Hoàngquang’s Blog

18/08/2011

Đất nước lại đứng lên

Hà Sĩ Phu

Nhân ngày 19 tháng 8
Đoan Trang Cách mạng Tháng Tám: Khi trí thức dấn thân
Huỳnh Ngọc Chênh BÁO CỘNG SẢN VÀ BÁO NHÂN DÂN
Nguyễn Xuân Nghĩa Nội Loạn Tại Trung Quốc

TS Nguyễn Sỹ Phương, CHLB Đức Nhà nước bảo vệ dân trước ai, và như thế nào? Phạm Hồng Sơn Vài phản biện về bài “Thoát Trung Luận” Xem Thoát Trung Luận-Giáp Văn Dương Tô Hải blog Phấn đấu ký số 64
***

Đất nước lại đứng lên

Hà Sĩ Phu

viết tặng tác giả “Đất nước đứng lên” *
Giáo sư Huệ Chi và Nhà văn Nguyên Ngọc. Ảnh: Nguyễn Xuân Diện

Một thời “đất nước đứng lên”
Nay lại phải đứng lên lần nữa ? [1]
Vô lý thật,
Chắc lần trước đứng lên rồi lại ngủ
Hoặc nằm chơi, hoặc chuyển sang quỳ? [2]
Tháng Tám về tháng Tám lại đi
Mơ hão “trận sau cùng chiến đấu”! [3]*
Anh hùng “Núp” ** nay sinh nhiều con cháu
Núp cột đèn rình phạt xe đi
Núp bác Hồ, núp Mác núp Lê
Núp “16 chữ vàng” quỷ quyệt
Núp Chủ nghĩa, núp Nhân dân…, kiếm chác !
Lũ sâu bự nội-ngoại xâm khai thác
Hút kiệt bình phong
thành ngáo ộp dọa đe người
Để “một thời đểu cáng lên ngôi” [4].*
Tư bản đỏ hiện rõ tim đen
Xã hội đen đến thời vận đỏ
Cuộc bán mua đến cả giang sơn
Chơi canh bạc đỏ đen thế kỷ
*
Người nghệ sĩ , cũng là chiến sĩ
Đứng lên cùng Đất nước đứng lên
Giờ xót xa thấy dân trí ươn hèn
Lập quỹ, mở trường, noi gương người cũ ***
“Khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh”
Đứng dậy, bắt đầu từ Phan châu Trinh.
*
Sáu mươi sáu năm một bài học chưa thông
Không thể đứng lên nhờ đôi chân kẻ khác
Vay nặng lãi những Mao cùng Mác
Tan nát giống nòi, oan thác nhân dân.
Có thể nào tháo cùm kẹp tay chân
Khi trên đầu vòng Kim-cô đã xiết?
*
Ta lại hát“Dậy mà đi”
Những tiếng hát dục con người đứng dậy
Kim Quy hỡi, chắc Người nghe thấy
Lưỡi gươm thiêng thuở ấy lại trao dân
– Bóng tối kia !
Lùi lại trước gươm thần!

16/8/2011
H.S.P.
Tác giả gửi trực tiếp cho BVN.
——————————————
[1] Nhà văn Nguyên ngọc tham gia biểu tình sáng 14/8/2011 khiến TS Nguyễn Xuân Diện có lời bình: Đất nước đứng lên” từ Hồ Gươm
[2] Mấy lần đất nước đứng lên / Đứng lâu cũng mỏi cho nên phải nằm (thơ Xuân Sách)
[3] “Đấu tranh đây là trận cuối cùng” (Quốc tế ca)
[4] Quay mặt vào đâu cũng phải ghìm cơn mửa, cả một thời đểu cáng đã lên ngôi (thơ Bùi Minh Quốc)

http://boxitvn.blogspot.com/2011/08/at-nuoc-lai-ung-len.html

Cách mạng Tháng Tám: Khi trí thức dấn thân
Đoan Trang

Cho đến nay, nhiều tài liệu lịch sử đã khẳng định liên minh công – nông – trí là nền tảng sức mạnh của cách mạng Việt Nam. Nhưng nói như vậy có lẽ chưa đủ để xác nhận vai trò to lớn của lực lượng trí thức Việt Nam, đại diện cho trí tuệ và tinh thần dân tộc của nhân dân trong các cuộc đấu tranh giành độc lập.

Khi tìm hiểu về “vai trò của trí thức trong Cách mạng Tháng Tám”, người viết bài này đã có dịp hỏi chuyện ông Nguyễn Trọng Xuất (tức Sáu Nhân) – nguyên Tổng Thư ký bộ phận biên tập “Lịch sử Nam Bộ kháng chiến”, một cán bộ kỳ cựu, tham gia cách mạng từ thời 1945-1946. Căn nhà của ông ở số 51/10/14 Cao Thắng, Phường 3, Quận 3, TP HCM nay là di tích lịch sử cách mạng “Cơ sở Ban Tuyên huấn Xứ ủy Nam Bộ”.

Xuất thân là một nhà giáo (từng làm Bí thư chi bộ Giáo viên TX Mỹ Tho), ông Xuất có cảm tình đặc biệt đối với trí thức mà theo ông là lực lượng góp mặt nổi bật trong lịch sử Việt Nam giai đoạn tiền khởi nghĩa và Cách mạng Tháng Tám.

Ông cho rằng, trí thức trong xã hội Việt Nam thời kỳ ấy có một số đặc trưng. Thứ nhất, về kiến thức, thì đứng trên mặt bằng thời đó, học sinh – sinh viên đã là trí thức rồi. Thứ hai, trí thức Việt Nam có tình cảm dân tộc rất sâu sắc. Thứ ba, các trí thức đều có tinh thần dám dấn thân, “không trùm mền” (từ dùng của ông Xuất). Theo ông Xuất, thậm chí ngay cả số “trùm mền” cũng là “vì giữ tiết tháo, không muốn hợp tác với Pháp”; hoặc nếu có quan hệ với thực dân Pháp thì cũng vì mong muốn vận động Pháp cải thiện đời sống và mở rộng tự do, dân chủ cho nhân dân Việt Nam.

Sôi sục trí thức trẻ…

Trí thức trẻ của ngày trước là các học sinh – sinh viên. Họ chính là nòng cốt của Thanh niên Tiền phong (TNTP) – tổ chức chính trị mạnh nhất và là lực lượng chủ yếu tham gia giành chính quyền ở Nam Bộ trong Cách mạng Tháng Tám. Ông Xuất, năm ấy mới 13 tuổi, là thành viên của Thiếu niên Tiền phong, một bộ phận thuộc TNTP.

Ấy là vào năm 1945, sau sự kiện Nhật đảo chính Pháp. Nhật “gợi ý” chính quyền thành lập một đoàn thể quy tụ thanh niên để xây dựng một lực lượng thân Nhật, chống Pháp. Thống đốc Minoda bèn đề nghị bác sĩ Phạm Ngọc Thạch (tức Tư Đá, đảng viên cộng sản) đứng ra tổ chức đoàn thể này. Ông Phạm Ngọc Thạch báo cáo lại Xứ ủy Nam Kỳ (đứng đầu là ông Trần Văn Giàu), Xứ ủy quyết định thành lập TNTP, phát động phong trào Cứu quốc.

Vậy là TNTP ra đời. Ông Xuất kể lại: “Do có danh nghĩa công khai nên tổ chức lớn mạnh nhanh, khí thế lớn lắm; trong không tới 3 tháng đã thu hút 1,2 triệu thanh niên ở khắp Sài Gòn, Long An, Mỹ Tho, Tây Ninh, Đồng Nai. Phần lớn thành viên là tiểu tư sản học sinh – sinh viên, tức là trí thức. Trái với mục đích của Nhật Bản là xây dựng lực lượng thân Nhật chống Pháp, ủng hộ chủ thuyết Đại Đông Á, mục đích của TNTP đã luôn chỉ là ‘đem tài ra cứu nước nhà trong cơn nguy biến’. Điều đó làm nên khí thế yêu nước rất mãnh liệt của thời kỳ tiền khởi nghĩa”.

Có những gương mặt sinh viên rất nổi tiếng: Huỳnh Văn Tiểng, Lưu Hữu Phước, Trần Bửu Kiếm, Nguyễn Việt Nam, Võ Văn Khải, Mai Văn Bộ… Có các trí thức lớn: bác sĩ Phạm Ngọc Thạch, luật sư Nguyễn Hữu Thọ, Trịnh Đình Thảo, nhà văn Thiếu Sơn, nhà nghiên cứu Lê Thọ Sơn, Thuần Phong, Huỳnh Xuân…

TNTP sôi nổi hoạt động: hội họp, mít tinh, cứu đói ở miền Bắc, cướp súng đạn của lính Pháp… Dần dần tổ chức mở rộng ra, có thêm TNTP Ban xí nghiệp (tức TNTP của công nhân), TNTP Phụ lão (tức Phụ lão Tiền phong), Thiếu niên TP, Phụ nữ TP.

Sau này nhớ lại, ông Nguyễn Trọng Xuất nhìn nhận: “TNTP là ngọn cờ mà người trí thức ở Nam Bộ giương lên. Quần chúng nhìn vào tổ chức, thấy có những trí thức như ông Phạm Ngọc Thạch, người ta mới tin tưởng. Trí thức là bộ phận tinh túy của dân tộc. Nói về trí thức thì đừng nên bị khuôn vào vấn đề giai cấp, mà hãy đánh giá họ cho thỏa đáng”.

Ở miền Bắc, trí thức trẻ cũng đã đóng vai trò lớn trong cuộc khởi nghĩa giành chính quyền. Một nhân chứng của thời đó, bà Lê Thi, con gái cố GS Dương Quảng Hàm, cho biết: “Lực lượng chính làm nên Cách mạng Tháng Tám ở thủ đô là tiểu tư sản học sinh – sinh viên. Không có lực lượng vũ trang vì khi đó quân của ông Võ Nguyên Giáp ở chiến khu chưa về kịp. Nhân dân Hà Nội đã tự đứng lên làm khởi nghĩa.

Khi tôi đi trong đoàn biểu tình, tôi thấy rất nhiều nữ sinh. Thời đó ở Hà Nội phụ nữ ăn mặc như vậy: Nữ sinh, con gái gia đình công chức luôn đóng bộ quần trắng, áo dài màu hoặc trắng. Tôi nhận thấy hôm đó rất đông các chị em quần trắng”.

Ảnh hưởng của các trí thức lớn

Ông Trần Văn Giàu đánh giá rằng trí thức Việt Nam, nhất là ở Sài Gòn – Gia Định, luôn đoàn kết với quần chúng nhân dân: “Trong hàng ngũ của TNTP, của Mặt trận Việt Minh… rất đông trí thức có học vị cao, chức cao, lương cao ở chế độ thực dân, ruộng vườn đồn điền cả ngàn mẫu, cả trăm mẫu, xe hơi, nhà lầu, thế mà họ vẫn tham gia cách mạng và kháng chiến, họ vẫn đi đến “mút mùa” với những trí thức bình thường, với nhân dân lao khổ”.

TS Hồ Hữu Nhựt, chủ biên cuốn Trí thức Sài Gòn – Gia Định 1945 – 1975, cũng nhận định: “Trí thức Tây học sớm truyền bá cả tư tưởng dân chủ tư sản và tư tưởng cộng sản chủ nghĩa vào Sài Gòn… Trong đấu tranh, trí thức có vai trò tập hợp, hiệu triệu quần chúng, họ đương đầu trực diện với kẻ thù”.

Và sức ảnh hưởng của trí thức thật to lớn. Trí thức đã sử dụng báo chí, văn nghệ để giáo dục lòng yêu nước, vận động đấu tranh giành độc lập. Những bài viết trên Đông Pháp thời báo của chủ bút Trần Huy Liệu, Thanh Niên của Huỳnh Văn Tiểng từng làm chấn động cả Sài Gòn.

Trước và trong Cách mạng Tháng Tám, những bài ca yêu nước của giới nhạc sĩ – trí thức Lưu Hữu Phước, Văn Cao, Nguyễn Đình Thi… như Gò Đống Đa, Thăng Long hành khúc ca, Ải Chi Lăng, Bạch Đằng Giang, Người xưa đâu tá, Lên đàng, Tiếng gọi thanh niên, Diệt phát xít… đã cổ vũ không ngừng cho khí thế người dân tiến lên giành chính quyền.

Sau Cách mạng Tháng Tám, khi thực dân Pháp trở lại, bản tuyên ngôn tập hợp hơn 200 chữ ký của trí thức ủng hộ Chính phủ kháng chiến chống Pháp đã ảnh hưởng cả tới công luận thế giới, thu hút sự chú ý và phản đối của công luận quốc tế với cuộc chiến tranh xâm lược của Pháp ở Đông Dương.

Nặng lòng với dân tộc

Trí thức Việt Nam đã đi theo cách mạng với tấm lòng và nhiệt huyết, thậm chí với cả một chút ngây thơ và nhát sợ khi mới bước vào cuộc chiến đấu. Ông Nguyễn Trọng Xuất cười kể lại: “Hồi đó, chúng tôi dũng khí thì có thừa đấy mà kinh nghiệm trận mạc, tổ chức đội ngũ chả có gì. Cướp được súng của Nhật, của Pháp, súng bự quá lại không biết cách tháo ra, cả chục người phải xúm lại khiêng một khẩu. Hồi đầu kháng chiến, nghe tiếng đạn đum đum cũng sợ. Đạn ngày đó, một viên bắn ra, lọt khỏi nòng nó nổ một lần, “cắc”, tới đích nó nổ lần thứ hai, “bòm”, nên gọi là đạn “cắc bòm” là vì vậy”.

Nhưng trí thức Việt Nam là thế, họ luôn gắn bó cùng đất nước trong một tinh thần dân tộc rất sâu nặng. Trọng nghĩa khinh tài, khí khái, dấn thân, đặc điểm đó nhiều ít ở mỗi người mỗi khác, nhưng cái chung của họ luôn là tình cảm đối với quốc gia và dân tộc. Chính điều này làm nên sĩ khí của họ. Trong lịch sử gần một thế kỷ chống Pháp, khởi đầu từ phong trào Cần vương của giới văn thân và sĩ phu yêu nước cho đến những nhóm chính trị đầu thế kỷ XX, trí thức luôn thể hiện tinh thần yêu nước của mình, dù ở những dạng khác nhau và theo những quan điểm khác nhau.

Tuy nhiên, cần phải nói là trong một thời gian dài, họ đã không có được một đường hướng đoàn kết và thống nhất, hoạt động của họ, lúc thì đi vào con đường bế tắc, lúc thì theo hướng trùm chăn “án binh bất động” chờ thời hoặc ngược lại, theo chủ trương bạo động mà chưa đặt trọng tâm vào vận động quần chúng nhân dân. Chỉ đến cuối năm 1944 và nhất là mùa xuân năm 1945, khi Mặt trận Việt Minh đưa ra những kêu gọi và đường hướng rõ ràng, cương quyết và mạch lạc cho cuộc cách mạng Việt Nam, thì giới trí thức mới thực sự đồng thanh dấn thân cho sự độc lập của dân tộc.

Tạm thời xếp lại một số bất đồng, đặt lợi ích của Tổ quốc lên trên hết, sẵn sàng chiến đấu để giành và giữ độc lập cho đất nước dưới ngọn cờ của Việt Minh – ấy là một số nét cơ bản của đội ngũ trí thức tiêu biểu trong Cách mạng Tháng Tám, như lời tự thuật của nhà trí thức – nhà thơ Tú Mỡ:

Kháng chiến bùng lên biệt thủ đô
Lên đường dẻo bước khoác ba lô
Mang theo ý chí người dân Việt
Thà chết không làm vong quốc nô.

Trang the Ridiculous

BÁO CỘNG SẢN VÀ BÁO NHÂN DÂN
KỲ 1: BÁO CỘNG SẢN

Huỳnh Ngọc Chênh
Luật pháp của nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam chỉ cấp phép hoạt động cho các cơ quan truyền thông thuộc đảng Cộng sản, thuộc các tổ chức quần chúng của đảng, thuộc các cơ quan của nhà cầm quyền. Do vậy mà ở Việt Nam hiện nay chỉ có báo đài của đảng Cộng sản. Đó là báo đảng ở trung ương, báo đảng của 64 tỉnh thành, rồi báo của các bộ, rồi báo của các sở, rồi báo của Đoàn Thanh Niên, Liên đoàn Lao động, Mặt Trận Tổ quốc. Rồi báo của các hội như hội Thanh Niên, hội Phụ Nữ, hội Nông Dân, hội Nhà Văn, hội Nhà Báo, hội Điện Ảnh…
Báo của các ngành và các đoàn thể thì có ở cấp trung ương, nhưng cũng có mặt ở các địa phương lớn như Hà Nội, Hồ Chí Minh. Ví dụ: báo Lao Động rồi báo Người Lao Động, báo Tiền Phong rồi báo Tuổi trẻ Thủ Đô và Tuổi Trẻ, báo CAND rồi báo CA TPHCM… Tiếp theo là đài truyền hình, đài phát thanh, báo điện tử đều có từ trung ương xuống các địa phương. 64 tỉnh thành là 64 đài phát thanh, 64 đài truyền hình, 64 trang web….Nói chung là có đến cả ngàn cơ quan truyền thông trên lãnh thổ Việt Nam, tất cả đều thuộc Đảng Cộng sản.
Cả ngàn cơ quan đó nhân sự lên đến vài chục ngàn người. Có báo đài do nhà nước lấy tiền ngân sách trả lương và kinh phí hoạt động (số nầy hơi đông). Có báo đài tự thu tự chi không cần đến tiền đóng thuế của dân (số này không nhiều).
Có người gọi tất cả các báo đài đó là báo đài chính thống, không biết theo hệ quy chiếu nào? Có người gọi là báo đài cách mạng, vì vậy mà có ngày báo chí cách mạng. Có người gọi đó là báo đài quốc doanh, lại có người gọi là báo lề phải.
Nhưng nói cho đúng bản chất thì đó là báo đài của Đảng Cộng sản nên cứ gọi là báo cộng sản cho gọn.
Vì là báo cộng sản nên chỉ đăng những gì đúng theo quan điểm và chủ trương của đảng, đăng những gì có lợi cho đảng. Do vậy tuy rất nhiều về số lượng nhưng thông tin trên báo cộng sản thường rập khuôn một chiều và dĩ nhiên không thể nói là không phiến diện.
Trong hệ thống báo đài cộng sản, có đến cả ngàn cơ quan, nên có đến cả ngàn tổng biên tập hoặc giám đốc, tất cả họ đều là đảng viên Đảng Cộng sản. Nhưng vì cách đưa tin rập khuôn theo chủ trương của đảng, nên có người nói vui: tất cả các báo đài ấy thực chất chỉ có một tổng biên tập thôi, đó là người không-ai-nói-ra-nhưng-ai-cũng-biết.
Làm sao mà chỉ một tổng biên tập mà quản được cả ngàn báo đài ấy để không đi chệch hướng của đảng? Cũng đơn giản thôi. Cách làm việc có thể hình dung như sau. Người không-ai-nói-ra-nhưng-ai-cũng-biết đó, mỗi tối trước khi đi ngủ gởi một tin nhắn chung cho tất cả các tổng biên tập các báo đài (trước đây thì phải tê lê phôn cho từng người, nhưng bây giờ trình độ tu luyện của kẻ không-ai-nói-ra-nhưng-ai-cũng-biết đã tăng cao, có thể nhắn tin một lần cho hàng loạt được rồi) với nội dung như sau: Điều A là tuyệt đối không đăng một chữ nào nhé! Điều B thì đăng như thế nầy thế nầy nhé! Các em nhớ nhé! Còn các chuyện ăn chơi, nhảy múa, cướp bóc, hiếp dâm, đồi trụy… thì các em cứ thoải mái làm theo kiểu mà các em thích cho nó đa dạng, phong phú, nhớ nhé!
Nhưng công bằng mà nói thì báo cộng sản cũng có nhiều lúc, nhiều tờ làm rất hay, rất sinh động và có bản sắc riêng. Ấy là do có những lúc Đảng Cộng sản nới lỏng sự kiểm soát, hoặc do tờ báo may mắn rơi vào tay những tổng biên tập tài năng.
Phía Bắc thì có tờ Văn Nghệ của thời ông Nguyên Ngọc. Phía Nam thì có nhiều hơn, đó là các tờ Tuổi Trẻ thời ông Võ Như Lanh, bà Kim Hạnh, ông Lê Văn Nuôi, ông Huỳnh Sơn Phước…Sài Gòn Giải Phóng thời ông Tô Hòa và Võ Như Lanh, Công An TP Hồ Chí Minh thời ông Huỳnh Bá Thành, Lao Động thời của nhóm Tống Văn Công, Hồng Đăng, Lý Quý Chung, Trần Trọng Thức… báo Thanh Niên thời của Huỳnh Tấn Mẫm, Nguyễn Công Khế, báo Phụ Nữ TP HCM thời của Thế Thanh. Rồi tiếp theo là Thời báo Kinh Tế Sài Gòn thời của Võ Như Lanh, Sài Gòn Tiếp Thị thời của Kim Hạnh rồi Tâm Chánh, Pháp Luật TP HCM thời của Nam Đồng và Huỳnh Quý.
Các vị đó là những người làm báo tài năng, trong phạm vi nhỏ hẹp của “lề phải” họ đã bươn chải, tạc dấu ấn cá nhân của họ vào, biến một tờ báo bao cấp rập khuôn của đảng thành một tờ báo xã hội hóa được xã hội đón nhận và hoan nghênh, làm ăn có lãi, đóng góp tích cực cho công cuộc đổi mới, cố gắng trong phạm vi cho phép chống lại bạo quyền, bênh vực những kẻ oan khiên, đóng góp không nhỏ cho xã hội qua các hoạt động ngoài báo.
Báo Tuổi Trẻ thì có chương trình Vì Ngày Mai Phát Triển, báo Thanh Niên có Quỹ học bổng Nguyễn Thái Bình, Sài Gòn Tiếp Thị của chị Kim Hạnh thì có chương trình vang dội Hàng Việt Nam Chất Lượng Cao mà nhiều doanh nghiệp trong nước hẳn phải ghi ơn chị suốt đời…Những nhà báo đó, không biết đảng của họ có đánh giá cao họ không, riêng cá nhân tôi, với tư cách là một độc giả, họ là những người làm báo đáng khâm phục, là thế hệ vàng của làng báo Cộng sản Việt Nam. Rất tiếc, tất cả họ đều không còn làm báo nữa.
Một thế hệ vàng đã ra đi, để lại đàng sau họ những tờ báo do họ làm ra bản sắc, trở lại đúng vị trí của mình: Tờ báo đảng…ngoan hiền, và một nỗi buồn trống vắng trong lòng các thế hệ độc giả, trong đó có tôi.
Nhưng may quá….
http://huynhngocchenh.blogspot.com/2011/08/bao-cong-san-va-bao-nhan-dan.html

KỲ 2 : BÁO NHÂN DÂN

Lại nói về báo cộng sản, chỉ đăng những thông tin theo chủ trương đường lối của đảng, đăng những tin có lợi cho đảng, đăng những ý kiến của đảng, ý kiến của các quan chức đảng và của nhà cầm quyền, đăng ý kiến của người dân đồng ý kiến với đảng.
Những thông tin không có lợi cho đảng, dứt khoát không được đăng, ý kiến của người bất đồng với ý kiến với đảng càng không được đăng.
Chín người mười ý, 85 triệu dân thì không biết bao nhiêu là ý. Chỉ đăng theo ý của đảng thì còn hàng chục triệu ý kiến khác đăng ở đâu? Có cả ngàn phương tiện truyền thông nhưng người dân vẫn thiếu thông tin. Quyền được nêu ý kiến và quyền được thông tin của người dân bị xâm phạm.
Nhưng may quá, trời đã sinh voi nên sinh ra cỏ, đã sinh ra con người đói thông tin thì phải sinh ra… internet. (Nhưng cũng có ai đó than: Trời đã sinh Du sao còn sinh Lượng, đã sinh ra CNXH sao còn đẻ ra cái thằng tinh vi internet!)
Cái anh đế quốc tư bản sắp giãy chết kia lại làm ra cái công cụ rất tinh vi thâm độc. Nó tinh vi thâm độc ở chỗ, với nó thì cứ một anh dân nào cũng có thể nhảy vào…làm báo. Thế mới chết kia chứ, từ anh nông dân đến anh trí thức, từ em học sinh đến cụ già sắp xuống lỗ, từ anh nhà báo đến anh nghệ sỹ, từ anh đồng ý kiến đến anh bất đồng ý kiến, từ anh trong nước đến anh ngoài nước, từ anh cộng sản đến anh không cộng sản…tất tất đều có thể đường hoàng ra cho riêng mình một tờ báo ngon ơ. Đó là các trang blog, trang web cá nhân đang vào thời kỳ nở rộ như nấm sau mưa, và không biết chúng còn phát tướng ra cái gì trong tương lai nữa. (Dân bất đồng ý kiến sướng rồi nhé, nếu các vị chưa có đất để sống thì ít ra các vị cũng có đất để… nói. Trăm lạy thần internet, xin thần tiếp tục tồn tại để phù hộ cho chúng con, a di đà phật, amen!)
Thật ra ban đầu những trang blog, web chỉ dùng để ghi nhật ký cá nhân mà thôi, nhưng mà cái thằng nhà mạng chúng nó cũng đồng lõa tinh vi, chúng phù phép thế nào đó các trang nhật ký riêng tư ấy… ai cũng vào xem được và đăng ý kiến của mình lên được. Thế là nhật ký biến thành báo lúc nào không hay. Nhân dân cũng không hay mà nhà cầm quyền cũng không biết. Nhờ vậy mà chúng nó lừng lững tồn tại, rồi họp lại thành nhóm thành làng. Bây giờ nó phát triển to lớn rồi, người ta đặt tên cho nó. Có người gọi nó là báo mạng, báo lề trái, báo phản động (lại không biết đứng trên hệ quy chiếu nào), có người làm báo đảng còn gọi (nó) là báo rác rưởi. Có rác rưởi thì cũng của nhân dân, cao quý cũng của nhân dân, nhân dân nước nào lại không có từ hạng thấp hèn rác rưởi lên đến hạng quý phái cao sang. Do vậy đây là báo của mọi người dân nên cứ gọi là báo nhân dân cho đúng bản chất sự việc.
Nếu báo cộng sản phải tuyệt đối có tính đảng, thì báo nhân dân lại rất có tính…đa nguyên. Bởi báo ấy không từ chối đăng tải bất cứ một loại ý kiến gì, loại chủ trương gì, quan điểm gì…mà ai từ chối được ai chứ, báo của ta thì ta cứ đăng ý kiến của ta và cả ý kiến không phải của ta, ai cấm được. Còn thiên hạ ai muốn đọc cái gì thì cứ vào đọc, không ai bị chỉ đạo phải đọc cái nầy không đọc cái kia. Đứng trước làng báo nhân dân, mỗi người đọc là một con người tự chủ, được toàn quyền quyết định sự lựa chọn của mình không ai ngồi vào đầu mình, làm thay cho mình cả.
Nhiều blog hoặc web cá nhân trở nên phổ biến, thu hút một lượng đông đảo người đọc, có những trang thu hút đến hàng vạn lượt người đọc mỗi ngày. Những tờ báo nhân dân đó trở thành món ăn tinh thần hàng giờ không thể thiếu của nhiều người. Có nhiều tên tuổi nổi lên trong làng báo nầy, có thể kể ra như: blog Osin của nhà báo Huy Đức, Cô Gái Đồ Long của Hương Trà, Điếu Cày của Nguyễn Văn Hải, Quê Choa của Nguyễn Quang Lập…Rồi các blog của Hà Sỹ Phu, Mẹ Nấm, Nguyễn Hữu Vinh, Đỗ Trung Quân, Tô Hải, Nguyễn Xuân Diện, Phạm Viết Đào, Nguyễn Trọng Tạo, Hồ Hải, Ngô Bảo Châu…rồi đến các trang chung nổi tiếng như Bauxite Việt Nam, Anh Ba Sàm, Tin tức Hàng ngày, Dân làm báo, và nhiều nhiều nữa và không thể biết được trang nào ở trong nước, trang nào ở nước ngoài. Mà biết làm gì cho mệt nhỉ, ở đâu cũng là nhân dân, là đồng bào Việt Nam thôi. Nên trong nước hay ngoài nước gì thì cũng là báo nhân dân cả.
Những thông tin đa chiều và thô ráp trên các trang báo nhân dân ban đầu làm cho nhà cầm quyền rất khó chịu, vì thế mà nhiều trang hoặc bị đóng cửa, hoặc bị “tin tặc” quậy phá. Nhưng nhân dân có đến hàng chục triệu người thì làm sao chặn cho hết được những tờ báo của họ. Trang nầy mất, trang khác mọc ra.
Nói một cách nghiêm chỉnh, những tờ báo nhân dân đó đã tạo ra những hiệu quả thông tin rất lớn và trong chừng mực nào đó đã làm lay động đến xã hội. Từ anh CSGT đến anh quan chức cấp thấp đến tận các anh ở trên cao, bất cứ lúc nào cũng có thể được đưa lên báo. Nếu làm việc tốt đẹp thì tiếng thơm nhờ vậy được lan tỏa rộng, ngược lại tiếng thối cũng lan xa. Vì thế mà từ hành vi của anh nhân viên công lực đứng đường, đến những phát biểu của các vị quan chức cao cấp trong nghị trường đều phải luôn luôn cẩn trọng vì được nhân dân giám sát thường xuyên. Chuyện như vậy thì tốt hay xấu nhỉ? Thôi tốt hay xấu thì tùy theo mỗi cái đầu, không bàn ra đây nữa.
Không có báo nhân dân thì không ai biết được chuyện viên đại úy đạp vào mặt người biểu tình, không ai biết được tình trạng bạo lực học đường diễn ra rất khốc liệt, không ai biết được thơ Hồ Chí Minh ca ngợi Quang Trung bị đục bỏ, không ai biết được hai anh cảnh sát đấu võ với nhau ngoài đường phố, không ai dám phê phán vị đại biểu nói sai về lạm phát một cách ấu trĩ, không ai biết được có vị quan chức mới được đề bạt xài bằng giả, không ai biết được vừa mới đây có 10 công dân ở Vinh bị mất tích một cách khó hiểu, không ai dám bình phát biểu của chủ tịch quốc hội về vấn đề hợp tác cùng tiến lên CNXH với Trung Quốc là câu nói hay. Báo nhân dân bổng dưng trở thành công cụ giám sát quan chức của nhà cầm quyền cho nhà cầm quyền lúc nào không hay mà không cần ăn lương để tốn tiền thuế của dân như hằng hà các cơ quan giám sát chính thống khác mà chẳng giám sát được gì.
Rồi nghiễm nhiên báo nhân dân tạo ra một loại kênh thông tin rất khác cho nhà cầm quyền bên cạnh kênh thông tin tạo ra bởi làng báo cộng sản. Nhờ vậy mà nhà cầm quyền nắm bắt toàn diện và kịp thời các tín hiệu từ dân mà có những điều chỉnh thích ứng trong công việc cai trị (theo hướng tiêu cực lẫn hướng tích cực).
Đến bây giờ, dường như nhà cầm quyền đã nhìn ra được mặt tích cực của vấn đề nên đã trực tiếp ủng hộ sự tồn tại của các tờ báo nhân dân đó bằng cách mỗi vị lãnh đạo cao cấp cũng làm ra cho mình một trang web cá nhân. Những trang Nguyễn Phú Trọng, Trương Tấn Sang, Nguyễn Sinh Hùng, Nguyễn Tấn Dũng…bắt đầu xuất hiện hòa mình vào trong làng báo nhân dân. Công dân mạng đang hoan hỉ đón nhận. Như vậy làng báo nhân dân trong thời gian tới sẽ không còn bị quấy rối bởi bọn tin tặc mờ ám nữa. Những trang trước đây bị tin tặc phá hoại thì bây giờ có lẽ là lúc có thể phục hồi trở lại. (Và các đồng chí công bộc của đảng từ giờ trở đi đừng có dại mồm nói báo nhân dân là báo rác rưởi nữa nhé!)
Với tư cách là độc giả thường xuyên, xin được hoan hô tất cả các nhà làm báo nhân dân, hoan hô Bauxite Việt Nam, Điếu Cày Nguyễn Văn Hải, Thư viện Hà Sỹ Phu, Cu làng cát, Nguyễn Phú Trọng, Quê choa, Nguyễn Sinh Hùng, Chú tư ngố, Trương Tấn Sang, Anhbasam, Nguyễn Tấn Dũng, Beo, Nguyễn Xuân Diện, Osin, Trần Nhương, Người buôn gió, Nguyễn Trọng Tạo, Mẹ Nấm, Tạ Phong Tần, Hồ Trung Tú, Cô Gái Đồ Long, Vương Trí Nhàn, Nguyễn Vạn Phú, Nguyễn Thế Thịnh, Mr Do, Nguyễn Thông…và nhiều nhiều nữa không thể kể hết ra đây.
Các vị là những người đầu tiên đặt chân vào một chương mới của lịch sử báo chí Việt Nam. Mỗi vị là một tổng biên tập thực sự của tờ báo của mình và của nhân dân, trên các vị không có kẻ Không-ai-nói-ra-nhưng-ai-cũng-biết chỉ đạo. Độc giả biết các vị chỉ đi theo sự dẫn dắt của một kẻ duy nhất thôi, đó là lương tâm của các vị.
Xin nhại lại câu nói của ông bà để kính tặng hàng triệu vị tổng biên tập trong làng báo nhân dân thay cho lòng biết ơn của tôi: Còn lương tâm thì còn làng báo nhân dân, còn làng báo nhân dân thì còn Tổ quốc Việt Nam.
Nguồn: Huỳnh Ngọc Chênh blog

Nội Loạn Tại Trung Quốc

2011-08-18
Vũ Hoàng và Nguyễn Xuân Nghĩa – RFA Ngày 20110817

Khi nước Tầu có loạn….

AFP: Công an và an ninh Trung Quốc xuất hiện mọi nơi.

Vì sao một quốc gia đã đạt mức tăng trưởng rất cao và trở thành nền kinh tế hạng nhì thế giới lại cứ hay gặp bất ổn? Câu hỏi trên được nêu ra khi người ta theo dõi tình hình Trung Quốc trong mấy tháng qua với hàng loạt tin tức về tình trạng động loạn xã hội lan rộng ở nhiều nơi. Câu hỏi ấy càng đáng chú ý hơn khi người ta chú ý đến tình hình Việt Nam, vổn dĩ cũng áp dụng mô hình kinh tế của Trung Quốc với cùng một ý thức hệ. Diễn đàn Kinh tế tìm hiểu câu trả lời qua cuộc trao đổi với nhà tư vấn kinh tế Nguyễn Xuân Nghĩa do Vũ Hoàng thực hiện sau đây.

Những bất ổn chính ở ngay trong nội địa
Vũ Hoàng: Xin kính chào ông Nguyễn Xuân Nghĩa. Thưa ông, sau khi tiến hành cải cách 30 năm trước và gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới WTO 10 năm trước, Trung Quốc đã đạt mức tăng trưởng rất cao, bình quân là 10% một năm trong mấy chục năm liền. Nhờ vậy mà mấy trăm triệu người thoát ra khỏi tình trạng cùng khốn của thời Mao Trạch Đông trước đấy và xứ này đã có nền kinh tế đứng hạng nhì thế giới với hy vọng sẽ bắt kịp Hoa Kỳ vào năm 2016 như Quỹ Tiền tệ Quốc tế IMF đã dự báo.

Nhưng song song với thành tựu kinh tế đó, xã hội xứ này vẫn thường xuyên gặp bất ổn với nhiều vụ biểu tình và thậm chí xung đột của người dân với nhà chức trách địa phương vì rất nhiều lý do khác nhau. Tại sao như vậy là câu hỏi đã được mọi người nêu lên. Phải chăng là vì mâu thuẫn giữa nền tảng kinh tế đã thay đổi ở dưới với thượng tầng chính trị vẫn độc tài độc đảng ở trên? Trong chương trình tuần này, chúng tôi đề nghị là ta sẽ cùng tìm hiểu giải đáp cho vấn nạn ấy vì nhiều người liên tưởng đến trường hợp Việt Nam. Thưa ông, câu trả lời của ông cho câu hỏi ấy là thế nào?

Cung điện Lhasa, Tây Tạng Trung Quốc. AFP

Trước hết, dù thông tin bị bưng bít, người ta vẫn thấy là trong gần hai chục năm liền, năm nào Trung Quốc cũng gặp bất ổn xã hội

Nguyễn Xuân Nghĩa: – Câu trả lời là chúng ta cần cả một cuốn sách hay rất nhiều chương trình chuyên đề, chứ khó thấy ra câu trả lời ngắn gọn trong một chương trình! Lý do là hồ sơ quá phức tạp cho một quốc gia rộng lớn lại có quá nhiều khác biệt trong một tiến trình chuyển hóa đầy khó khăn.

– Trước hết, dù thông tin bị bưng bít, người ta vẫn thấy là trong gần hai chục năm liền, năm nào Trung Quốc cũng gặp bất ổn xã hội. Dù kinh tế tăng trưởng mạnh như khi vừa gia nhập tổ chức Thương mại WTO hoặc bị nguy cơ suy trầm như trong các năm 2008-2009 hoặc ngay năm nay vì rủi ro lạm phát thì nội loạn vẫn xảy ra. Bất ổn đó thể hiện dưới nhiều mặt vì sự bất mãn của dân chúng về mọi loại vấn đề, mà lại có chiếu hướng tăng chứ không giảm. Đó là ta căn cứ trên cách đếm những vụ biểu tình đông người của các chuyên gia và học giả Trung Quốc, và nhất là việc lãnh đạo xứ này đã gia tăng ngân sách và quân số về bảo vệ an ninh nội địa còn cao hơn ngân sách quốc phòng!

Vũ Hoàng: Một cách cụ thể để suy ra toàn bộ hồ sơ về nội an của Trung Quốc như ông nói thì ai là những người tham gia các vụ biểu tình này? Thành phần nông dân bị cướp đất hay những người thất nghiệp? Tuổi trẻ khát khao thay đổi và thấy bất an với tương lai trước mắt hay những người bất mãn về nạn bất công xã hội? Họ là những ai mà lại không hài lòng về những thành tựu kinh tế làm cả thế giới kinh ngạc và khâm phục?

Nguyễn Xuân Nghĩa: – Tôi nghĩ là thời nào và trong mọi xã hội thì vẫn có người không hài lòng và phản đối qua nhiều cách khác nhau. Nhưng trường hợp của Trung Quốc lại đáng chú ý chính là vì những thành tích kinh tế trên bề mặt của họ. Vì vậy mà đột biến chính trị vẫn có thể xảy ra, cũng bất ngờ như sự sụp đổ của Liên bang Xô viết năm 1989, như khủng hoảng chính trị tại Đông Á mười năm sau, hoặc những gì chúng ta đang chứng kiến tại Bắc Phi và Trung Đông trong thế giới Á Rập Hồi giáo.

Nguy cơ cuộc đột biến chính trị bất ngờ

Vũ Hoàng: Ông cho rằng đột biến chình trị hay khủng hoảng cũng có thể bất ngờ xảy ra cho Trung Quốc. Thế thì trong “cái riêng” của Trung Quốc, có những hiện tượng phản kháng nào khả dĩ gọi là “chung” mà người ta đã thấy trong các xã hội kia?

Cảnh sát chống bạo động luôn luôn ứng trực. AFP

“Có những vấn đề cơ cấu trong nền kinh tế Trung Quốc đã gây ra tình trạng phát triển không liên tục, không cân bằng, không phối hợp và không bền vững”.
Thủ tướng Ôn Gia Bảo 2007
Nguyễn Xuân Nghĩa: Về Trung Quốc, ta thấy một số đặc điểm trong không gian xã hội của họ

– Trước kia là nông dân và thành phần bần cùng tại thôn quê hoặc một số công nhân trong các doanh nghiệp ở thành thị. Phản ứng của họ lập tức bị khoanh vùng và tiêu diệt mà không lan qua nơi khác. Sau này, phong trào nổi loạn lại xuất phát ở các đô thị, trong thành phần ta có thể gọi là trung lưu có tiền, vì những lý do cũng khác với nông dân. Song song, và từ nhiều năm nay, các sắc tộc thiểu số người Hồi giáo, dân Mông Cổ hay người Tây Tạng cũng nổi lên đòi quyền bình đẳng hay tự trị trong các khu vực sinh hoạt bị phong toả của họ. Gần đây hơn là sự tham gia của tuổi trẻ với phương tiện truyền đạt hiện đại hơn, đó là mạng lưới Internet.

– Về lý do, trước kia, người ta khiếu kiện và biểu tình phản đối vì bị cướp đất, giãn dân mà không có đền bù thoả đáng. Sau đấy, người ta biểu tình vì mất việc, lương thấp và thiếu an sinh xã hội, Sau này, người ta biểu tình tại thành phố vì môi sinh bị xâm hại, địa phương bị thiên tai mà không được cấp cứu hoặc vì thiếu vệ sinh về thực phẩm hay sự an toàn cho dân cư, về nạn tham nhũng và cường hào ác bá trong khu vực sinh hoạt của họ…. Chúng ta thấy sự chuyển dịch ngày càng cao hơn về thành phần xã hội và càng rộng hơn về địa dư và yêu cầu.

Vũ Hoàng: Đó là những nét đặc thù của Trung Quốc mà người ta có thể ít thấy tại Trung Đông chẳng hạn. Thế còn về cái nét chung mà nhiều xã hội hay quốc gia khác đã bị trước khi tan rã?

Nguyễn Xuân Nghĩa: -Nhìn trên toàn cảnh, ta thấy ra cái chung giữa những cái riêng ấy, tức là nguyên nhân căn bản nhất. Đó là sự bất mãn về hệ thống cai trị thiếu công minh, giới chức hữu trách thiếu trách nhiệm và nền tảng luật lệ hoặc “pháp quyền nhà nước” không được chính viên chức nhà nước tôn trọng mà còn được họ tùy tiện diễn giải vì chẳng có chuẩn mực thống nhất.

Trụ sở Google ở Bắc Kinh. AFP

Cái đặc thù của Trung Quốc, và có lẽ cũng của Việt Nam, là người ta có thấy ra sự bất bình đẳng trong cuộc đua nhưng thật ra không bất mãn về tình trạng ấy

– Chính Thủ tướng Ôn Gia Bảo đã tóm lược tình trạng này một cách xin gọi là sáng suốt nhất. Ông ta phát biểu rằng “Có những vấn đề cơ cấu trong nền kinh tế Trung Quốc đã gây ra tình trạng phát triển không liên tục, không cân bằng, không phối hợp và không bền vững”. Tôi gọi đó là lý luận “tứ bất”, bất liên tục, bất quân bình, bất phối hợp và cơ bản là bất trắc!

– Thật ra, đây là lý luận phê phán hệ thống chính trị chứ không chỉ nói về cơ cấu hay chiến lược kinh tế. Lý do là Tổng lý Ôn Gia Bảo nói như vậy từ Tháng Ba năm 2007, bốn năm sau khi ông cầm đầu Quốc vụ viện. Ngày nay, ông chỉ còn hơn một năm là mãn nhiệm sau hai nhiệm kỳ Thủ tướng mà lãnh đạo chưa giải quyết được và đành chuyển cái tứ bất này cho thế hệ lãnh đạo nối tiếp cho đến ngày đột biến.

Vũ Hoàng: Khi nói đến sự bất toàn trong hệ thống chính trị Trung Quốc, chúng tôi xin nêu ngay câu hỏi. Có phải là vì xứ này đã muốn phát triển kinh tế thị trường nên trong tiến trình phát triển họ đã gặp một hiện tượng chung là bất bình đẳng vì hố sâu giàu nghèo đã lan rộng chăng?

Nguyễn Xuân Nghĩa: – Câu hỏi này rất hay và nó làm nổi bật cái đặc thù của Trung Quốc.

– Sau 30 năm lầm than thời Mao, xã hội Trung Quốc tăng trưởng cao hơn nhưng cũng mở rộng khoảng cách giàu nghèo giữa các thành phần dân chúng và khoảng cách ấy có cao hơn nhiều xã hội khác tại Đông Á khi tiến vào thời kỳ công nghiệp hoá để hiện đại hoá. Nôm na là sau khi bị cào bằng và đói khổ như nhau, bỗng dưng người dân thấy mở ra nhiều cơ hội cải tiến cuộc sống và họ lao vào cuộc đua ấy.

– Cái đặc thù của Trung Quốc, và có lẽ cũng của Việt Nam, là người ta có thấy ra sự bất bình đẳng trong cuộc đua nhưng thật ra không bất mãn về tình trạng ấy. Họ mắm môi luồn lách để thăng tiến cho kịp với các thành phần ở trên và cho rằng đó là do địa dư hình thể, do quan hệ kinh tế chính trị, thậm chí là do thân tộc có móc nối với quan chức.

Giai cấp giàu nghèo có khoảng cách quá xa. AFP

Nhưng, nếu không bất mãn vì sự bất bình đẳng trong xã hội khiến nhiều người làm giàu rất mau, người ta lại khó chịu về nạn bất công trong tiến trình giải quyết các vấn đề của đời sống.

– Nhưng, nếu không bất mãn vì sự bất bình đẳng trong xã hội khiến nhiều người làm giàu rất mau, người ta lại khó chịu về nạn bất công trong tiến trình giải quyết các vấn đề của đời sống. Tức là sau khi chấp nhận tình trạng bất bình đẳng và cố leo lên bậc thang cao hơn, người ta bất mãn về phương thức thi hành luật lệ đầy bất công khiến họ khó leo lên bậc thang ở trên. Mà nói đến luật lệ, tức là luật và lệ, ta nhìn ra yếu tố then chốt của hệ thống chính trị.

Vũ Hoàng: Ông vừa nêu ra một nhận xét rất nghiêm trọng vì hàm ý là người ta chỉ bất mãn khi là nạn nhân của bất công, chứ nếu có cơ hội thăng tiến trong hoàn cảnh bất bình đẳng ấy thì sẽ im. Có phải như vậy không?

Nguyễn Xuân Nghĩa: – Thưa đúng như vậy và đấy là một đặc thù lạc hậu về văn hóa vì mặc nhiên duy trì sự tồn tại của hệ thống chính trị bất công tại Trung Quốc và cả Việt Nam. Nhưng cũng vì vậy nó lại làm chế độ không cải tiến vì tưởng là sẽ tồn tại được nhờ khai thác tánh xấu của con người. Và vì không cải tiến, hệ thống chính trị ấy không giải quyết được các vấn đề kinh tế và xã hội nên tích lũy sức ép của khủng hoảng và có thể bị đột biến bất ngờ.

Vũ Hoàng: Trong mạch suy nghĩ ấy và nhất là khi ông nhắc đến việc Trung Quốc được gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới đúng 10 năm trước, xin hỏi ông rằng khi mở cửa cho xứ này hội nhập vào kinh tế thị trường của toàn cầu, người ta thầm mong rằng sự cải thiện kinh tế ở dưới sẽ làm thay đổi chính trị ở trên. Kết quả hình như lại không được như vậy, có phải không?

Người ta hiểu lầm rằng nếu bao tử căng hơn sẽ tất nhiên làm cho cái đầu được thông thoáng hơn. Hoặc nói theo văn hoá Á Đông thì “phú quý sẽ sinh lễ nghĩa”, khi có mức sống cao hơn người ta sẽ hành xử văn minh hơn.

Nguyễn Xuân Nghĩa: – Tôi thiển nghĩ rằng đây là một sự hiểu lầm vĩ đại nhất của nhân loại trong hậu bán thế kỷ 20 và là một cách trả thù muộn màng của Karl Marx! Người ta hiểu lầm rằng nếu bao tử căng hơn sẽ tất nhiên làm cho cái đầu được thông thoáng hơn. Hoặc nói theo văn hoá Á Đông thì “phú quý sẽ sinh lễ nghĩa”, khi có mức sống cao hơn người ta sẽ hành xử văn minh hơn. Khi Trung Quốc chuyển hóa theo kinh tế thị trường thì sẽ tiệm tiến thay đổi hình thái cai trị bên trong cho dân chủ hơn và đối xử với bên ngoài một cách ôn hoà và trách nhiệm hơn.

– Sự thật lại không như vậy vì bao tử không sai khiến cái đầu. Ngược lại, chính là cái đầu phải thay đổi tư duy và tổ chức để cải thiện cuộc sống người dân về cả lượng lẫn phẩm.

– Những thí dụ chứng minh là Trung Quốc đã gia nhập Tổ chức WTO mà thường xuyên vi phạm quy định của tổ chức này để trục lợi bất chính. Ngồi ghế thường trực Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc, Bắc Kinh bỏ phiếu trong tinh thần vô trách nhiệm vì bao che các chế độ hung đồ để bảo vệ quyền lợi riêng tư của mình trong khi gây ô nhiễm nhiều mặt cho cả thế giới, về môi sinh lẫn an ninh. Khi có thêm sức mạnh kinh tế nhờ một chiến lược lệch lạc, họ dùng sức mạnh đó để khuynh đảo và ức chế xứ khác trong khu vực.

– Ở bên trong, chế độ không cải tiến về chính trị vì tin rằng mọi sự bất mãn đều thu gọn vào cấp chính quyền địa phương chứ thần dân không hề oán thán trung ương tại Bắc Kinh hay các lãnh tụ trong Thường vụ Bộ Chính trị của đảng. Thế giới có thể khó – khó chứ chưa hẳn là không – ngăn ngừa được động thái hung đồ của Trung Quốc, nhưng lãnh đạo xứ này cũng không thể ngăn ngừa được nguy cơ động loạn bùng nổ từ bên trong.

Vũ Hoàng: Câu hỏi cuối thưa ông, lãnh đạo Trung Quốc có ý thức được nguy cơ đó và đã nói đến việc thay đổi chiến lược và chú trọng đến phẩm hơn là lượng. Liệu họ có thành công chăng, nếu hoàn tất xong Đại hội đảng khóa 18 vào mùa Thu năm tới? Cụ thể thì về kinh tế, họ phải làm những gì?

Nguyễn Xuân Nghĩa: – Ai cũng biết là họ phải nâng mức tiêu thụ của thị trường nội địa để thay thế đầu máy kinh tế hiện nay là đầu tư và xuất khẩu. Chính họ cũng biết là chỉ có thể giải quyết nạn thất nghiệp một cách cơ bản khi mở rộng khu vực dịch vụ thay vì chỉ chú trọng đến khu vực chế biến. Và khu vực dịch vụ cùng giải pháp thị trường nội địa là hai mặt của cùng một chiến lược và có hy vọng tạo ra ổn định xã hội hầu đẩy lui nguy cơ khủng hoảng chính trị.

– Nhưng việc chuyển hoá ấy lập tức đe dọa quyền lợi của nhiều địa phương, và nhất là đụng vào quyền lợi của hệ thống thân tộc là gia đình thân nhân các đảng viên cán bộ từ trên xuống dưới. Từ năm 2003, thế hệ lãnh đạo thứ tư đã thấy vậy và muốn sửa sai mà không xong. Thế hệ thứ năm sẽ lên lãnh đạo vào năm 2013 cũng thế thôi vì chính họ cũng nằm trong mạng lưới tư bản thân tộc ấy. Đảng Cộng sản Trung Quốc đã sản sinh ra hình thái tư bản không phải của nhà nước theo kiểu Lenin vì dù sao “tư bản nhà nước” còn có sự vận hành hợp lý của nó. Đây là chủ nghĩa tư bản thân tộc của một đảng độc quyền, nó có thể xảy ra trong mọi xã hội nhưng lại được củng cố bởi đặc tính văn hoá Á châu là một người làm quan cả họ được nhờ. Vì vậy nó cưỡng chống sự thay đổi và ru ngủ người dân bằng ảo giác về một cường quốc của tộc Hán. Vì cưỡng chống sự thay đổi họ có chỉ có thể thay đổi trong khủng hoảng là điều thật ra không ai muốn cả.

Vũ Hoàng: Xin trân trọng cảm tạ ông Nguyễn Xuân Nghĩa.

http://www.dainamax.org/2011/08/noi-loan-tai-trung-quoc.html

Advertisements

Gửi bình luận »

Không có bình luận

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: