Hoàngquang’s Blog

29/08/2011

Không thể không viết để nói lại “Câu chuyện không thể không nói” của nhóm học giả Trung Quốc

Huỳnh Ngọc Chênh
Nguyễn Xuân Nghĩa “Quyền Lợi Cốt Lõi” của Trung Quốc
Huỳnh Ngọc Chênh & Việt Nam xứ sở của nghịch lý
+ Ai mang ơn Trung Quốc? Blogger Đinh Tấn Lực Trình Giảo Kim …Trật Búa
BVN Chính quyền Hà Nội đối thoại với nhân sỹ
Thư yêu cầu Đài phát thanh truyền hình Hà Nội (HTV1) xin lỗi và cải chính vì đã phát nội dung xuyên tạc, vu khống, xúc phạm đến công dân
Nguyễn Thị Từ Huy Thư gửi các bác đã phát biểu trong chương trình truyền hình Hà Nội ngày 22/8/2011 –
***
Huỳnh Ngọc Chênh Không thể không viết để nói lại “Câu chuyện không thể không nói” của nhóm học giả Trung Quốc

Kỳ 1
Không biết để chuẩn bị cho âm mưu gì mà Trung Quốc đưa ra một đội quân hùng hậu gồm hàng loạt nhà nghiên cứu, giáo sư, tiến sỹ để viết một loạt bài mang tựa đề: LOẠT BÀI VỀ “CÂU CHUYỆN KHÔNG THỂ KHÔNG NÓI” GIỮA TRUNG QUỐC VÀ VIỆT NAM . Trong đó gồm 5 bài nói về: quan hệ Việt Trung từ thời cổ đại cho đến ngày nay, kể công Trung Quốc viện trợ cho Việt Nam đánh Pháp và đánh Mỹ, tranh chấp chủ quyền 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và vấn đề biên giới trên bộ lẫn trên biển của VN với các nước láng giềng.
Đọc nghiêm túc hết loạt bài ấy tôi thấy không thể nào không kéo bàn phím ra để nói lại vài điều.
Nhóm học giả TQ cho rằng nhờ qua 1000 năm Bắc thuộc mà người Việt mới được khai hóa, mới có chữ viết, mới biết lễ nghi, tập tục
Trong lịch sử nhân loại, thông thường một dân tộc bị một dân tộc khác cai trị thì chỉ trong vòng 300 năm đã bị đồng hóa rồi. Thế sao qua một 1000 năm được TQ cai trị, khai hóa, dạy dỗ cho từ “chỗ không có gì hết thành chỗ có văn minh” mà người Việt vẫn cứ còn là người Việt và không biến thành người Hoa như các dân tộc bị đô hộ khác? Phải hiểu rằng sức mạnh đồng hóa của người Hoa là vô cùng mãnh liệt, có một không hai trong lịch sử nhân loại. Ngay những dân tộc đánh thắng và tròng ách thống trị lên đầu người Hoa mà vẫn bị họ đồng hóa ngược trở lại. Đó là trường hợp của Mông Cổ và Mãn Thanh. Với Mông Cổ thì còn nói do văn hóa du mục thiếu tập trung chứ còn dân tộc Mãn Thanh đã có một bề dày văn minh không thua kém người Hoa mà vẫn cứ bị đồng hóa dù đang ở trên thế thượng phong. Thế tại sao một nhúm bộ lạc ở phương nam chưa có chút văn minh mà suốt cả 1000 năm đô hộ và khai hóa kéo dài từ đời nhà Tần qua đến hết đời nhà Hán, nhà Đường mà vẫn không đồng hóa được?
Ấy là do nhóm người Việt đó đã có một nền văn minh to lớn đáng tự hào rồi. Họ có nhà nước, có tiếng nói, có tập tục và thậm chí có cả chữ viết riêng nữa. Nhưng chính người Hoa tràn vào đã tiêu diệt sạch hết. Hãy nhớ lại là khi Tần Thủy Hoàng thống nhất đượcTrung Hoa, thì việc đầu tiên mà y làm là giết sạch nho sỹ và đốt sạch sách vở của sáu nước kia. Đó là các nước chư hầu nhà Chu đồng loại với y, huống chi là một nước khác giống ở tận phương nam làm sao mà y tha cho chuyện bắt trí thức và hốt hết sách vở về Tàu để hủy diệt một nền văn minh. Chưa nói trong những sách vở của ta mà nhà Tần mang về Tàu có những thứ mà người Hoa có thể cướp bản quyền và biến thành tài sản văn hóa của họ (vì vậy mà đã có những nhà nghiên cứu đặt lại vấn đề bản quyền Kinh Dịch là của ai). Nếu công việc đó nhà Tần làm trong vòng vài trăm năm thì chắc chắn người Việt sẽ còn cất giấu được những di tích văn hóa. Nhưng ở đây là một 1000 năm. Sau một 1000 năm hủy diệt thì chẳng còn gì nữa. Chúng hủy sạch rồi đưa sách vở chữ viết của chúng vào nhồi sọ dân ta. Chuyện đó cũng đã lặp lại lần nữa khi quân Minh đánh thắng nhà Hồ. Chúng quơ quét sạch sẽ sách vở lẫn những người trí thức của đời Lý- Trần đem về Trung Quốc để khai thác.
Nếu người Hoa có sức đồng hóa vô địch thì người Việt lại là một dân tộc cường sinh có sức đề kháng vô địch trong lịch sử nhân loại. Trong suốt một 1000 năm đó người Việt không lúc nào để cho bọn cai trị phương bắc yên thân. Dân ta liên lục nổi lên đánh trả. Có một bô phận dân chúng bị chúng cai trị và đồng hóa dần, nhưng một bộ phận dân chúng khác phải trốn vào núi rừng lập chiến khu kháng chiến. Qua 1000 năm như vậy người Việt vẫn cứ tồn tại ở dưới dạng là những chiến binh. Chiến binh thì không thể mang theo những ghi chép, mang theo những tập tục đời thường. Họ phải bỏ hết để thích nghi với cuộc sống chiến đấu. Bên người họ chỉ là tiếng nói để thông báo hiệu lệnh và vũ khí để chiến đấu. Cuối cùng thì họ thắng lợi và giành được độc lập. Nhưng sau 1000 năm như thế họ mất tất cả chỉ còn giữ lại tiếng nói, tâm hồn và ý chí bất khuất của người Việt.
Cho nên đừng nhắc đến chuyện tại sao người Việt phải vay mượn chữ viết và tập tục của người Tàu mà khơi thêm lòng căm thù của người Việt. Chưa nói trong cái nền văn hóa của Trung Hoa không thể không có những thành quả trí tuệ của người Việt bị cướp về Tàu rồi xóa mất bản quyền. Ai chẳng biết người Tàu còn có truyền thống ăn cắp bản quyền mà thế giới thời nay rất kinh sợ. Ngay cả đạo Phật của Ấn Độ rành rành là vậy nhưng khi mang về đến TQ thì đã bị chế biến lại thành đạo Phật theo kiểu Tàu nữa là thứ khác. Nếu thời đó nhà Đường mà đánh chiếm Ấn Độ thì lịch sử TQ đã ghi rằng Đạo Phật là của TQ rồi. May mà chuyện đó không xảy ra. Công nghệ đúc súng thần công của TQ là do một người Việt dựng nên. Đó Hoàng tử Hồ Nguyên Trừng, ông tổ súng thần cơ của Đại Việt, đã bị quân Minh bắt về Tàu cùng với hàng loạt trí thức khác khi chúng đánh thắng nhà Hồ ( tư liệu về Hồ Nguyên Trừng).
Chuyện vay mượn ngôn ngữ, chữ viết và ảnh hưởng văn hóa là chuyện thường tình của nhân loại. Văn minh, ngôn ngữ và chữ viết của Âu -Mỹ ngày nay là dựa trên cái nền của văn minh Hy-La và một ít Á Rập đó thôi. Nhưng cái đau đớn của người Việt là chúng ta bị cưỡng bức phải từ bỏ cái ta đang có để vay mượn của Trung Hoa. Và bây giờ nhóm học giả này lại mang ra kể công.
Xin thưa rằng vì bị trong cái vòng ảnh hưởng của TQ mà Việt Nam, Triều Tiên, Nhật Bản qua hàng ngàn năm đã không ngóc đầu lên nỗi. Nước nào cũng tính đến chuyện thoát ra khỏi cái bóng của Trung Hoa. Nhật Bản đã may mắn thoát trước nên trở thành quốc gia giàu mạnh vượt qua nhiều nước Âu-Mỹ. Hàn Quốc, Đài Loan mới thoát ra vài chục năm lại đây mà cũng đã thành văn minh giàu mạnh rồi.
Còn việc lấy huyền sử ra chứng minh rằng người Việt đồng căn đồng chủng (cùng gốc cùng loài) với người Hoa thì không cần thiết phải tranh luận. Những huyền thoại truyền miệng thời mông muội ấy, khi cả TQ lẫn VN đều chưa có sử sách ấy thì không đáng để quan tâm.
Kỳ 2. Ai mang ơn Trung Quốc?
Lại nói về nhóm học giả TQ gồm toàn những giáo sư, tiến sỹ rầm rộ xuất quân viết loạt bài Câu chuyện “không thể không nói” giữa Trung Quốc và Việt Nam với nội dung từ đầu đến cuối hàm ý rằng Việt Nam phải biết ơn TQ. Ấy là do từ thời tiền sử mông muội người Việt cũng do người Hoa sinh ra, qua ngàn năm Bắc thuộc nhờ vào sự khai hóa và dạy dỗ của các quan thái thú TQ mà người Việt mới trở nên văn minh, mới có ngôn ngữ và chữ viết, mới có phong tục tập quán và lễ nghi, rồi qua thời hiện đại nhờ vào sự giúp đỡ của TQ mà VN mới đánh thắng được hai đế quốc xâm lược là Pháp và Mỹ. Thế mà bây giờ VN lại còn tranh giành hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa vốn thuộc của TQ, rồi nhân dân VN đi biểu tình nói xấu TQ là “gã láng giềng to xác xấu bụng” là không còn đạo lý gì cả, là phủi sạch ơn của TQ.
Nhưng thực sự thì ta có cần mang ơn TQ không nhỉ?

Có cần mang ơn TQ vì những giúp đỡ hay không?
Không ai phủ nhận những giúp đỡ của nhà cầm quyền Trung Hoa cộng sản với các đồng chí của mình. Từ năm 1949 đến nay, TQ đã làm nghĩa vụ quốc tế vô sản với ít nhất ba nước trong khối. Đó là Bắc Triều Tiên, Khơ Me Đỏ và Việt Nam.

Nhờ vào sự giúp đỡ to lớn đó mà đảng Cộng sản Triều Tiên chiếm được nửa bán đảo Triều Tiên và tồn tại đến bây giờ, Khơ Me Đỏ của Pôn Pốt chiếm được Kampuchia rồi tấn công “cáp duồn” Việt Nam được một vài lần trước khi giãy chết, và Việt Nam đánh thắng được Pháp rồi Mỹ để đưa cả nước tiến lên CNXH.
Nhưng có cần thiết mang ơn TQ về những giúp đỡ đó hay không?
Có lẽ nên xét riêng từng trường hợp cụ thể. Trước hết là với Bắc Triều Tiên và phải xét trên hai khía cạnh: nhà cầm quyền và nhân dân. Dĩ nhiên là nhà cầm quyền độc tài cộng sản gia đình trị BắcTriều Tiên phải đời đời mang ơn TQ. Không có xương máu của hàng vạn chí nguyện quân TQ đổ xuống và không có sự chống lưng của TQ đến tận bây giờ thì “triều đại nhà Kim” không thể lên nắm được chính quyền và tồn tại đến ngày hôm nay để truyền tới đời thứ ba.
Nhưng liệu nhân dân Bắc Triều Tiên có biết ơn TQ không nhỉ? Câu trả lời đã có ngay qua thực trạng tồi tệ về mọi mặt mà nhân dân Bắc Triều Tiên đang rên xiết chịu đựng hơn nữa thế kỷ qua. May mà họ đang bị bịt mắt bịt tai để không nghe và thấy cảnh sống xa hoa sung túc của những người đồng bào bên kia vĩ tuyến vốn không được hưởng ơn mưa móc của TQ.
Với chế độ CS Pôn Pốt thì sao? Cũng vậy, đến xuống mồ rồi họ vẫn vô cùng mang ơn TQ. Nhưng liệu nhân dân Khơ Me biết ơn hay phải căm phẫn đến tận xương tủy khi mà vì sự giúp đỡ đó mà hàng triệu thân nhân của họ phải phơi thây trên những cánh đồng tập thể theo kiểu Đại Trại, hàng vạn người khác phải chết thảm trong ngục tù Tung Sleng.
Bây giờ xét đến Việt Nam. Cũng xét trên hai khía cạnh, nhà cầm quyền và nhân dân. Không thể chối cãi trước những lập luận vững như bàn thạch của các học giả TQ là không có sự giúp đỡ của TQ thì nhà cầm quyền Việt Nam khó thể thắng Pháp để giành được nữa nước vào năm 54 và khó thể thắng Mỹ để giành được nửa nước còn lại vào năm 75. Nhà cầm quyền Việt Nam không thể nào không mang ơn TQ đến đời đời… nếu như:
– Đến gần giai đoạn cuối của cuộc chiến Đông Dương, TQ không nhảy vào phỗng tay trên quyền chi phối lực lượng Khơ Me Đỏ rồi sau đó xúi giục đám này tấn công vào sau lưng Việt Nam.
– Đến năm 1972, TQ không đi đêm thỏa hiệp với Mỹ trên lưng Việt Nam và đến năm 1974 không thừa nước đục nhảy vào chiếm lấy Hoàng Sa.
– Không có cuộc chiến tranh thảm khốc nổ ra vào năm 1979. Năm đó vì muốn làm vừa lòng Mỹ để xin xỏ tiền vốn và công nghệ của Mỹ, muốn trả thù cho đám đàn em khát máu Pôn Pốt nên TQ đã xua hàng vạn quân qua biên giới dạy cho Việt Nam một bài học bằng máu, máu của quân đội và nhân dân vô tội VN và máu của hàng vạn thanh niên TQ đổ lai láng thành sông.
– Năm 1988, TQ không cho tàu chiến tràn vào đảo Gạc Ma, nã đại bác giết chết 64 chiến sỹ công binh VN trong lúc họ hoàn toàn không có một phản ứng gì. Máu lại loang đỏ Biển Đông.
Máu thành sông, thành biển ấy đã rửa sạch ơn nghĩa của TQ trước đây đối với nhà cầm quyền VN. Điều đó đã được ông Lê Duẩn, người đứng đầu cao nhất của nhà cầm quyền VN trước đây khẳng định. Không những vậy ông còn xác định TQ là kẻ thù số một của VN. Như vậy từ ân đã chuyển thành oán rồi nên chẳng còn gì để nói với nhau nữa.
Sau này do tình thế thay đổi, nhà cầm quyền VN buộc phải quay lại bang giao với TQ thì cũng bang giao trên cơ sở bình đẳng giữa hai nước láng giềng chứ không phải trên cơ sở ơn nghĩa, trên – dưới với nhau như xưa kia. Do vậy các học giả TQ đừng kể chuyện ơn nghĩa ra đây nghe rất chối tai và nhà cầm quyền VN đương đại không hà cớ gì phải quỵ lụy trước nhà cầm quyền TQ vì những chuyện ơn nghĩa mà máu đã rữa sạch hết rồi.
Còn đối với nhân dân Việt Nam thì sao? Nhân dân VN không hề bạc nghĩa vô ơn, nhưng nhân dân VN vẫn có sẵn một câu trả lời chắc nịch. Dĩ nhiên là phải trừ ra vài thằng phản động đã lỡ nhận tiền của bọn người “lạ” nước ngoài và đang bị chúng đứng đàng sau giật dây xúi giục nên có thể có ý ngược lại.
Còn chuyện Hoàng Sa và Trường Sa? Hai quần đảo đó thuộc chủ quyền Việt Nam là chân lý bất di bất dịch không phải bàn cãi nữa. TQ dùng sức mạnh và đục nước béo cò tạm thời cướp đi một nửa. Nhân dân Việt Nam sẽ quyết lấy lại bằng mọi cách. Ngày hôm nay chưa được thì ngày hôm sau.
Còn chuyện công hàm của Thủ Tướng Phạm Văn Đồng. Lúc VN đang quẫn bách vì đánh lại một siêu cường số một thế giới, người đồng chí lớn TQ đứng đằng sau hô hào vì lý tưởng XHCN, vì nghĩa vụ quốc tế vô sản, hãy đánh mạnh đi anh giúp cho, nhưng một tay đưa ra giúp đồng thời với một tay còn lại chìa ra tờ giấy bảo ký đi. Hành vi ấy đê tiện y hệt như một anh nhà giàu làm bộ ra tay nghĩa hiệp với một chị hàng xóm nghèo khổ đang quẫn bách vì hết tiền mua cháo cho con, một tay đưa tiền ra đồng thời với tay kia mò vào chỗ kín của người phụ nữ rồi ra hô hoán lên chị ấy đã dâng hiến phẫm tiết cho y. Các học giả TQ hãy dùng hết sở học mà biện minh hành vi đó là không đê tiện đi thì mới nói đến chuyện VN đã công nhận cái gì gì đó ngày xưa.
H.N.C.
Nguồn: huynhngocchenh.blogspot.com
http://boxitvn.blogspot.com/2011/08/khong-khong-viet-e-noi-lai-cau-chuyen.html#more

Nguyễn Xuân Nghĩa “Quyền Lợi Cốt Lõi” của Trung Quốc

Nguyễn Xuân Nghĩa – Ngày Nay 20110826

Từ Đài Loan vào Tây Tạng – Từ Hoàng hải xuống Đông hải….

Huê dạng và hoành tráng!

Nếu lãnh đạo Bắc Kinh chủ trương rằng quyền lợi cốt lõi của Trung Quốc là xây dựng hoà bình, phát huy nhân quyền và hợp tác kinh tế, là bảo vệ môi trường, giải trừ nguy cơ xung đột giữa các nước vì đấy là những điều có lợi cho mọi quốc gia, thì nhân loại đã có thể sống trong một thế giới khác. Khi đó, Trung Quốc là một cường quốc biết điều và có trách nhiệm về thiên hạ sự. Nhưng sự thể lại không vậy, bỉnh bút Nguyễn Xuân Nghĩa giải thích tại sao bằng cách kiểm điểm lại từng bước bành trướng của khái niệm “quyền lợi cốt lõi” của Bắc Kinh….

Thưa rằng chuyện Trung Quốc hành xử biết điều như vậy không xảy ra dù những chủ trương nói trên đã được quốc tế công nhận và nhiều quốc gia theo đuổi. Thay vào đó, lãnh đạo Bắc Kinh nêu ra một khái niệm co giãn về “hạch tâm lợi ích”, và nhìn từ quyền lợi của mình ra ngoài mà bất chấp quy luật hành xử của các nước văn minh.

Điển hình nóng hổi là cách xử trí trong chuyến thăm viếng Trung Quốc của Phó Tổng thống Hoa Kỳ Joe Biden vào tuần qua. Cuộc họp báo của ông bị cắt đứt, báo chí quốc tế bị đuổi ra ngoài. Cuộc thao diễn bóng rổ trong tinh thần hữu nghị giữa hai đội Mỹ-Hoa đã biến thành một vụ hành hung khiến đội banh Mỹ cầu cứu cảnh sát không xong nên phải đi trốn vào phòng thay áo!

Sau khi Joe Biden rời Trung Quốc để tiếp tục chuyến công du Á châu của ông, hôm Thứ Tư 24 Tháng Tám, bộ Quốc phòng Mỹ mới công bố bản phúc trình chuẩn bị xong từ mùng sáu Tháng Năm về tình trạng hiện đại hóa quân sự của Trung Quốc. Những câu hỏi được nêu ra về mục tiêu đáng nghi ngờ của lãnh đạo Bắc Kinh khiến bộ Ngoại giao Trung Quốc lập tức phản pháo, và tơi bời đả kích Hoa Kỳ vào ngày Thứ Sáu 26.

Mà “hạch tâm lợi ích” đó là gì?

Chúng ta lại phải mở cuốn lịch và tấm bản đồ để chấm tọa độ trên hai trục thời gian và không gian….

***

QUYỀN LỢI MỔ RỘNG VỚI THỜI GIAN

Lần đầu tiên, khái niệm “hạch tâm lợi ích” xuất hiện trên ấn bản Anh ngữ của Nhân dân Nhật báo vào ngày 21 tháng Sáu năm 1980 – khi Bắc Kinh đã tiến hành cải cách – và đả kích việc Liên Xô xâm chiếm A Phú Hãn và việc Việt Nam tấn công Kampuchia. Theo cái kế khích bác của Thiên triều, hai hành động ấy đe dọa quyền lợi cốt lõi của… Tây phương!

Sau đó khái niệm này xuất hiện vài ba năm một lần.

Riêng về quyền lợi của Trung Quốc thì nó được lồng trong chữ khác, như “lợi ích căn bản” hay “trọng đại quan thiết” – mối quan tâm thiết yếu của Bắc Kinh. Nội dung bắt đầu thể hiện rõ nét hơn kể từ năm 2000, và nhắc đến hồ sơ Đài Loan cùng nguyên tắc “một quốc gia Trung Quốc”. Khi ấy, lợi ích căn bản của Thiên triều là cải cách kinh tế xã hội và thống hợp Đài Loan – vốn dĩ là vấn đề “nội bộ” của Trung Quốc.

Bước vào thế kỷ 21, khái niệm này được nhắc nhở nhiều lần hơn và mở rộng ra ngoài để bao trùm lên nhiều lãnh vực chiến lược và khu vực địa dư. Nếu đếm ra thì chữ “hạch tâm lợi ích” xuất hiện ba lần trong năm 2003 rồi gần trăm lần trong năm 2008. Năm ngoái, người ta tính ra là 325 lần!

Về nội dung, như Ủy viên Quốc vụ viện Đới Bỉnh Quốc đã phát biểu nhân hội nghị Đối thoại về Kinh tế và Chiến lược (S&E Dialogue) với Hoa Kỳ vào Tháng Bảy năm 2009: quyền lợi cốt lõi đó gồm có ba mục là 1) bảo vệ chế độ, 2) phát triển kinh tế xã hội trong ổn định và 3) bảo vệ chủ quyền và lãnh thổ quốc gia. Tiết mục thứ ba, chủ quyền và lãnh thổ, được khai triển bằng những chữ rất nổ như “thống nhất quốc gia”, “lưỡng ngạn thống nhất” (với Đài Loan), “thống nhất đại nghiệp” hay “độc lập”.

Nhưng lại được mở ra một không gian rộng lớn hơn vì từ Đài Loan bao trùm lên hồ sơ Tây Tạng rồi cả Đông hải.

Quả như vậy vì khi theo dõi thì người ta thấy là từ khái niệm do một ủy viên có thẩm quyến về đối ngoại đề ra hai năm trước, truyền thông của Thiên triều đã vẽ rắn thêm chân trong tinh thần “bất khả tư nghị” và “bất khả tương nhượng”. Không thể bán cãi hay đổi chác gì hết!

Theo luận điệu của Bắc Kinh mới từ hai năm nay thôi, “hạch tâm quyền lợi” của Trung Quốc bao trùm lên Đài Loan, lên Tây Tạng (tức là cả chuyện liên lạc với đức Đạt Lai Lạt Ma), lên đất Tân Cương (gồm cả phong trào ly khai của dân Duy Ngô Nhĩ, được Bắc Kinh đồng hóa với khủng bố); nó trải từ Hoàng hải phía Bắc xuống tới Trung Nam hải phía Nam, nó đòi chủ quyền trên đảo Điếu ngư đài mà Nhật Bản gọi là Senkaku của minh, và các quần đảo tại biển Đông Nam Á, trong đó có Hoàng sa và Trường sa.

Quyền lợi ấy còn là quan hệ thương mại song phương với mọi quốc gia mà Thiên triều muốn giao thương, và cả quy chế hay giá trị của đồng Nguyên, là vấn đề cốt lõi cũng thuộc thẩm quyền của Trung Quốc, v.v….

Riêng hai đề mục có tính chất phòng thủ do Đới Bỉnh Quốc nêu ra – là 1) bảo vệ chế độ và an ninh quốc gia và 2) phát triển kinh tế và xã hội trong ổn định – lại ít được nhắc tới!

Thực tế thì trong mấy năm vừa qua, Bắc Kinh đã lặng lẽ chuyển từ thủ sang công.

Diễn biến của việc mở rộng lá quạt lên một vùng rộng lớn và nhiều hồ sơ phức tạp ấy là thế nào?

***

KHỞI THỦY LÀ ĐÀI LOAN….

Người ta có thể đồng ý rằng việc bảo vệ chế độ và hình thái phát triển kinh tế xã hội là quyền lợi cốt lõi của Bắc Kinh vì quốc gia nào cũng muốn giành lấy quyền quyết định về cách sinh sống và phát triển của mình.

Riêng với đảng Cộng sản Trung Quốc, một thế lực chính trị nổi lên sau 150 năm lụn bại của đất nước và bị liệt cường sâu xé, việc thu hồi lại những mảnh đất đã bị chiếm đóng là điều bình thường. Và cực kỳ cần thiết cho lẽ chính danh của chế độ. Vì thế, Hong Kong hay Macao đều phải lần lượt “hồi quy cố quốc”. Việc thống hợp Đài Loan cũng thế, dù lịch sử có những giai đoạn ly khai hay tự trị phức tạp hơn.

Từ đầu thế kỷ 21, hồ sơ này trở thành rắc rối vì sự xuất hiện và lớn mạnh của thành phần cư dân nguyên thủy, dân Đài Loan, chống lại thành phần thống trị xuất phát từ Hoa lục sau cuộc chiến Quốc-Cộng trong lục địa, là Quốc dân đảng. Khi Trần Thủy Biển – dân Đài Loan – và đảng Dân tiến của ông lên lãnh đạo, Bắc Kinh bắt đầu ngại phản ứng ly khai của chính người dân Đài Loan.

Thành phần “thổ dân” này đã từng bị Tưởng Giới Thạch đàn áp và bị di dân đến từ Hoa lục miệt thị là man rợ trí trá và hèn kém. Nhưng họ đã trưởng thànb và chẳng muốn liên hệ gì đến chuyện Quốc-Cộng ngày xưa. Cũng chẳng muốn “Quang phục Trung Hoa” theo chủ trương của Quốc dân đảng, và không tin vào nhu cầu đi vào lãnh đạo Bắc Kinh để lãnh đạo cả Trung Quốc.

Nếu có đổi tên thành Cộng hoà Đài Loan thì cũng được!

Vì thế, sự chuyển dịch dân số và thế lực chính trị tại đảo quốc Đài Loan trở thành cơn ác mộng cho Thiên triều. Tháng Ba năm 2005, Quốc hội Bắc Kinh ban hành đạo luật “Chống Ly Khai” và Bộ Chính trị yêu cầu Hoa Kỳ cùng các nước khác không đáp ứng lời kêu gọi độc lập của Đài Loan. Hồ sơ này trở thành “quyền lợi cốt lõi” và việc mua chuộc Quốc dân đảng để tiêu diệt mọi mầm mống tự trị đã được tiến hành, với sự hợp tác mẫn cán của Quốc dân đảng hay hậu thân của cái đảng già nua lạc hậu này.

Trong chiều hướng đó, Thiên triều chuẩn bị cả hai giải pháp văn võ để thống hợp đảo quốc.

Văn là qua ngả ngoại giao, kinh tế và tuyên truyền để cô lập xu hướng ly khai bên trong Đài Loan và để vận động Mỹ không bán khí giới cho chính quyền Đài Bắc nhằm bao vây cả đảo quốc hầu tiến tới thống nhất một cách ôn hoà. Võ là sử dụng võ lực lẫn sự uy hiếp để yểm trợ giải pháp thống nhất qua ngoại giao và chính trị. Và nếu/khi có đủ sức thì trực tiếp thôn tính.

Chính là nhu cầu ấy mới khiến Bắc Kinh hâm nóng hai bản thông cáo chung với Hoa Kỳ năm 1972 và 1982 về nguyên tắc “chỉ có một nước Trung Quốc” để đưa hồ sơ Đài Loan vào danh mục quyền lợi cốt lõi trong lời khẳng định nói trên của Đới Bỉnh Quốc vào Tháng Bảy năm 2009.

Nhưng, cũng chính là phản ứng suy nhược của Chính quyền Barack Obama đã khiến Thiên triều dấn tới và cài vào thông cáo chung của diễn đàn Đối thoại về Kinh tế và Chiến lược với Hoa Kỳ, Tháng 11 năm 2009, một nguyên tắc cứ tưởng là ngoại giao: hai nước tôn trọng quyền lợi cốt lõi của nhau cho một kỷ nguyên mới. Một “đồng thuận mới” cho “tân thời kỳ”.

Mà trong danh mục gọi là “cốt lõi” này không chỉ còn chuyện bảo vệ chế độ hay kinh tế chính trị hoặc việc thống nhất Đài Loan. Thiên triều bắt đầu lè lưỡi rắn ra ngoài….

Tháng Giêng năm 2011, khi xông đất Hoa Kỳ và gặp Cậu bé quàng khăn đỏ Obama, Hồ Cẩm Đào không nhắc đến chuyện quyền lợi cốt lõi này nữa. Nhưng truyền thông và các “học giả” của chế độ liên tục nhắc đến tinh thần không thể bàn cãi hay thỏa nhượng gì về hạch tâm lợi ích của Trung Quốc.

Dư luận Hoa Kỳ và thế giới, kể cả các “học giả” hay “nhà báo lão thành” thì tin rằng lời tuyên bố chính thức của lãnh đạo mới đáng kể, chứ những bình luận hay quan điểm kia chỉ là chuyện hăm he không cơ sở. Thực tế thì Bắc Kinh đã thành công khi gây ra ấn tượng rằng Trung Quốc sẽ triệt để bảo vệ quyền lợi cốt lõi của mình. Và từ đó chi phối phản ứng của thiên hạ.

Nghệ thuật “điều tiết ấn tượng” – perception management – là một phần linh động và hữu hiệu của đấu tranh, để đạt mục tiêu mà khỏi cần dụng binh. “Bất chiến tự nhiên thành” là kết quả của “thuật quỷ biển”, biển lận và quỷ quái.

***

SAU ĐÓ LÀ HĂM ĐỌA

Nhớ lại thì việc Tây Tạng là một phần không thể tách rời khỏi Trung Quốc đã được công bố trong một Bạch thư về Tây Tạng từ năm 1992. Và được Phó Chủ tịch / Ủy viên Bộ Chính trị Tăng Khánh Hồng minh định vào Tháng Tư năm 2006. Cũng năm 2006 đó, vào Tháng 11 người ta thấy chính Chủ tịch Hồ Cẩm Đào nói rõ – lần đầu tiên – rằng cùng với Đài Loan, Tây Tạng và nhân quyền, việc diệt trừ lực lượng khủng bố Đông Hồi tại Tân Cương là quyền lợi cốt lõi của Trung Quốc.

Các cơ quan truyền thông khác thì châm thêm trong nhu cầu cốt lõi việc bảo vệ Hoàng hải, Điếu Ngư đài và luồng ngoại thương với đồng bạc. Nghe mãi rồi mọi người cứ coi như lời tuyên truyền, nhưng dần dần bị thấm vào đầu.

Trong khung cảnh mập mờ ẩn hiện đó, lần đầu tiên người ta nghe đến chuyện hạch tâm lợi ích của Trung Quốc bao trùm lên chủ quyền ngoài Trung Nam Hải là vào Tháng Ba 2010. Tức là cũng gần đây thôi, khi giới chức Bắc Kinh ỡm ờ nói chuyện với hai viên chức an ninh và ngoại giao Hoa Kỳ ngay tại Bắc Kinh. Báo chí Mỹ có thay nhau loan truyền cùng một chi tiết ấy nên gây ra ấn tượng là Bắc Kinh đã nhiều lần khẳng định như vậy.

Mà thật ra mọi chuyện vẫn là mờ ảo vì không viên chức hữu trách nào công khai nói ra một điều cực kỳ ngang ngược: một vùng biển quốc tế lại thuộc thẩm quyền giải quyết của Trung Quốc, tương tự như loại vấn đề “nội bộ” như Tây Tạng, Tân Cương hay Đài Loan.

Nhưng khi thấy Hoa Kỳ không chính thức phản đối trái bóng thăm dò, Thiên triều có thể đã kết luận: cứ thế mà nhấn tới!

Không qua phát biểu mà bằng hành động cụ thể, theo cái kiểu mềm nắn rắn buông. Hành động cụ thể là vừa hăm dọa khiêu khích vừa chiêu dụ từng nước liên hệ đi vào những thoả thuận song phương. Có thoả thuận ấy trong túi rồi, Thiên triều sẽ cho thế giới rõ rằng đây là chuyện nội bộ của bản quốc! Cho đến nay, chỉ có Hà Nội là đi vào cái trò đơn phương chờn vờn đó với việc một Thứ tưởng Ngoại giao qua Bắc Kinh hộp họp với Ngoại trưởng và Ủy viên Quốc vụ viện Đới Bỉnh Quốc.

Và xòe ra một thông cáo chung cũng rất mập mờ!….

***

Bài tổng kết này đã dài nên xin đi vào kết luận: chúng ta có nhiều cách suy luận về diễn biến trong ngôn ngữ của Bắc Kinh.

Trung Quốc có thể gặp nhiều khó khăn nội bộ nên cần vuốt ve tự ái dân tộc của người dân, và bọc xuôi theo áp lực của xu hướng bảo thủ trong đảng hoặc xu hướng bành trướng trong quân đội mà quậy sóng ngoài Đông hải. Trung Quốc cũng có thể khai thác cơ hội thuận lợi là nhân khi Hoa Kỳ còn mắc bận với hai chiến trường nóng tại Afgahanistan và Iraq mà nhấn tới để tạo ra sự đã rồi, trước khi nước Mỹ trở lại Đông Á như đã hứa hẹn.

Hoa Kỳ cũng có thể đã thấy vậy nhưng còn mắc vào những ưu tiên khác nên chỉ phản ứng cầm chừng. Và thật ra cũng chưa tin rằng Trung Quốc đã có khả năng bành trướng để trở thành một mối nguy cho nước Mỹ. Một số giới chức thì lại cho rằng thái độ hung hăng đó của Bắc Kinh càng khiến cho các quốc gia trong khu vực phải chọn lựa. Thay vì Hoa Kỳ phải mất công thuyết phục. Cũng có người lạc quan tin rằng do sự hung hăng này, Bắc Kinh đã tạo thế liên kết Đông Á có lợi cho nước Mỹ, trước tiên là giúp Hoa Kỳ xuất cảng thêm võ khí…. v.v. và v.v…

Bài này xin miễn đi vào những suy luận đó, vì hãy để độc giả có quyền chọn lựa!

http://www.dainamax.org/2011/08/quyen-loi-cot-loi-cua-trung-quoc.html

Huỳnh Ngọc Chênh VIỆT NAM XỨ SỞ CỦA NGHỊCH LÝ
Khi ngồi gõ lại bài báo nầy, tôi đã cười bò lăn vì ngỡ là đang đọc chuyện tiếu lâm. Nhưng rồi ngay sau đó, thấy đau xót. Không ngờ đất nước lại trãi qua một giai đoạn tăm tối và tồi tệ đến mức như vậy mà nhân dân ta vẫn cứ lầm lủi chịu đựng.
Bài báo nầy tôi viết từ năm 1988, được báo Tuổi Trẻ đăng lên mục diễn đàn. Từ đó đến nay tôi không hề đọc lại, nhiều chuyện trong đó tôi đã quên đi. Bây giờ đọc lại thật bất ngờ, không thể nào tin nỗi. Như chuyện lưu hành tiền mệnh giá 30 đồng. Không biết vị lãnh đạo nào của Ngân hàng Nhà nước có sáng kiến động trời ấy, nếu bây giờ còn sống hãy dũng cảm đứng ra nhận trách nhiệm để lịch sử lưu “danh”.
Có những chuyện đã qua rồi như là chuyện tiếu lâm thời Trạng Quỳnh. Nhưng cũng có những chuyện đến bây giờ vẫn còn y như vậy. Ôi nghịch lý !!!!
Ban biên tập Tuổi Trẻ thời đó đã rất dũng cảm khi cho đăng bài nầy. Hẳn sau đó các anh chị trong ban biên tập phải gặp rất nhiều khó khăn với cấp trên.

VIỆT NAM XỨ SỞ CỦA NGHỊCH LÝ

Ở hội nghị bàn tròn các nhà báo Châu Á Thái Bình Dương, trả lời phóng viên báo Utusan(Malaysia), đồng chí Nguyễn Cơ Thạch nói rằng ở nước chúng tôi có thời kỳ giá một trứng vịt 30 đồng, trong khi đó giá một ký thép 5 đồng. Phải có đến 6 kg thép mới mua được một trứng vịt. Trên thế giới không ai làm như thế cả. Chuyện ấy khó tin, nhưng lại là một sự thật. Và đó chỉ là một trong muôn vàn chuyện nghịch lý đã và đang xảy ra ở đất nước ta.
Một giáo viên sau 13 năm giảng dạy, thấy đời sống quá khó khăn, không còn đủ sức theo ngành giáo nữa bèn xin nghỉ dạy. Nhà nước cấp cho chị 13 tháng lương va 6 tháng gạo, qui ra tiền tổng cộng 300.000 đồng. Mang số tiền ấy gửi tiết kiệm lấy lãi 8% mỗi tháng, như vậy không cần phải đi làm việc, mỗi tháng cô giáo lãnh được 24.000 đồng…hơn xa tiền lương lúc còn đi dạy.
Một em bé bán nước tại chợ Cồn Đà Nẵng, mỗi ngày mùa nắng đổ được 30 ấm, mỗi ấm kiếm được 100 đồng, vị chi mỗi tháng thu vào 90.000 đồng. Lương của một vị giáo sư đại học phải thua xa.
Có một dạo, tỉnh nầy thừa gạo nên đem nuôi heo, trong khi thành phố bên cạnh đang thiếu gạo phải cho dân ăn bobo và sắn lát thay cơm. Và hàng hóa sản xuất ra tại nhà máy ở Thủ Đức mà người tiêu dùng ở Chợ Lớn muốn mua phải ra tận Hà Nội mang về! Cung cách làm ăn của ta dựa trên cơ sở những nghịch lý: Người ta phá máy móc tốt để xuất khẩu sắt vụn thu ngoại tệ, dùng ngoại tệ đó nhập máy móc về để cho… han rỉ. Đất đai được chuyển từ người lao động siêng năng cần cù sang những người lười biếng và không biết trồng trọt. Tương tự như vậy, người biết thức khuya dậy sớm để phục vụ nhân dân từ nắm xôi điểm tâm đến cây kim sợi chỉ thì không được phép buôn bán, còn người không biết và không muốn buôn bán thì được giao cho những quầy hàng đồ sộ lộng lẫy.
Nghịch lý cơ bản và nguy hiểm nhất là quyền lợi giữa cá nhân và quyền lợi đất nước mâu thuẫn nhau. Một người lao động chân chính làm hết sức mình một cách thành thật và có năng suất dĩ nhiên sẽ mang lợi đến cho xí nghiệp, cho đất nước nhưng khốn thay bản thân lại đói khổ vì tiền lương quá thấp. Còn ngược lại, nếu chỉ biết lo cho bản thân mình đầy đủ và sung sướng thì dứt khoát anh ta phải làm hại đất nước: ăn cắp, buôn lậu, móc ngoặc, tham ô, gian dối….Do vậy mà có “định lý đảo”: ở Hà Nội có một công dân phải ở tù vì tội sản xuất ra những cây bút và lốp xe tốt hơn và rẻ hơn của nhà nước.
Trong nghiên cứu khoa học xảy ra những nhịch lý: sắn thì giàu đạm hơn thịt bò và hột mít thì ăn ngon và bổ hơn trưng vịt lộn. Đồng thời một giáo sư triết học trước đây tốt nghiệp tiến sỹ tại đại học Sorbone nhưng khi làm bài thi triết ở Việt Nam chỉ đạt được điểm 4/10.
Trong quản lý (tài chính) cũng lắm điều nghịch lý. Người ta in ra tờ giấy bạc ba chục đồng để nâng cao năng suất lao động của nhân viên ngân hàng..vì họ dành nhiều công sức để đếm, nhân chia….
Lại có chuyện nghịch lý như sau. Hai anh em nhà kia cùng rủ nhau đi vượt biên, một người đi lọt và một người bị bắt. Thế là một kẻ bị kết tội phản quốc phải đi tù, kẻ còn lại sau một thời gian trở về thành người yêu nước, được tiếp đón nồng hậu.
Giai cấp tư sản trong nước bóc lột công nhân quá tệ nên được triệt hạ đi, và sau đó người ta trải thảm đỏ mời tư sản nước ngoài vào.
Rồi đến nghịch lý dân chủ: Quốc hội là cơ quan đại diện và quyền lực cao nhất của người dân nhưng trong thực tế được xem như là nơi để…tán thành một cách có tổ chức và kỷ luật khi thông qua hoặc hợp thức hóa mọi chuyện cần hợp thức hóa.. Còn tại một huyện nọ, HĐND huyện phiên đầu tiên bầu chủ tịch huyện, ứng cử viên chỉ có một người duy nhất và điều lệ bầu: ai cũng phải bỏ phiếu và không được quyền bỏ phiếu trắng. Cách làm như vậy được gọi là “dân chủ”…
Trong thông tin có một ngịch lý đáng buồn là muốn biết chuyện xảy ra trong nước phải nghe báo đài nước ngoài, và báo chí ở thành phố HCM thì được tự do bênh vực và ủng hộ nhân dân Nam Phi bị áp bức và công nhân Mỹ bị bóc lột nhưng không được quyền bênh vực cho những người dân bị o ép ở Thuận Hải hay ở các tỉnh khác!
Những chuyện nghịch lý như vậy kể ra còn nhiều nhưng tất cả đều không đáng kể so với điều nghịch lý lớn nhất sau đây: Đến nay vẫn còn có nhiều người không cho những chuyện kể trên là điều nghịch lý
HUỲNH NGỌC CHÊNH
( Đà Nẵng )
http://huynhngocchenh.blogspot.com/2011/08/viet-nam-xu-so-cua-nghich-ly.html

Advertisements

Gửi bình luận »

Không có bình luận

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: