Hoàngquang’s Blog

08/09/2011

Đã đến lúc Việt Nam phải lựa chọn

Lê Ngọc Thống
Hiến Pháp không tạo nên dân chủ, mà chính dân chủ tạo nên hiến pháp. Benjamin Barber

Nguyễn Ngọc Già – Sửa Hiến pháp là mệnh lệnh của Dân tộc & Tổ quốc Việt Nam
Phan Thế Hải
+ Cái Bẫy của Quyền Lực & cái bẫy quyền lực của Thủ tướng
***
Đã đến lúc Việt Nam phải lựa chọn

Lê Ngọc Thống
Với tinh thần “Việt Nam muốn là bạn với tất cả các nước” từ ngày 22-28 tháng 8 năm 2010 Đoàn đại biểu quân sự Việt Nam sang thăm và làm việc với Bộ Quốc Phòng Trung Quốc. Tại lần này, trong tình hình mà mối quan hệ quốc phòng với Trung Quốc được coi là “Tốt đẹp”, Trung tướng Nguyễn Chí Vịnh tuyên bố chính sách “3 không” của quốc phòng Việt Nam. Một lần nữa Việt Nam thể hiện sự yêu chuộng hòa bình, thể hiện tính hòa hiếu tự ngàn đời của ông cha để lại, thể hiện sự tôn trọng với một láng giềng hùng mạnh.
Và đây là hành xử của Trung Quốc:
Gần một năm sau sự đánh giá “tốt đẹp”, Trung Quốc trắng trợn gây hấn trong khu vực Đặc quyền kinh tế của vùng biển Việt Nam, cố tình biến khu vực không tranh chấp thành khu vực tranh chấp để ép Việt Nam “cùng khai thác”. Đòi yêu sách “đường lưỡi bò” phi lý, ngang ngược. Họ vừa ăn cướp vừa la làng vu cáo Việt Nam “xâm lược” và giở giọng côn đồ “dạy cho Việt Nam bài học”. Họ nghênh ngang diễu võ dương oai tập trận hết đợt này đến đợt khác. Họ “bật đèn xanh” cho bọn lâu la trên báo, mạng khua môi múa mép xúc phạm dân tộc Việt Nam, đe dọa chiến tranh thôn tính Việt Nam…
Vẫn biết bản chất của nhà cầm quyền ở Trung Quốc là thế nào. Vẫn biết không phải một năm sau khi Trung Quốc gây hấn trên Biển Đông mà ít nhất là từ khi thành lập nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đến giờ không có khi nào, không có nơi nào Việt Nam được yên với Trung Quốc. Hết cản Việt Nam đánh Mỹ, chỉ cần có vùng đệm an toàn thôi vì sợ Mỹ, lại đến cản Việt Nam thống nhất vì sợ Việt Nam hùng mạnh. Cướp đảo Hoàng Sa xong còn tiếp tục cướp đảo Trường Sa…Vẫn biết thế, nhưng chúng ta muốn hòa bình, muốn thân thiện, hữu nghị với các nước láng giềng và khi còn cơ hội hòa bình dù là mỏng manh thì cũng phải tận dụng. Đó là cách hành xử của một dân tộc yêu chuộng hòa bình, cách hành xử của một dân tộc mà lịch sử luôn gắn liền với những cuộc chiến tranh chống giặc ngoại xâm và nghệ thuật bang giao với cái “ông hàng xóm phương Bắc” mà Tổ tiên để lại.
Ngày 29/8/2011 cuộc đối thoại cấp thứ trưởng quốc phòng giữa Việt Nam và Trung Quốc lần thứ 2. Tình hình có vẻ như hai bên đã hiểu nhau và lắng dịu… Những chuyện vừa qua coi như gác lại, lấy quan hệ đại cục làm trọng…
Và đây là hành xử của Trung Quốc:
Chưa, mới vừa nói xong, ít ra cũng chứng tỏ “miệng quan (Trung Quốc) không giống…”
Nhưng hãy cẩn thận. Thực tế đã chứng minh nhiều lần rằng trong mối quan hệ với Trung Quốc, mỗi khi lãnh đạo hau nước có những ngôn từ tốt đẹp về nhau, khi Việt Nam có vẻ như cảm thấy yên tâm, tin tưởng vào những lời “Hảo, hảo” là y như rằng không sớm thì muộn Trung Quốc bất ngờ hành động. Và dĩ nhiên khi Việt Nam lên tiếng tố cáo, hành động đó thì… việc đã rồi.
Tại sao họ luôn hành xử như vậy với ta? Quá ngây thơ khi cho rằng Trung Quốc tráo trở. Chính quan điểm này vô tình làm Việt Nam mất cảnh giác. Vì bản chất, dã tâm của họ đối với ta không bao giờ thay đổi, cho nên hành xử này có tính logic. Trung Quốc tùy theo những lúc mạnh yếu khác nhau, yếu thì thực hiện mưu mô thâm độc, xảo quyệt; mạnh thì chèn ép ngang ngược, trắng trợn, đe dọa dùng vũ lực… Có thể nói Thôn tính Việt Nam là lời trăng trối truyền đời chết mà không nhắm mắt của những thế hệ cầm quyền Trung Quốc từ xưa tới nay.
Trung Quốc đang trỗi dậy. Tốc độ phát triển kinh tế nhanh, họ tăng cường tiềm lực quân sự vượt ngoài giới hạn phòng thủ. Họ coi Việt Nam là trở ngại lớn nhất cần phải dẹp bỏ đầu tiên trong chiến lược độc chiếm Biển Đông của mình. Vì vậy, không còn con đường nào khác, chúng ta phải cảnh giác cao độ, phải chuẩn bị toàn bộ để đối phó với nguy cơ này.
Chúng ta còn nhớ gần đây nhất trong hai cuộc chiến tranh chống Pháp và Mỹ, dân tộc ta hầu như từ hai bàn tay trắng mà phải đối đầu với xe tăng, đại bác. Không nói cũng biết khó khăn gian khổ như nào, tuy dành được độc lập, thống nhất đất nước nhưng xương chất thành núi, máu chảy thành sông, thời gian chiến tranh dài như vô tận, ba thế hệ con người Việt Nam lên đường ra trận.
Mấy năm qua, nhờ vào công cuộc đổi mới, đất nước có “của ăn, của để”, Đảng, Nhà nước đã không ngừng tăng cường khả năng quốc phòng. Với quyết định “đưa thẳng lực lượng không quân, hải quân… lên chính quy, hiện đại” (thay vì trước đây chỉ là “tiến dần lên chính quy, hiện đại”) nó làm tăng thêm khả năng phòng thủ và răn đe, đồng thời tạo thế cho dân tộc ta “năm nay đánh giặc nhàn” như câu nói của Trần Quốc Tuấn với các tướng lĩnh nhà Trần trong lần quân Nguyên xâm lược nước ta lần thứ 3.
Tuy nhiên chỉ chuẩn bị vũ khí, trang bị thôi chưa đủ. Để bảo vệ Tổ Quốc trước một kẻ thù đông người lắm của, chúng ta ngoài phải tự lực cánh sinh, dựa vào sức mạnh dân tộc là chính thì chúng ta cũng phải tranh thủ sự ủng hộ của nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới, dựa vào sự ủng hộ chí tình chí nghĩa của các nước bạn bè. Việc Thứ trưởng Bộ Quốc Phòng Việt Nam tuyên bố chính sách “ba không”(với Trung Quốc) có nghĩa là: “Nếu Việt Nam không bị nước nào tấn công xâm lược hoặc đe dọa xâm lược thì quốc phòng Việt Nam thực hiện theo chính sách “ba không”. Còn nếu như anh (Trung Quốc?) mà tấn công xâm lược hoặc đe dọa xâm lược Việt Nam thì… chẳng lẽ Việt Nam tự trói tay, trói chân, trùm chăn lại cho anh đánh? Việt Nam sẽ làm tất cả để bảo vệ Tổ quốc mình.
Thực tế trong hai cuộc chống Pháp và Mỹ thì Việt Nam, Lào và Campuchia đã từng liên minh quân sự để chống kẻ thù chung (nhưng liên minh mang tính phòng thủ, không tấn công nước nào) đã phát huy hiệu quả to lớn. Năm 1979 nếu không có Hải quân Liên Xô ở Cam Ranh thì chắc gì Hải quân Trung Quốc đã không tham chiến? Trung Quốc từng cảnh báo Việt Nam nào là “nước xa không cứu được lửa gần”; nào là “Mỹ có lợi ích với Trung Quốc nhiều hơn với Việt Nam, nếu khi Trung Quốc tấn công Việt Nam thì Mỹ sẽ bỏ mặc Việt Nam” vân vân và vân vân. Nghĩa là đừng có “thân Mỹ, không lợi lộc gì đâu; đừng có thân Nga, xa lắm, lửa gần không cứu được đâu. Việt Nam chỉ còn cách thuần phục Trung Quốc mà thôi”(!). Rõ ràng là Trung quốc không muốn Việt Nam là bạn với những quốc gia này. Ngày trước chỉ có Liên Xô giúp đỡ hạn chế, Trung Quốc thì giúp một phá ba, mà Việt Nam vẫn thống nhất được hai miền thì ngày nay nếu Nga giúp đỡ tận tình, Ân Độ tận nghĩa, Mỹ, Nhật Bản giúp đỡ cứ cho là hạn chế đi thì Việt Nam như “hổ mọc thêm cánh”, liệu Trung Quốc có thôn tính nổi không?
Hiện nay tình hình Biển Đông ngày càng nóng, sức ép của Trung Quốc vào Việt Nam càng gia tăng đã khiến cho Việt Nam vào một tình thế buộc phải phải đột phá, buộc phải lựa chọn, không thể “lởn vởn” như ngày xưa. Biển Đông không phải là cái hồ của Trung Quốc, nó là nơi gắn liền “lợi ích quốc gia” của rất nhiều nước. Vì thế không đời nào các quốc gia liên quan chịu để yên cho Trung Quốc làm gì thì làm hòng nuốt trọn Biển Đông. Đây là cơ hội cho Việt Nam “chọn bạn mà chơi”, là cơ hội để “dứt tình vướng víu” không thương tiếc, để xây dựng lại mới mối quan hệ đối ngoại với Trung Quốc một cách sòng phẳng, minh bạch trên cơ sở bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau.
Công tác đối ngoại của Đảng nói chung và của quốc phòng nói riêng phải dựa trên nguyên tắc: Chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, lãnh hải là bất khả xâm phạm. Đã là nguyên tắc là bất di bất dịch. Tuy nhiên sách lược thì phải mềm dẻo như Bác Hồ dạy “Dĩ bất biến, ứng vạn biến”. Thời gian gần đây theo dõi mối quan hệ giữa Việt Nam với Mỹ, Nga, Ân Độ và Nhật Bản, đặc biệt là Nga càng thấy rõ sách lược của Hà Nội là tuyệt vời, có những bước đi bài bản đầy bản lĩnh. Xử lý rất khôn khéo, linh hoạt mang đậm bản sắc Việt Nam trong vấn đề Vịnh Cam Ranh.
Nhưng tại sao Việt Nam không liên minh với những quốc gia mà họ cũng có những nguy cơ giống Việt Nam?
Thực ra “liên minh” cũng chỉ là cách gọi. Giả sử ta có với Nga hay Mỹ một hiệp ước phòng thủ chung nào đó thì khi Việt Nam bị xâm lược hoặc bị đe dọa xâm lược thì khuôn khổ hiệp ước cũng chỉ giới hạn là phía đối tác sẽ hỗ trợ ta về kinh tế, quân sự (bao gồm vũ khí trang bị, chia xẻ tin tức tình báo…) mà thôi. Không thể hơn và không nên hơn. Cho nên với tình hình ngày nay thì không liên minh quân sự với quốc gia nào như tuyên bố của tướng Vịnh là đắc sách. Nhưng hợp tác, đối tác chiến lược…song phương là một nhu cầu tất yếu và bức thiết. Nga, Mỹ, Ấn Độ và Nhật Bản là những đối tác rất quan trọng, là ưu tiên hàng đầu của chúng ta. Hợp tác chiến lược; đối tác chiến lược khi đã được 2 nước “nâng lên tầm cao mới” thì so với “liên minh quân sự” cũng chỉ là cách gọi.
Một khi kẻ thù đã xuất đầu lộ diện nghênh ngang, không e dè, trắng trợn đe dọa dùng vũ lực thì Việt Nam chỉ có thể là Cảnh giác, cảnh giác và chuẩn bị chu đáo, sẵn sàng đối phó thích đáng vì quyền lợi, tự do của Dân tộc.

Tác giả gửi cho viet-studies ngày 6-9-11
http://www.viet-studies.info/kinhte/LeNgocThong_DaDenLuc.htm

Nguyễn Ngọc Già – Sửa Hiến pháp là mệnh lệnh của Dân tộc & Tổ quốc Việt Nam

Nguyễn Huy Canh viết:
Tôi cho rằng, hạn chế của điều 4 Hiến Pháp 1992 chính là ở chỗ này: Đảng chỉ là một tổ chức chính trị xã hội chứ không phải là một lực lượng lãnh đạo (toàn xã hội).
Tác giả Phạm Viết Đào cho biết cảm giác chưa an tâm về ý kiến của ông Nguyễn Huy Canh, nên bài viết “Về điều 4 Hiến pháp 1992” đã được đưa lên để rộng đường dư luận và mong có thêm các ý kiến khác nhằm làm sao từng người dân có thể tham gia vào vấn đề sửa đổi Hiến pháp 1992 đảm bảo được thực chất “Quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân” trong bối cảnh xã hội VN đang thay đổi từng ngày. Trên tinh thần đó, người viết bài xin có ý kiến gồm 2 phần: tóm tắt các ý kiến của tác giả Nguyễn Huy Canh và trình bày ý kiến cá nhân của bản thân.
I. CÁC LUẬN ĐIỂM CHÍNH CỦA TÁC GIẢ NGUYỄN HUY CANH:
1. Quốc Hội khóa XIII có rất nhiều việc hệ trọng phải làm, trong đó có việc sửa đổi HIẾN PHÁP 1992 (sau đây xin gọi tắt là HP).
2. Theo tác giả, việc sửa đổi HP nói chung và điều 4 nói riêng làm sao vừa đảm bảo “củng cố, tăng cường và nâng cao sức chiến đấu và lãnh đạo của Đảng”, lại vừa đáp ứng đòi hỏi của thực tiễn là “phản ánh được lợi ích dân tộc, và phù hợp với logic vận động của HIỆN THỰC TUYỆT ĐỐI” (*). Tác giả cũng chỉ ra hạn chế của điều 4: xem ĐCSVN là tổ chức chính trị – xã hội, không phải là “lực lượng lãnh đạo” toàn xã hội???!!! Tác giả khẳng định “không thể luật hóa điều 4HP được”, vì làm thế là “tước bỏ (hoặc ít ra là hạn chế) quyền lãnh đạo của Đảng, là biến Đảng ta thành một quyền lực trừu tượng, thành hư quyền”. Tác giả cũng nói, có thể chỉnh sửa điều 4 cho phù hợp với logic của lí thuyết quyền lực và thực tiễn chính trị tại VN hiện nay, đồng thời cho rằng “cần có một bộ luật về chính đảng”(nhưng đừng nên nhầm lẫn điều này với việc luật hoá điều 4). Tuy vậy, tác giả lại không nói rõ sự khác biệt cơ bản (để đừng nhầm lẫn) giữa việc luật hóa điều 4 và “một bộ luật về chính đảng”, cũng như không cho thấy chỉnh sửa điều 4 như thế nào mới “phù hợp với logic của lý thuyết quyền lực và thực tiễn chính trị” tại Việt Nam.
3. Tác giả phân tích để chỉ ra những lạc hậu, lỗi thời của hệ thống ( và bộ máy) quyền lực ĐCSVN (tính cho đến nay nó chỉ phù hợp với thời chiến). Từ đó, ĐCSVN trở thành “vua tập thể” (lấy ý của ông Nguyễn Văn An) cùng các hệ lụy tai hại kéo theo. Tuy vậy, tác giả cho rằng quyền lực chính trị (của ĐCSVN) và quyền lực Nhà nước hiện nay đang tồn tại song song, do đó mong ĐCSVN “mạnh dạn hoá thân cấu trúc quyền lực ấy của mình vào bộ máy nhà nước” cũng như “các nhà lãnh đạo ĐCSVN “cần sáng suốt hiểu ra rằng nhà nước phải là, chính là hình thức tồn tại duy nhất của quyền lực Đảng” (**)
4. Tác giả đề xuất một mô hình hệ thống quyền lực sao cho hợp lý, khoa học nhất bằng mấu chốt quan trọng: “Nguyên thủ quốc gia- người đứng đầu cơ quan hành pháp (Chủ tịch hoặc Tổng thống) có quyền lựa chọn, chỉ định Thủ tướng. Thủ tướng không nhất thiết phải là một đảng viên của Đảng. Nguyên thủ quốc gia và CP hoạt động theo nguyên tắc chế độ trách nhiệm cá nhân và theo những qui định của HP, pháp luật”.
Tóm lại,tác giả Nguyễn Huy Canh mong muốn ĐCSVN (làm sao) vừa giữ vững vai trò lãnh đạo thực quyền, xuyên suốt thông qua hình thức “Nguyên thủ Quốc gia” [có lẽ vừa là TBT vừa là Chủ tịch (hay tổng thống)] nghĩa là mọi quyền lực tập trung vào ĐCSVN nhưng lại vừa ĐẢM BẢO đáp ứng ĐƯỢC LỢI ÍCH DÂN TỘC, mặc dù tác giả nhận rõ vai trò quan trọng của tư pháp phải đạt được tính độc lập (cần phải “phi đảng hóa”).
II. SỬA HIẾN PHÁP LÀ MỆNH LỆNH CỦA DÂN TỘC VÀ TỔ QUỐC:
Trước tiên, tác giả Nguyễn Huy Canh không nên né tránh việc sửa đổi HP bằng cách cho đó là việc của Quốc hội (ngay câu mở đầu). Hãy nhìn thẳng vào thực tế (ĐCSVN buộc phải) sửa đổi HP là kết quả cả một quá trình đấu tranh, đòi hỏi quyết liệt và phải trả giá bằng nhiều hy sinh mất mát của dân tộc Việt Nam (ít nhất 20 năm qua, tính từ HP). Nhìn vào danh sách chính thức của 30 thành viên thuộc Ủy Ban sửa đổi HP (1), chúng ta đều thấy 100% là đảng viên ĐCSVN. Quốc hội lại luôn tổ chức bầu cử sau đại hội ĐCSVN, cũng như 90% đại biểu QH là đảng viên ĐCSVN, điều đó chứng tỏ ĐCSVN xem đất nước này là CỦA RIÊNG như một “luật bất thành văn”!
Tác giả Nguyễn Huy Canh đã bày tỏ nhiều luận điểm mâu thuẫn nghiêm trọng. Mâu thuẫn nghiêm trọng nhất, vừa muốn ĐCSVN (làm sao) vẫn giữ quyền cai trị độc tôn lại vừa (cần) đáp ứng được LỢI ÍCH DÂN TỘC, trong khi (lại) CHỐI BỎ vai trò ĐCSVN (là tổ chức chính trị – xã hội (chứ) không phải là LỰC LƯỢNG LÃNH ĐẠO)???!!!. Tác giả khá hoang tưởng khi cho rằng LỢI ÍCH của Dân tộc Việt Nam hoàn toàn có thể trùng khớp với LỢI ÍCH ĐCSVN. Hiến pháp phải và chỉ đặt LỢI ÍCH DÂN TỘC LÊN TRÊN TẤT CẢ CÁC LỢI ÍCH (dù cho lợi ích của đảng phái), chỉ có như thế Quyền phúc quyết của dân tộc mới đúng thực chất cần phải có. Hoang tưởng tiếp theo của tác giả Nguyễn Huy Canh chính là (làm sao) ĐCSVN nắm thực quyền nhưng lại “phi đảng hóa” vai trò của Tư pháp và một Thủ tướng không nhất thiết là đảng viên ĐCSVN.
Tiếp tục thực hiện việc “đảng hóa” trong HIẾN PHÁP (bất kể là đảng nào) thì Việt Nam tiếp tục tình trạng phi dân chủ.
Điều 4 HP:
Đảng cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành quyền lợi của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, theo chủ nghĩa Mác – Lê Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội.
Mọi tổ chức của Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật.
Việc buộc phải đưa Hiến pháp 1992 ra sửa đổi là yêu cầu khách quan, xuất phát từ đòi hỏi của xã hội ngày càng tiến bộ theo hướng văn minh, hiện đại, dân chủ, bởi Việt Nam đã thay đổi quá nhiều theo hướng hội nhập Quốc tế ngày càng sâu rộng, qua hai sự kiện quan trọng bậc nhất trong 20 năm qua:
– Hoa Kỳ bãi bỏ cấm vận và bình thường hóa quan hệ với Việt Nam.
– Việt Nam chính thức gia nhập tổ chức WTO.
Sửa đổi Hiến pháp làm sao bảo đảm chuyển hóa xã hội Việt Nam tiến tới dân chủ trong ôn hòa với thời gian ngắn nhất (có thể) lại không trả thù, bạo loạn, chính là mục tiêu tối thượng đặt ra cho ĐCSVN. Đó là mong muốn của tất cả mọi người, bất luận đảng viên hay công dân bình thường, đặc biệt trước tình hình an nguy Tổ Quốc chưa bao giờ bị đe dọa nghiêm trọng như hiện nay.
Vậy, ĐCSVN phải xác định việc sửa đổi Hiến pháp là MỆNH LỆNH của dân tộc Việt Nam, là TRÁCH NHIỆM, BỔN PHẬN của ĐCSVN, cũng là NHU CẦU SỐNG CÒN của ĐCSVN.
Đại đa số người Việt Nam đều không muốn máu đổ, trả thù thêm nữa, do đó, theo logic không hề muốn tiêu diệt ĐCSVN. Điều quan trọng bậc nhất là triệt tiêu chế độ độc tài. Xin nhấn mạnh, triệt tiêu chế độ độc tài không đồng nghĩa tiêu diệt ĐCSVN (bằng chứng tại nhiều nước trên thế giới, ĐCS vẫn hoạt động bình thường).
Luật pháp do con người tạo ra, tất nhiên không bao giờ có một hệ thống Luật pháp hoàn chỉnh tuyệt đối. Đó là tính vận động liên tục trong triết học. Ví dụ, Hoa Kỳ (quốc gia được xem là chuẩn mực về Luật pháp trên thế giới) phải đến khi bị nạn khủng bố 11/9 mới có nhu cầu tạo ra luật mới: Luật Yêu Nước.
Theo tác giả Nguyễn Huy Canh, nhu cầu kiến thiết một hệ thống chính trị mới phù hợp với xã hội VN hiện nay quan trọng hơn nhiều so với việc sửa đổi Hiến Pháp. Tuy vậy, có vẻ tác giả rơi vào vòng lẩn quẩn và mấu chốt bế tắc ở chỗ: tác giả không nhắc gì đến tính dân chủ.
Xin nhớ:
Hiến Pháp không tạo nên dân chủ, mà chính dân chủ tạo nên hiến pháp.
Benjamin Barber
Tuy nhiên, “không thể luật hóa điều 4” của Nguyễn Huy Canh là đúng. Bởi lẽ, nó sẽ bất khả thi ngay lập tức (khi vừa ban hành) với một hệ thống chính trị vừa ngang vừa dọc, toàn bộ đều là đảng viên ĐCSVN. Nói cách khác, ĐCSVN tự thân đã len lỏi quá sâu và thật lâu vào từng mạch máu xã hội, ảnh hưởng nghiêm trọng trên từng lĩnh vực lớn nhỏ, ngay cả điều tưởng chừng vô hại (ví dụ cái khăn quàng đỏ của thiếu nhi). Điều này (luật hóa điều 4) cũng mâu thuẫn với ý kiến “phi đảng hóa” nền Tư pháp của Nguyễn Huy Canh(!)
Câu hỏi cần đặt ra cho ĐCSVN:
– Nền tảng tư tưởng nào mang tính quyết định để trở thành tiền đề cho việc sửa HP? Phải chăng chỉ có tư tưởng “lợi ích dân tộc là tuyệt đối”?
– Nếu thực là vậy, bằng cách nào Hiến pháp (mới) nhanh chóng và nghiêm túc đi vào cuộc sống bằng những bộ luật khả thi?
– Hệ thống Tư pháp đã đến lúc (dù quá muộn) phải “phi đảng hóa”?
– Công cụ bảo vệ Tổ Quốc, giữ gìn an ninh xã hội (tức là Quân đội và Công an) thay vì thấm nhuần “trung với đảng” và “còn đảng còn mình” có quá muộn để hiểu “Còn Tổ Quốc (mới) còn mình”?
III. KẾT:
Phải chăng, sửa đổi HP là cơ hội (trăm năm có một) để vừa tránh được sự tan nát của ĐCSVN (trong đổ máu) vừa bảo vệ Tổ Quốc Việt Nam, vừa mang lại dân chủ ôn hòa cho Dân tộc Việt Nam?
Có đáng tiếc không, khi một lần nữa chúng ta nhắc lại: Dân tộc Việt Nam đã bỏ qua nhiều cơ hội để làm cho đất nước trở thành một Quốc gia: DÂN CHỦ – VĂN MINH – DÂN MẠNH – NƯỚC GIÀU?
Nguyễn Ngọc Già
_______________
http://www.baomoi.com/Danh-sach-30-thanh-vien-Uy-ban-sua-doi-Hien-phap/122/6764472.epi (1)
(*) Hẹn dịp khác để nói về “vận động hiện thực tuyệt đối” là cách dùng từ ngữ triết học không rõ ràng lắm, bởi lẽ “vận động là tuyệt đối, đứng yên là tương đối” (a). Vì vận động bao hàm tính hiện thực tại từng thời điểm mà sự vật hay hiện tượng đang xảy ra vào lúc đó, nên khái niệm “vận động hiện thực tuyệt đối” nghe tối nghĩa, vì nếu vận động hiện thực mang tính tuyệt đối (phải ý tác giả là thế?), lúc đó nó đã đứng yên (mâu thuẫn). Do đó, tôi nghiêng về ý nghĩa tác giả đang muốn nói “vận động là tuyệt đối” và mọi tư duy, hành vi, hành động đều nên đặt dưới góc nhìn vận động. http://www.wattpad.com/1430681-c%C3%A2u-4-c%C3%A1c-quy-lu%E1%BA%ADt-c%C6%A1-b%E1%BA%A3n-c%E1%BB%A7a-ph%C3%A9p-bi%E1%BB%87n-ch%E1%BB%A9ng-duy (a)
(**) Ý nghĩa này nghĩa là: Tổng bí thư và Chủ tịch nước (Tổng thống) do 1 người đảm nhiệm (như Trung Quốc). Đây cũng là ý kiến của ông Nguyễn Trung (cựu Đại sứ VN tại Thái Lan) trước đây và GS. Chu Hảo gần đây. Ý kiến này chỉ khả thi và đúng thực chất trong một chế độ dân chủ đa đảng và tam quyền phân lập đúng nghĩa.
_______________________________________

Phan Thế Hải
Cái Bẫy của Quyền Lực &
Cái bẫy quyền lực của Thủ tướng

I
Cái Bẫy của Quyền Lực &

Sói, Cáo, và Gấu là 3 con thú hung dữ và ranh mãnh nhất trong rừng, kết hợp lại với nhau thành một phe chuyên đi ức hiếp đàn dê. Đàn dê gặp rất nhiều tổn thất, đến mức con dê đầu đàn đã ốm mà chết do đã quá mệt mỏi.
Chú dê thông thái nhất của đàn dê mới tuyên bố với cả đàn rằng: Chúng ta nên mời một trong ba con Sói, Cáo, Gấu làm thủ lĩnh của chúng ta. Cả đàn dê nghe qua thì thấy rất bất bình và lo lắng…
Sói, Cáo, và Gấu nghe tin này thì rất phấn khởi, nhưng đồng thời từng con cũng lên riêng một kế hoạch cho mình để tranh giành vị trí thủ lĩnh đàn dê.
Gấu quyết định ra tay đầu tiên, nhân lúc Sói không chú ý, nó tát Soi một phát làm Sói chết ngay tại chỗ.
Cáo thì tìm đến một cái bẫy mà người đi săn đã đào dưới gốc cây, nằm kế bên chiếc bẫy và giả vờ như đang ngủ say. Gấu nhẹ nhàng tiến đến với âm mưu giết Cáo, nhưng lại bị trượt chân rơi xuống bẫy, và thế là coi như hết đời.
Chỉ còn mỗi mình Cáo, tưởng nó sẽ dễ dàng trở thành thủ lĩnh bầy dê, nhưng giờ đây, Cáo chỉ còn một mình, thế cô, sức yếu, nên dễ dàng bị bầy dê đánh chết.
Thì ra tất cả đều nằm trong kế hoặch của chú dê thông thái nhất đàn, chú là người hiểu rõ: quyền lực chính là một cái bẫy rất nguy hiểm.

Hoạt động rèn tâm tướng của nhà lãnh đạo
Lời bình:
Quyền lực trong câu chuyện này là các danh hiệu, là những chức vụ quản lý, những “cái ghế” lãnh đạo ..Bản thân quyền lực thì không có tính tốt hay xấu, mà là mục đích của người sử dụng quyền lực.
Khi nhà lãnh đạo hướng về lợi ích chung, quyền lực sẽ trở thành công cụ hiệu quả thúc đẩy họ và tập thể cùng phát triển. Còn khi nhà lãnh đạo chỉ nghĩ về lợi ích cho cá nhân mình, quyền lực sẽ trở thành cái bẫy rất nguy hiểm, khuếch đại lòng tham, và hạn chế tầm nhìn của nhà lãnh đạo.

http://www.lbvina.com.vn/Chi-tiet/daotao,cai-bay-cua-quyen-luc-t4c104i116.aspx
II

Cái bẫy quyền lực của Thủ tướng

Không có tham vọng quyền lực thì không nên làm chính trị. Nhưng khi tham vọng quyền lực không có điểm dừng sẽ dễ bị rơi vào một cái bẫy của chính nó, cái bẫy quyền lực. Những gì đang diễn ra ở chính trường VN cho thấy, Thủ tướng đương nhiệm đang tiến dần tới cái bẫy đó.
So với những người tiền nhiệm, ít có một thủ tướng nào lại có khả năng thâu tóm quyền lực, chi phối chính trường một cách toàn diện như thủ tướng Nguyễn. Tuy nhiên, ngược lại với khả năng thâu tóm quyền lực là những thành tích bết bát của nền kinh tế, kết quả đo năng lực điều hành của người đứng đầu chính phủ.
Ngày 27/06/2006, Mr. Nguyễn được QH khoá XII bầu làm Thủ tướng, thay thế người tiền nhiệm là Mr. Khải. Mr. Nguyễn được kế thừa di sản của người tiền nhiệm với một nền kinh tế đang trên đà tăng trưởng khá ổn định. Năm 2005, GDP VN tăng 8,44%, cùng với đó các chỉ tiêu khác như dự trữ ngoại tệ, việc làm, lạm phát đều là những con số đẹp.
Là người đứng đầu Chính phủ, nhưng bên cạnh Mr. Nguyễn có chiến hữu, người đồng nhiệm từ thời ở Kiên Giang là ông LH Anh, nắm bộ Công An. Một cơ quan quyền lực nắm hồ sơ cán bộ từ cao đến trung cấp. Người ta cho rằng, bộ này cũng chi phối luôn bộ QP, nơi các tướng lĩnh đều dính dáng đến mua bán cấp chức, thậm chí chia chác lợi ích. Người TQ có câu khá hay: Họng súng đẻ ra chính quyền. Ai nắm được súng người đó sẽ chi phối được chính trường.
Cơ cấu quyền lực ở nhiệm kỳ trước, đứng đầu đảng là Tổng BT mà dân chúng quen gọi theo cách chiết tự là: trí nông, đức mạnh. Phía Quốc hội, ông Trọng là người sính dùng chữ nghĩa theo phong cách của một ông đồ. Trong cơ cấu quyền lực đó, Mr. Nguyễn thả sức can thiệp vào mọi ngõ ngách của đời sống kinh tế mà không sợ bị ai trừng mắt.
Đầu năm 2008, trong khi giá gạo giao dịch ở thị trường châu Á đang tăng nhanh, đây được coi là cơ hội vàng cho các nhà xuất khẩu VN. Tuy nhiên, xuất phát từ nhận định về an ninh lương thực, nên Thủ tướng đã ra lệnh tạm ngừng xuất khẩu gạo. Quyết định này đã khiến cho các doanh nghiệp mất đi cơ hội vàng, vì sau đó ít lâu, giá gạo lại trở về điểm xuất phát.
Bạn tôi, một cán bộ khoa học của VN Airlines tiết lộ: hãng này hiện đang sở hữu hàng loạt máy bay hiện đại Airbus và Boing, tuy nhiên khả năng khai thác thì rất hạn chế. Lý do, việc mua máy bay thường có ý kiến chỉ đạo của thủ tướng, trong khi đó, khả năng khai thác của hãng hàng không quốc gia là rất hạn chế. Cũng vì lý do này, là một DN nhà nước được đầu tư cỡ 10 tỷ USD, nhưng trong năm qua, hãng này công bố con số lãi tương đương… 15 triệu USD.
Một số dự án lớn về bất động sản, về cơ sở hạ tầng, cũng đều nhận được ý kiến trực tiếp của Thủ tướng. Đành rằng, Thủ tướng là người thông minh, tài giỏi, nhưng dẫu tài năng đến đâu cũng không thể thấu hiểu mọi ngõ ngách của đời sống kinh tế. Sự can thiệp quá sâu đã khiến cho những bộ phận giúp việc trở nên vô hiệu hoá và đang xuất hiện tâm lý: Chờ ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng.
Trong một phiên họp Chính phủ mới đây được VTV đưa tin, đích thân Thủ tướng chỉ đạo chính sách tín dụng, chính sách lãi suất, kiềm chế lạm phát mà với những người am hiểu chuyên môn, không khỏi lắc đầu ngao ngán, vì những chính sách đó đang chống lại nền kinh tế.
Trong những năm liên tiếp của người tiền nhiệm Phan Văn Khải, tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh dần: 7,08% năm 2002; 7,34% năm 2003; 7,79% năm 2004; và 8,44% năm 2005. Ngược lại, sau khi Thủ tướng nhậm chức, tăng trưởng GDP trên đà giảm mạnh từ năm 2007 trở lại đây: năm 2007 đạt 8,23%, năm 2008 đạt 6,31%, năm 2009 đạt 5,32%, năm 2010 tăng một chút lên 6,78% nhưng năm 2011 dự kiến quay lại mức trên 5%.
Trong các phiên họp Chính phủ, người ta vẫn thấy những lời hay ý đẹp dành cho Thủ tướng mà ít khi nghe thấy những lời nói thật. Bạn tôi bảo: Ở xứ ta, quyền lực nằm trong tay TT, khen ngợi nhau sẽ có lợi ích, nói thẳng, nói thật chỉ được cái sướng miệng, trong khi đó hoạ có thể đến bất cứ lúc nào. Chính vì vậy, lời nói thẳng nói thật ngày càng hiếm như lá mùa thu.
Những đệ tử của Thủ tướng, muốn tâng bốc chúa thường biện minh rằng, do tác động xấu của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu. Rằng, thiên hạ cũng khó khăn đầy ra đấy, riêng gì xứ ta đâu. Tuy nhiên, ngẫm lại một chút sẽ thấy có sự khác nhau giữa VN và các nước khu vực.
Năm ngoái, GDP Sing tăng 12%, con số này của Thái là 7,5%, Malaisia là 8%. Trong khi đó, lạm phát ở các nước này đều ở mức 1 con số. Còn ở VN, tốc độ lạm phát năm 2010 là 11,75%. Con số này của năm 2011 chắc chắn là không dưới 20%.
Thâu tóm quyền lực là điều cần thiết để chủ động trong việc ban hành các quyết sách. Tuy nhiên, khi việc thâu tóm không có điểm dừng và can thiệp vào mọi ngõ ngách của đời sống kinh tế thì chính Thủ tướng đã rơi vào một cái bẫy của quyền lực. Những bài học ở Iraq và các nước Bắc Phi cho thấy sự nguy hiểm khi người ta không tỉnh táo trước cái bẫy đó.
Phan Thế Hải

http://www.pagewash.com////nph-index.cgi/000010A/uggc:/=2fia.360cyhf.lnubb.pbz/cunagurunv2003/negvpyr=3fzvq=3d2099

1 Phản hồi »

  1. Chắc anh này sắp lên chức … bố vợ.

    Phản hồi bởi Đông_Dương. — 15/03/2014 @ 8:22 sáng | Trả lời


RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Blog at WordPress.com.

%d bloggers like this: