Hoàngquang’s Blog

29/08/2011

CHÍNH LÊNIN MỚI LÀ NGƯỜI ĐÃ LÀM CHO LIÊN XÔ TAN RÃ

Filed under: Chính trị- xã hội,TƯ TƯỞNG — hoangquang @ 2:30 sáng
Tags: ,

Vũ Cao Đàm, theo BVN
BBC -‘Đảng cần cải cách căn bản’
Nguyễn Thanh Tiến Không lãnh đạo
huynhngocchenh LẠI NÓI VỀ TƯ CÁCH NHÀ CẦM QUYỀN
Xích Tử Giấu giếm
Tuấn Thảo / Đức Tâm “Tái ngộ Mỹ-Việt”, bài báo bị kiểm duyệt
***
Vũ Cao Đàm, CHÍNH LÊNIN MỚI LÀ NGƯỜI ĐÃ LÀM CHO LIÊN XÔ TAN RÃ

Đọc bài “Stalin là người đã làm cho Liên Xô tan rã” của Peter Rutland và Philip Pomper do Phạm Nguyên Trường dịch đăng trên Bauxite Việt Nam, tôi sực nhớ đến một cuốn sách rất thú vị, được xuất bản ngay sau ngày nổ ra cuộc Cách mạng Tháng Mười với tiêu đề “Mười ngày rung chuyển thế giới” của John Reed, một nhà nghiên cứu xã hội học người Mỹ, người đã có mặt trong những ngày bão táp của Cách mạng Tháng Mười. Cuốn sách được dịch ra tiếng Việt từ năm 1960 và được tái bản năm 1977.
Điều đặc biệt gây ấn tượng với tôi, là trong cuốn sách đó đã trích dẫn những văn kiện quan trọng cảnh báo Lênin về sự tan rã của Nhà nước Xô-viết, và họ đã dự báo, sự tan rã đó được manh nha ngay từ trong mô hình tổ chức Nhà nước của Lênin: Ngay từ những ngày đầu tiên ngay sau khi Cách mạng Tháng Mười Nga thành công, hàng loạt nhà lãnh đạo của các đảng cộng sản đã phê phán đường lối của Lênin và dự báo sự sụp đổ của Nhà nước Xô-viết. Chẳng hạn, các Ủy viên Hội đồng Dân ủy của Lenin như Noguin, Rưkov, Miliutin, Teodorovitch, Shliavnikov đã ra văn bản tuyên bố:
“Chúng tôi tán thành một chính phủ xã hội gồm mọi đảng phái xã hội. Chúng tôi cho rằng chỉ có một chính phủ như vậy mới có thể củng cố được những thành quả to lớn do giai cấp công nhân và quân đội cách mạng giành được trong những ngày tháng 11 vừa qua. Ngoài chính sách đó ra, chúng tôi chỉ nhìn thấy có một khả năng, là duy trì một chính phủ hoàn toàn bolshevitch bằng chính sách khủng bố chính trị. Hội đồng Dân ủy đã đi theo con đường đó. Chúng tôi không thể và cũng không muốn đi theo họ. Chúng tôi nghĩ rằng con đường đó sẽ dẫn tới sự loại trừ ra khỏi sinh hoạt chính trị những tổ chức vô sản lớn, thiết lập một chế độ vô trách nhiệm và đưa cách mạng và nước nhà tới chỗ bị tiêu diệt. Tự thấy không thể chịu trách nhiệm về một chính sách như vậy, chúng tôi xin từ chức Ủy viên nhân dân trước Ủy ban Xô-viết toàn Nga” [[1]].
Đồng thời, Kameniev, Rưkov, Miliutin, Zinoviev và Noguin đã có thư xin rút khỏi Ban chấp hành Trung ương Đảng [[2]]:
“Chúng tôi nghĩ rằng, thành lập một chính phủ như vậy (gồm tất cả các đảng xã hội) là cần thiết để tránh một cuộc đổ máu mới, tránh nạn đói đe doạ… Chúng tôi không thể nào chấp thuận chính sách tai hại của Trung ương, chính sách chống lại ý nguyện của đại đa số giai cấp vô sản và binh lính, là những người mong muốn hòa bình giữa các nhóm khác nhau của nền dân chủ, và không muốn có đổ máu nữa. Bởi vậy, chúng tôi từ bỏ chức vụ Ủy viên Trung ương để được quyền nói ý kiến của chúng tôi với quần chúng công nông và binh lính… Chúng tôi rời Ban chấp hành Trung ương giữa lúc thắng lợi, giữa lúc đảng của chúng tôi lên nắm chính quyền, bởi vì chúng tôi không thể chịu đựng được lâu hơn nữa và đứng nhìn chính sách của những người lãnh đạo trong Ban chấp hành Trung ương dẫn chúng tôi đến chỗ mất những thành quả của cách mạng và dẫn đến chỗ tiêu diệt giai cấp vô sản”.
Sau này (1935), Trosky cũng đã dự báo sự sụp đổ của Nhà nước Xô-viết của Stalin. Ông viết: “Những người Leninist đã không thể bảo vệ chế độ Xô-viết khỏi tan rã và rơi vào chế độ quân chủ”. Và “Sự sụp đổ của chủ nghĩa Stalin là điều có thể đoán trước được và nó sẽ là sự trừng phạt đích đáng cho hàng loạt tội ác chống lại giai cấp công nhân thế giới [[3]].
Rosa Luxemburg, một nhà lý luận Marxist, nhà triết học xã hội người Đức gốc Ba Lan-Do Thái cũng có nhiều ý kiến về nền độc tài Xô-viết của Lênin [[4]], trong đó gây tranh luận nhiều nhất là hai tác phẩm “Vấn đề tổ chức của Đảng Xã hội Dân chủ Nga” (1904) và “Bàn về cách mạng Nga” (1918).
Trong bài này, bà mạnh dạn phê phán quan điểm sợ giới trí thức có ảnh hưởng nguy hiểm tới phong trào vô sản và phê phán cách tiến hành “chế độ dân chủ tập trung tàn nhẫn” là “chủ nghĩa tập trung cực đoan”, kết quả “Ủy ban trung ương trở thành hạt nhân tích cực thật sự, còn tất cả các tổ chức khác chẳng qua chỉ là công cụ chấp hành của trung ương mà thôi.”
Năm 1918, khi đang ở trong tù, bà viết bài “Bàn về cách mạng Nga”. Bản thảo chưa hoàn tất này đưa ra những ý kiến mạnh mẽ phê bình Đảng Cộng sản Bolshevich Nga, chủ yếu nói đảng này đã đối lập chuyên chính với dân chủ, nhấn mạnh chuyên chính mà thủ tiêu dân chủ.
Bà viết: chuyên chính vô sản là “chuyên chính của giai cấp chứ không phải là chuyên chính của một đảng hoặc một tập đoàn. Đó là chuyên chính thực hành dân chủ không hạn chế… tiến hành công khai với mức độ tối đa, được quần chúng nhân dân tham gia một cách tích cực nhất và không bị ngăn trở.” Bà luôn cho rằng bản chất của xã hội XHCN là ở chỗ đa số quần chúng lao động không còn là quần chúng bị thống trị mà là người chủ toàn bộ đời sống chính trị kinh tế của mình, làm chủ một cách có ý thức trong sự tự do, tự quyết.
Về dân chủ XHCN, Rosa Luxemburg bao giờ cũng liên hệ nó với khái niệm tự do và dùng khái niệm ấy để giải thích. Trong “Bàn về cách mạng Nga”, bà viết: “Tự do bị hạn chế thì đời sống công cộng của nhà nước sẽ khô khan, nghèo nàn, công thức hóa, không có hiệu quả. Đó là do thủ tiêu dân chủ mà bịt mất nguồn của mọi tài sản tinh thần và sự sôi nổi trong đời sống”.
Bà viết: “Cùng với sự áp chế đời sống chính trị của cả nước, đời sống Xô-viết nhất định sẽ ngày một tê liệt. Không có bầu cử, thiếu vắng ngành xuất bản không bị hạn chế và sự tự do hội họp… thì đời sống của bất cứ tổ chức công cộng nào cũng dần dần bị tiêu diệt, trở thành đời sống không có linh hồn, chỉ có tầng lớp quan liêu vẫn là nhân tố hoạt động duy nhất”.
Bà vạch rõ, phải cảnh giác với việc chuyên chính vô sản diễn biến thành “sự thống trị của một tập đoàn nhỏ”, “chuyên chính của một nhóm nhà chính trị”, “chuyên chính trên ý nghĩa thống trị của phái Jacobin”.
Bà cảnh báo: nếu cứ để tình trạng đó phát triển thì nhất định sẽ dẫn đến “sự dã man hóa đời sống công cộng”, gây ra sự cưỡng chế, nỗi sợ hãi và nạn tham nhũng, sự “suy đồi đạo đức”.
Rõ ràng, sự sụp đổ của Nhà nước Xô-viết đã được cảnh báo và dựa trên nền độc tài theo mô hình tổ chức Nhà nước của Lênin và càng được khoét sâu thêm bởi sự dã man hóa đời sống công cộng của Stalin.
Lời dẫn của bản dịch “Mười ngày rung chuyển thế giới” cũng cho biết, năm 1919 Lênin đã đọc John Reed một cách hứng thú và đã viết thư cổ vũ Nhà xuất bản ở Mỹ và không có ý kiến gì bác bỏ những sự kiện về lời cảnh báo của những nhà cách mạng cùng thời với ông.
V.C.Đ.
[1] John Read: Mười ngày rung chuyển thế giới, Nxb Văn hóa, Hà Nội, 1960, Bản dịch tiếng Việt của Đặng Thế Bính và Trương Đắc Vỵ, tr. 336 (đã đối chiếu bản tiếng Anh).
[2] John Read: Mười ngày rung chuyển thế giới, Nxb Văn hóa, Hà Nội, 1960, Bản dịch tiếng Việt của Đặng Thế Bính và Trương Đắc Vỵ, tr. 337 (đã đối chiếu bản tiếng Anh).
[3] Trotsky: Stalin đã đánh bại cánh tả như thế nào? Báo Sự thật, Tháng 11/1935, http://www.marxists.org/vietnamese/trotsky/1935/11/taisao.htm
[4] Xem: http://en.wikipedia.org/wiki/Rosa_Luxemburg
http://boxitvn.blogspot.com/2011/08/chinh-lenin-moi-la-nguoi-lam-cho-lien.html

http://tiengnoidanchu.wordpress.com/2011/08/27/chinh-lenin-m%e1%bb%9bi-la-ng%c6%b0%e1%bb%9di-da-lam-cho-lien-xo-tan-ra/
‘Đảng cần cải cách căn bản’ -BBC

Ông Võ Viết Thanh (phải) đón Tổng thống Bill Clinton trong chuyến thăm đến Thành phố Hồ Chí Minh năm 2000
Tài liệu Wikileaks mới tung ra cho thấy có quan chức cao cấp ở Việt Nam tỏ ra “thất vọng” trước sự trì trệ của Đảng Cộng sản trong tiến trình cải tổ ở Việt Nam.

Ông Võ Viết Thanh, cựu Chủ tịch Ủy ban Nhân dân thành phố Hồ Chí Minh được trích lời nói với quan chức ngoại giao Hoa Kỳ hồi năm 2005 rằng Đảng Cộng sản cần ‘cải cách căn bản’ để chống tham nhũng, chấm dứt nạn ‘Con ông cháu cha’ và thúc đẩy phát triển kinh tế.
Trong điện tín được tổng hợp từ Lãnh sự quán Hoa Kỳ ở thành phố Hồ Chí Minh hôm 20/4/2005, ông Thanh cũng được dẫn lời thừa nhận rằng Đảng Cộng sản cần mở rộng quyền bỏ phiếu của người dân để họ có thể bầu những vị trí cao cấp nhất của Đảng và Chính phủ.
Ông Thanh, người cũng từng là Thứ trưởng Công an, nói Đảng Cộng sản “cần học cách tiếp nhận nhiều chỉ trích hơn nhiều so với hiện nay”.
Bản thân ông thuộc lứa cách mạng từ thời trước 1975 và được phong anh hùng các lực lượng vũ trang của tỉnh Bến Tre từ thời chống Mỹ.
Vào thời điểm được trích lời năm 2005 ông cho hay đang nghiên cứu một đề nghị để định nghĩa lại về mặt pháp lý thế nào là bất đồng chính kiến và các “phần tử phản động” nhằm cho người dân có thêm không gian để có những chỉ trích có tính xây dựng đối với chính quyền.
Tuy nhiên, BBC không thể kiểm chứng được những điều này cũng như diễn tiến nếu có của việc ‘nghiên cứu’ đó, vốn chỉ được nêu ra trong điện tín Wikileaks lấy được từ phía ngoại giao Hoa Kỳ.
‘Thân Trung Quốc’

Trong điện tín được tổng hợp từ Lãnh sự quán Hoa Kỳ ở thành phố Hồ Chí Minh hôm 20/4/2005, ông Thanh cũng được dẫn lời thừa nhận rằng Đảng Cộng sản cần mở rộng quyền bỏ phiếu của người dân để họ có thể bầu những vị trí cao cấp nhất của Đảng và Chính phủ.
Lãnh sự quán Hoa Kỳ nói ông Thanh thể hiện những ý kiến của ông trong cuộc gặp với Tổng Lãnh sự Hoa Kỳ hôm 18/4/2005.

Ông Võ Viết Thanh (mặc thường phục) hiện đã nghỉ hưu là bậc cha chú của các nhân vật an ninh sau này như Đại tướng Lê Hồng Anh (đứng bên trái ông)
Trước đó, phía Hoa Kỳ nói, ông Thanh đã gặp lãnh sự quán hai lần hồi tháng 11/2004 và 1/2005.
Các quan chức lãnh sự nhận định ông Thanh là ‘đệ tử’ của cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt và là người thiên về cải cách kinh tế và xã hội trong Đảng Cộng sản.
Ông Thanh nói đa số các quan chức cao cấp của Đảng Cộng sản đều thấy có những điểm chung về lợi ích với Hoa Kỳ về dài hạn và muốn có đối thoại chiến lược hơn do lo ngại về sức mạnh ngày càng tăng của Trung Quốc trong khu vực.
Tuy nhiên, ông nói rằng những nhân vật “thân Trung Quốc” và khối lý luận tư tưởng trong Đảng (Party ideologues) chống lại xu thế này.
Trong cuộc gặp hôm 18/4/2005, khi ông Thanh vừa có chuyến thăm Tây Nguyên trở về, ông nói chính phủ Việt Nam cũng đang phải giải quyết tình trạng các quan chức cấp tỉnh ngăn cản việc thực hiện hướng đi mới của Hà Nội trong việc giải quyết các vấn đề kinh tế, tôn giáo và xã hội.
Có vẻ như nhận xét của cơ quan ngoại giao Mỹ về quan điểm của ông Võ Viết Thanh phù hợp với các phân tích về điều một số nhà quan sát gọi là “phái cải cách theo con đường Võ Văn Kiệt”.
Sau 1975, khi làm lãnh đạo Đảng tại TPHCM, ông Võ Văn Kiệt là nhân vật có tư duy cởi mở trong mối quan hệ với những trí thức thuộc chế độ cũ cũng như cố gắng kết nối trở lại trong quan hệ với nước cựu thù Hoa Kỳ.
Cùng thuộc phái Nam Bộ Kháng chiến với ông Kiệt, điều dễ hiểu là ông Thanh chịu ảnh hưởng của nhân vật từng được cho là “kiến trúc sư” của cuộc cải cách mang tên Đổi Mới tại miền Nam và sau là của cả nước.
Ông Võ Viết Thanh, cựu ủy viên Trung ương Đảng và là một nhân vật chủ chốt trong Thành Ủy đầy quyền lực tại Sài Gòn từ 1986 đến 1991, giai đoạn thành phố này đi đầu tàu trong cải cách ở Việt Nam.
Nay đã nghỉ hưu nhưng hồi 2006, ông được Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng thay mặt Nhà nước tặng Huân chương Độc lập hạng nhì.
Hàng trăm tài liệu về Việt Nam đã được trang Wikileaks đưa ra trong ngày 25/8/2011 ghi nhận các quan sát của giới ngoại giao Mỹ tại Hà Nội và TPHCM về chính trường Việt Nam.
Nhiều chủ đề trong số này thực ra đã được dư luận trong và ngoài nước của người Việt biết đến và bàn thảo không công khai từ lâu nhưng đây là lần đầu tiên các bình luận được hệ thống hóa đầy đủ theo cách của ngành ngoại giao Hoa Kỳ.
Nhiều đánh giá có thể chỉ còn giá trị lịch sử hơn là thời sự nhưng các tài liệu này cũng cho thấy Hoa Kỳ theo dõi rất sát các xu hướng trong và ngoài hệ thống chính trị Việt Nam, và đánh giá rõ tính cách, quan điểm của các nhân vật liên quan vào từng giai đoạn.
BBC sẽ tiếp tục đưa tới quý vị những tin tức từ các tài liệu này trong những ngày tới đây.
http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/2011/08/110826_vo_viet_thanh_comment.shtml

Nguyễn Thanh Tiến Không lãnh đạo

Về những cuộc cách mạng ở Châu Phi

Nếu như thế kỷ 20 là thế kỷ của các cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, là thế kỷ của các vị lãnh đạo “vĩ đại” đã đứng lên tập hợp quần chúng, chỉ huy người dân tham gia giải phóng dân tộc, chấm dứt sự đô hộ của các nước đế quốc trên toàn cầu. Thì thế kỷ 21, khi vừa hết được thập kỷ đầu tiên, đã cho thấy nó lại là một thế kỷ của những cuộc cách mạng. Nhưng khác với tất cả các cuộc cách mạng trước, lần đầu tiên trong lịch sử, con người chứng kiến những cuộc cách mạng mà không có sự tổ chức, lãnh đạo của bất kỳ một đảng phái, hay cá nhân nào, thay vào đó là vai trò của Internet, của các mạng xã hội như Facebook, Tweeter hay Youtube… (mà gọi chung là “thông tin mạng”).
Với ai đó đã quá quen thuộc với những cuộc cách mạng phải được chuẩn bị chu đáo (tới hàng chục năm), phải xây dựng lực lượng và phải làm công tác tuyên truyền cho người dân… chắc hẳn sẽ không nhìn nhận những gì vừa xảy ra ở Châu Phi là cách mạng, bởi tính chất gần như là “tự phát” của nó. Bắt đầu từ chuyện chàng sinh viên Mohamed Bouazizi bị cảnh sát Tunisia cướp đi sạp bán trái cây kiếm sống, rồi sau đó chàng trai này tự thiêu để phản đối. Những hình ảnh đó được truyền đi trên Youtube đã khiến một vài người biểu tình phản đối chính quyền, tiếp đó là biểu tình lan rộng ra toàn quốc, dẫn đến chính quyền bị lật đổ. Khi chính quyền Tunisia đã bị lật đổ thì nó lan rộng sang Ai Cập và nhiều nước ở Châu Phi khác… Dường như mọi thứ đều “tự phát” và “vô tổ chức”. Thế nên tại Tunisia, Ai Cập, sau khi đã lật đổ thành công các chính phủ độc tài, nhân dân lại phải loay hoay đi tìm người đứng đầu đất nước. Đây là một điều rất “lạ”, bởi từ trước tới nay sau mỗi cuộc cách mạng thành công thì người lãnh đạo cách mạng thường nhanh chóng đứng lên nắm chính quyền.
Vậy bằng cách nào mà chỉ một vài hình ảnh được truyền đi trên Internet mà đã mang lại “hậu quả” nặng nề đến như vậy? Tại sao nhân dân các nước Châu Phi lại đồng loạt đứng lên lật đổ chính quyền? Và vai trò của Internet trong những cuộc cách mạng trên như thế nào? Để trả lời câu hỏi này, theo tôi, ta phải nhắc đến những nguyên nhân sau:
Nguyên nhân thứ nhất: thông tin mạng đã mang lại quyền tự do ngôn luận nhiều hơn cho người dân. Bởi khác với các hình thức truyền thông trước đây như báo chí, truyền thanh, truyền hình… nơi mà chỉ một nhóm đối tượng được sự kiểm soát chặt chẽ của chính quyền mới được phép đưa đăng tin. Thì thông tin mạng cho phép tất cả mọi người đều được đăng thông tin mà không phải xin phép của ai, không cần phải có thẻ nhà báo, cũng không cần các thiết bị phát thanh, phát hình đắt tiền phức tạp, mọi người dân đều có thể đưa thông tin lên mạng dưới dạng website, blog, forum, hay các mạng xã hội. Do vậy cùng sự phổ biến của Internet, sự nở rộ của các dịch vụ mạng như web cá nhân, blog và mạng xã hội… thì người cũng được tiếp cận thông tin và thể hiện quan điểm của mình một cách tự do hơn.
Nguyên nhân thứ hai: mặc dù bất kỳ ai có thể đưa bất cứ cái gì lên mạng, và nó hoàn toàn không bị kiểm soát trước khi đưa lên, nhưng không có nghĩa là thông tin mạng không đáng tin cậy. Ví dụ như trên Facebook, nếu anh đăng một bài viết, nó sẽ được đọc bởi các “friends” của anh và nếu bài viết không thú vị nó sẽ nhanh chóng đi vào quên lãng. Nhưng nếu đấy là một bài viết hay, người đọc xong sẽ “share” bài viết của anh, để những người khác cùng đọc, rồi những khác này thấy hay lại tiếp tục “share” cho người khác nữa… Hoặc nếu chẳng may anh viết sai gì đấy, người đọc cũng nhanh chóng “comments” giúp anh nhận ra cái sai của mình. Có thể nói với phương pháp truyền tin theo kiểu “lan truyền”, thông tin mạng đã khiến người dùng phải cùng một lúc đóng nhiều vai trò, vừa là tác giả, vừa là độc giả, cũng đồng thời là một nhà phê bình, một người biên tập. Thế nên sẽ không quá khi nói rằng thông tin mạng có độ tin cậy cao hơn thông tin chính thống, bởi khi một thông tin đã lan truyền phổ biến trên mạng thì về cơ bản nó đã được “xác minh”,” kiểm duyệt” bởi rất nhiều người.
Chính vì mọi người tham gia vào thông tin mạng đều là độc giả kiêm nhà biên tập, dẫn đến không thể tồn tại một ông “tổng biên tập” nào có thể đứng ra kiểm soát, “định hướng” thông tin được. Mà thay vào đó, thông tin sẽ được “định hướng” theo quy luật của tự nhiên, đó là hướng tới sự thật (chân lý). Đối với những chính quyền như Tunisia, Ai Cập, Libi (trước khi bị lật đổ) thì thông tin mạng có tác dụng như những “thế lực thù địch” ngày ngày phơi bày bản chất độc tài, tham nhũng họ. Hình ảnh các vị lãnh tụ như Ben Ali, Mubarak, Gradafi ngày càng kém “vĩ đại” (theo cách mà thông tin chính thống của họ vẫn tuyên truyền), thay vào đó là hình ảnh những ông “vua” với tài khoản có được từ tham nhũng lên tới hàng chục tỷ đô. Người dân thay vì thấy mình được “tự do, hạnh phúc” thì ngày càng ý thức được những gông cùm vô hình đang đè lên người họ. Vì thế, tại đây, một ngày nào đó người dân đứng lên lật đổ chính quyền thì đó là một điều hoàn toàn dễ hiểu.
Nguyên nhân thứ ba: nhờ có thông tin mạng con người có thể kết nối với nhau dễ dàng hơn. Chính vì thế mà trong thời đại thông tin, không cần phải có một tổ chức nào đứng ra “tập hợp lực lượng”, những người “đồng chí” vẫn có thể dễ dàng tìm đến với nhau, không cần ai lãnh đạo, họ cũng có thể cùng bàn bạc, cùng quyết định và cùng hành động. Trường hợp cách mạng ở Châu Phi chính là một ví dụ như thế, khi hình ảnh chàng sinh viên Mohamed tự thiêu được phát đi trên Youtube, đã làm nhiều người thể hiện sự bức xúc của họ, sự thể hiện này nhanh chóng được sự hưởng ứng của những người cùng quan điểm, rồi sau đó họ cùng làm nên các cuộc biểu tình, cuộc biểu tình này bản thân nó lại là một sự “tuyên truyền” đến tất cả các tầng lớp trong xã hội buộc những người còn phải tự lựa chọn con đường của mình. Và lựa chọn của người dân các nước Châu Phi đã cho thấy, họ đã “giác ngộ” từ lâu, thế nên không cần ai “chỉ đạo”, phần lớn họ đều chọn lựa con đường tiến bộ hơn, đó là con đường cách mạng, lật đổ chế độ độc tài.
Như vậy, thực chất những gì xảy ra ở Châu Phi, mặc dù không có người lãnh đạo nhưng nó hoàn toàn không phải là những cuộc bạo loạn tự phát, mà đó là các cuộc cách mạng dân chủ, đó hệ quả tất yếu của một quá trình lâu dài người dân tích lũy nhận thức về bản chất của chế độ mà mình đang sống. Đồng thời cuộc cách mạng Châu Phi cũng là hồi chuông cảnh báo về những cuộc cách mạng giành tự do dân chủ sẽ diễn ra trên phạm vi toàn thế giới trong thế kỷ 21.
Tại sao việc ngăn chặn cách mạng dân chủ của các chế độ độc tài đều thất bại?

Trước hết phải khẳng định sự sụp đổ của các chính quyền độc tài là không thể tránh khỏi trong thế kỷ 21 này. Bởi sức mạnh của Internet đã len lỏi vào từng ngõ ngách trên trái đất (trừ tại Triều Tiên, nhưng nước này chắc chắn sẽ không còn khi chính quyền độc tài Trung Quốc bị thay thế), do vậy cuộc cách mạng dân chủ sẽ xảy ra ở các nước độc tài là không thể ngăn chặn.
Đã quá muộn với những nước độc tài để có thể làm giảm bớt ảnh hưởng của Internet lên quá trình nhận thức của người dân, bởi giờ đây Internet đã là một phần không thể thiếu trong hoạt động hàng ngày của con người.
Mọi hành động nhằm ngăn cản quyền tự do thông tin (như đặt proxy, chặn Facebook, sử dụng hacker…) không hề có tác dụng, mà ngược lại chỉ làm người dân nhanh chóng hơn nhận ra bản chất phi nghĩa của chính quyền.
Việc đe dọa, trấn áp những người dám lên tiếng với mục đích bịt miệng, gây sợ hãi, thì chỉ khiến người dân ngày càng đoàn kết với nhau hơn, mà càng đoàn kết họ càng bớt sợ, thành ra ngày càng nhiều người dám lên tiếng.
Việc quy kết, bắt giữ một vài cá nhân, tổ chức được coi là “thế lực thù địch” hoàn toàn vô tác dụng bởi cuộc cách mạng này không cần có người lãnh đạo, mà nó được xuất phát từ hoạt động bình thường nhất của mỗi người dân đó là “nói thật”.
Việc kiểm soát báo chí, bưng bít thông tin chỉ khiến người dân thêm tò mò, tìm đến với các trang thông tin tự do, không bị kiểm soát.
Rồi cả việc sử dụng chính phương pháp lan truyền của thông tin mạng tung tin, định hướng người dân cũng ngày càng vô dụng, bởi người dân ngày càng biết cách đọc và chọn lọc thông tin.
Thế nên có thể nói các chính quyền độc tài đã hoàn toàn thất bại, tất cả các biện pháp nhằn ngăn chặn cuộc cách mạng của họ chỉ có tác dụng thúc đẩy cuộc cách mạng diễn ra nhanh hơn.
Kết luận

Như vậy có thể khẳng định, dưới sức mạnh của thông tin mạng, thế kỷ 21 sẽ diễn ra làn sóng dân chủ trên phạm vi toàn thế giới, dần xóa bỏ tất cả các nhà nước độc tài, mang lại tự do thực sự cho người dân. Phong trào cách mạng này có thể được coi như sự tiếp nối của phong trào cách mạng dân tộc của thế kỷ 20 và là sự kết thúc thắng lợi của 2 thế kỷ liên tiếp con người đấu tranh giành quyền được sống độc lập, tự do, hạnh phúc (đấu tranh dành độc lập cho dân tộc ở thế kỷ 20, và đấu tranh dành tự do cho con người ở thế kỷ 21).
N.T.T.

Tác giả gửi trực tiếp cho BVN.
http://boxitvn.blogspot.com/2011/08/khong-lanh-ao.html#more

Để lại phản hồi »

Chưa có phản hồi.

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Tạo một website miễn phí hoặc 1 blog với WordPress.com.

%d bloggers like this: