Hoàngquang’s Blog

18/08/2011

Ẩn số im lặng của Sài Gòn

Filed under: Chính trị- xã hội,TỰ DO DÂN CHỦ NHÂN QUYỀN — hoangquang @ 2:15 sáng
Tags: , ,

Phan Nguyễn Việt Đăng, viết riêng cho RFA từ Sài Gòn
Vinh Anh- Sống thật – Nghĩ về lớp người có nhiều trong xã hội
Nguyễn Thị Từ Huy/Nhật Lệ “Nhiều người lấy bằng cấp thay cho tri thức”
RFA Cụ thể lòng yêu nước -Thanh Quang, phóng viên RFA RFA Mối tương quan giữa trí thức và nhà nước
VOA Việt Nam sử dụng đường lối có tính toán đối với các cuộc biểu tình

***
Ẩn số im lặng của Sài Gòn

Vì sao Sài Gòn không diễn ra biểu tình? Người Sài Gòn đã mệt mỏi với lòng yêu nước bị chà đạp hay sự im lặng đó là một ẩn số đáng chờ đợi?
Courtesy Nuvuongcongly
Công an và rào chắn tại công viên Thống Nhất, TPHCM, ảnh chụp sáng ngày 14-07-2011.

Hà Nội ngày càng sôi động và đa dạng hơn qua các cuộc biểu tình yêu nước. Đến lần biểu tình thứ 10, người ta nhìn các nhân tố mới, cũng như nhiều tư duy đáng ngưỡng mộ của người xuống đường như phản đối sự xâm nhập trái phép của lao động Trung Quốc, vinh danh những tử sĩ ở Hoàng sa 1974 và 1988… Nhưng Sài Gòn, thì vẫn im lặng.
Mỗi buổi sáng chủ nhật, giới an ninh mật vụ vẫn kiên trì giăng bẫy, vẫn hậm hực rà soát quanh Nhà thờ Đức Bà, công viên 23-9.., nhưng gần như không có kết quả gì từ nhiều tuần. Người Sài Gòn đã mệt mỏi với lòng yêu nước bị chà đạp hay sự im lặng đó là một ẩn số đáng chờ đợi?
Đối phó với an ninh
Có thể nói rằng, im lặng và chờ đợi là một trong những phương thức đấu tranh quan trọng mà chính các cán bộ “lão thành” của giới sinh viên xuống đường trước năm 1975 cũng nhìn nhận khi quan sát tình hình. “Sài Gòn như trái bom hẹn giờ, rất khó đoán, đó là lý do vì sao công an luôn thấp thỏm và chưa bao giờ an tâm vì sự yên ắng tạm thời này”, một cựu cán bộ dân vận trước năm 1975, giấu tên, bình luận như vậy.
Im lặng và nhẫn nại không lộ diện lúc này, được coi là một trrong những đối sách của người yêu nước ở Sài Gòn để tránh các phương thức bắt nóng, bắt nguội và chụp mũ của công an. Cảm nhận được sức nóng của những đợt trấn áp mới, từ trước và sau khi thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tái nhận chức, người Sài Gòn như lùi lại quan sát để nghe ngóng thêm tình hình. Sài Gòn được coi là điểm nóng quan trọng, chứa đựng nhiều thành phần hết sức có kinh nghiệm dân vận, đấu tranh, biểu tình, tổ chức…v.v từ những năm 50-60. Do đó, để yên tâm triệt tiêu mọi tiếng nói và làn sóng tư tưởng khác biệt, Sài Gòn sẽ là nơi dễ bị ngành an ninh dày xéo nhất.
“Lịch sử xuống đường của Sài Gòn luôn là sự chọn đúng thời điểm và là điểm nhấn lớn, kéo theo mọi nơi khác tham gia”, người cựu cán bộ dân vận nói trên bình luận. Mượn một câu nói của Hồ Chí Minh, nhân vật này nói một cách hóm hỉnh “Sài Gòn đi trước, về sau”.

Tại các ngã tư đường, đặc biệt tại trước Nhà Văn hóa Thanh niên, nhất là tại khu vực Hồ Con Rùa, rất đông công an vào mỗi sáng chủ nhật, ảnh chụp sáng ngày 14-07-2011. Courtesy Nuvuongcongly.
Phương thức trấn áp người yêu nước của giới an ninh mật vụ tại Sài Gòn như lôi kéo, bắt cóc mang đi công khai giữa đường phố… để làm hài lòng các bản báo cáo từ Tòa Tổng Lãnh Sự Trung Quốc, đã chựng lại trước sự phản ứng mạnh mẽ từ Hà Nội sau vụ công an Minh đạp vào mặt anh Nguyễn Trí Đức. Đổi vào đó, theo các cuộc họp phổ biến nghiệp vụ của công an ở Sài Gòn, 3 phương pháp chủ yếu sẽ là bắt nóng, bắt nguội và chụp mũ.
Bắt nóng, tức là công an mật vụ quan sát tìm những hạt nhân trong đoàn biểu tình, hoặc khiêu khích, hoặc chờ thời cơ đứng xa đám đông sẽ bắt đi, thẩm vấn và kết tội lãnh đạo biểu tình, sách động.
Bắt nguội, là tìm đến từng gia đình, từng nơi cư trú của người biểu tình bị nhận diện. Sách nhiễu, hành hạ bằng cách mời, triệu tập liên tục, tìm cớ để họ không sống yên ổn để từ đó mệt mỏi không tham gia biểu tình.
Chụp mũ, là kết tội đi biểu tình do nhận tiền nước ngoài. Hoặc do là thành viên Đảng Việt Tân hoặc phản động nói chung. Bất kỳ ai khi bị bắt, nếu có liên lạc với người thân hay bạn bè ở nước ngoài đều bị chụp mũ nhận tiền để biểu tình phá hoại. Nếu có liên lạc hay trò chuyện với ai trên mạng, cũng sẽ bị kết tội là Việt Tân hoặc là cảm tình viên của Việt Tân. Ngay trong khi có biểu tình, công an cũng cài người luôn hô to hoặc chụp mũ những người bị bắt là “phản động” khi có ai lên tiếng bênh vực hay hỏi han.
Công an sợ gì?
Điều làm giới an ninh luôn lo âu, là sự xuất hiện của những nhân tố có uy tín có thể dẫn đầu đoàn biểu tình hay hướng dẫn hành động. Trong cuộc biểu tình ngày 5-6-2011 ở Sài Gòn, sự có mặt của những nhân vật quan trọng như các ông Huỳnh Tấn Mẫm, Lê Hiếu Đằng, Lê Công Giàu, Cao Lập… đã mở ra một không khí hoàn toàn khác mà chính giới an ninh cũng bối rối.
Giới trẻ luôn cần những nhân tố như vậy dẫn đường cho tinh thần của họ. Và cũng vì vậy mà hầu hết những nhân tố có thể tạo được sinh khí cho các cuộc xuống đường yêu nước, chống Trung Quốc đều bị công an chiếu cố hết sức tận tình.

Tại các ngã tư đường, đặc biệt tại trước Nhà Văn hóa Thanh niên, rất đông công an vào mỗi sáng chủ nhật, ảnh chụp sáng ngày 14-07-2011. Courtesy Nuvuongcongly.
Những nhân vật gần đây xuống đường như các ông Đỗ Trung Quân, Nguyễn Đình Đầu, Đinh Kim Phúc, Nguyễn Viện… đều bị mời lên, hăm dọa, sách nhiễu theo những kiểu khác nhau. Có thể nói phía Hà Nội, khi các giới nhân sĩ chọn cách phản ứng quyết liệt với các sự theo dõi, đàn áp, bắt bớ… thì Sài Gòn chọn cách mềm dẻo để bảo đảm một khoảng tự do, dành lại cho cơ hội chín muồi cần thiết.
Nhưng còn một điều mà giới công an sợ hơn nữa. Họ luôn luôn tìm kiếm sục sạo xem giới nhân sĩ, trí thức, người yêu nước… có một đường dây liên kết bí mật nào với nhau hay không? Có hay không, quả thật không ai biết, nhưng rất lạ là khi giờ G đến, đột nhiên giới nhân sĩ, trí thức, đấu tranh của Sài Gòn xuất hiện, và khi thì truy xét không ra một ai.
Hơn nữa, phương thức đấu tranh của Sài Gòn cũng đa dạng, không nhất thiết là chỉ biểu tình. Buổi tưởng niệm chiến sĩ trận vong ở đảo Hoàng Sa ngày 27-7 tại số 43 Nguyễn Thông, Sài Gòn vừa qua, cũng là một ví dụ. Hoặc việc hợp thức hóa khẩu hiệu chống đường lưỡi bò chín đoạn của Trung Quốc qua việc in lên áo công khai lên áo phông cũng từ Sài Gòn lan đi khắp nơi.
Công an sợ những cuộc xuống đường sôi sục của Sài Gòn nên trấn áp tàn bạo. Nhưng họ cũng sợ hãi sự im lặng của Sài Gòn. Mọi thứ như một sức ép lặng lẽ tăng dần theo thời gian và các sự kiện của tổ quốc. Những ngày này, giới công an đang kiệt sức tìm kiếm xem ai liên kết với ai, ai có thể cùng ai xuống đường, và ai là người có thể là hạt nhân của các cuộc biểu tình sắp tới.
Có ý kiến cho rằng Sài Gòn đã sợ hãi dừng bước trong cuộc bày tỏ lòng yêu nước, chống Trung Quốc xâm lược. Nhưng thật sự thì không, chính công an mới đang lo sợ vì sự im lặng đáng ngờ này. Sài Gòn im lặng cám ơn Hà Nội giữ lửa nhưng Sài Gòn chắc chắn cũng sẽ không bao giờ để Hà Nội một mình với ngọn cờ yêu nước, khi đến lúc.
Phan Nguyễn Việt Đăng (Sài Gòn)
Video:
Copyright © 1998-2011 Radio Free Asia. All rights reserved.

http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/y-protes-in-hcm-not-succes-pnvd-08162011180341.html

Sống thật – Nghĩ về lớp người có nhiều trong xã hội

Vinh Anh

Thời nào cũng vậy, lớp người đó lúc nào cũng nhiều, cũng đông đảo. Đông đảo nhưng không làm được nổi chuyện gì to tát. Mặc dù, trong đó cũng rất nhiều người thuộc thành phần có học và luôn tự hào lại hay vỗ ngực với danh nghĩa “trí thức” của mình, dẫu rằng trong đó có những cái danh tự phong, cái danh mua được hay là cái danh nhờ sống lâu mà có.

Đa số người được sinh ra, cha mẹ họ và sau này là bản thân họ luôn mong muốn được sống cuộc đời bình lặng, êm đềm, hòa vào đám đông. Thậm chí còn có người luôn muốn bị nhòe, bị chìm đi trong đám đông, nghĩa là muốn thuộc về lớp người có nhiều trong xã hội. Và thực vậy, ông giời không cho cái đa số đó bất cứ một cái gì mà người đời gọi là “tài” để được phô lộ ra trước bàn dân thiên hạ. Có lúc cũng lẩn thẩn tự hỏi, vậy thì mình cũng phải cố là cái gì trong số đông nhiều người đó? Hoặc đôi khi cũng “kiên cường” cố gắng vươn lên thoát ra khỏi đám đông chỉ quen thừa hành đó, bởi vì đôi chỗ gặp phải cái “nhiễu sự” mà người đời gọi là “bức xúc”. Nghĩa là cảm thấy cũng trạnh lòng trước một sự bất công. Rồi tự hỏi mình, nếu thế mình liệu còn có thuộc cái số đông không làm nên trò trống gì đó không?

Lại một điều nữa, có lẽ cái điều này cũng vốn sẵn có ở cái lớp người có nhiều trong xã hội. Cái điều thường có khởi điểm từ khi mà tuổi đời đã qua bên dốc, khi mà con người luôn chỉ biết những điều hay về mình, còn điều dở thường là ít và đôi khi họ không hề nghĩ tới. Nếu tập hợp những điều hay của họ, thì sẽ thấy họ là tập hợp của những điều tốt vốn có ở trên đời, luôn cho rằng mình hiểu đời, hiểu hơn cái người đang đối thoại với mình và ít khi hoặc là không bao giờ cho rằng mình lại sai. Điều đó càng dễ xảy ra với những người đã từng có một vị trí, một loại vai vế tầm tầm nào đó trong xã hội. Đó là “cái lý” luôn cho mình đúng, mình biết và mình hiểu. Cái lý của thói quen ra lệnh và quen thấy người phục tùng. Lớp này cũng đông đấy. Mà nếu thoát ra khỏi được cái lớp đó, họ tất sẽ trở thành người có khả năng khác người, sẽ thuộc về số ít.

Bản tính con người vốn có những điều hay, điều dở như thế!

Với những người có ít nhiều suy nghĩ và cảm nhận cái đẹp của cuộc sống theo cái nghĩa nguyên thủy của cái đẹp-cái đẹp là sự tinh khôi-khi cuộc đời đã ở bên kia dốc, người ta hay níu kéo. Níu kéo để vớt vát lấy một điều gì đó của cuộc đời. Đó là cái lẽ thường tình. Càng sống càng cảm thấy cuộc đời quá ngắn ngủi và quý giá nhưng con người mình mới chỉ làm được rất ít, rất nhỏ nhoi cho cuộc sống. Rồi sẽ một lúc nào đó, con người ta ân hận. Ân hận vì nhiều lẽ và có thể cái lẽ đầu tiên mà ta nghĩ đến là ta đã sống một cuộc sống không thật với mình.

Con người ta vẫn luôn có sự dằn vặt như vậy. Đó là sự dằn vặt đáng quý, đáng trân trọng. Dẫu rằng khi biết cuộc đời chẳng còn là mấy, thì đã là quá muộn. Muộn nhưng vẫn quý vì biết đâu đấy, nỗi niềm dằn vặt đó sẽ nhen nhóm thức tỉnh được đôi người ở cái đám người đông đảo trong xã hội kia.

Con người vì nhiều lẽ luôn phải sống một cuộc sống không thật với mình lắm. Bình thường ta không hay nghĩ đến. Cũng có thể nói ta lười nhác xen lẫn sợ hãi khi nghĩ đến nó. Đó là một số không đông trong cái gọi là đám đông có nhiều trong xã hội. Cũng có một số người ngượng ngùng, xấu hổ khi nghĩ đến nó. Nhưng thực ra, họ đang ngại đối diện với chính mình, bởi vượt qua được mình, đời đã nói rồi, là vượt được một cửa ải khó khăn nhất. Đó là những con người tự cho mình thuộc loại có “trí thức” và còn biết tự trọng. Chỉ một số không lớn trong cái số “trí thức” bên trên đã kể, có được cái ý nghĩ đó. Ở một góc nào đó, với lòng vị tha vốn có của con người, đời vẫn có thể thông cảm và tha thứ.

Bàn về cái sự không dám sống thật với mình là cả một đề tài lớn và tôi nghĩ, trong bất kỳ một xã hội nào, vẫn luôn tồn tại một lớp người không dám sống thật với mình. Tùy sự cởi mở của xã hội đó, lớp người sống không thật với mình đó sẽ nhiều hoặc ít. Trong xã hội ta, tôi nghĩ, số người sống không thật thuộc loại nhiều. Cũng đồng nghĩa với sự ít cởi mở của xã hội. Đó là điều đáng buồn!

Từ cái sự buồn vì không dám sống thật với mình bởi nhiều lẽ, lâu dần, dẫn đến một hệ lụy khác đáng buồn hơn là thái độ vô cảm trong cuộc sống. Nghĩa là con người trở nên nhỏ nhen, ích kỷ, chỉ bo bo bám lấy cái lợi cho cuộc sống của cá nhân mình.

Tôi luôn tự hỏi, có phải cuộc sống hiện nay của chúng ta có quá nhiều sự hời hợt và có quá ít sự đồng cảm. Dẫu rằng qua mỗi đợt thiên tai tàn phá hay một cá nhân nào đó gặp phải bất hạnh trong cuộc đời, ta vẫn thấy có những phong trào, những lời kêu gọi hô hào, những tấm lòng chân thật thể hiện cái tình đồng bào: “lá lành đùm lá rách”. Những điều đó vẫn đều đều hàng năm thường xuyên diễn ra và cái ngày “tình thương” cũng vẫn cứ đều đều lặp lại. Sự lặp lại gây cho người ta một cảm giác nhạt nhẽo. Sự vô cảm sẽ dần dần xâm lấn.

Có nhàm quá không khi tình thương không xuất phát từ sự rung động của con tim và khối óc dẫn đến suy nghĩ về một sự thôi thúc tự giác. Tôi muốn nói đến những ngày lễ kỷ niệm, những cuộc gặp gỡ thể hiện cái sự nổi nênh, bề mặt của phong trào luôn đầy rãy trên truyền hình trực tiếp. Nó được phô diễn bằng sự ồn ào nhưng lại cảm thấy ngày càng ít cái sự sẻ chia. Rất nhiều cuộc biểu dương, vinh danh mang tính hình thức lẫn trong đó có cả sự háo danh.

Từ đó tôi lại liên hệ đến sự giả dối của con người thời nay. Hàng ngày chúng ta gặp quá nhiều sự giả dối: Báo đài đưa tin không thật, nặng về tô vẽ theo một chiều có chủ định trước, những lời hứa hẹn không được thực hiện, những công trình mang dấu ấn đất nước như những dấu hỏi đập vào mắt nhân gian, những đồng tiền mồ hôi nước mắt của người lao động bị tiêu xài vô lối, những cánh đồng bờ xôi ruộng mật biến thành những sân gôn phục vụ cho một số người… Tất cả những điều đó đều liên quan đến sự giả dối của một số người có quyền chức. Sự giả dối đã đến với trường học, nơi đào tạo những chủ nhân tương lai của đất nước mà ta chưa có biện pháp ngăn chặn. Vâng, tôi không muốn nghĩ đến một bức tranh u ám, cũng không hề muốn mang nghĩa cảnh tỉnh, tôi nói những điều đó ra chỉ là để chứng minh sự giả dối đang ở quanh chúng ta, bao bọc chúng ta bằng một sức mạnh vô hình.

Con người cứ như vậy tất dần trở thành lạnh lùng vô cảm trước những sự việc xảy ra trong đời sống. Sự quan tâm đến nhau trở thành hàng xa xỉ. Thói ích kỷ, thói quen xấu được hình thành và được tiếp nhận nhanh chóng đến kỳ lạ. Điều chưa xa ta từng học “sống vì mọi người” được coi như một nguyên tắc sống bỗng dưng trở thành xa lạ. Vậy là chỉ trong một thời gian ngắn mở cửa, cái xã hội mà con người đang mơ ước tiến tới sự hoàn thiện và nhân văn đó tiêu tan nhanh chóng. Sự thỏa mãn cho cá nhân, cho gia đình, cho một nhóm người được coi là “sự thay đổi tất yếu theo thời đại”. Thời đại “cái tôi” vị kỷ lên ngôi.

Nhưng ít người đặt lại vấn đề, vì sao trong xã hội, trong cuộc sống lại có con số đông không sống thật đó. Cùng với những biến đổi của thời cuộc, tôi cho rằng đó là hậu quả được tích tụ của lối tư duy mang nặng tính bao cấp đã ăn sâu vào trong nếp nghĩ và đến nay vẫn chưa được cởi bỏ, chưa có điều kiện cho sự cởi bỏ. Từ cái lười suy nghĩ (bởi bị bao cấp) đến nỗi sợ hãi vô hình mà lại rất hữu hình, nếp sống an phận thủ thường, đèn nhà ai nhà nấy rạng lấn át, đó là tiền đề của sự vô cảm…và thêm nữa, sâu hơn, sự hiểu biết về các quyền làm người còn rất hạn chế, nếu không muốn nói là thiếu hiểu biết. Đó chính là bao cấp trong tư duy, con người chỉ đi nói lại những điều mà có người đã nói.

Nói về sự “suy nghĩ”, có thể hiểu là cái điều mà đa phần nó vẫn còn nằm ở trong đầu mỗi con người. (Đương nhiên là cũng có nhiều suy nghĩ (tư duy) được thể hiện ra ngoài bằng những công việc cụ thể). Nó là một sự riêng rất thiêng liêng của mỗi cá nhân. Bởi sự suy nghĩ trong xã hội ta đến nay vẫn là một lối suy nghĩ mang nặng sự bao cấp cho nên lòng yêu nước, một tình cảm rất thiêng liêng của mỗi con người trước các sự kiện đang diễn ra ngày hôm nay vẫn mang tính bao cấp là một điển hình. Tôi nghĩ về sự phản biện cần phải có để đẩy mạnh sự phát triển của xã hội và lại ngậm ngùi, ngay trong tư duy cũng bị bao cấp thì tìm đâu ra, hi vọng sao có được sự phản biện để thúc đẩy xã hội tiến lên.

Là một công dân Việt, hơn nữa lại là Đảng viên-những người luôn phải đi tiên phong (con số là ba triệu), có bao giờ chúng ta tự đặt lại một câu hỏi: Phải làm gì trước những hành động gây hấn của Trung Quốc. Tôi đã có một câu trả lời, đã có Đảng và Nhà Nước lo! Đó có phải là sự bao cấp trong tư duy? Nhưng tôi biết đó là câu trả lời chưa thật với những người có suy nghĩ. Vậy còn chờ gì nữa, chúng ta hãy sống thật với mình đi!

Vinh Anh
13/6/2011

http://xuandienhannom.blogspot.com/2011/08/song-that-nghi-ve-lop-nguoi-co-nhieu.html

Để lại phản hồi »

Chưa có phản hồi.

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Blog at WordPress.com.

%d bloggers like this: