phải có không gian tự do cá nhân tuyệt đối mới có thể sáng tạo.
Không chấp nhận cạnh tranh, chủ nghĩa xã hội tổ chức phong trào thi đua tập thể để thúc đẩy lao động sản xuất. Đó là hình thức làm tăng dối trá theo cấp số nhân.Ở miền Bắc ai cũng đã nghe chuyện Thủ tướng Phạm văn Đồng đến thăm trại lợn hợp tác xã. Ông hết sức ngạc nhiên khi thấy lợn cắn nhau quá dữ dội. Thì ra, chủ nhiệm trại lợn đã có “sáng kiến” mượn lợn nuôi cá thể của các gia đình, đem nhốt chung vào chuồng hợp tác xã, để báo cáo thủ tướng về tốc độ phát triển thần kỳ của chăn nuôi tập thể, chứng minh tính ưu việt không thể chối cãi của quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa. Một trong những nguyên nhân chủ yếu làm sa sút, lụn bại ngành giáo dục cũng là phong trào thi đua tập thể “hai tốt”. Dù ông Nguyễn Thiện Nhân gào lên “nói không” thì phong trào thi đua với mục đích tối cao là thành tích rất lặng lẽ cãi lại ”nói có”!
Không có tự do báo chí, tự do ngôn luận, chủ nghĩa xã hội kêu gọi phê bình, tự phê bìn để khắc phục khuyết điểm. Nhưng thực tế cho thấy chả có ai chịu “vạch áo cho người xem lưng”.Đã có giai thoại: “Xin nghiêm khắc phê bình anh Hai luôn làm việc quá sức. Xin chân thành góp ý với anh Hai rằng, sức khỏe của anh Hai không phải là của riêng anh mà là tài sản quý báu của tập thể, của Đảng”. Cho đến nay, những nơi bị phát hiện tham nhũng lớn đều là nơi đang có phong trào thi đua sôi nổi, có tinh thần phê bình, tự phê bình thẳng thắn, đã nhiều năm đạt danh hiệu “trong sạch, vững mạnh”, như Đại Lộ Đông Tây của Huỳnh Ngọc Sĩ chẳng hạn.
Chủ tịch Hồ Chí Minh có câu nói nổi tiếng “Muốn xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội phải có con người xã hội chủ nghĩa” (Câu này trái với Marx, theo Marx vật chất có trước ý thức). Con người xã hội chủ nghĩa là con người có đạo đức cách mạng, là con người của giai cấp vô sản, mọi tính người hình thành trong lịch sử bị coi là của giai cấp tư sản, phải xóa bỏ. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng việc đặt khuôn mẫu cho con người xã hội chủ nghĩa, giống như kiểu dùng chiếc giường Procuste đặt con người lên đó, ai dài hơn giường thì chặt bớt cho vừa, ai ngắn hơn thì kéo cho dài ra. Cho đến khi phe xã hội chủ nghĩa sụp đổ cũng vẫn chưa có con người xã hội chủ nghĩa! Trong nhật ký ngày 18-3-1958, nhà văn Nguyễn Huy Tưởng viết: “Bây giờ đã đến cảnh không ai dám nói thật với ai”. Năm mươi năm sau, nhà văn Nguyễn Khải, đảng viên 60 tuổi Đảng, giải thưởng Hồ Chí Minh, lặp lại lời Nguyễn Huy Tưởng như một tổng kết bản chất của chế độ trong bút ký chính trị cuối cùng: “Một xã hội mà công dân không được quyền sống thật, nói thật”. Như vậy có thể nói, tất cả những người ưu tú nhất của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam không có một ai thực hiện được đạo đức cách mạng. Nói dối, nghĩ một đằng, nói một nẻo chính là nguyên nhân đầu tiên, từ đó đẻ ra những tệ nạn khác làm sa đọa xã hội.
III. Đạo đức cách mạng xung khắc với Đổi mới!
Cuối thập kỷ 80, đất nước lâm vào khủng hoảng toàn diện, nổi bật là kinh tế và chính trị.
Ở thành phố Hồ Chí Minh, ông Võ văn Kiệt lắng nghe nhân dân, đã dám làm một việc tày đình là “xé rào”, thực hiện “hài hòa 3 lợi ích”: lợi ích nhà nước, lợi ích doanh nghiệp và lợi ích cá nhân người lao động. Lợi ích cá nhân người lao động là điều chỏi với chủ nghĩa tập thể! Năm 1982, khi bị ra khỏi Bộ chính trị, trở về làm bí thư Thành ủy thành phố Hồ Chí Minh, ông Nguyễn Văn Linh tiếp tục “xé rào” làm cho kinh tế, đời sống dễ chịu so với cả nước.
Năm 1983, trong đợt học tập Nghị quyết Trung ương (khóa 5), tôi được xếp vào tổ thảo luận của khối Dân vận Trung ương do Trưởng ban Vũ Quang làm tổ trưởng. Ông Vũ Quang hướng dẫn tổ phê phán “chủ nghĩa tự do kinh tế ở Sài Gòn” đang vi phạm nghiêm trọng các nguyên lý xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, năm 1986 Đại hội 6 đã chọn “xé rào” làm tiền đề của Đổi mới, lấy đổi mới kinh tế làm khâu đột phá. Đổi mới kinh tế tức là trả lại tự do, dân chủ cho nhân dân, nông dân được ra khỏi hợp tác xã để nhận khoán hộ, người có vốn được đứng ra kinh doanh sản xuất và mua bán. Đổi mới kinh tế xóa bỏ những nguyên lý kinh tế xã hội chủ nghĩa, tức là chọc thủng một mảng lớn chế độ toàn trị, nhưng được gọi tránh né là “chế độ quan liêu, bao cấp”.
Thật đáng tiếc, ông Nguyễn Văn Linh không ý thức được rằng “ba lợi ích” mà ông là đồng tác giả với Võ Văn Kiệt đã làm bật dậy sức sáng tạo của toàn dân, chính vì nó rời bỏ chủ nghĩa tập thể lỗi thời, trả lại tự do cá nhân cho người lao động. Ông khư khư định hướng xã hội chủ nghĩa, không chấp nhận đổi mới chính trị tương ứng với kinh tế. Ông vừa mới nghe Trần Độ để cho ra Nghị quyết 05 “cởi trói cho văn nghệ sĩ, ngay sau đó đã giật mình, vội quy tội Trần Độ chệch hướng xã hội chủ nghĩa! Ông diệt sinh mệnh chính trị Trần Xuân Bách, chọn Đỗ Mười, người có “thành tích” trong một tuần đánh tan giai cấp tư sản dân tộc, làm người kế nhiệm. Ông chủ động cúi mình cầu thân với Bắc Kinh, vì cho rằng “dù có tư tưởng bành trướng, nhưng cùng là xã hội chủ nghĩa với nhau”. Đổi mới vì thế bị dẫm chân tại chỗ, đất nước bỏ lỡ nhiều cơ hội: không sớm bình thường quan hệ với Mỹ, chậm vào WTO, không dân chủ hóa xã hội, làm cho hệ thống chính trị thoái hóa, cản trở phát triển kinh tế, hiện nay có nguy cơ không thể thực hiện được mục tiêu ”đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại” (Nghị quyết Đại hội 11), không tạo được điều kiện hòa giải, hòa hợp, phát huy sức mạnh dân tộc. Không đổi mới chính trị tương thích với kinh tế đã đưa tới khủng hoảng toàn diện mà nổi bật là hai tình trạng sau đây:
1- Một là, quyền lực nhà nước không bị kiểm soát, hạn chế, không có nền tư pháp độc lập; không có báo chí tự do, đã khiến cho đảng viên, cán bộ lợi dụng chức quyền làm giàu bất chính, nổi bật là tình trạng chiếm đoạt nhà cửa, đất đai, ghê gớm hơn là hình thành những “nhóm lợi ích” lũng đoạn chính sách nhà nước. Nhìn từng làng xã, nhìn rộng ra cả nước, ai cũng thấy những kẻ tự xưng là đày tớ của nhân dân, mở miệng là rao giảng đạo đức cách mạng, chí công vô tư, chính là những “tư sản đỏ”, sống trên luật pháp, tham nhũng từ to đến nhỏ, ăn cả tiền từ thiện cứu trợ đồng bào các vùng bị lũ lụt. Những người cơ cực, những dân đen thấp cổ bé họng, uất ức tìm mọi cách giành quyền sống trong một xã hội bất minh, bằng mọi cách ”loạn cương” như lừa lọc, cướp giật, giết người. Thế là hình ảnh một xã hội trung cổ được tái hiện: “cướp đêm là giặc, cướp ngày là quan”.
Có thể xếp song song hai dòng người sa đọa, nhưng đối chọi nhau trong bức tranh xã hội Việt Nam: Một bên là Đinh Văn Hùng Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Ninh Bình buôn bình cổ, trống đồng trị giá hàng triệu USD, đã “hạ cánh an toàn, đang sống trong cơ ngơi như đế vương; Nguyễn Trường Tô, phó Bí thư Tỉnh Ủy, Chủ tịch tỉnh Hà Giang mua trinh học sinh vị thành niên, bị gái điếm chụp ảnh khỏa thân… đã “hạ cánh an toàn,” đang sống trong biệt thự sang trọng. Và tiếp theo chúng là hằng ngàn, hằng vạn “đồng chí chưa bị lộ”! Bọn này ngày càng đông nối nhau theo đà sa đọa của hệ thống chính trị. Chính chúng nó là nguyên nhân làm nãy sinh những kẻ thủ ác trong danh sách thứ hai, gồm những Lê Văn Luyện đang mọc lên như nấm!
2- Hai là, tự do kinh tế giải phóng sức lao động sáng tạo của cá nhân, đồng thời đánh thức cho họ biết rằng mình còn có những quyền của con người vẫn còn bị tước đoạt: Đó là quyền làm chủ nhà nước, quyền được mở mồm ra nói, quyền được hội họp và lập hội để bảo vệ quyền lợi nghề nghiệp…Những ông Vua Lốp mới (nhân dân Hà Nội gọi ông Nguyễn Văn Chẩn là “vua lốp”, người tự chế ra dép lốp, tái sinh lốp xe cũ như mới, bị chính quyền Hà Nội xử tù 3 lần và tịch biên tài sản) của tự do chính trị liên tục xuất hiện từ Trần Xuân Bách đến Nguyễn văn An, rồi Cù Huy Hà Vũ…
Chân lý đang chia đôi thành hai trận tuyến hết sức gay gắt : Yêu nước và Phản động!
Báo chí lề trái cùng với đông đảo nhân dân gọi Cù Huy Hà Vũ là nhà yêu nước vĩ đại. Giáo sư Ngô Bảo Châu viết blog so sánh Hà Vũ với các vị anh hùng Hector, Tumus, Kinh Kha, “Những nhân vật huyền thoại này đã làm mọi thứ để được đối mặt với số phận, để hoàn thành sứ mệnh của mình trong cuộc đời này”. Hậu thuẫn Hà Vũ là hằng ngàn người ký tên kiến nghị đòi trả tự do cho ông, gồm nhiều đảng viên, lão thành cách mạng, nhân sĩ, trí thức và nhân dân trong, ngoài nước, kể cả những người đã tham gia hằng chục cuộc biểu tình khắp cả nước từ tháng 6 đến nay. Tiếp sau đó, là hàng triệu nông dân mất đất, bị “giải phóng mặt bằng” bởi các “nhà đầu tư” cấu kết với đảng viên, cán bộ địa phương ép họ chịu đền bù đất đai với giá rẻ mạt, khiến họ hết đường sinh sống. Bên cạnh đó là hàng triệu công nhân tham gia hơn 4000 cuộc đình công bị coi là trái pháp luật, vì không có quyền chọn cho mình một tổ chức công đoàn dám bảo vệ quyền lợi đoàn viên.
Ngược lại, phía nhà cầm quyền, báo chí lề phải gọi những người kể trên là bọn phản động, nghe theo xúi giục của các thế lực thù địch chống Đảng, chống nhà nước và có âm mưu chia rẽ tình hữu nghị Việt-Trung. Nông dân bị Luật đất đai tước quyền sở hữu cá nhân (vì đất đai thuộc sở hữu toàn dân), bị chặn lại với lệnh cấm khiếu kiện tập thể. Công nhân bị cấm không được phép cử Ban đại diện công nhân ở những nơi chưa có công đoàn do Đảng lập ra.
Qua hai bức tranh xã hội miêu tả khái quát, có thể nói: Tội ác tràn lan hiện nay không phải do “thiếu vách chắn trước cơn bốc đồng”, không phải “con dại, cái mang”, càng không phải “yếu tố cũ, lạc hậu chưa mất hẳn”, nó là sản phẩm mới đang sinh sôi hằng ngày do khủng hoảng văn hóa, đạo đức, nằm trong cuộc khủng hoảng toàn diện của xã hội Việt Nam, nguyên nhân chính là hệ thống chính trị không phù hợp với nền kinh tế thị trường của chủ nghĩa tư bản hoang dã. Bài thuốc chữa duy nhất cho nó là dân chủ hóa xã hội, xây dựng nhà nước pháp quyền với tam quyền phân lập.

Ngày 9- 9- 2011
TVC

Nguồn viet-studies

Hoàng Lại Giang Đừng tiếc nuối những gì mà loài người đã loại bỏ đi!


(Những người cộng sản Việt Nam nên đọc lại thật kỹ học thuyết Mac và Anghen)

Năm 1924, Nguyễn Ái Quốc viết: “Chủ nghĩa dân tộc là động lực lớn nhất của đất nước …. Người ta sẽ không làm gì được cho người An Nam nếu không dựa trên các động lực vĩ đại và duy nhất của đời sống xã hội của họ.” Và trên tinh thần dân tộc ấy, năm 1945 ,sau khi giành lại chính quyền từ tay thực dân Pháp, ông đã đặt tên nước là Việt Nam – Dân chủ – Cộng hòa và sau đó vào năm 1951 ông thuyết phục những người cộng sản đổi tên Đảng là Lao Động. Tên nước và tên đảng cho đến giờ vẫn được nhân dân trân trọng và bảo vệ . Đấy chính là lòng dân. Thời nào cũng vậy, lòng dân là cái không mua được, dù bất cứ giá nào. Lịch sử đã chứng minh qua nghìn năm đô hộ giặc Tàu và trăm năm đô hộ giặc Tây. Lịch sử cũng đã chứng minh khi lòng dân không yên thì mọi thứ bạo lực chỉ là hành động cứu cấp cho một thứ quyền lực phi nhân tính, vết nhơ không bao giờ rửa sạch. Lịch sử vẫn còn đó một Tần Thủy Hoàng, một Nê rô, nhà thơ bạo chúa, ở thời hiện đại là Hitle, là Stalin, là Mao trạch Đông là Ponpot!

Những người Macxit là những người biết nắm qui luật, vận dụng qui luật, vận hành theo qui luật chứ không bao giờ bắt qui luật phải phục tùng ý chủ quan của con người. Và vì vậy, trước sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và các nước Đông Âu chắc chắn những người macxit chân chính sẽ vận dụng qui luật để cắt nghĩa chứ không vì hụt hẫng khi cái ý thức hệ ban sơ, cái lý tưởng chất đầy tính ảo tưởng một thời ấu trĩ không còn nữa mà qui kết cho bất kỳ cá nhân nào là phản bội chủ nghĩa Mác – Lê. Một Khơrútxốp, một Goocbachốp … không thể làm được việc đó! Sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội là do những người cộng sản tuy có khát vọng thay đổi xã hội, nhưng không chịu đọc Mác và Anghen, hoặc đọc lõm bõm, hiểu lõm bõm, hoặc chọn những điểm thích hợp từ những quan điểm cứng rắn của Stalin và Mao Trạch Đông, rồi dùng bạo lực buộc quy luật theo ý chủ quan để tự nó đi ngược lại sự tiến hóa của nhân loại, và coi đấy là kinh điển, là bất di bất dịch. Ngay cả Mác cũng chưa bao giờ khẳng định học thuyết của mình là hoàn toàn tương thích với mọi thời đại. Mác từng nói: “Chúng tôi không có ý định đoán định tương lai một cách giáo điều mà mong muốn dùng phương cách phê phán thế giới cũ, để tìm được thế giới mới. Việc kiến tạo và tuyên bố một lần và mãi mãi những giải đáp cho các vấn đề của mai sau không phải là việc của chúng tôi”. Ngay khi viết học thuyết về chủ nghĩa tư bản, qui luật giá trị thặng dư, qui luật phản ứng của giai cấp công nhân bị bóc lột…ở đầu thế kỷ 19 Mác và cả Anghen đều cho công trình của mình chỉ như một thứ dự báo. Nó chỉ phù hợp với thời điểm ấy, chứ không thể phù hợp với tất cả mọi thời điểm trước và sau nó.
Nhưng rất tiếc, một số nhà lãnh đạo Cộng sản thuộc địa, như Việt Nam, lại coi học thuyết Mác là bất di bất dịch, là kinh điển … ở mọi thời đại! Chính căn bệnh giáo điều xơ cứng của không ít nhà lãnh đạo Việt Nam ở thời hiện đại ấy đã dẫn dân tộc và đất nước vào thế giới của chủ nghĩa xã hội bạo lực và giả tưởng … Và vì vậy sự hụt hẫng khi chủ nghĩa xã hội Liên Xô và Đông Âu sụp đổ là có thật. Nhưng những người Cộng sản chân chính khi dũng cảm nhìn vào sự thật như đại hội VI Việt Nam năm 1986, thì chắc chắn tìm ra lối thoát cho dân tộc, còn nếu khăng khăng níu kéo cái chủ nghĩa đã sụp đổ, hy vọng vá víu lại …thì chắc chắn sẽ bị quy luật đào thải. Tôi nghĩ không ai đọc kỹ học thuyết Mác – Anghen bằng người Đức, bằng các triết gia Đức, trí thức Đức. Không ai đọc Lênin, hiểu mọi hành động của Lênin và Stalin bằng nhân dân Nga, trí thức Nga. Câu hỏi đặt ra là tại sao chủ nghĩa xã hội sụp đổ, nhân dân Nga, nhân dân các nước Đông Âu trong đó có nhân dân Đông Đức, không một hối tiếc, nếu không nói ngược lại là sự vui mừng như được làm người trở lại.
Ai cũng biết, chính thể mới của các nước CNXH bị sụp đổ không loại đảng Cộng sản ra ngoài vòng pháp luật, vậy mà bao nhiêu lần bầu cử, không đảng Cộng sản nào giành được đa số phiếu để trở lại nắm chính quyền. Tôi nghĩ những nhà lãnh đạo Việt Nam nên nghiêm túc suy nghĩ kỹ càng điều này, để có quyết sách đưa đất nước bước vào hội nhập với cái thế và lực của chính mình hơn là câu nệ và nô lệ về ý thức hệ. Nô lệ về ý thức hệ mà đặt ý thức hệ trên quyền lợi dân tộc, thậm chí để mất cả đất và nước, biển và đảo, thì đấy là tội đồ, là bán nước! Vào thời ấy ( 1990), một số nhà lãnh đạo Việt Nam hoảng hốt lo sợ mất CNXH, đã quay ngoắt 180 độ với cuộc cách mạng đổi mới của chính mình hôm qua (1986), cúi đầu , tôn vinh kẻ thù truyền kiếp là Trung Quốc, đàn áp ngay cả với đồng chí mình còn trung thành với cuộc cách mạng đổi mới tư duy. Thậm chí có người còn bao che cho tội ác dã man của lãnh đạo Trung Quốc ngang nhiên «dạy cho Việt Nam một bài học « trong cuộc chiến tranh biên giới năm 1979, nói rằng : «Song dù có bành trướng thế nào đi chăng nữa thì Trung Quốc vẫn là nước XHCN » . Nhà lãnh đạo này rõ ràng đã đặt quyền lợi dân tộc, lãnh thổ thiêng liêng của dân tộc xuống dưới ý thức hệ, và hậu quả là im lặng trước Hoàng Sa bị chúng đánh chiếm năm 1974 và năm 1988 chúng đánh chiếm 7 hòn đảo ở Trường Sa. Và bây giờ chúng ngang nghiên đưa tàu hải giám quấy phá ngay trên vùng biển thuộc quyền chủ quyền của ta, cắt cáp của tàu thăm dò dầu khí của ta từ tháng 5 năm 2011. Nhân dân bức xúc ,bày tỏ thái độ trước sự bành trướng của Trung quốc thì chính quyền tìm mọi cách ngăn chặn , thậm chí dùng cả bạo lực đối với người biểu tình. Bây giờ hãy còn quá sớm để quy đấy là tội bán nước, nhưng chắc chắn lịch sử rồi sẽ phán xét công minh, rạch ròi … Với người Việt Nam tội bán nước là tội không thể dung tha, bởi ở bên cạnh một đất nước to, gian manh và xảo quyệt luôn mưu dồ bành trướng, thì cái sự chống đỡ để giữ cho được từng tấc đất phải tính bằng xương máu của hết thế hệ này qua thế hệ khác. Người yêu nước không bao giờ đặt nhầm chỗ giữa ý thức hệ và độc lập toàn vẹn non sông !!! Ý thức hệ là tạm thời, là giai đoạn, còn chủ quyền toàn vẹn non sông là vĩnh cửu .
Hôm qua anh giúp tôi giải phóng dân tộc, anh là đồng chí chung chiến hào, nhân dân chúng tôi biết ơn anh, hôm nay anh cướp nước tôi, anh là kẻ thù của nhân dân tôi, chứ không thể là đồng chí được! Mọi sự cố tình nhầm lẫn đồng chí với kẻ thù là lừa bịp nhân dân, là mắc mưu kẻ thù của nhân dân! Lúc này không thể không xem xét lại ý niệm khái quát về ngữ nghĩa của hai từ đồng chí mà những người cộng sản đang dùng. Kẻ mưu đồ cướp nước ta, không thể là bạn của ta, càng không thể là đồng chí của ta.
Trở lại học thuyết Mac.Trước sau, loài người vẫn đánh giá cao học thuyết Mác, bởi tính kế thừa và phép biện chứng của nó. Nó chỉ cho nhân loại thấy con đường tất yếu mà bất kỳ chế độ nào cũng phải vượt qua. Càng về cuối đời Mác và Anghen đều điều chỉnh rất nhiều luận điểm trong học thuyết của mình cho phù hợp với qui luật, với xu thế tất yếu của lịch sử. Mặc dù vậy hai ông cũng chỉ dám mong mọi người coi công trình của hai ông như một đoán ước tương lai chứ đừng coi là một giá trị tuyệt đối. Sai lầm của nhiều người theo học thuyết Mác, trước hết là không đọc hết Mác trong từng giai đoạn của hai ông. Ngược lại, lại chọn Mác ở thời điểm hai ông ra Tuyên ngôn đảng Cộng sản, ra Tư bản luận (tập I ), … một học thuyết lấy đấu tranh giai cấp làm cốt lõi, lấy bạo lực cách mạng đập tan xiềng xích bóc lột và thâu tóm quyền lợi về tay mình. Đến Lenin và đặc biệt là Stalin thì dùng chuyên chính vô sản để triệt tiêu những người khác chính kiến với mình, đưa công nông lên hàng lãnh đạo. Đấy là thời kỳ trí thức bị chà đạp, bị vô hiệu hóa, bị tiêu diệt nhiều nhất trong lịch sử nhân loại, không khác bao nhiêu so với thời Tần Thủy Hoàng. Đấy cũng là thời kỳ chủ nghĩa cộng sản coi chủ nghĩa tư bản là kẻ thù không đội trời chung. Thế giới phân cực thành hai phe, phe này quyết diệt phe kia và phe kia buộc phải chống lại, hình thành cuộc chiến tranh lạnh từ đây. Và từ đây, Việt Nam trở thành “tiền đồn” của phe xã hội chủ nghĩa. Từ đấy cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của Việt Nam nằm trong “ba dòng thác cách mạng”, nằm trong cái thế “đứng mũi chịu sào” của “tiền đồn” phe xã hội chủ nghĩa chống chủ nghĩa đế quốc, để cho Liên Xô và Trung quốc rảnh rang …lo xây dựng đất nước mình, mà ta thì phải mang ơn ,mang nợ họ.
Hồi ấy, một Bí thư TW Đảng diễn thuyết ở nhà hát lớn Hà Nội về tiền đồn, về ba dòng thác cách mạng … tôi kiêu hãnh, tự hào … và “phổng mũi”. Nhưng năm tháng qua đi, nhìn lại dân mình, nước mình… sao thương quá! Bao xương máu đổ xuống! Bao người mẹ mất con, người vợ mất chồng. Có không ít người hôm nay vẫn chưa tìm được xác chồng con. Cuộc chia ly trong hận thù vẫn chưa hàn gắn nổi. Cuộc chia ly này nối cuộc chia ly kia. Bao triệu người bỏ nước ra đi bằng mọi giá – kể cả giá sinh mạng. Câu hỏi đặt ra, chưa thấy câu trả lời thỏa đáng: Vì sao đất nước hoàn toàn giải phóng, thống nhất, vậy mà dân vẫn đói, rách … và bỏ nước ra đi? Chỉ cần nhìn ra các nước láng giềng như Thái Lan, Singapore…cũng thấy nhục, thấy đau quá rồi !
Một nhà lãnh đạo trong “tứ trụ triều đình” ở thập kỷ 80-90 tâm sự với tôi rằng: Chúng tôi phải chịu trách nhiệm về sự ra đi của bà con ở thời hậu chiến này. Họ không thấy lối ra – đặc biệt là lối ra cho con cháu họ – chứ không phải họ không yêu nước.
Đúng, đấy là thời kỳ đóng cửa cài then, thời kỳ hòa bình đen tối nhất trong lịch sử xây dựng. Con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội mà Mác và ngay cả Lênin sau này đã bị lớp lãnh đạo theo Stalin và Mao bẻ cong bằng một thứ bạo lực mà đỉnh cao là Pônpốt, là Khơme Đỏ – một đồ đệ của chủ nghĩa Mao. Một thảm họa của loài người mà người hứng chịu là nhân dân Campuchia, nhân dân Việt Nam.
Biến một ảo tưởng «Thế giới đại đồng» thành hiện thực, những nhà lãnh đạo Cộng sản không dùng quyền lực mềm là sự thuyết phục, sự vận động mang tính đoàn kết truyền thống mà người ta dùng quyền lực cứng, đấy là “bạo lực cách mạng” của học thuyết Mác theo họ hiểu. Một thứ duy ý chí, bất chấp khoa học, qui luật, bất chấp truyền thống, đạo nghĩa.
… Tự do tư tưởng là một điều bình thường ở các nước phương Tây thì ở Việt Nam cho đến hôm nay tự do tư tưởng là kẻ thù của chủ nghĩa xã hội, mặc dù chủ nghĩa xã hội đã sụp đổ ngay trên quê hương của Mác và Lênin cùng một số nước trong hệ thống xã hội chủ nghĩa khác, trừ một vài nước ở phương Đông như Trung Quốc, Triều Tiên, Việt Nam và Cu Ba ở châu Mỹ.
Khỏi nói Triều Tiên và Cu Ba vì ai cũng biết đấy là một loại xã hội đội lốt Mác – Lê, nhưng thực chất là xã hội phong kiến, cha truyền ngôi cho con, anh nhường ngôi cho em…Tôi nghĩ mình vẫn còn may mắn vì không phải là công dân của Triều Tiên và Cuba.
Còn Trung Quốc và Việt Nam. Về hình thức, đây là hai nước láng giềng có chung một thể chế chính trị là chủ nghĩa Mác – Lê – Mao. Nhưng tiềm ẩn bên trong mối quan hệ “16 chữ vàng” này là mâu thuẫn ngày càng gay gắt, không thể hóa giải ngay được. Càng có độ lùi thời gian, người dân Việt Nam càng thấy rõ âm mưu thâm hiểm của dân tộc đại Hán. Người dân bình thường cũng biết Trung Quốc đã từ bỏ chủ nghĩa Mác, nhưng vẫn giương ngọn cờ CNXH để bịp dân họ và bịp một số nhà lãnh đạo của Việt Nam hám quyền, hám chức, hám lợi.
Đi ngược dòng thời gian, từ năm 1945, lợi dụng thế “kẹt” của Việt Nam trước họa xâm lăng trở lại của Tàu Tưởng và thực dân Pháp, dưới danh nghĩa đồng minh, những nhà lãnh đạo đảng Cộng sản Trung Quốc đã giúp Việt Nam hết lòng. Bởi vì, cùng với Bắc Triều Tiên ở Đông Bắc Á, Việt Nam là khu đệm của họ ở Đông Nam châu Á. Đây là thời kỳ, người Tàu nhận ra trước tiên “môi hở răng lạnh”. Nhưng đây cũng là thời kỳ họ lợi dụng lòng tin của ta nhiều hơn bất kỳ giai đoạn nào khác. Cùng với Stalin, Mao buộc chủ tịch Hồ Chí Minh phải làm cải cách ruộng đất theo mô hình Hoa Nam. Chu Ân Lai buộc Phạm Văn Đồng phải ký hiệp định Giơnevơ theo dự kiến ban đầu của Chu – có thể được Mao phê chuẩn. Năm 1956 họ chính thức ép ta nhượng Đông Hoàng Sa cho họ. Năm 1957 họ thuyết phục ta xây dựng ga Đồng Đăng cách Ải Nam Quan gần 500m. Lúc đầu họ nói hết đường ray. Sau họ nói để 500m từ ga Đồng Đăng đến Ải Nam Quan làm khu đệm, tập kết vũ khí từ Nga, Trung Quốc và các nước XHCN anh em để Việt Nam tiếp tục cuộc chiến đấu giành độc lập hoàn toàn. Nhưng cũng chính họ, năm 1956 khuyên ta không nên đánh lớn, đánh qui mô ở miền Nam, không nên mở rộng chiến tranh …. Năm 1958, nhân sự kiện chiến hạm Mỹ xuất hiện ở eo biển Đài Loan, họ thương lượng với ta công nhận “… hải phận 12 hải lý” của họ. Trên tinh thần đồng chí, anh em, ta giúp họ giảm bớt áp lực từ phía Mỹ với một bức thư của Phạm Văn Đồng gởi Chu Ân Lai (Tổng lý) ký ngày 14 tháng 9 năm 1958. Đáng lẽ biết ơn ta thì hôm nay con cháu họ lại đem bức thư ấy ra làm cớ chiếm biển đảo của ta.
Năm 1958, họ chiếm Tây Hoàng Sa của ta, bị quân đội Việt Nam cộng hòa đánh và bắt giữ tàu ở Đà Nẵng.
Năm 1974, sau hiệp định Paris, Mỹ cam kết rút quân và không can thiệp vào Việt Nam, họ liền đánh chiếm Hoàng Sa của ta. Ta bại trận. Trên năm mươi chiến binh thuộc chính quyền Sài Gòn đã ngã xuống. Những người cách mạng im lặng! Đây là một thái độ phi văn hóa, phi truyền thống. Lịch sử không thể chấp nhận được! Những người Việt Nam đã ngã xuống vì tổ quốc Việt Nam, dù là người của bên nào cũng đáng được lịch sử vinh danh. Coi ý thức hệ cao hơn quyền lợi dân tộc là một sai lầm nguy hiểm, nếu không nói là tội lỗi! (Điều này được lặp lại ở những năm 90 của thế kỷ 20, như trên tôi đã nói).
Năm 1976 , họ xúi Khơme Đỏ đánh phá biên giới Tây Nam của ta.
Năm 1979, họ đánh biên giới phía Bắc nước ta. Đây là cuộc chiến phi nghĩa đáng xấu hổ nhất thế kỷ 20 của họ, nhưng không hiểu sao báo chí ta lại ‘’định hướng‘’…
im lặng …cho đến hôm nay? Nhưng lịch sử thì không bao giờ ngừng trôi, nó sẽ chảy theo đúng dòng chảy của nó: Đó là Sự thật lịch sử.

Năm 1988, họ đánh chiếm một số đảo Trường Sa của ta, sáu mươi bốn chiến sĩ của ta đã ngã xuống ở biển Đông.
Lịch sử Việt – Trung ngoài sự giúp đỡ chí tình cho cuộc chiến giải phóng dân tộc của chúng ta do những nguyên nhân sâu xa từ quyền lợi dân tộc của họ như tôi đã trình bày ở trên, còn có một sự thật lịch sử khác nữa vẫn còn lưu khá đậm trên giấy trắng mực đen và đặc biệt trong nhân dân Việt Nam – hết thế hệ này qua thế hệ khác: Đó là tư tưởng đại Hán có lịch sử từ nghìn năm qua, đừng ai vội nghĩ dễ xóa nhòa, hoặc dùng ý chí chủ quan bắt mỗi người dân Việt Nam phải quên đi, để chỉ nghĩ tới “16 chữ vàng” hôm nay.
Lịch sử quan hệ Việt – Trung cho chúng ta những bài học thật sâu sắc:
– Không có sự giúp đỡ nào trong sáng, vô tư cả!
– Không thể có bốn phương vô sản đều là anh em!

Bây giờ thì tôi thấy chính trị gia người Anh Lord Palmaroton là đúng, khi ông nói: “Chúng ta không có thù vĩnh viễn cũng như bạn muôn đời. Chỉ có quyền lợi dân tộc là vĩnh viễn và muôn đời mà thôi”.

Tôi nghĩ cũng có không ít nhà lãnh đạo Việt Nam tâm huyết với vận mệnh đất nước, nhưng không có điều kiện đọc hết Mác – Anghen – Lênin.Vì vậy tốt nhất là mời những nhà trí thức thông hiểu nhiều ngoại ngữ đọc lại Mác – Lênin từ bản tiếng Đức và tiếng Nga. Mác là một nhà duy vật biện chứng. Chúng ta nên tìm hiểu cho kỹ bước đường phát triển tư tưởng của Mác từ khi Mác gia nhập Liên minh những người Cộng sản ở Bruxen – 1847 – viết “Tuyên ngôn Đảng Cộng sản” – 1848, cho đến khi qua đời năm 1883, nhà triết học này đã bao nhiêu lần phải đính chính mình, bao nhiêu lần phải điều chỉnh học thuyết của mình và bày tỏ những thái độ, những ứng xử khác nhau, thậm chí đối lập nhau … Từ chủ nghĩa xã hội bạo lực, Mác – Anghen chuyển qua chủ nghĩa xã hội dân chủ xuất phát từ nguyên nhân nào? Và bao giờ? Xã hội giữa hai thời kỳ ấy có những gì đặc biệt tác động đến tư tưởng hai ông? Vì sao ngày 17 tháng 11 năm 1852 Mác – Anghen giải tán “Đồng minh những người Cộng sản”, ủng hộ phong trào xã hội chủ nghĩa dân chủ – ôn hòa – của Lassall – một học trò của mình. Phải tìm câu trả lời về chuyển biến lớn lao này của Mác – Anghen trên con đường chính trị của mình từ thực tiễn xã hội châu Âu. Có phải giai đoạn đầu của phong trào công nhân độc lập Đức kết thúc từ năm 1852 sau cái án của Koren – một người Cộng sản Đức? Từ năm 1852 đến năm Lassall giương ngọn cờ chủ nghĩa xã hội dân chủ – ôn hòa, năm 1862, là mười năm. Và có phải chính Mác – Anghen đã thành lập Đảng dân chủ xã hội Đức – chính Đảng xã hội chủ nghĩa vào tháng tám năm 1869? Đây có phải là giai đoạn thứ hai của phong trào công nhân Đức – Giai đoạn xã hội chủ nghĩa dân chủ – ôn hòa?
Tôi nghĩ quá trình chuyển biến tư tưởng Mác và Anghen đều có trong toàn tập của hai ông. Và Lênin cũng vậy. Ông là một nhà Macxít biện chứng. Từ thực tiễn ông uốn nắn ngay lý luận của mình. ông nói: “Chúng ta buộc phải thừa nhận là toàn bộ quan điểm của chúng ta về chủ nghĩa xã hội đã thay đổi về căn bản” (Lênin toàn tập. NXB Tiến Bộ tập 45 trang 428). Cũng như chính sách kinh tế mới – NEP – có trong toàn tập Lênin. Nhưng không hiểu vì sao không ai dám nói. Ngay một nhà lãnh đạo như Phạm Văn Đồng cũng phải chờ đến năm 2000 mới dám viết trên báo nhân dân. Vì sao? Một cách vận dụng Mác – Lênin như vậy đã nuôi dưỡng chủ nghĩa giáo điều cho nhiều nhà lãnh đạo Việt Nam. Và hôm nay, chủ nghĩa xã hội đã sụp đổ mang tính toàn cầu, người Việt Nam vẫn phải giữ nguyên cái “Chủ nghĩa xã hội bạo lực” mà Mác và Anghen đã phủ định từ năm 1868.
Đừng bao giờ nghĩ rằng nhân dân Việt Nam, trí thức Việt Nam im lặng trước một thể chế chính trị đã bị chính Mác và Anghen phủ định, bị cả nhân loại loại trừ sau bảy mươi năm thử nghiệm trên đất Nga, trên đất Đức và Đông Âu là đồng thuận với nhà nước. Tôi nghĩ đấy là một sự im lặng đáng sợ chứ không nên coi thường! Ai hiểu được nhân dân mình, người ấy chính là lãnh tụ của họ. Ai coi thường nhân dân, ai coi quyền lực là sức mạnh vô song, kẻ ấy sẽ không có gì ngoài những nguyền rủa của hôm nay và mai sau. Một Nero bạo chúa, một Tần Thủy Hoàng, một Stalin, một Mao Trạch Đông, một Ponpot …vẫn còn đó bản chất tàn bạo của nó. Lịch sử là vậy, không quên công ơn và nhớ rất rõ tội ác.
…Tổng thống Medvedev không thể im lặng được trước một số người còn sùng bái Stalin vì sự hiểu biết hạn hẹp do bưng bít thông tin, buộc lòng ông phải cho giải mã những điều được coi là tối mật của chủ nghĩa cộng sản. Ông nói: “Nếu hôm nay nhắm mắt trước tội ác này (Stalin ra lệnh giết hai mươi hai ngàn sĩ quan [binh sĩ ?] Ba Lan năm 1940) thì trong tương lai những tội ác như vậy có thể lặp lại, muốn hay không, ở dạng này hay dạng khác, ở các nước khác nhau. Vì vậy mặc dù điều này diễn ra tuy gay gắt, những tội ác như vậy là không bao giờ hết thời hiệu. Những kẻ gây ra chúng sẽ phải chịu trách nhiệm bất kể đã mất cách đây bao nhiêu năm”.
Đúng, những kẽ gây ra tội ác với nhân dân phải chiụ trách nhiệm bất kể đã mất cách đây bao nhiêu lâu !
Đúng, người có văn hoá bao giờ cũng là người biết sợ sự thật lịch sử. Bởi đơn giản sự thật lịch sử hiện diện cùng thời gian hôm nay và cả mai sau: VINH QUANG và TỘI ÁC !
HLG
30-5-2011

Nguồn Anhbasam

Nguyễn Hoài Vân (Theo Etienne de la Boétie) Tình nguyện nô lệ hay chọn lựa Tự Do

« Les tyrans ne sont grands que parce que nous sommes à genoux. »
(Etienne de la Boétie)(*)
Có một điều kỳ lạ, là rất nhiều người không hề biết coi trọng tự do. Họ không có khát vọng tự do trong tâm hồn, không ý thức được rằng tự do chính là một kho tàng quý báu, không quan niệm được là khi thiếu vắng tự do thì mọi sự xấu xa đều ồ ạt đổ xô đến và tất cả những gì có thể coi là tốt đẹp cho đời sống đều trở thành hư thối, đều bị đầu độc bởi trạng thái nô lệ. Vì sao những người ấy không coi trọng tự do ? Có lẽ vì ngay khi muốn tự do, thì họ liền được tự do. Như thể họ không coi trọng tự do chỉ vì tự do có thể có được một cách quá dễ dàng.
Hỡi những con người mù quáng, tự bịt mắt và đóng kín tâm hồn mình trước sự thật ! Các bạn để cho người ta tước đoạt đời sống của mình, cướp bóc công sức lao động của mình, tài sản cha ông mình để lại. Các bạn sống mà không thể nào nói được rằng mình sở hữu bất cứ gì ! Hạnh phúc của bạn chỉ là hãnh diện được làm người quản lý tất cả những gì bạn nghĩ mình có, kể cả gia đình và đời sống của bạn.
Điều trớ trêu là sự bất hạnh ấy không đến từ những người mà bạn coi là kẻ thù, mà từ những nhân vật được bạn tôn xưng làm lãnh tụ, những người ngồi được trên ngôi vị cao cả của họ nhờ vào công sức của chính bạn. Thậm chí bạn sẵn sàng hy sinh tính mạng để chiến đấu cho họ, sẵn sàng xô đẩy con em của bạn vào chỗ chết để bảo vệ cho quyền hành của họ.
Hãy nhìn xem : những người ấy, những kẻ có tất cả uy quyền trên bạn, cũng chỉ là những con người như bạn. Họ cũng chỉ có hai con mắt, hai bàn tay, đôi chân và một tấm thân như bạn. Tất cả những gì họ có thêm vào đó, và sử dụng chúng để nô lệ hóa bạn, đều do chính bạn dâng tặng cho họ. Thật vậy, những kẻ cai trị bạn lấy đâu ra muôn ngàn cặp mắt để theo dõi rình rập bạn, nếu không được bạn hiến dâng cho họ ? Họ lấy đâu ra muôn ngàn cánh tay để kềm chế, đánh đập bạn nếu không lấy những phương tiện ấy từ chính hàng ngũ của bạn ? Bàn chân họ dùng để đạp lên bạn, dẫm nát nhà cửa và gia đình bạn, đến từ đâu, nếu không phải do chính những người như bạn cống hiến ?
Bạo chúa lấy đâu ra sức mạnh và quyền hành nếu không phải từ chính bạn ? Kẻ cầm quyền làm sao nhiễu hại được bạn, nếu bạn không dung dưỡng hành vi cướp bóc của họ, nếu bạn không đồng lõa với việc làm sát nhân của họ, phản bội lại chính bạn và những người đồng cảnh ngộ ? Bạn gieo trồng để họ thu gặt lợi nhuận. Bạn xây dựng cửa nhà để họ chiếm đoạt. Bạn sanh thành những bé gái cho họ thỏa mãn dục tính, bạn dưỡng dục nuôi dạy những thanh thiếu niên để họ sử dụng trong các cuộc chinh chiến, hay như những công cụ sắt máu cho sự thống trị tàn bạo của họ. Bạn sát hại và bóc lột những người như bạn, để kẻ cầm quyền yên thân lặn ngụp trong xa hoa, lạc thú. Bạn tự làm cho mình yếu kém đi để tăng cường sức mạnh của kẻ thống trị, để họ xiết chặt hơn nữa những gông cùm trói buộc bạn.
Trước những áp bức mà ngay đến súc vật cũng không chịu nổi, bạn có thể thoát ra được nếu bạn thử làm một điều duy nhất. Điều ấy không phải là nỗ lực đấu tranh, mà chỉ là nghĩ đến sự giải thoát, là mong muốn nó. Khi bạn quyết định không là nô lệ, khi ấy, bạn có tự do ! Bạn không cần chống lại bạo chúa, không cần tấn công nó, hủy diệt nó. Bạn chỉ cần ngừng nâng đỡ nó, thì, bạn sẽ thấy : như một người khổng lồ bằng sắt thép nặng nề với đôi chân đất sét, nó sẽ tự động gãy đổ, ngã gục dưới sức nặng của chính nó, để tan tành vỡ nát trên mặt đất (…).
Ngay cả loài vật cũng biết kêu lên : « Tự Do muôn năm ». Nhiều giống thú biết tự để cho mình chết đi khi chẳng may bị bắt bớ cầm giữ. Nếu giữa các loài súc sinh có một sự phân chia đẳng cấp, thì chắc chắn những nòi giống biết chết vì Tự Do sẽ thuộc về đẳng cấp được tôn quý nhất. Những loài vật khác, từ lớn đến nhỏ, đều cố sức chống cự khi bị cầm giữ, bằng mọi phương cách, từ cào, cấu, cắn, đá … với một năng lực và ý chí quyết tâm cực kỳ mạnh mẽ, như nhắc nhở mọi người trong chúng ta sự quý báu không thể đo lường được của tự do.
Hỡi mọi con người ! Bạo chúa chỉ có vẻ to lớn vĩ đại khi các bạn quỳ gối trước mặt nó. Hãy đứng lên ! Không quyền lực nào có thể thống trị được những con người Tự Do …
Nguyễn Hoài Vân
(Theo Etienne de la Boétie – 1530-1563)
(*)”La Boétie was born in Sarlat, in the Périgord region of southwest France, in 1530, to an aristocratic family. His father was a royal official of the Périgord region and his mother was the sister of the president of the Bordeaux Parlement (assembly of lawyers). Orphaned at an early age, he was brought up by his uncle and namesake, the curate of Bouilbonnas, and received his law degree from the University of Orléans in 1553. His great and precocious ability earned La Boétie a royal appointment to the Bordeaux Parlement the following year, despite his being under the minimum age. There he pursued a distinguished career as judge and diplomatic negotiator until his untimely death in 1563, at the age of thirty-two. La Boétie was also a distinguished poet and humanist, translating Xenophon and Plutarch, and being closely connected with the leading young Pleiade group of poets, including Pierre Ronsard, Jean Dorat, and Jean-Antoine de Baif.”
He served with Montaigne in the Bordeaux parlement and is immortalized in Montaigne’s essay on friendship.
He died at Germignan near Bordeaux in 1563. His last days are described in a long letter from Montaigne to his own father.

Nguồn doigio

Để lại phản hồi »

Chưa có phản hồi.

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Blog at WordPress.com.

%d bloggers like this: