Hoàngquang’s Blog

23/08/2011

Xuân đã về đến Ả Rập để mùa Ðông lại với Trung Hoa

Filed under: VN & Thế giới — hoangquang @ 6:13 sáng
Tags: , ,

James Fallows

Nguyễn Xuân Nghĩa “Mùa Xuân Á Rập”… Bị Đông Lạnh
Mặc Lâm,RFA Kinh nghiệm nào cho Việt Nam từ Lybia?
RFA Người Việt nghĩ gì về sự kiện Tripoli?

Ngay sau khi các cuộc xuống đuờng ở Tunisia và Ai Cập bùng nổ, một loạt các vụ biểu tình phản đối mang tên “Hoa Nhài” cũng đã xảy ra ở Trung Quốc, cho đến khi chính quyền chặn đứng phong trào đó. Các biện pháp của chính quyền Trung Quốc giờ đây quỷ quyệt và thâm độc hơn so với thời kỳ xảy ra vụ Thiên An Môn. Phải chăng các phản ứng chống đỡ của chính quyền chỉ là chứng lo sợ hoang tưởng? Hay người dân Trung Quốc đã quá bất mãn, nên dễ bùng nổ mạnh hơn là những gì họ thể hiện ra bên ngoài?
The Atlatic
Xuân đã về đến Ả Rập để mùa Ðông lại với Trung Hoa

James Fallows
Tháng 9-2011
Một điều gì đó lớn lao đang xảy ra ở Trung quốc, đã được khởi động ngay từ lúc bắt đầu các cuộc biểu tình “Mùa Xuân Ả Rập” cũng như những sự thay đổi chính quyền, đầu tiên ở Tunisia và sau đó ở Ai Cập: một làn sóng trấn áp lan rộng và nghiêm trọng nhất kể từ vụ đàn áp ở Quảng trường Thiên An Môn 22 năm trước. Dĩ nhiên, “tồi tệ nhất kể từ vụ Thiên An Môn” không có nghĩa là “tệ hại như vụ Thiên An Môn” . Do chính quyền đã bỏ nhiều công sức để giành được sự kiểm soát, cho đến nay đã không có các cuộc phản kháng có tính chất phối hợp toàn quốc. Binh lính của Quân Giải Phóng Nhân Dân Trung Quốc trong các sắc phục màu xanh dễ nhận biết không đóng một vai trò chính nào như họ đã từng làm trước đây khi ngăn cản các cuộc biểu tình chống đối. Trái lại, sự cưỡng chế khắp nơi trên đất nước được dành cho lực lượng cảnh sát thông thường, đặc trưng bởi các bộ đồng phục màu xanh đậm; các đội tuần tra “quản lý đô thị” đáng sợ, được biết tới như chengguan, cũng trong các bộ đồng phục xanh đậm; các lực lượng dự bị lớn của mật vụ; và nhiều bộ phận ít công khai hơn của một bộ máy an ninh nhà nước, hiện có ngân sách lớn hơn cả ngân sách quân đội chính qui của Trung Quốc.
Khác với năm 1989 (là năm xảy ra vụ Thiên An Môn – ND), đối với phần đông dân chúng trong nước, đời sống và công ăn việc làm vẫn tương đối bình thường kể từ khi bắt đầu “Mùa Xuân Ả Rập”. Giờ đây các mối bận tâm chính trong nước ở Trung Quốc là lạm phát tăng nhanh, đặc biệt là giá cả thực phẩm; nạn hạn hán nghiêm trọng lâu dài trên toàn quốc (bị gián đoạn bởi các đợt lũ lụt địa phương nặng nề), đã đe dọa các nông trại ở các tỉnh miền nam trũng ướt và gây ra tình trạng “chảo bụi” ở các vùng phía bắc thường khô ráo; các vụ bê bối lan tràn và mối lo sợ của công chúng về nguồn cung cấp thực phẩm bị nhiễm độc. Trong tháng Năm, một bản báo cáo dựa trên các số liệu từ Bộ Y tế Trung Quốc cho thấy, ung thư đã trở thành nguyên nhân gây tử vong hàng đầu của đất nước, là điều bất thường và tiết lộ điều khác biệt. Thông thường, nguyên nhân chính gây tử vong ở các nước nghèo là các dịch bệnh nhiễm trùng, trong khi ở các nước giàu có thường là bệnh tim mạch, và hậu quả của việc ít vận động, lối sống sung túc. Sự gia tăng phổ biến của các bệnh ung thư kể cả “ các làng ung thư” nằm gần các nhà máy và khu mỏ ở các vùng quê nghèo của Trung Quốc đã được các nhà bình luận Trung Quốc nêu ra như là một chỉ dấu khẩn cấp khác trong việc đối phó với hậu quả môi trường do sự phát triển không ngừng của đất nước. Tất cả những điều kể trên đều là những mối lo lắng quen thuộc thường lệ đối với nước Trung Quốc hiện đại.
Một loạt vấn đề ít quen thuộc hơn đã phát triển với một tốc độ đáng kinh ngạc trong năm nay. Hồi giữa tháng Giêng, ông Hồ Cẩm Ðào đã gặp ông Obama ở Washington, đây cũng là dịp được coi là chuyến công du chính thức cuối cùng của ông Hồ đến Hoa Kỳ. Chỉ trong vòng chưa đầy một năm nữa, ông Hồ sẽ kết thúc chức vụ chủ tịch trong nhiệm kỳ 5 năm lần thứ hai và sẽ phải nhường lại chức vụ này cho người kế tục được chỉ định, đó là Phó Chủ Tịch Tập Cẩn Bình. Các cuộc gặp gỡ ở Washington mang tính xây dựng và tích cực mà một sự kiện như thế có thể có được. Obama đã tổ chức buổi tiệc chiêu đãi cấp nhà nước tại Nhà Trắng (vợ tôi và tôi đã được tham dự) là nghi thức đón tiếp mà ông Hồ đã không nhận được trong lần thăm viếng Hoa Kỳ trước đó: 5 năm trước, Tổng thống George W. Bush chỉ mời ông Hồ ăn trưa tại Nhà Trắng, một sự bỏ sót đáng ngạc nhiên với các thông lệ chuẩn mực của Trung Quốc vốn thường thiết lập chương trình làm việc cho cả những việc tầm thường nhất xung quanh buổi lễ tiệc đón tiếp. Các quan chức từ hai phía nêu lên sự các khác biệt về các lĩnh vực chính trị và kinh tế (bán vũ khí cho Ðài Loan, địa vị của Dalai Lama…) nhưng cũng đã ký một loạt các thỏa thuận hợp tác trong các lĩnh vực, từ nghiên cứu năng lượng sạch, đến trao đổi sinh viên và tăng cường hợp tác quân sự.
Tổng thống Ben Ali đã bị buộc phải từ chức ở Tunisia chỉ vài ngày trước khi Hồ Cẩm Ðào lên đường đến Washington. Các cuộc biểu tình ở quảng trường Tahir chống lại Hosni Mubarak ở Ai Cập bắt đầu chỉ ngay sau khi ông Hồ quay về đến Bắc Kinh, và liền tiếp theo đó là các cuộc nổi dậy ở Jordan, Yemen, Syria và Libya. Sự lan truyền của các cuộc nổi dậy chống đối chính quyền từ một nước Ả Rập đạo Hồi sang các nước láng giềng bên cạnh dường như là điều có thể tiên đoán được. Ðiều khó có thể đoán được là ảnh hưởng của phong trào đó như thế nào ở Trung Quốc.
Vào trưa ngày Chủ nhật ngày 20 tháng 2, trong khi quân lính của Muammar Quadafi đang bắn vào những đám đông không được trang bị vũ khí ở Benghazi, một nhóm nhỏ người Trung Quốc đã tổ chức biểu tình đầu tiên trong một loạt các cuộc biểu tình “Hoa Nhài“, dự định hằng tuần, với mục đích phát huy tinh thần của các cuộc biểu tình “Mùa Xuân Ả Rập” ở một số thành phố chính của Trung Quốc. Cuộc biểu tình đó ở Bắc Kinh được tổ chức ngay trước nhà hàng McDonald, tại ngã tư Wangfujing, cách Tử Cấm Thành và Quảng trường Thiên An Môn không xa. Hôm đó, vài chục người biểu tình đã có mặt cùng số lượng nhà báo nước ngoài đông cỡ như lượng người biểu tình, cộng thêm một số lớn những người đi qua đường và những người đến xem (Wangfujing vào dịp cuối tuần là một trong những khu vực bị ùn tắc giao thông nhiều nhất ở Bắc Kinh), và đông hơn thế nữa là các nhóm cảnh sát đồng phục và cảnh sát chìm.
Trong số những người đứng xem có Jon Huntsman Jr. cùng với gia đình ông. Huntsman lúc bấy giờ là Ðại sứ Hoa Kỳ tại Trung Quốc, trước khi trở về nước để tranh cử chức vụ tổng thống. Ông ấy trông giống như bức biếm họa văn hóa nhạc pop Trung Quốc theo kiểu cool-cat của người Mỹ (một kiểu tranh biếm họa ở Mỹ). Ngày hôm đó lạnh nhưng nắng chói chang rực rỡ. Ông ấy đeo kính râm, mặc một cái áo khoác da nâu theo kiểu trong phim Top-Gun với một lá cờ Hoa Kỳ đính vào bên vai trái. Ông ấy là nhân vật đã được biết nhiều ở Bắc Kinh, từ việc cưỡi xe đạp xung quanh thành phố đến việc nói thông thạo tiếng quan thoại. Ông đại sứ đã bị những người Trung Quốc nhanh chóng nhận ra trong đám đông và đã bị chụp ảnh bằng các máy ảnh trong điện thoại di động. Các bức ảnh cùng với video đó đã nhanh chóng được phát tán trên mạng internet.
Mặc dù Huntsman khăng khăng rằng ông đang đi dạo cùng với gia đình và chỉ tình cờ đến gần chỗ biểu tình, không một ai ở Trung Quốc tin điều đó. Ðoạn video quay ông cùng với hai cậu con trai vạm vỡ, bị tưởng nhầm là hai người bảo vệ, nhanh chóng được lan truyền ở Trung Quốc, như bằng chứng là Hoa Kỳ đã xúi giục các cuộc biểu tình. Tôi không biết sự hiện diện của Huntsman có thực sự là tình cờ hay không, nhưng tôi biết việc có mặt của một đại diện cao cấp Hoa Kỳ tại đó là tai hại. Nên biết rằng mức độ siêu nhạy cảm của chính quyền Trung Quốc và nhiều người dân, ám chỉ về sự can thiệp của nước ngoài đối với các vấn đề nội bộ của Trung Quốc. (Trong một đoạn video được phổ biến rộng rãi nhất, một người đàn ông Trung Quốc đã la lên với Huntsman “Ông muốn hỗn loạn ở Trung Quốc, phải không?“). Sự việc này cũng đã minh họa sự bất tiện của việc Huntsman tiếp tục ở lại trên cương vị Ðại sứ tại một nước vừa là đối thủ, vừa là đối tác quan trọng nhất của Hoa Kỳ, trong khi đó lại có ý định ra tranh cử công khai, chống lại tổng thống là người đã bổ nhiệm ông ấy.
Chỉ trong vòng 2 ngày sau, con đường ngoài tiệm McDonal ở Wangfuging hầu như đã bị các tấm biển “Sửa đường” chặn lại hoàn toàn. Vào Chủ nhật kế tiếp, khi cuộc biểu dương “Hoa Nhài” vốn đã được dự kiến tổ chức thì hầu như không có một người biểu tình nào xuất hiện ở Wangfujing cả. Thay vào đó là một số lượng lớn các nhà báo nước ngoài và những người du lịch cùng với hàng trăm nhân viên, thuộc lực lượng an ninh. Hôm đó, những người biểu tình “Hoa Nhài” ở Thượng Hải đã tập hợp được một buổi biểu dương lớn hơn, nhưng hóa ra đó cũng chính là mức cao điểm nhất của phong trào. Ðến cuối tháng Hai, “phong trào” Hoa Nhài đã đi đến hồi kết thúc một cách dứt điểm.
Vợ tôi và tôi đã sống ở Trung Quốc, chủ yếu ở Bắc Kinh, từ tháng Hai đến tháng Ba, và vì vậy chúng tôi đã có cơ hội nhìn thấy phong trào này được xây dựng ban đầu như thế nào và sau đó đã bị dập tắt ra sao, ít nhất là trong một giai đoạn. Một trong những thực tế khó khăn nhất để lột tả cho được đời sống [của người dân] ở một nước Trung Quốc hiện đại (và độc giả của Atlantic biết rằng, tôi đã cố gắng trong nhiều năm) là, ở đó đã bị [chính phủ] kiểm soát một cách ngặt nghèo, trong khi phải mở ra [với thế giới bên ngoài] như thế nào. Đa phần của đất nước cũng như phần lớn mưu cầu của người dân, Mùa Đông Trung Quốc tiếp theo sau Mùa Xuân Ả Rập này, cuộc sống dường như bình thường. Nền kinh tế vẫn tiếp tục phát triển; nông dân lo lắng về vụ mùa của họ, còn sinh viên thì lo về thi cử; các kỹ sư thiết kế các đường tàu cao tốc. Tôi đã ở Trung Quốc chủ yếu để viết về các tham vọng lớn về kỹ thuật cao của nước này, và tuyệt đối không có vấn đề gì về các cuộc phỏng vấn hoặc các chuyến tham quan nhà máy của tôi tỏ ra không bình thường cả.
Tuy vậy, đối với những người sống ở Trung Quốc, những người đã định rõ công việc của họ có liên quan đến chính trị dưới mọi hình thức, thì áp lực [đối với họ] là rất cao. Ðầu tiên, trong tháng Hai, một số lớn các luật sư về nhân quyền và công ích (vâng, họ có tồn tại) đã bị bắt và bỏ tù hoặc bị biến mất, theo cách của Chile thời Pinoche (tác giả so sánh với thời kỳ đàn áp dân chủ cực kỳ tàn bạo dưới thời nhà độc tài khét tiếng Pinoche của Chile – ND). Một khi họ biến mất, những người mà lẽ ra sẽ được các luật sư này đại diện hoặc bảo vệ – các nhà văn, các giáo sư, các blogers, các nhà hoạt động dưới nhiều hình thức – cũng đã bị bắt hoặc biến mất luôn. Ủy Ban Nobel đã bày tỏ mối lo ngại không chỉ về việc người được nhận giải thưởng Hòa bình gần đây nhất, nhà hoạt động tranh đấu nhân quyền, ông Lưu Hiểu Ba vẫn bị cầm tù, mà còn cả việc họ không có được tin tức gì về ông ấy trong nhiều tháng trời. Joshua Rosenzweig viên chức nhân quyền ở Hồng Kông đã viết trong tháng Ba rằng: “các dấu hiệu thắt chặt kiểm soát đã thấy rõ trong vài năm vừa qua. Nhưng các nhà chức trách nay đã áp dụng một loạt các biện pháp mới, bất hợp pháp để dập tắt sự chỉ trích của các nhà tranh đấu… Ðáng sợ nhất trong các cách đó, là sự biến mất do bị cưỡng chế dường như nay đã trở thành thông lệ”.

Ngoài ông Lưu Hiểu Ba ra, nhà hoạt động Trung quốc được biết đến nhiều nhất trên thế giới là họa sỹ Ngải Vị Vị . Một trong những nguyên nhân khiến ông bị tù đày là việc ông đòi phải điều tra về sự thiếu các tiêu chuẩn xây dựng dẫn đến cái chết của hàng ngàn học sinh trong trận động đất ở Tứ Xuyên năm 2008. Vào ngày 3 tháng 4 năm nay, ông đã bị bắt trong khi đang chẩn bị lên máy bay để bay từ Bắc Kinh sang Hồng Kông. Cuối cùng ông đã bị kết án về tội trốn thuế, và vẫn còn lâm vào cảnh lao lý ngay cả sau khi ông được thả hồi tháng 6 vừa rồi. “Nếu nhà cầm quyền có thể bắt một cách tuỳ tiện một nhân vật có địa vị và giam giữ ông ta bặt vô âm tín lâu đến bất cứ lúc nào mà họ muốn, không cho bất kỳ một sự tiếp xúc nào của gia đình và tư vấn pháp luật, thì không một ai ở Trung Quốc thực sự an toàn nếu trái với ý muốn của những kẻ có quyền lực”.
Chính bản thân ông Ngụy Kinh Sinh, cũng đã bị ngồi tù 15 năm vì các tội chính trị trước khi được phóng thích sang Hoa Kỳ năm 1990, báo Chritian Science Monitor đã viết như vậy sau khi ông bị bắt. Tôi nhận thấy rằng một bản ký sự về các trường hợp như thế sẽ trở nên tẻ nhạt, đặc biệt là với những cái tên không quen biết. Tuy vậy, những cái tên mới lại tiếp tục xuất hiện mỗi ngày, trên các trang tin tức ngoại quốc mà không phải trên báo chí Trung Quốc, cùng với các minh họa khác về một xã hội đóng kín và đàn áp về mặt chính trị. Các cuộc hội thảo với những người tham dự quốc tế bị hủy bỏ vào giờ phút cuối. Cũng vậy, chỉ với một ngày báo trước, một cuộc thảo luận danh tiếng hàng năm của 16 trường đại học hàng đầu của Trung Quốc cũng bị huỷ bỏ. Chủ đề [của cuộc hội thảo đó] là xem xét lại các lý tưởng được đặt ra cho Trung Quốc một thế kỷ trước đây trong cuộc cách mạng lật đổ triều đại nhà Thanh năm 1911, được coi là quá nhạy cảm. Các nhà báo ngoại quốc lần lượt được gọi đi “uống trà” – tiếng long dùng để chỉ một cuộc nói chuyện thận trọng với quan chức an ninh. Thông thường các quan chức đe dọa rằng, các nhà báo có thể bị trục xuất nếu họ vi phạm “luật lệ” –một số luật mới được áp đặt, một số khác đã có từ lâu trong sách nhưng đã không được áp dụng – yêu cầu phải có sự giấy phép chính thức trước khi phỏng vấn công dân Trung Quốc.
Các cuộc họp mặt ở nhà thờ cũng bị gián đoạn. Thành viên của các nhóm dân tộc “nhạy cảm” như: Tây Tạng, Hồi giáo Tân Cương, Nội Mông, tất cả những người mà nhà của họ nằm trong các quận trong vùng xảy ra các cuộc biểu tình – đều nằm trong sự dò xét đặc biệt. Vào một ngày trong tháng 3, các đại lộ chính ở Bắc Kinh bỗng nhiên xuất hiện những hàng dài phụ nữ lớn tuổi, trùm trong những chiếc áo khoác với băng tay đỏ, đồng nghĩa họ như là những người tuần tra an toàn nơi công cộng [mà thực ra] là những người đang ngồi trên những chiếc ghế đẩu cách đấy khoảng 6-7 mét đang theo dõi canh chừng lộn xộn. Những người này không có một mục đích thực sự nào cả, ngoài việc nhắc nhở rằng, các nhà chức trách vẫn đang bảo vệ và kiểm soát.
Trong các giai đoạn sớm nhất của “Mùa Xuân Ả Rập”, thông tin đại chúng của Trung Quốc hầu như bỏ qua sự tồn tại của tin tức về các cuộc biểu tình ở Ả Rập. Sau đó, khi các sự kiện kịch tính ở Ai cập trở nên không thể bỏ qua được nữa, thông tin ở Trung Quốc nhấn mạnh đến sự hỗn loạn nguy hiểm và những chuyện quá đáng. Chủ đề sau đó trở thành: bất kể các cuộc nổi dậy đó có ý nghĩa đối với ai như thế nào, nhưng không đúng đối với Trung Quốc và có thể nguy hiểm đối với những thành quả khó khăn mà đất nước mới giành được. Thời báo Hoàn Cầu (Global Times), một tờ báo dân tộc chủ nghĩa, nói về các phản đối của phương Tây với việc bắt Ngải Vị Vị như sau: “Thái độ của phương Tây nhằm mục đích làm rối loạn sự chú ý của xã hội Trung Quốc và nhằm thay đổi hệ thống giá trị của nhân dân Trung Quốc“.

Theo một phương cách nào đó, sự thay đổi ngạc nhiên và triệt để nhất trong đời sống hằng ngày ở Trung Quốc là sự tiếp cận với internet. Như tôi đã viết 3 năm trước đây, (bài “Mối liên hệ đã được thiết lập” tháng 3 năm 2008), tài nghệ của việc kiểm duyệt internet ở Trung Quốc chính là ở sự kiềm chế linh động của nó. Hệ thống sàng lọc thông tin được biết đến một cách chính thức là Tấm Khiên Vàng (Golden Shield) và không chính thức là Vạn Lý Hỏa Thành (Great Firewall) được dùng để tìm kiếm tài liệu không được phép, khó đến mức khiến đa số người dân Trung Quốc không muốn bận tâm để tìm cách vượt qua. Trong khi đó, có đủ các kẽ hở (loopholes) và các “van áp lực” vẫn để mở, sao cho những ai thực sự quan tâm đến cách thoát ra khỏi sự gò bó của bức tường lửa, đều luôn có thể thực hiện được. Một kẽ hở rất quan trọng nằm trong hình thức nhắm mắt làm ngơ của chính quyền đối với mạng cá nhân ảo (VPNs: Virtual Private Networks), là mạng cho bất cứ ai sẵn sàng chi một hoặc hai dollars mỗi tuần để lọt qua được Vạn Lý Hỏa Thành. Bạn đăng ký dịch vụ của VPNs, bạn tạo cho mình một mối kết nối, và từ điểm đó bạn đi lang thang trên internet giống hệt như bạn đang truy cập ở London hay ở New York.
Những người có thể chịu nổi chi phí cho dịch vụ VPNs phần lớn gồm những người ngoại quốc và nhiều người trong giới thượng lưu của Trung Quốc, những người có thể coi kiểm duyệt Internet là một vấn đề cho đất nước nhưng không phải là vấn đề của chính cá nhân họ. Hầu hết mọi người đều giả thiết cho rằng các kẽ hở sẽ luôn mở như vậy – làm sao các đại học hoặc công ty có thể làm việc và kinh doanh được nếu không như vậy? Ngay cả người đàn ông được biết đến như là cha đẻ của Vạn Lý Hỏa Thành ở Trung Quốc làng Phương Tân Hưng, là nhà khoa học máy tính (và là hiệu trưởng một Ðại Học) đã tạo ra những sóng gió vào tháng 2 khi nói với một tờ báo hàng đầu của Trung Quốc, rằng ông ta đã giữ 6 VPNs hoạt động trên máy tính của ông ta tại nhà.
Bài báo đó đã nhanh chóng bị gỡ bỏ khỏi trang mạng của tờ báo, và gần như cùng lúc, sự gián đoạn nghiêm trọng hoạt động của VPNs đã bắt đầu. Thoạt tiên, tôi tưởng máy tính của tôi bị hỏng. Tôi đã cố nhận email hoặc vào các trang mạng nước ngoài, nhưng sau vài phút chờ đợi, tôi mới nhận ra rằng đường tiếp nối đã không thể truy cập được. Một phần sức mạnh của Hỏa Thành là, bạn không thể thấy được cái lệnh “truy cập bị từ chối”. Nó chỉ không… làm việc, và bạn không thể biết rõ tại sao. Tuy vậy, quan chức của các công ty VPNs nói rằng, họ đã bị tấn công theo cách mà họ chưa từng trải qua trước đó. “Ðế quốc Klington đã đạt được một vài cú đánh mạnh vào USS Enterprise” hồi tháng 3, CEO của Witopia, một trong các VPNs hàng đầu viết cho các khách hàng của ông ta như thế (cùng với các lời khuyên thận trọng về các cổng và các kết nối mới để thử).
Sự gián đoạn VPN dường như tồi tệ nhất vào cuối tuần và thỉnh thoảng gần như bị chặn đứng hoàn toàn vài giờ vào lúc cuối. Giả thuyết của tôi, mà không một người nào được tôi phỏng vấn bác bỏ, rằng đây là minh chứng cơ bản của khái niệm (ý nói khái niệm an ninh mạng của Hỏa Thành) cho các cơ quan an ninh, chứng minh rằng họ có thể cắt đứt các kênh liên lạc với thế giới bên ngoài ngay lập tức, nếu yêu cầu được đặt ra. Nhưng ngay cả khi hệ thống đã hoạt động trở lại, mạng internet ở phần lớn Trung Quốc vẫn bị trục trặc. Nếu bạn đã ở Nam Hàn, Nhật Bản hoặc Singapore, bạn biết rằng hệ thống broadband ở đấy cho thấy hệ thống “tốc độ nhanh” (high-speed) thông thường của Mỹ chỉ giống như là pokey (POKEY – hệ thống chip mạch điện tử cho máy tính từ những năm 1980 – tác giả ám chỉ tốc độ chậm của hệ thống high-speed thông thường của Mỹ). Tuy vậy, việc kiểm soát internet giống như một sự đẩy lùi Trung Quốc trở về những ngày vẫn còn truy cập internet cổ lỗ sĩ buổi ban đầu. Sau mỗi lần vào mạng, phải mất 5, 10 hay 30 giây trang web mới hiện ra. “Bất cứ ai ở Trung Quốc nên đến và thử dùng internet ở đó”, một sinh viên cao học Hoa Kỳ tên là Matt Schiavenza viết một cách chán nản trên Twitter hồi năm nay như vậy (Twitter cũng như Facebook và Blogger và nhiều dịch vụ khác của Google không sử dụng được ở Trung Quốc nếu không có VPN). Hoặc cũng giống như lãnh đạo của một công ty công nghệ cao ngoại quốc đã viết email cho tôi đầu năm nay “Rốt cuộc, nếu họ muốn biến việc kết nối mạng internet của đất nước họ trở thành ‘Thế giới thứ ba’, không một ai trong chúng ta có thể ngăn cản được điều đó“.

Sau trận động đất ở Nhật Bản hồi tháng Ba, Bill Powell, một cây viết cho tạp chí Times đã đến tận Fukujima từ cơ sở của anh ấy ở Thượng Hải, nói với tôi về một địa chỉ AllThingsNuclear.org, mà anh ta coi thông tin của nó đáng tin cậy nhất và thường xuyên được cập nhật. Khi Powell trở lại Trung Quốc, anh ấy đã phát hiện ra rằng, cái trang mạng đó cũng đã bị Vạn Lý Hỏa Thành chặn. Anh viết trên mạng “Họ sợ cái gì vậy? Hay câu trả lời đơn giản chỉ là vì những ngày này họ sợ TẤT CẢ MỌI THỨ“?

Điều gì có thể khiến lãnh đạo trung ương Trung Quốc lo sợ và tại sao họ lại lo sợ, đó là câu hỏi chính trị trọng tâm nhất ở Trung Quốc hiện nay. Sự chống đỡ cực kỳ nhạy bén trong các phản ứng của chính quyền Trung Quốc cũng giống như của các chính quyền Ả Rập lung lay trong cuộc cách mạng Mùa Xuân, trong khi trên toàn bộ các phương diện tổng thể, Trung Quốc dường như không giống chút nào so với Ai Cập chẳng hạn. Về mặt kinh tế, các nước trải suốt Bắc Phi/ Trung Ðông là các nước trì trệ. Trung Quốc, như bạn đã từng nghe đến, đã là một nền kinh tế thành công. Qađafi, Mubarak, Ben Ali và những người khác đã thống trị giống như kiểu của những kẻ nắm quyền lực suốt đời. Trong khi đó, Hồ Cẩm Ðào, Ôn Gia Bảo dù không được quần chúng bầu chọn, nhưng họ phải từ bỏ quyền lực sau hai nhiệm kỳ.
Ai Cập, Tunisia, Syria và những nước tương tự có các đội quân đông đảo nam thanh niên thất nghiệp bất mãn. Do chính sách một con, Trung Quốc có sự thiếu hụt thanh niên nam nữ một cách tương đối so với những người hưu trí, nếu không muốn nói tới những vấn đề khác. Tháng 3 năm này, khi mà sự đàn áp của Trung Quốc trở nên dữ dội, Pew Global Attitude Project đã công bố các kết quả thăm dò hồi năm ngoái ở Trung Quốc và Ai Cập, trong số các nước được thăm dò. Sự tương phản thật nổi bật. 28% người Ai Cập “hài lòng” với đường lối của đất nước, giảm từ 47% so với vài năm trước; 87% người dân Trung Quốc là hài lòng, tăng từ 83% . Chỉ có 23% người Ai Cập là lạc quan về các mặt đời sống của họ trong vòng 5 năm tới, so với 74% ở Trung Quốc (và 52% người dân Hoa Kỳ). Các thăm dò ở Trung Quốc có thể đáng ngờ và Pew lưu ý trong phần chú thích, rằng mẫu thăm dò ở Trung Quốc là “có tỷ lệ thăm dò đô thị cao bất hợp lý” làm giảm vai trò ảnh hưởng của dân nghèo ở nông thôn trong kết quả thăm dò. Dẫu vậy, ấn tượng chung là đa số người dân Trung Quốc chấp thuận với hệ thống đang thắng thế nghe có vẻ thật.
Vậy thì tại sao chính quyền lại phản ứng như thể là đất nước đang ở bên bờ của sự nổi loạn? Không lẽ chính quyền Trung Quốc biết điều gì đó về thực tế của đất nước mà các nhóm [nghiên cứu] như Pew đã bỏ sót, và do đó chính quyền hiểu rằng họ đang bị treo lơ lửng trên đầu sợi tóc ? Hay đó là sự bộc lộ của phản xạ và hoang tưởng, có phải chính quyền đang phản ứng hết sức thô bạo một cách quá đáng so với những đòi hỏi thực tế với các tình huống đó, bằng những biện pháp có thể bị phản tác dụng về lâu về dài?
Trong thời gian ở Trung Quốc và sau đó tôi đã hỏi mọi người mà tôi có thể: liệu có phải chính quyền cảm nhận được một cách bí hiểm và sợ hãi về mối nguy, hay chính quyền đần độn một cách phá hoại? Không hề có bằng chứng cho mỗi phía, nhưng sau đây là lập luận cho mỗi cái nhìn:
Ðối với những người cho là chính quyền có lý do để lo sợ, nói rằng các căng thẳng tích tụ về chính trị, kinh tế, môi trường và xã hội, của một nước Trung Quốc mà tất cả đều dành cho tăng trưởng đã đạt đến cực điểm, không chịu đựng được nữa. Với cách lý giải như vậy, dường như sự hài lòng của công chúng Trung quốc chỉ là lớp sơn bề ngoài, có thể dễ dàng bị rách vỡ. “Nếu ai đó chỉ đọc báo chí của nhà nước, họ có thể có một ấn tượng là Trung Quốc phát đạt, ổn định và hướng tới một thời đại ‘phồn vinh và hòa bình vĩ đại’”, Lưu Hiểu Ba đã tự viết như vậy trong một bài bình luận ngay trước khi bị bắt. (Bản tiếng Anh No Enemies, No Hatred do Perry Link dịch, NXB Princeton, sẽ xuất hiện vào mùa thu này trong tuyển tập các bài luận và thơ của Lưu Hiểu Ba).
Ông viết tiếp: Không phải chỉ từ internet, mà từ các nguồn tin tức nước ngoài cũng như các văn bản nội bộ của bản thân chính quyền, “các báo cáo khủng hoảng” của nó, chúng ta biết rằng càng ngày càng có nhiều các cuộc xung đột lớn, thường liên quan đến bạo lực và đổ máu, đã phá vỡ quan hệ giữa dân chúng và quan chức trên toàn bộ Trung Quốc. Ðất nước đang ở bên miệng của một ngọn núi lửa.

Cho đến tháng 6 năm nay, một đợt sóng của các đợt đánh bom, nổi loạn và biểu tình bạo loạn tại các miền rải rác xa xôi trên toàn đất nước đã minh họa cho điều mà ông Lưu đã cảnh báo. Nguyên nhân gây nên nổi dậy thay đổi từ thành phố này sang thành phố khác, căng thẳng sắc tộc ở một vài vùng, [người dân] bị cảnh sát đánh hoặc changguan ở các nơi khác, nhưng chúng làm gia tăng thêm tình trạng căng thẳng trên toàn quốc. “Với sự tham nhũng lan tràn của quan chức, lạm phát, khoảng cách kinh tế và tất cả các hình thức bất công xã hội, căng thẳng chính trị, mối đe dọa đối với Ðảng Cộng sản Trung Quốc là rất thực“,
Cheng Li, người đã lớn lên ở Thượng Hải và nay là chuyên gia về chính trị Trung Quốc tại Viện Brookings, nói với tôi như vậy vào mùa hè này.
Năm năm trước đây, trong quyển sách của mình “China’s Trapped Transition” tạm dịch là “Sự Chuyển Tiếp Bị Kẹt Bẫy của Trung Quốc“,ông Minxin Pei đã lập luận rằng, Trung Quốc có thể sẽ chạm tới giới hạn của hệ thống tăng trưởng kinh tế hiện nay trong khoảng thời gian 7 năm nữa, hoặc ngay bây giờ. Ông Pei cũng là người Thượng Hải và nay đang dạy tại Claremont McKenna College ở California, nói rằng mô hình phát triển do nhà nước điều khiển có thể hoạt động rất tốt đẹp – cho tới một thời điểm nào đó. Ông nói, cũng chính những đặc điểm này đã làm cho đất nước trở thành một sự kỳ diệu của kỷ nguyên cơ sở hạ tầng-và-xuất khẩu hàng rẻ có thể sẽ cản trở đất nước, khi nó đã phải cạnh tranh trong các nền công nghiệp và công việc có giá trị cao hơn, như nó đang cố làm bây giờ.
Gần đây ông ấy nói với tôi “Nếu anh đang ngồi trong văn phòng của Hồ Cẩm Ðào, anh có thể thấy các cuộc biểu tình phản đối, các căng thẳng sắc tộc và anh có thể nghĩ, ‘nếu chúng ta không đủ cứng rắn, mọi chuyện có thể nhanh chóng tuột ra ngoài sự kiểm soát“.
Theo quan điểm của các nhà lãnh đạo trung ương, vẫn theo ông Pei, có một bài học rõ ràng từ vụ Thiên An Môn: “Họ đã học được bài học kinh nghiệm quá khứ năm 1989 rằng phải hết sức cứng rắn ngay từ lúc đầu, phải triệt phá ngay (sự chống đối) ngay từ lúc nó mới chỉ là chồi non. Tốt hơn hết là thà quá tay còn hơn là hơi nhẹ tay”.

Tôi đã nghe những cảm nghĩ tương tự từ nhiều người hiện đang làm việc ở Trung Quốc, cả người Trung Quốc lẫn người nước ngoài. Chẳng hạn, một nhà kinh tế nổi tiếng của Trung Quốc yêu cầu giấu tên đã nói rằng, chính phủ lo sợ một cách chính xác bởi vì họ hiểu các khó khăn của sự điều chỉnh kinh tế trước mắt. Người này nói: “Ngày càng có sự gia tăng nhận thức về mô hình tăng tưởng không điều khiển được sẽ trở nên như thế nào, và nó sẽ đòi hỏi một sự điều chỉnh mạnh liên quan đến làm giảm tăng trưởng. Các nhà lãnh đạo càng ngày càng nhận thức được tình trạng căng thẳng của nền kinh tế, họ càng lo lắng về sự khó khăn của việc điều chỉnh“, chủ yếu sa thải nhân công, phá sản và các liệu pháp chấn động kinh tế khác.

Nếu như nhiều năm tháng tới đây, ngọn núi lửa bùng nổ và tấm bình phong của sự kiểm soát bị rách toang, sẽ dễ dàng tìm thấy các bằng chứng nói lên rằng những điều trên đây đã trở thành hiển nhiên từ rất lâu. Khi tôi hỏi một nhà khoa học của một trường đại học hàng đầu Trung Quốc, làm sao anh ta có thể giải thích được sự cứng rắn của chính quyền, anh ta viết trong một email cho tôi rằng, mức độ bất mãn của công chúng là đã đạt tới mức độ tột cùng.
Thật khó có thể tìm thấy một ai dưới 30 tuổi ở Bắc Kinh không biểu thị sự khinh ghét của họ đối với chính quyền và tôi nghĩ rằng điều này đúng với rất nhiều thành phố khác. Có một cảm giác thực sự trong những người trẻ tuổi và sinh viên đại học, rằng tất cả mọi người đang cố chụp giật vơ vét bất cứ cái gì mà họ có thể được, và điều rất đáng chú ý là các cậu ấm cô chiêu [con cái của giới lãnh đạo đảng] không còn muốn trở thành các nhà ngân hàng đầu tư nữa mà lại muốn trở thành các nhà đầu tư cổ phần tư nhân. Nói cách khác, kiếm bạc triệu nhờ các mối quan hệ không còn hấp dẫn nữa, làm chủ toàn bộ thì tốt hơn nhiều.

Thủ tướng Ôn Gia Bảo được coi là “người ông” hào hiệp ở Trung Quốc, luôn là người đầu tiên đến thăm các nơi xảy ra thảm họa. Con trai ông, Ôn Văn Tùng có bằng MBA từ đại học Northwestern (ở Mỹ) và đang làm việc cho một công ty cổ phần tư nhân.
Một cái nhìn khác là tình trạng ở Trung Quốc thực sự căng thẳng, nhưng nó luôn luôn căng thẳng, và rằng có quá nhiều người có nhiều thứ để mất bởi bất cứ một thay đổi căn bản nào, rằng các lực giảm xóc của chính đất nước (ngụ ý độ ỳ chống thay đổi của xã hội – ND) sẽ kiềm chế sự phá vỡ ngay cả khi chính quyền trấn áp không đủ mạnh.
Lý do chính [của việc không muốn thay đổi] là, dù với tất cả những kêu ca và bất mãn về sự cai trị của đảng cộng sản ngày nay, người dân vẫn không thấy có một lực lượng rõ ràng nào để thay thế. Một phần dĩ nhiên là do chính quyền hành động quá mạnh để không cho bất cứ một sự thay thế nào có thể xuất hiện. Ðây là mặt tiêu cực của lối lập luận này. Tuy vậy, thực là thiếu óc tưởng tượng nếu nói một nguyên trạng không ổn định lại có thể cứ tiếp tục như vậy được mãi. Tuy nhiên, tôi đoán là điều đó sẽ xảy ra nếu [xã hội Trung Quốc] buộc phải chọn lựa.
Tôi hỏi ông Chas Freeman đã đút kết được điều gì từ các xáo động hiện nay ở Trung Quốc. Ông ấy là cựu viên chức ngoại giao, là người đã phiên dịch cho Richard Nixon trong chuyến thăm Trung Quốc hồi năm 1972. Do Freeman đã làm việc trong cuộc hội đàm giữa Nixon và Chu Ân Lai, ông ấy biết một trong những câu chuyện nổi tiếng nhất về Chu là không có thật. Một nửa các diễn giả trong lễ phát bằng ở Mỹ đã trích câu nói được cho là phản ứng của Chu khi được hỏi, liệu cách mạng Pháp có phải là một thắng lợi hay không: “còn quá sớm để có thể nói“. Ồ, đúng là người Trung Quốc nhìn xa thật. Trên thực tế, Freeman chỉ ra rằng ông Chu [Ân Lai] không hề nói tới cuộc cách mạng Pháp của năm 1789. Ông ta nói tới sự nổi dậy bắt đầu ở Pháp năm 1968 là điều đã hoàn toàn đã bị nguội đi vào lúc mà Chu Ân Lai và Nixon nói chuyện với nhau.
Khi nói tới Trung quốc hiện tại, Freeman nói rằng, ông coi những kêu ca về bất bình đẳng kinh tế, căng thẳng sắc tộc và các nguồn gốc tiềm tàng của sự bất ổn định khác là rất nghiêm trọng. Tuy vậy, ông nói rằng chúng làm ông nhớ lại các cuộc trò chuyện của ông hồi còn ở Ðài Loan vào thập niên 1970, trước khi Quốc Dân đảng của Tưởng Giới Thạch chuyển từ chính quyền bán quân sự sang bầu cử tự do. Ông bảo tôi: “Mọi người sẽ nói rằng chúng là tham nhũng, chúng không có tầm nhìn, chúng có một ý thức hệ ngu xuẩn mà chúng ta phải qụy lụy, nhưng không một ai tin trong thực tế“, “và tôi nói, ‘Nếu chúng tệ hại như vậy, tại sao các anh không tống khứ chúng đi’?, Ðiều đó được đáp trả với một sự ngờ vực tuyệt đối”. Những người Ðài Loan thời kỳ đó sẽ nói với anh rằng, tham nhũng hay không, đảng đó đã không ngừng đem lại sự thịnh vượng. Hoặc rằng, không thể kêu ca được gì, bởi vì đảng có thể sẽ tiêu diệt bất cứ ai dám thách thức sự thống trị của nó. Tương tự (như Ðài Loan trước kia) với Trung Hoa lục địa ngày nay là rõ ràng. Một thế hệ sau, Ðài Loan đã trở thành một thể chế dân chủ.
Có thể hiểu được rằng, đó là điều mà một thế hệ nữa mới có thể đem lại ý nghĩa cho Trung Hoa lục địa, đặc biệt nếu làn sóng tiếp theo của những nhà thống trị tỏ ra ít nhạy cảm hơn về an ninh, mà quan tâm hơn đến ảnh hưởng của việc kiềm hãm tư tưởng sáng tạo đối với xã hội của họ, chẳng hạn như làm cho internet khó sử dụng. Ðiều đó hóa ra lại là một phần của môi trường làm cho các trường đại học của họ không thu hút được tài năng của thế giới, điều này đến lượt nó lại ngăn cản cố gắng của Trung Quốc gây dựng và nuôi dưỡng các công ty kiểu như Apple, Google, GE trong tương lai. Chúng ta không biết, nhưng chúng ta có thể đoán rằng, cho dù Trung Quốc ở trong tình trạng nào đi chăng, sau một thế hệ nữa, chúng ta có thể nhìn lại và tìm thấy các tín hiệu định mệnh của Trung Quốc từ lâu rồi.
Perry Link nói với tôi: ”Mọi người đã tiên đoán sự sụp đổ của Ðảng Cộng Sản Trung Quốc vào năm 1989 [là năm xảy ra vụ Thiên An Môn], nhưng điều đó đã không xảy ra. Mọi người đã không tiên đoán sự sụp đổ của Liên Bang Xô Viết năm 1991, nhưng điều đó lại xảy ra. Tôi chắc rằng bất cứ điều gì xảy ra hoặc không xảy ra ở Trung Quốc, chúng ta sẽ có thể nhìn lại và nói tại sao“.
Nếu như đó là điều chỉ có thể làm được ngay từ bây giờ.
Người dịch: Nguyễn Trùng Dương
http://anhbasam.wordpress.com/2011/08/23/xuan-ve-a-rap-dong-o-lai-trung-hoa/


“Mùa Xuân Á Rập”… Bị Đông Lạnh

2011-08-20

Nguyễn Xuân NghĩaViệt Báo Ngày 20110820

Ảo giác dân chủ và thực tế quốc tế….


Tay trong tay, Tổng thống Turkey, Iran và Syria: Abdullah Gul, Mahmoud Ahmadinejad và Bashar al-Assad

Trước khi nghỉ hè 10 ngày tại Martha’s Vineyard, Tổng thống Barack Obama đã cùng các đồng minh Âu Châu đòi Tổng thống Syria phải ra đi. Lập tức, một quốc gia có ảnh hưởng trong khu vực Trung Đông là Turkey lên tiếng: “quá sớm!” Vì họ chưa thấy chính dân Syria đòi hỏi điều ấy sau khi bị chế độ độc tài của Tổng thống Bashar al Assad đàn áp dữ dội từ năm (5) tháng nay.

Xin chào đón mọi người vào thế giới ảo….

***

Trước hết, xin nói về bối cảnh…

Đúng năm tháng trước, Mỹ, Anh, Pháp, Ý không chỉ đòi lãnh tụ Libya phải đi mà còn mở chiến dịch tấn công Tripoli nhờ một Nghị quyết đầy mâu thuẫn của Liên hiệp quốc và dưới danh nghĩa của Minh ước NATO. Kết cuộc thì các nước Tây phương cãi nhau, Moammar Gaddafi vẫn còn ở tại Tripoli. Cho dù ông có từ nhiệm hay sẽ lưu vong qua Tunisie như thiên hạ đồn đãi, Libya vẫn chưa thể ổn định và có chính quyền mới.

Trong khi ấy, lãnh thổ Israel tiếp cận với Egypt (Ai Cập) bị một nhóm võ trang có liên hệ với mạng lưới khủng bố al-Qaeda xưng danh Lữ đoàn Abdullah Azzam tấn công. Biến động này đe dọa quan hệ mong manh giữa Israel với chính quyền lâm thời của Egypt và làm nổi bật vai trò tế nhị của lực lượng Hamas trong Dải Gaza.

Tổng thống Ai Cập là Hosni Mubarad đã từ chức và bị ra toà trong cũi sắt, nhưng các tướng lãnh lên cầm quyền phải dung hòa với nhiều xu hướng khác nhau để bảo toàn chế độ.

Họ chú ý đến tình hình bán đảo Sinai và mời lực lượng Hamas trên Dải Gaza do Israel kiểm soát dời bộ tư lệnh về thủ đô Cairo, để được Egypt yểm trợ – nhân thể kiểm soát. Nhưng Syria và Iran lại tính khác, hai xứ này muốn yểm trợ và chi phối lực lượng Hamas vì những mục tiêu riêng. Bây giờ, không phải quân Hamas mà một nhóm võ trang khác đã tấn công Israel và còn pháo kích vào lãnh thổ Egypt….

Tại Syria, tình hình còn rắc rối hơn:

Chế độ của Tổng thống Bashar al Assad là của thiểu số Allawis nhưng thống trị đa số người dân thuộc hệ phái Sunni. Cũng tương tự như chế độ Baath của Saddam Hussein tại Iraq là của thiểu số Sunni nhưng khống chế đa số dân theo hệ phái Shia, và cả dân Kurd. Khi Syria có loạn, hai cường quốc Hồi giáo là Iran và Saudi Arabia đều canh chừng – và muốn can thiệp: Iran muốn bảo vệ chế độ hiện hành và e rằng Assad mà bị lật đổ thì chính quyền mới của dân Sunni sẽ ngả theo Saudi Arabia.

Trên cả khu vực miền Bắc của Trung Đông, các Giáo chủ Iran có chiến lược bành trướng từ lâu khi yểm trợ nhóm Hamas tại Israel, tổ chức Hezbollah tại Lebanon và các nhóm Shira tại Iraq. Trong một số trường hợp, quyền lợi của Iran và Syria có tương đồng, thí dụ như với Hezbollah và Hamas, vì vậy nếu Syria đổi chủ, Iran sẽ mất lợi thế.

Trong khi ấy, một cường quốc Hồi giáo là Turkey cũng có những tính toán riêng.

Là thành viên của NATO, Turkey giữ vị trí chiến lược trong cả khu vực và thực tế thì có ảnh hưởng đến sự ổn định – hay không – của Iraq, Libya, Syria và đến vai trò bản lề của Israel. Vì vậy, tuần qua, người ta cũng chú ý đến việc Turkey cho tấn công lực lượng PKK của dân Kurd ngay tại Iraq….

Khung cảnh rối ren vừa được thời sự hâm nóng như trình bày ở trên cho thấy cả chục hồ sơ nhức đầu: Libya, Syria, Egypt, Israel, Iran, Iraq, Saudi Arabia, Turkey, Hamas, Hezbollah, Sunni, Shia, Allawis và al-Qaeda, v.v…. Trong đó, hoàn toàn không thấy nói đến “Mùa Xuân Á Rập”, “Cách Mạng Hoa Nhài” hay dân chủ!

Xin đi từ cõi ảo vào thế giới thật của quyền lực….

***

Cuối năm ngoái, trong khi các nước Tây phương chuẩn bị chào mừng Giáng sinh, một người bán hàng xén tại Tunisie đã tự thiêu để phản đối việc anh ta bị tước đoạt tài sản.

Biến cố xảy ra ngày 17 Tháng 12 châm ngòi cho một vụ phản đối của quần chúng, khiến các tướng lãnh Tunisie làm áp lực khiến Tổng thống Zine Abindine Ben Ali phải từ chức. Sau đó đến trường hợp Ai Cập và sự can thiệp của các tướng lãnh khiến Tổng thống Hosni Mubarak cũng từ nhiệm để một chính quyền lâm thời đứng ra lãnh đạo.

Hai biến động chính trị ấy đã được truyền thông quốc tế tường thuật và mô tả là một phong trào nổi dậy của quần chúng để thiết lập chế độ dân chủ. Hoa nhài của Tunisie trở thành biểu tượng của “cách mạng”. Biến động được gọi là “Mùa Xuân Á Rập” đã lan rộng từ hai nước Bắc Phi qua khắp khu vực Trung Đông Bắc Phi – MENA – của dân Á Rập theo Hồi giáo.

Vấn đề ở đây là truyền thông và dư luận đa số trên thế giới đã lầm tưởng rằng sự mô tả và diễn giải ấy là sự thật! Các chính quyền Tây phương cũng thế.

Dù khát khao một xã hội cởi mở và một thể chế dân chủ cho mọi dân tộc trên thế giới, người viết đã thận trọng – bi quan – nói thẳng rằng chúng ta vừa chứng kiến hai cuộc đảo chánh của những kẻ trong cuộc để cứu lấy chế độ. Chứ chưa hẳn là việc thay thế chế độ độc tài bằng một chế độ dân chủ.

Bảy tháng sau, khi tờ lịch đã qua khỏi mùa Xuân, ta chưa thấy một chế độ nào sụp đổ trong thế giới Á Rập.

Hai chế độ độc tài tại Tunisie và Ai Cập đã bị thay thế bởi các phần tử ưu tú trong chế độ cũ nay lên cầm quyền và áp dụng một số biện pháp cải sửa khi có áp lực. Họ chưa lập ra một chế độ mới để thay đổi cách cai trị người dân.

Nếu so sánh, trường hợp Tunisie còn khá hơn Egypt vì không còn nghe nói đến chuyện biểu tình. Chứ tại Egypt, các tướng lãnh – tay chân của Mubarak năm xưa – đã lại lập ra một loại “Hội đồng Quân dân Cách mạng” và hứa hẹn tổ chức bầu cử mà thực tế thì vẫn cai trị như xưa. Bầu cử chỉ là điều kiện cần thiết mà chưa ắt đủ để có dân chủ. Và sau bầu cử, chưa chắc người dân đã có tự do, xã hội đã được giải tỏa cho thông thoáng cởi mở.

Dân Iran đã hiểu điều ấy sau cuộc bầu cử năm kia và sau cái gọi là “Cách mạng Xanh lục” vào Tháng Sáu năm 2009. Thế giới bên ngoài thì chưa – chúng ta sẽ trở lại chuyện này khi nói đến “Cách mạng Iran 1979”.

Tại Egypt, trước hạn kỳ bầu cử, các lực lượng hay phe nhóm chống Mubarak vẫn còn phân hoá giữa các thành phần Hồi giáo cực đoan, các thành phần chủ trương xây dựng thế quyền, hay các nhân vật có tham vọng riêng. Thành phần thực sự muốn xây dựng dân chủ như ta hiểu chưa đủ mạnh để bầu lên một chế độ mới. Trong khi ấy, các tướng lãnh vẫn sẵn sàng đàn áp, và thực tế thì tích cực diệt trừ mọi phần tử quá khích hoặc đáng nghi ngờ vì đòi thay đổi chế độ.

Cũng trong bảy tháng hồ hởi ấy, một số chế độ độc tài khác đã bị tấn công, từ Bahrain, Libya, qua Syria hay Yemen.

Nhưng dù bị tấn công bởi quần chúng bất mãn hoặc bởi nhiều thế lực võ trang, ngần ấy chế độ vẫn chưa sụp đổ. Các nước Á Rập Hồi giáo khác như Maroc, Jordan và Saudi Arabia cũng có động loạn, nhưng chưa hề đe dọa sự tồn vong của hệ thống cầm quyền.

Bảy tháng sau cơn ảo vọng, có lẽ người ta nên tự hỏi vì sao ngần ấy chế độ vẫn có thể tồn tại?

***

Năm 1979, cả thế giới kết án chế độ độc tài của Quốc vương Iran, một đồng minh không hề xin viện trợ của Mỹ. Lãnh đạo Hoa Kỳ thời Jimmy Carter còn hèn nhát từ chối không cho cựu hoàng Mohammad Reza Pahlavi vào Mỹ chữa bệnh. Khi ấy, người ta ca tụng Giáo chủ Ruhollah Khomeini như đấng tiên tri tái sinh để đem lại dân chủ và hòa bình cho Iran. Kết cuộc thì Khomeini là bạo chúa còn hà khắc và đáng tởm hơn vua Pahlavi. Những người đồng hành trong cuộc “Cách mạng” của Khomeini đều bị tiêu diệt nếu không kịp chạy.

Nhưng vụ Iran đã đảo lộn cục diện Trung Đông và “Cách mạng Iran” khiến nước Mỹ tháo chạy còn là nguồn hứng khởi cho các nhóm khủng bố Hồi giáo cực đoan, trong đó có al-Qaeda.

Mười năm sau vụ Iran là một cuộc cách mạng khác, tại Ba Lan. Các lực lượng hay phong trào chống cộng sản đã vượt qua mọi dị biệt mà thống nhất mục tiêu là lật đổ chính quyền Cộng sản năm 1989 rồi thực tế xây dựng một chế độ mới. Cuộc cách mạng ấy cũng đảo lộn cục diện Đông Âu và toàn cầu như chúng ta đều biết. Cách mạng Ba Tư và Cách mạng Ba Lan hoàn toàn khác nhau.

Bây giờ, tại khu vực Bắc Phi và Trung Đông, các chế độ mang tiếng là độc tài vẫn tồn tại. Nhờ cái gì?

Hoặc cái gì đã khiến người ta có ảo tưởng về “Mùa Xuân Á Rập”?

Trước hết, thế giới Tây phương – và dư luận bên ngoài bị ảnh hưởng của truyền thông Tây phương – lầm tưởng rằng các chế độ này không có hậu thuẫn của quần chúng nên khi nhân dân nổi dậy thì đấy là ý dân mà không ai cưỡng lại được. Huống hồ thế giới đã qua một cuộc cách mạng về thông tin qua không gian ảo khiến quần chúng nhân dân có thể liên kết với nhau thành phong trào. Và đánh thức dân tộc Á Rập về triển vọng dân chủ….

Thực tế thì từ một vụ biểu tình sang một phong trào biểu tình qua một cuộc cách mạng toàn diện để lật đổ chế độ người ta còn gặp cả chục chữ “nếu”. Nghĩa là còn tùy thuộc vào nhiều điều kiện!

Hãy lấy một thí dụ khiến lãnh đạo Anh, Pháp, Ý và Mỹ hồ hởi, là chuyện Libya.

Y như tại Tunisie hay Egypt, chế độ Gaddafi thống trị 42 năm liền, tức là có thời giờ xây dựng hậu thuẫn trong nhiều thành phần xã hội. Bằng mua chuộc hoặc chia chác quyền lợi với các tộc trưởng chẳng hạn. Các chế độ này tồn tại rất lâu nhờ hậu thuẫn hay sự toa rập đó.

Tunisie và Egypt là nơi mà tay chân của chế độ – các tướng lãnh – đã đổi ý và thay thế lãnh tụ để giữ nguyên trạng. Libya là nơi mà hậu thuẫn đó của Gaddafi vẫn còn.

Ngược lại, ảo giác cách mạng khiến thế giới bên ngoài tin rằng chống Gaddafi là một khối liền lạc có cùng nguyện vọng dân chủ và chiếm đa số trong dân chúng. Sự thật chưa hẳn như vậy. Khu vực miền Đông có thể có nhiều sắc tộc chống Gaddafi – nhiều hơn miền Tây hay vùng Tripoli – nhưng chưa chắc đã là đa số. Và họ chỉ đồng ý ở một chuyện là lật đổ Gaddafi. Sau đó là gì thì chưa ai biết, mà bên ngoài cứ tưởng là hạt mầm của một chế độ dân chủ.

Vì vậy, dù đã bị NATO oanh kích liên tục, chế độ Gaddafi vẫn tồn tại. Và sự phân hoá của các lực lượng chống đối, có võ trang hay không, thì đã hiển hiện. Nếu các nhóm này mà vào đến Tripoli, hãy xem họ hành xử ra sao.

Tại Syria, chế độ Allawi của gia đình Assad đã tồn tại 31 năm, từ đời cha đến đời con, trên một đa số là dân Sunni.

Theo cách diễn giải hoặc tin tưởng của Tây phương, chế độ này không có chính nghĩa và sẽ bị lật đổ nếu quần chúng nổi dậy. Thực tế thì tay chân của chế độ – các tướng lãnh cũng thuộc tộc Allawi – đã kiểm soát quân đội và chia chác quyền lợi với lãnh tụ ở trên.

Hậu thuẫn ấy có thể là phi chính nghĩa và xấu xa, nhưng vẫn giúp cho Bashar al Assad cầm quyền và thẳng tay đàn áp những người Sunni muốn nổi dậy. Tổng thống Assad có thể chỉ đi khi có sự phân hoá trong hệ thống quân sự và an ninh của tộc Allawi, nghĩa là qua một cuộc đảo chánh đẫm máu của các tướng lãnh.

Nhưng Assad sẽ đi đâu?

Tấm gương của Hosni Mubarak bị một “toà án nhân dân” của chính quyền lâm thời Egypt xét xử trong cũi sắt khi ông đã lâm trọng bệnh là một kinh nghiệm. Ra ngoài khu vực hay lãnh thổ thì số phận của Slobodan Milosevic tại Serbia là một kinh nghiệm khác: bất chấp mọi giải pháp dàn xếp của quốc tế, toà Hình sự Quốc tế tại The Hague sẽ không tha và đòi dẫn độ để truy tố các lãnh tụ này đến cùng.

Chính là thế giới văn minh, công lý của nhân loại hay trò toà án của Egypt không cho các lãnh tụ Gaddafi, Assad – hay Ali Abdullah Saleh của Yemen – và tay chân thân tín của họ một lối thoát nào khác hơn là bảo vệ chế độ. Để bảo vệ mạng sống, gia đình và thân nhân.

Không dám nói đến chuyện đời Trần của nước ta khi bị Nguyên Mông xâm lân, kinh nghiệm của dân Indonesia với lãnh tụ độc tài là Tổng thống Suharto năm 1998 là một bài học khác về sự sáng suốt. Mà Tây phương không chịu học.

Sau hơn ba chục năm cầm quyền, Suharto bị lật đổ và sau đó ra toà khi đã lâm trọng bệnh. Ông không bị làm nhục, khi tạ thế được chôn cất theo nghi thức của quân đội. Trưởng ban giám sát việc cử hành là một ông tướng, nay là Tổng thống Indonesia. Chế độ Suharto cáo chung sau vụ khởi nghĩa của quần chúng, nhưng Indonesia đã có nền móng dân chủ hơn trước, dù là một xứ Hồi giáo đông dân nhất thế giới, và đã từng bị khủng bố Hồi giáo tấn công nhiều lần!

Những người làm chánh sách, tại Hoa Kỳ và Anh, Pháp, Ý, đã do sự diễn giải lạc quan về cách mạng dân chủ tại khu vực MENA mà đông lạnh luôn “Mùa Xuân Á Rập”.

Mà hậu quả không chỉ có vậy!

***

Việc dân chúng bất mãn và nổi dậy không nhất thiết dẫn đến cách mạng.

Khoảng cách giữa nổi dậy là cách mạng là cái gì đó rất khó đo đếm một cách chính xác, dù bằng xác người bị tàn sát. Các chế độ bị chống đối có thể đàn áp quần chúng và tồn tại. Các chế độ ấy có thể bị tay chân đảo chánh để bảo vệ quyền lợi cũ. Các chế độ ấy có thể tuột tay và gây nội chiến – mở cuộc tàn sát bằng phương tiện quân sự.

Trong khu vực quá phức tạp này, những biến hoá bất ngờ ấy còn gây hậu quả quốc tế là tranh đoạt ảnh hưởng giữa các quốc gia liên hệ như chúng ta đã thấy trong phần bối cảnh ở trên. Khi các lãnh tụ trong cuộc suy nghĩ và ứng xử, họ không mấy quan tâm đến chuyện nhân quyền hay dân chủ. Và cuối cùng, nạn nhân vẫn là dân Á Rập.

Còn giấc mơ dân chủ lại bị đẩy xa hơn….

20 August, 2011 16:26
Bác nghĩa phân tích sự kiện thật là sâu sắc, dân chủ ở những nước già nua với 4000 năm lịch sử với nền văn minh luá nuớc qủa khó lắm thay, nó đòi hỏi rất nhiều điều kiện: nhận thức về lợi ích của các chính khách, của các nhóm lơị ích, của người dân về dân chủ….điều này không thể được thay đổi trong một sớm một chiều, dân mình khổ nhục nhiều rồi và còn khổ nhục nhiều nữa.
…………………………………….
A mà sướng khổ củng là tương đối thôi. Khổ mà không biết mình khổ ấy mới là sướng vậy. Hu hu

Nguyễn Xuân Nghĩa said…
20 August, 2011 19:19
Thật ra – và người viết lại nói ngược nữa – Việt Nam lại có cơ hội xây dựng dân chủ cao hơn nhiều quốc gia khác. Lý do là vì ở bên cạnh Trung Quốc lớn mạnh và độc tài!

Khi có dân chủ, tiếng nói của người dân sẽ tránh được những chọn lựa sai lầm của lãnh đạo và quyền lợi quốc gia được bảo đảm nhiều hơn. Hãy nhìn trường hợp Đài Loan, Đại Hàn, thậm chí các nước Đông Nam Á như Phi Luật Tân, Mã Lai Á, Nam Dương, Thái Lan.

Ngược lại, thiếu dân chủ thì phải nương tựa vào Bắc Kinh và trôi vào sức hút của Trung Quốc: hãy nhìn vào trường hợp của Bắc Hàn, Miến Điện, Việt Nam và Lào.

Tiến trình xây dựng dân chủ không dễ dàng và có khi tèm lem lúc ban đầu, nhưng nó vẫn còn hy vọng cải tiến. Cuộc thử nghiệm dân chủ ở trong Nam ngay giữa thời chiến là một thí dụ. Nó không xuất phát từ áp lực của Hoa Kỳ, xin đừng hiểu lầm mà tội cho dân miền Nam. Nó thất bại vì cuộc chiến kết thúc theo ngả khác nhưng kết quả vẫn là tinh thần cởi mở thông thoáng của người dân, và nó có góp phần đem lại thành quả kinh tế ngày nay.

Không phải ngẫu nhiên mà trong Nam ngày nay lại bị cấm biểu tình nghiêm ngặt hơn ở ngoài Bắc.

Một thí dụ khác chính là nỗ lực dân chủ của dân Do Thái tại xứ Israel nằm giữa một khu vực đầy đe dọa.

Chúng ta sẽ còn nhiều cơ hội trở lại vấn đề này.

Then chốt có lẽ là “sự sợ hãi”. Người dân và nhà cầm quyền phải vượt qua được sự sợ hãi thì may ra Việt Nam mới có tương lai. Xin hãy cùng suy nghĩ….

http://www.dainamax.org/2011/08/mua-xuan-rap-bi-ong-lanh.html

Kinh nghiệm nào cho Việt Nam từ Lybia?

Mặc Lâm, biên tập viên RFA
2011-08-22
AFP-
Quân nổi dậy Lybia mừng chiến thắng trên đường phố thủ đô Tripoli ngày 22 tháng 8 năm 2011.

Sau hàng loạt quốc gia vùng Bắc Phi và Trung Đông chịu sự sụp đổ, Lybia cũng không tránh khỏi làn sóng phẫn nộ của người dân sau 42 năm bị nhà độc tài Gaddafi cai trị.

Kinh nghiệm của Lybia tuy không hoàn toàn áp dụng được với Việt Nam nhưng trước sau gì thì giới lãnh đạo cũng sẽ ý thức rằng lòng dân lúc nào cũng là yếu tố hàng đầu quyết định cho sự nắm quyền của họ.
Tinh thần quyết chiến
Sáu tháng sau khi cuộc nội chiến xảy ra giờ đây chế độ độc tài toàn trị Gaddafi tưởng chừng như không bao giờ lung lay nay đã phải cam tâm nhìn nhận rằng sức mạnh và sự đàn áp của cả hệ thống quân sự lẫn an ninh cuối cùng đã phải chịu nhường bước cho người dân, những con người vài tháng trước đây chưa bao giờ biết tới khẩu súng nay đã thành thạo như những người lính chuyên nghiệp trung thành với chế độ Gaddfi.
Khi Quảng trường Xanh nổi tiếng của Tripoli vào tay quân nổi dậy cũng chính là lúc kẻ độc tài phải lánh mặt và đẩy đàn em ra phía trước. Người ta không biết những kẻ trung thành với Gaddafi sẽ còn trung thành bao lâu nữa nhưng chắc chắc một điều là người dân Lybia nay đã khác với 6 tháng về trứơc, không những chấp nhận đấu tranh trực diện với những kẻ theo gót độc tài mà họ còn sẵn sàng đổ máu cho đến khi nào giành được chiến thắng.
Hơn 30 tỷ đô la tài sản mà Gaddafi thu được từ tài nguyên quốc gia lẫn mồ hôi nước mắt của người dân Lybia nay không thuộc về y nữa. Các nước phương Tây trong đó có Hoa Kỳ đã phong toả toàn bộ các trương mục mà Gaddafi hay gia đình đứng tên. Riêng những tài sản chưa phát hiện cũng sẽ bị tịch thu trả lại cho đất nước và con người Lybia để dùng vào công cuộc tái thiết thời hậu chiến. Giấc mơ chúa tể qua 42 năm cầm quyền với kết quả cuối cùng là cả gia đình của Gaddafi không thoát khỏi sự phán xét của dân chúng.
Tấm gương sắt máu này có làm cho các chế độ độc tài trên thế giới, trong đó có Việt Nam, run sợ hay không? Và liệu họ còn bưng bít thông tin này trong bao lâu nữa khi mà hệ thống internet toàn cầu đã khiến trái đất trở thành nhỏ bé dưới mười ngón tay của người dân? Giáo Sư Trần Khuê, một trí thức nổi tiếng phân tích sự độc tài của Việt Nam như sau:

Ở Việt nam thì độc tài không phải là độc tài cá nhân mà là độc tài tập thể! Ông Nguyễn Văn An cựu chủ tịch Quốc hội đã nói: ‘Chúng ta là vua tập thể mà!’
GS Trần Khuê

“Ở Việt nam thì độc tài không phải là độc tài cá nhân mà là độc tài tập thể! Ông Nguyễn Văn An cựu chủ tịch Quốc hội đã nói: ‘Chúng ta là vua tập thể mà!’ Thành ra sụp đổ của Việt Nam có lẽ nó cũng khác với sụp đổ các nơi.
Ông Nguyễn Tấn Dũng, ông Nguyễn Minh Tríết ông Trương Tấn Sang, ông Nguyễn Phú Trọng, gương mặt các ông đều tử tế cả, nói năng nhã nhặn tử tế cả, không có tâm địa gì…nhưng cứ họp vào thì ra toàn những chỉ thị, những nghị quyết các thứ rất độc ác. Cho nên độc tài Việt Nam nó có đặc điểm như thế, đặc điểm ‘độc tài tập thể’.”

Độc tài tập thể đã làm ngơ các vụ dân oan bị lấy đất công khai, công an đánh chết dân trong trại giam cùng với việc bắt giữ người không cần giấy toà án đã làm cho dân chúng mất hẳn niềm tin nơi nhà cầm quyền. Khi ý thức luật pháp bị coi thường thì toàn xã hội trở nên vô pháp luật là điều dễ hiểu.
Nhà nước phải làm gì?

Khói bốc lên từ một chiếc xe cháy bên ngoài học viện quân sự của phụ nữ ở Tripoli vào ngày 22 tháng 8 năm 2011. AFP photo
Thế nhưng khác với Lybia, theo nhiều người cho rằng đối với Việt Nam một cuộc nổi dậy của người dân là điều hoang tưởng. Người Việt vốn không thích chính trị, lại an phận và chịu nhịn nhục đã quen, nếu phải bỏ tài sản ít ỏi của mình để đánh đổi sự thay đổi của đất nước là điều khó xảy ra. Giáo sư Trần Khuê không đồng ý với kết luận này. Ông lấy việc UBND thành phố Hà Nội ký giấy cấm biểu tình hồi gần đây làm thí dụ, ông nói:
“Hoàn toàn không phải như thế, khi có cái lệnh của Ủy ban nhân dân thành phố vi phạm hiến pháp như thế thì 20 trí thức ở thủ đô đã ký luôn cái giấy phản đối. Người ta sắp công bố kiến nghị của 90 trí thức cả Nam lẫn Bắc phải thay đổi thể chế, phải dân chủ hóa thực sự chứ không phải là dân chủ vờ vịt được nữa…còn nói dân Việt Nam chỉ lo ăn lo mặc trong đời sống hàng ngày thì không có chuyện đó đâu.”
Những việc làm hồi gần đây của một số cán bộ đã làm dư luận trở nên bức xúc khi người dân không được thể hiện nguyện vọng của mình một cách công khai trước mối hoạ Bắc phương. Trí thức trở thành điểm tựa cho người dân trước những vụ biểu tình chống Trung Quốc là một trạng thái mà chính nhà nước cũng khó ngờ tới.
Thói quen xem trí thức như công bộc của nhà nước không những khiến nguyên khí quốc gia hao hụt mà còn làm cho sự phát triển đất nước chùn lại trong một thời gian rất dài. Trí thức ngày nay không còn chờ đợi ân sủng nhà nước trao cho mà họ chủ động làm những việc cần làm, kể cả hô hào một cuộc thay đổi toàn diện cho đất nước theo kịp với đà tiến của dân tộc.
Giáo sư Nguyễn Đăng Hưng cho biết nhận định của ông về mối tương quan giữa trí thức và nhà nước trước những kinh nghiệm của Lybia như sau:
“Nếu nhà cầm quyền sáng suốt thì sự đổ vỡ không xảy ra. Nều nhà cầm quyền không sáng suốt thì đổ vỡ là điều chắc chắn. Ở Lybia là một thí dụ cho thấy như vậy.

Nếu nhà cầm quyền sáng suốt thì sự đổ vỡ không xảy ra. Nều nhà cầm quyền không sáng suốt thì đổ vỡ là điều chắc chắn. Ở Lybia là một thí dụ cho thấy như vậy.
GS Nguyễn Đăng Hưng

Người dân phải làm gì thì tôi nghĩ là khó nói mà quan trọng hơn là nhà cầm quyền phải làm gì thì ta có thể xác định nó rõ rệt hơn. Vì dân phải làm
gì thì phải tuỳ theo ý thức của người dân mà nhất là tương quan giữa người dân và chính quyền
Cái mà chính quyền làm thì thấy rõ hơn. Khi mâu thuẫn giữa người dân và chính quyền không được giải toả thì không chóng thì chầy sẽ xảy ra đổ vỡ.”

Nên đối thoại với trí thức

GS Nguyễn Huệ Chi, ông Nguyễn Văn Khải và nhà văn Nguyên Ngọc tham gia biểu tình hôm 14/8/2011 tại Hà Nội. AFP photo.
Với GS Trần Khuê thì vấn đề đối thoại với trí thức được xem là rất cần thiết nếu không muốn mối quan hệ giữa hai bên bùng nổ vì sự chèn ép quá độ của nhà nước, ông nói:
“Nếu anh không đối thoại không bàn bạc, không điều chỉnh tốt thì cuối cùng nó sẽ bùng nổ! Nén mãi thì tức nuớc vỡ bờ, áp lục nén càng mạnh thì bùng nổ càng cao. Tôi cũng như những người anh em trí thức tránh cho lãnh đạo tai hoạ. Bây giờ người ta thất nghiệp, người ta mất ruộng đất, người ta mất công ăn việc làm, người ta bị ức hiếp người ta bùng dậy thì xin lỗi, người ta băm nhỏ từng người một! Chưa biết vào lúc nào thôi chứ tất yếu là phải bùng nổ, tất yếu là phải sụp đổ.
Phải nói là tầng lớp trí thức của bất cứ dân tộc nào đều là tầng lớp elite, tầng lớp ưu tú, tinh hoa của dân tộc. Nó là tiếng nói của dân tộc. Nó là “diện” nguyện vọng của dân tộc. Tầng lớp trí thức bao giờ cũng là đội tiền tiêu. Họ nhìn xa và báo hiệu những tai hoạ cho dân tộc.”

Tầng lớp trí thức bao giờ cũng là đội tiền tiêu. Họ nhìn xa và báo hiệu những tai hoạ cho dân tộc.”
GS Trần Khuê

Không ai muốn thấy sự đổi đời phải tắm bằng máu, nhất là với Việt Nam một đất nước đã chịu quá nhiều đau đớn. Thế nhưng khi một bên cai trị với bàn tay sắt mà không có con tim chia sẻ và trí óc minh mẫn thì người dân chỉ biết trông cậy vào giới trí thức nói giùm tiếng nói của họ. Mà đã trông cậy rồi thì lòng dân thuộc về ai chắc nhà cầm quyền cũng rõ hơn ai hết.
Bức tranh nhân quyền tại VN

http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/experience-vn-get-f-libya-ml-08222011191955.html

Advertisements

Gửi bình luận »

Không có bình luận

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: