Hoàngquang’s Blog

28/07/2011

Thôn tính Việt Nam chỉ là vấn đề thời gian, nếu…

Filed under: HOÀNGSA -TRƯỜNG SA VIỆT NAM,VIỆT NAM-TRUNG QUỐC — hoangquang @ 4:30 sáng
Tags:

Lê Ngọc Thống
& Việt Nam và “lời nguyền địa lý”- Lê Hồng Hiệp (ĐHQG TP.HCM)*
Lãnh đạo Việt Nam bị chỉ trích về vấn đề Trung Quốc- David Brown
Khủng hoảng sẽ xảy ra ở Trung Quốc- Benjamin A Shobert

Mối nguy hại mới từ Trung quốc- Ngô Minh Trí – Thủy Lưu
***

Thôn tính Việt Nam chỉ là vấn đề thời gian, nếu…
Lê Ngọc Thống

“…Giấu mình chờ thời…” là sách lược đúng đắn, khôn ngoan mà ông Đặng để lại cho hậu lãnh đạo Trung Quốc. Giới lãnh đạo Trung Quốc hiện nay cho rằng Trung Quốc có đủ mọi điều kiện để tuyên bố với thế giới rằng: Đã qua rồi thời kỳ “giấu mình chờ thời”. Các hành động ngoại giao, quân sự của Trung Quốc đối xử với thế giới trong đó có Việt Nam đã chứng minh điều đó. Tham vọng quá lớn, giới lãnh đạo Trung Quốc không kiềm chế nổi. Tiếc thay họ quá vội vàng, nôn nóng.
Bài viết này tôi chỉ phản ánh khái quát mang tính chủ quan về sách lược của Trung Quốc đối với Việt Nam sau thời kỳ “giấu mình chờ thời”.

“Diễn biến hòa bình” Made in China!.

Mỹ tấn công I răc, Apganixtan… rồi gần đây Pháp, Ý tấn công Ly-bi không phải là để chiếm đất đai, mở rộng lãnh thổ mà cái họ cần đạt được là đánh đổ chế độ hiện tại, dựng lên một chính phủ mới “thân” họ, sẵn sàng đáp ứng những nhu cầu chiến lược kinh tế, quân sự của họ hiện tại và tương lai. Tuy nhiên việc sử dụng vũ lực chỉ khi thật cần thiết, cân nhắc tính toán hết sức kỹ lưỡng và cũng chỉ nhằm vào những quốc gia sợ chiến tranh, khả năng phản kháng của dân tộc thấp, còn thì thực hiện các “cuộc cách mạng màu” như thời gian gần đây tỏ ra vô cùng hiệu quả.
Việt Nam sau 1975 thực tế rõ ràng là có rất nhiều lực lượng thù địch hoạt động chống phá với mục đích là xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Việt Nam, lật đổ chế độ. Việt Nam gọi đó là “Chiến lược diễn biến hòa bình”. Với sự đổi mới tư duy, đa phương hóa trong các mối quan hệ, Việt Nam đã từng bước hòa nhập vào thế giới. Những nước trước đây được coi là thù địch nay trở thành đối tác, thậm chí còn là bạn. Việt Nam sẵn sàng là bạn với tất cả các nước trên thế giới. áp lực “diễn biến hòa bình” giảm hẳn, nhưng có một sức ép khác – sức ép này nằm trong chiến lược thôn tính Việt Nam vô cùng thâm hiểm mà nhà cầm quyền Trung Quốc đã triển khai thực hiện từng giờ từng phút không bao giờ ngơi nghỉ. Nếu như “chiến lược diễn biến hòa bình” nhằm mục đích lật đổ chế độ, xóa bỏ Đảng Cộng SảnViệt Nam thì chiến lược thôn tính Việt Nam của Trung Quốc thâm và hiểm ở chỗ nó không lật đổ chế độ, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng SảnViệt Nam mà nó thực hiện dưới một chiêu bài mà ai cũng bị lầm tưởng là cùng là quốc gia có chế độ chính trị “giống nhau” do một “Đảng Cộng Sản lãnh đạo”. Mặc dù sự khác nhau giữa hai chế độ, hai đảng giống như sự khác nhau giữa chó sói và cừu
nhưng Trung Quốc “mị Việt Nam” với danh nghĩa “đồng chí”… lợi dụng tính nhân ái, nhường nhịn, hòa hiếu của dân tộc Việt Nam để chèn ép, bắt nạt, mặc cả trên xương máu người Việt Nam vì quyền lợi của dân tộc mình. Phá hoại, lũng đoạn nền kinh tế Việt Nam, bắt kinh tế Việt Nam hoàn toàn phụ thuộc vào Trung Quốc để khống chế chính trị, biến Đảng Cộng SảnViệt Nam, nhà nước, chính phủ Việt Nam thành tay sai “đồng chí tốt”, thành một công cụ pháp lý cho dã tâm bành trướng của mình. Dùng vũ lực cũng để đạt được mục đích này, vậy cần chi phải dùng vũ lực. Đó là “chiến lược diễn biến hòa bình mang màu sắc Trung Quốc.

Điều đáng tiếc là Việt Nam luôn sợ làm tổn hại đến mối quan hệ “đồng chí, hữu nghị mà hai nước, hai đảng dày công vun đắp” nên mất cảnh giác, bị động đối phó và luôn bị bất ngờ này đến bất ngờ khác khiến phải gánh chịu những hậu quả thất thiệt.
Cài thế chiến lược diễn biến hòa bình thôn tính Việt Nam

Một điều khẳng định là Trung Quốc không bao giờ muốn Việt Nam hùng mạnh. Trung Quốc không muốn Việt Nam thống nhất, muốn Việt Nam đánh Mỹ đến người cuối cùng để tạo cho Trung Quốc một vùng đệm an toàn. Việt Nam thống nhất, không nghe sự điều khiển của Trung Quốc là có chuyện, họ không để yên.
Năm 1979, Khơ me đỏ dưới sự chỉ đạo của quan thầy Trung Quốc sau khi “thịt” hơn 3 triệu người dân tộc mình, dùng hàng chục sư đoàn quân hiếu chiến tấn công Việt Nam ở biên giới tây nam. Thật ra mà nói nếu như không để cho bọn Pol Pôt làm loạn ở tây nam của Việt Nam thì một ông Đặng chứ 10 ông Đặng ngay cả suy nghĩ cũng không dám nghĩ đến tấn công Việt Nam. Việt Nam hầu như bỏ ngỏ biên giới phía Bắc của Tổ quốc, tập trung lực lượng tiêu diệt và làm tan rã hàng chục sư đoàn tinh nhuệ, ác thú của Khơ me đỏ – thiện chiến hơn rất nhiều quân của Trung Quốc thời ông Đặng, đánh đến tận sào huyệt của chúng. Đây là điều không phải đơn giản và không phải quân đội nước nào cũng làm được chỉ trong một trận.
Việc đánh tan gọng kìm phía nam tưởng đã yên nhưng Trung Quốc đâu có từ bỏ. Căm pu chia, Lào hiện nay đang được Trung Quốc tìm mọi cách bành trướng và thôn tính để áp dao vào sườn Việt Nam. Thế trận này luôn là nguy hiểm tiềm tàng với Việt Nam.
Trong nước, Trung Quốc đã thuê đất “trồng rừng” ở những vị trí xung yếu biên giới như Lạng sơn, Quảng Ninh, Cao Bằng. Tại Nghệ An họ thuê gần với đường 7, đường 8 sang Lào, những vùng như Tương Dương, Quỳ Châu, Quỳ Hợp được coi như phên dậu quốc gia cũng được thuê. Tại Quảng Nam họ thuê gần khu vực có đường thuận tiện lên Tây Nguyên và Căm pu chia… Bất kỳ người Việt Nam nào có chút hiểu biết về quân sự cũng đều hoảng hốt và toát mồ hôi hột. Lưu ý là những khu vực mà họ thuê thì người Việt Nam không được bén mảng vào và với cách quản lí như ông chủ tịch tỉnh Lạng Sơn tuyên bố thì… ngay cả xe tăng Trung Quốc cũng có thể ém sẵn trong khu vực “trồng rừng” của họ. Vị trí Tây Nguyên, nơi mà các nhà quân sự cho rằng ai chiếm được nó là làm chủ toàn Đông Dương thì Trung Quốc đang tìm cách đặt chân vào (khai thác bôxit).
Về kinh tế. Quả thật, đối đầu với Trung Quốc về quân sự Việt Nam không và chưa bao giờ sợ. Nhưng làm ăn kinh tế với Trung Quốc mới thật nỗi sợ. Nếu Việt Nam cảnh giác với Trung Quốc như đã từng cảnh giác với phương tây trong chiến lược diễn biến hòa bình thì không hề gì, đằng này Trung Quốc nhiều tiền, một số quan chức bộ ngành Việt Nam vì quyền lợi cục bộ, cá nhân mà coi nhẹ an ninh quốc gia.
Tính đến nay có tới 90% các công trình khai khoáng, luyện kim, dầu khí, hóa chất đều do nhà thầu Trung Quốc đảm nhận. Có tới 30 doanh nghiệp Trung Quốc đang thực hiện các dự án trọng điểm quốc gia. Xét về điện đã có nhiều dự án tỷ đô la rơi vào tay nhà thầu Trung Quốc. Tiêu biểu phải kể đến dự án điện Quảng Ninh 1, 2 với giá trị 400 triệu USD; điện Mỹ Tân 2 với số vốn 1,3 tỷ USD; điện Duyên Hải 1 là 4,4 tỷ USD.
Vấn đề cần đặt ra là: Tại sao và Trung Quốc muốn gì?. Trước hết phải hiểu vì sao các doanh nghiệp của Trung Quốc trúng thầu, (ngoài tình “đồng chí” nên được ưu tiên ra) vì họ bỏ giá rẻ. Bỏ giá rẻ là lỗ, chẳng có doanh nghiệp nào điên khùng như thế nhưng các doanh nghiệp của Trung Quốc thì không. Miễn sao trúng thầu, còn tiền thì chính phủ Trung Quốc lo. Trúng thầu rồi thì họ làm đến đâu là quyền của họ… Việc một công trình, dự án có giá rẻ chỉ là cái lợi nhỏ nhưng cái giá mà xã hội và an ninh đất nước phải trả là quá đắt. Thứ nhất là hầu như các dự án đó có tiến độ rất ì ạch, khi hoàn thành thì vận hành gặp rất nhiều trục trặc, phụ thuộc hoàn toàn vào Trung Quốc.
Thứ hai là họ không thuê lao động là người Việt Nam mà họ đem người Trung Quốc sang hàng ngàn người nhằm thực hiện chính sách di dân. (Liệu Anh, Pháp, Mỹ, Nhật mà trúng thầu họ có đem người họ sang không?). Ngoại trưởng Mỹ chẳng đã từng gọi Trung Quốc là thực dân ở châu Phi đó sao!. Đến đây chúng ta tự hỏi nếu như xảy ra chiến tranh giữa Trung Quốc và Việt Nam thì các ngành công nghiệp quan trọng mà Trung Quốc trúng thầu có phát huy hết công suất để phục vụ cho chiến tranh hay là đóng cửa? An ninh năng lượng của Việt Nam lệ thuộc vào Trung Quốc thì liệu Trung Quốc có “quên” không, khi chiến tranh nổ ra?…Hàng ngàn lao động phổ thông trai tráng của Trung Quốc nó sẽ làm gì trong khi chưa có chiến tranh mà đã ngỗ ngáo làm loạn lên, gây mất an ninh trật tự như ở phố Ninh Bình và một số nơi khác?
Gần đây Trung Quốc hung hăng đe dọa Việt Nam không phải là không có cơ sở. Phải chăng thế trận họ cài đã xong? Trung Quốc đã, đang tạo nên một sức ép rất lớn lên Việt Nam. Việt Nam phải đối phó với rất nhiều mũi nhọn mà Trung Quốc chĩa vào chứ không phải chỉ riêng ở Biển Đông. ở cạnh ông “hàng xóm” này giá như ta chuyển được nhà của mình đi nơi khác.
Sự kiện biển Đông – Quân cờ đi lạc nước!

Báo chí tốn rất nhiều giấy mực nói về vấn đề này (gây hấn trong Vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam), rằng đây là phép thử của Trung Quốc với Việt Nam, các nước ASEAN, Mỹ vv…vv. Không rõ Trung Quốc rút ra được kết luận gì cho phép thử này, có điều dư luận chung đều cho rằng: “Trung Quốc dại dột đem búa thử vào tấm kính xem kính có dễ vỡ hay không?”. Đương nhiên kính có thể vỡ hoặc không, nhưng khi đã vỡ thì chẳng lành lại được bao giờ. Và hiện thực là kính đã vỡ.
Tôi cho rằng hành động của nhà cầm quyền Trung Quốc gần đây trên biển Đông đã phạm 3 sai lầm nghiêm trọng.
Một là: Kích hoạt tinh thần dân tộc của người Việt Nam – một sức mạnh khủng khiếp mà lịch sử đã ghi nhận.
Hai là: Trung Quốc đã tự vạch mặt mình trước nhân dân Việt Nam và những người hiểu biết trên toàn thế giới. Nếu như còn chút lòng tin nào của nhân dân Việt Nam với nhà cầm quyền Trung Quốc thì giờ đây lòng tin đó đã cạn. Vì đây là hành động ăn cướp trắng trợn, ngang ngược không hơn không kém mang tầm cỡ quốc gia. Tuyên bố của bộ Ngoại giao Việt Nam rằng “Trung Quốc cố tình biến khu vực không tranh chấp thành khu vực tranh chấp…” nghe qua thì đơn giản nhưng đồng bào Việt Nam hãy hình dung như sau: Bạn có một ngôi nhà trên một khu đất đắc địa đã có giấy chứng nhận quyền sở hữu đất (Như Vùng Đặc Quyền Kinh Tế của Việt Nam mà Luật biển 1982 đã công nhận). Bạn mở một quán giải khát trong khu vườn của mình để kinh doanh nhưng rất nhiều lần bị một kẻ mặt mũi bặm trợn không rõ ở đâu đến phá (Việt Nam thăm dò khai thác tài nguyên thì bị Trung Quốc gây hấn trong Vùng Đặc Quyền Kinh Tế). Nó tuyên bố đất này của nó. Nó hung hăng vung gươm rút kiếm đe dọa cho bạn một bài học… Sau đó nó đề nghị, thôi không cãi nhau nữa, “gác tranh chấp, cùng khai thác”, ông một bên tôi một bên cùng mở quán. Vậy bạn có chấp nhận đề nghị của nó không? Sợ nó mà chấp nhận thì mất không đất. Bức xúc không?
Ba là:
Dồn lấn Đảng Cộng SảnViệt Nam, Nhà nước, Chính phủ Việt Nam (Gọi tắt là Hà Nội) đến chân tường. Hoặc là chấp nhận “gác tranh chấp cùng khai thác” nghĩa là mất chủ quyền, công nhận đường “lưỡi bò” phi lý của Trung Quốc để bị dân tộc Việt Nam khai tử; hoặc là như Tổ tiên ông cha ta đã từng làm với bọn phong kiến phương Bắc. Đương nhiên Hà Nội sẽ đứng lên như Tổ tiên ông cha – là điều Trung Quốc không muốn.
Muốn thôn tính một quốc gia khác mà mắc phải một trong ba sai lầm này thôi thì cũng đủ phá sản. Vì đây là sai lầm mang tính chiến lược, chứng tỏ Trung Quốc đã nóng vội, đi quá đà. Phải chăng đường lối đối ngoại của Trung Quốc đều do những cái đầu nóng trong giới quân sự chi phối? May thay, Trung Quốc không mạnh như Mỹ, tiềm lực quân sự không mạnh như Mỹ (đây cũng là điều mà ông Lưu Á Châu cũng cho là may thay) chứ nếu như … họ có thể “bỏ Paris vào trong cái lọ”.
Thế đứng Việt Nam khi gần lửa.

Điều trước tiên là phải xác định đúng kẻ luôn căm thù, chơi xấu ta. Thời gian trôi đi, ai cũng có thể thay đổi, ngay như quan hệ của Mỹ – Việt Nam, dù Mỹ đã gây nên bao đau thương tang tóc cho Việt Nam trong thời gian gần đây nhất thì bây giờ là đối tác, sẵn sàng là bạn của nhau. Thế nhưng Trung Quốc đối với Việt Nam vẫn không bao giờ thay đổi, có chăng là thay đổi của Việt Nam mà thôi. Việt Nam đặt quá lòng tin vào Trung Quốc. Bây giờ thì… đã rõ. Tuy nhiên trong thời đại toàn cầu hóa, thì vẫn phải quan hệ mọi mặt từ kinh tế, xã hội và ngay cả quân sự. Nhưng quan hệ đó phải trên nguyên tắc bất di bất dịch là: Cái gì đôi bên cùng có lợi mà không ảnh hưởng đến an ninh quốc gia thì làm. Còn có lợi lớn mấy chăng nữa mà có nguy cơ đến an ninh quốc gia thì không. (Chẳng hạn như chuyện khai thác bôxit ở Tây Nguyên. Rõ ràng việc khai thác là cần thiết không bàn cãi, nhưng ai là chủ thầu mới quan trọng. Với tôi, ai cũng được, trừ Trung Quốc.) Muốn vậy phải có một bộ phận gồm những chuyên gia quân sự, chính trị, kinh tế, xã hội giỏi nhất để nghiên cứu mối quan hệ này thật thấu đáo, phát hiện kịp thời và có quyền dừng ngay tức khắc, không để họ cài thế, chơi xấu với ta.
Điều thứ hai là chọn bạn mà chơi. Quả thật Việt Nam ta nằm ở một vị trí mà có thể kết bạn với ai cũng dễ, ai cũng muốn kết bạn với mình. Rất dễ hiểu vì nếu là bạn thì họ sẽ có nhiều quyền lợi ở Việt Nam. Vấn đề chính là ta phải như thế nào để Nga, Ấn Độ, Mỹ và Nhật Bản là bạn. Có bạn ta không đơn độc. Trung Quốc cảnh báo, hù dọa ta rằng: “Nước xa không cứu được lửa gần”, chứng tỏ họ tỏ ra run sợ khi Việt Nam có nhiều bạn. Việt Nam đâu phải là “sân sau” của Trung Quốc, đúng không?. Khi đã có “nước” rồi, dù xa thì ta vẫn yên tâm sẵn sàng dùng “lửa dập lửa”.
Tiếp theo là muốn có “lửa mà dập lửa” thì tăng cường quốc phòng. Mua sắm vũ khí tối tân hiện đại. Phải tính toán lựa chọn loại vũ khí nào phù hợp với lối đánh Việt Nam.
Xây dựng ngành công nghiệp quốc phòng có khả năng cải tiến vũ khí đáp ứng kịp thời những chiến thuật độc đáo khi tác chiến cần thiết.
Cuối cùng là phải đoàn kết, bình tĩnh, sáng suốt, tự tin. Làm hết sức mình có thể để không xảy ra chiến tranh, nhưng khi chiến tranh xảy ra thì không sợ.
Lê Ngọc Thống

Tác giả gửi cho viet-studies ngày 27-7-11
http://viet-studies.info/kinhte/ChiLaVanDeThoiGian.htm

Cùng một tác giả: (Viet-studies 8-7-11) Liệu Trung Quốc có tấn công xâm lược Việt Nam lần thứ hai không?

Việt Nam và “lời nguyền địa lý”- Lê Hồng Hiệp (ĐHQG TP.HCM)*

Một số nhà nghiên cứu ví von Trung Quốc như một con gà trống, với bán đảo Triều Tiên là chiếc mỏ và Việt Nam là chân của con gà. Hình ảnh so sánh này một mặt cho thấy tầm quan trọng chiến lược của Việt Nam đối với Trung Quốc, đặc biệt là về an ninh, một mặt ám chỉ tới một thực tế rằng Việt Nam từ hàng ngàn năm qua đã gánh trên vai mình, cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng, sức nặng của Trung Quốc. Vấn đề là Việt Nam nếu muốn cũng không thể làm được gì để thay đổi thực tế này.
Vì vậy, cũng giống như Cuba đối với Mỹ hay Grudia đối với Nga, Việt Nam, như cách nói của giáo sư Carl Thayer, đã bị chi phối bởi một “lời nguyền địa lý” (tạm dịch từ “tyranny of geography”). Theo đó Việt Nam không có sự lựa chọn nào khác ngoài học cách chia sẻ số phận của mình với người láng giềng Trung Quốc trong suốt từng bước đi lịch sử của mình.
Trong thực tế, một nước Trung Quốc mạnh hơn từ lâu đã là mối đe dọa nghiêm trọng nhất đối với an ninh của Việt Nam. Việt Nam đã nằm dưới ách thống trị của các triều đại Trung Quốc suốt gần một ngàn năm cho đến năm 938 sau Công nguyên. Từ thời điểm đó cho tới khi Việt Nam bị Pháp biến thành thuộc địa vào nửa sau thế kỷ 19, Trung Quốc đã xâm lược và chiếm đóng Việt Nam một vài lần…Các mối đe dọa của Trung Quốc đối với Việt Nam không chỉ xuất phát từ sự gần gũi về mặt địa lý mà còn từ sự bất đối xứng về sức mạnh giữa hai nước. Ví dụ như Trung Quốc rộng gấp 29 lần so với Việt Nam, và dân số của Việt Nam, mặc dù đông thứ 14 thế giới, cũng chỉ tương đương với số dân một tỉnh tầm trung của Trung Quốc mà thôi.
Thành tích kinh tế ấn tượng của Việt Nam từ cuối những năm 1980 cũng không cho phép Việt Nam thu hẹp khoảng cách sức mạnh với Trung Quốc. Ngược lại, cùng với quá trình hiện đại hóa của Trung Quốc trong ba thập kỷ qua, khoảng cách quyền lực giữa hai nước càng được nới rộng. Ví dụ, theo dữ liệu Ngân hàng Thế giới, GDP của Trung Quốc tính theo đô la Mỹ hiện hành đã tăng hơn 16 lần trong khoảng thời gian từ 1985 đến 2009, từ 307 tỷ USD lên 4.985 tỷ USD. Tuy nhiên, trong cùng thời gian trên, GDP của Việt Nam chỉ tăng 7 lần, từ 16 tỷ USD vào năm 1985 lên 97 tỷ USD trong năm 2009.
Nhờ kinh tế phát triển, sức mạnh quân sự của Trung Quốc cũng được gia tăng mạnh mẽ, đặt ra một mối đe dọa lớn hơn đối với an ninh Việt Nam. Trong năm 2011, theo tuyên bố chính thức của Trung Quốc, ngân sách quân sự của nước này là 91,5 tỷ USD, trong khi Việt Nam được cho là chỉ chi 2,6 tỷ USD cho quốc phòng (khoảng 2,5% GDP). Điều đặc biệt đáng lo ngại đối với Việt Nam là chi phí quân sự gia tăng của Trung Quốc được tập trung dành cho lực lượng không quân và hải quân, giúp nước này tăng cường khả năng triển khai sức mạnh quân sự ở khu vực Biển Đông, nơi Trung Quốc và Việt Nam đang có tranh chấp chủ quyền.
Ảnh minh họa: tutor2u.net
Bên cạnh đó, quá trình chuyển đổi của Việt Nam sang một nền kinh tế thị trường mở lại bổ sung thêm một khía cạnh khác cho “lời nguyền địa lý” mà Việt Nam phải gánh chịu, đó chính là khả năng bị tổn thương về kinh tế ngày càng gia tăng.
Kể từ khi Việt Nam nối lại quan hệ thương mại với Trung Quốc vào cuối những năm 1980, sản xuất trong nước của Việt Nam đã từ lâu bị đe dọa bởi hàng hóa Trung Quốc, tràn vào Việt Nam thông qua đường thương mại chính thức lẫn buôn lậu. Ví dụ như vào đầu những năm 1990, hàng tiêu dùng Trung Quốc nhập lậu vào Việt Nam quá nhiều và gây bất lợi cho sản xuất trong nước đến mức chính phủ Việt Nam đã phải áp đặt một lệnh cấm trên 17 chủng loại hàng hoá nhập khẩu từ Trung Quốc. Trong những năm gần đây, bất chấp khả năng cạnh tranh ngày càng cao của sản phẩm Việt Nam và ấn tượng về tình trạng kém chất lượng của hàng hóa Trung Quốc, buôn lậu từ Trung Quốc vẫn còn phổ biến. Điều này không chỉ tạo nên tác động tiêu cực đối với sản xuất trong nước mà còn đe dọa người tiêu dùng Việt Nam, đặc biệt là khi nhiều mặt hàng nhập lậu từ Trung Quốc có chất độc hại, ảnh hưởng xấu tới sức khỏe của người dùng.
Một điểm dễ bị tổn thương khác chính là tình trạng thâm hụt thương mại kinh niên của Việt Nam với Trung Quốc, lên tới 5,4 tỷ USD trong tổng thâm hụt thương mại 7,5 tỷ USD của Việt Nam trong nửa đầu năm 2011. Hơn nữa, Trung Quốc đã nổi lên như là nguồn nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam, chiếm gần một phần tư kim ngạch nhập khẩu trong năm 2010. Việt Nam phụ thuộc nhiều vào Trung Quốc đối với các nguyên liệu đầu vào cho một số ngành xuất khẩu chủ yếu của mình, chẳng hạn như giày dép, dệt may, hay đồ nội thất. Trong khi đó, xuất khẩu của Việt Nam sang Trung Quốc chỉ chiếm một phần rất nhỏ trong tổng kim ngạch nhập khẩu của Trung Quốc. Vì vậy, nếu Trung Quốc quyết định ngưng trao đổi thương mại với Việt Nam vì lý do nào đó, thiệt hại cho nền kinh tế của Việt Nam sẽ là rất lớn.
Một mối quan ngại được nêu lên ở Việt Nam gần đây chính là việc các công ty Trung Quốc đã giành được đến 90% các hợp đồng EPC (Thiết kế/Mua sắm/Xây lắp) cho các dự án công nghiệp lớn của Việt Nam, đặc biệt là các nhà máy điện đốt than. Nhà thầu Trung Quốc được ưa chuộng vì họ cung cấp công nghệ giá rẻ và hứa sẽ giúp đỡ bố trí vốn cho chủ đầu tư từ các ngân hàng Trung Quốc. Dù có vẻ là rẻ nhưng trong thực tế Việt Nam đang phải trả giá đắt cho các hợp đồng này.
Thứ nhất, công nghệ rẻ gây nên ô nhiễm. Các báo cáo cho thấy một số công nghệ được cung cấp bởi các công ty Trung Quốc đã bị nước này đào thải hoặc cấm sử dụng từ năm 2005. Thứ hai, năng lực nhà thầu Trung Quốc hạn chế làm cho nhiều dự án bị chậm tiến độ, ngay cả khi dự án hoàn thành đúng thời hạn thì họ cũng để lại cho các chủ dự án những hóa đơn bảo dưỡng tốn kém. Thứ ba, do nhà thầu Trung Quốc từ chối sử dụng các sản phẩm sẵn có ở địa phương và thay vào đó nhập khẩu mọi thứ từ Trung Quốc, kể cả những chi tiết cơ bản như bù-loong, nên góp phần làm cho thâm hụt thương mại của Việt Nam với Trung Quốc tăng cao. Nhà thầu Trung Quốc thậm chí không sử dụng lao động địa phương mà còn đưa lao động Trung Quốc vào làm việc bất hợp pháp, gây nên sự phản đối trong công luận Việt Nam.
Một điểm dễ bị tổn thương về kinh tế của Việt Nam xuất phát từ Trung Quốc được thể hiện trong thời gian gần đây liên quan đến việc các thương lái Trung Quốc mua ào ạt số lượng lớn nông sản Việt Nam, từ vải thiều, sắn đến hải sản hay thịt lợn. Điều này đã góp phần khiến giá thực phẩm tại Việt Nam tăng mạnh, khiến cho tới tháng Sáu lạm phát đã tăng 20,8% so với cùng kỳ năm ngoái bất chấp những nỗ lực kiềm chế lạm phát của chính phủ.
Những điểm dễ tổn thương về kinh tế hiện nay mang lại cho Việt Nam một mối đe dọa khác bên cạnh những mối đe dọa quân sự vốn rõ ràng hơn. Nếu Trung Quốc quyết định phát động một cuộc “chiến tranh kinh tế”, Việt Nam sẽ gánh chịu hậu quả nặng nề.
Tuy nhiên, Việt Nam dường như có ít lựa chọn để xử lý tình trạng dễ bị tổn thương của mình trong quan hệ kinh tế với Trung Quốc. Một mặt, các phản ứng nếu có sẽ bị hạn chế bởi thực tế rằng Việt Nam hiện phải tuân thủ các luật lệ thương mại và đầu tư quốc tế, như các quy định của Tổ chức Thương mại Thế giới mà Việt Nam đã là thành viên từ đầu năm 2007. Mặt khác Việt Nam cũng phải cảnh giác về khả năng trả đũa quy mô lớn nếu có động thái tiêu cực đối với Trung Quốc.
Tất nhiên, ở đây cũng không thể không kể tới các điểm tích cực. Việt Nam hy vọng rằng sự phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế ngày càng tăng, cho dù không đối xứng, cũng sẽ giúp làm giảm khả năng Trung Quốc tấn công quân sự Việt Nam, đặc biệt là trên Biển Đông. Ngoài ra, nhiều doanh nghiệp Việt Nam cũng nhận thấy hợp tác với các doanh nghiệp Trung Quốc vẫn ít tốn kém và thuận tiện hơn so với hợp tác với doanh nghiệp các nước khác.
Chính vì vậy, Việt Nam vẫn muốn kiên trì hợp tác kinh tế với Trung Quốc, tiếp tục cố gắng gặt hái càng nhiều lợi ích càng tốt từ nền kinh tế đang bùng nổ của người hàng xóm phương Bắc. Nhưng tục ngữ Việt Nam vẫn có câu “mật ngọt chết ruồi”. Việt Nam vì vậy cần phải luôn nhận thức đầy đủ về các nguy cơ và tìm ra các chiến lược phù hợp để ít nhất có thể hóa giải được khía cạnh kinh tế mới nổi của “lời nguyền địa lý” mà Việt Nam đang phải gánh chịu.
—————————————–
* Tác giả hiện đang là nghiên cứu sinh tiến sĩ quan hệ quốc tế tại ĐH New South Wales, Australia. Bài nguyên gốc tiếng Anh đã được đăng trên the Diplomat.

http://tuanvietnam.vietnamnet.vn/2011-07-26-viet-nam-va-loi-nguyen-dia-ly-

Asia Times Online
Lãnh đạo Việt Nam bị chỉ trích về vấn đề Trung Quốc- David Brown
Ngày 21-07-2011
Chắc chắn những tranh cãi ồn ào gần đây xoay quanh các yêu sách về chủ quyền trên Biển Đông sẽ đổ ập vào nền chính trị quốc nội Việt Nam. Làm sao để xử lý được mối quan hệ với Trung Quốc là vấn đề nhạy cảm thứ hai trong đời sống chính trị-xã hội của cả quốc gia (vấn đề số một là liệu xây dựng chế độ đa đảng có phải là một điều tốt hay không).
Sau gần hai tháng cả nước thể hiện sự nhất trí tuyệt đối trước hiểm họa Trung Quốc, vào ngày 16 tháng 7 mâu thuẫn bắt đầu nảy sinh khi công an giải tán một cuộc biểu tình nho nhỏ ở gần Đại sứ quán Trung Quốc. Chính quyền Việt Nam đã dung thứ – cũng có nguồn tin cho rằng chính quyền ngầm khuyến khích – cho những cuộc tuần hành như thế từ đầu tháng 6.

Không khí đối đầu trên đường phố Hà Nội bùng phát chỉ vài ngày sau khi một nhóm trí thức có tên tuổi chỉ trích mạnh mẽ giới lãnh đạo bởi theo như họ nói, đã không thấy được rằng “Việt Nam càng nhân nhượng, Trung Quốc càng lấn tới.”
Đảng Cộng sản và chính phủ Việt Nam đặc biệt tỏ ra rất nhạy cảm với những lời chỉ trích rằng họ đang hòa hoãn thái quá với siêu cường đang nổi lên dọc theo biên giới phía bắc Việt Nam kia. Lần gần đây nhất những lời chỉ trích ấy dấy lên là vào năm 2008, sau khi chính phủ cấp phép cho một công ty Trung Quốc khai thác những mỏ bauxite khổng lồ ở Tây Nguyên.
Chiến đấu chống ngoại xâm là chủ đề thường trực trong tiềm thức của người Việt Nam. Học sinh được dạy rằng đất nước đã trụ vững được qua 1100 (*) năm nhờ không bao giờ đầu hàng giặc khi sự toàn vẹn lãnh thổ bị lung lay.
Trong số tất cả các vị anh hùng trong lịch sử Việt Nam, phần lớn được ghi công là do họ đã chiến đấu chống lại quân xâm lược Trung Quốc, làm tiêu hao sinh lực địch cho đến khi kẻ địch phải từ bỏ hẳn âm mưu. Tinh thần ngoan cường đó được thể hiện rất rõ ràng khi người Việt Nam nhất loạt đứng lên vào tháng 5 và tháng 6 vừa qua để phê phán các hành động gây hấn của Trung Quốc trên Biển Đông.
Trung Quốc khăng khăng tuyên bố rằng khoảng 85% diện tích 1,5 triệu kilômét vuông biển Hoa Nam – tức “Biển Đông” – là thuộc về Trung Quốc, và Trung Quốc có chủ quyền ở đó từ thời xưa. Ngay khi có lực lượng hải quân đã phát triển lớn mạnh hơn, Trung Quốc đã trợ lực ngày càng mạnh bạo cho yêu sách của họ trong khi ngày càng coi thường yêu sách do các nước Philippin, Việt Nam và Malaysia đưa ra dựa trên các quy định của Công ước LHQ về Luật Biển.
Căng thẳng gia tăng sau khi Trung Quốc trắng trợn quấy nhiễu hoạt động của hai tàu thăm dò dầu khí Việt Nam ở sâu trong vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý của Việt Nam. Khi ấy, báo chí Việt Nam tràn ngập các bài thảo luận về đường hướng và biện pháp để bảo vệ chủ quyền trên biển của đất nước.
Những đòn phản công mạnh mẽ của Hà Nội – bao gồm cả một cuộc tập trận bắn đạn thật ngoài khơi và các cuộc tham vấn công khai với các bạn bè nước ngoài như Mỹ – được hoan nghênh nhiệt liệt trên các blog và mạng xã hội, cũng như trên các báo hàng ngày.
Bước ngoặt xảy ra vào thời điểm cuối tháng 6, khi Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc và Việt Nam tuyên bố rằng hai nước đã nhất trí làm dịu mọi ngôn từ và tiếp tục nỗ lực tìm kiếm một nghị quyết song phương về vấn đề tranh chấp chủ quyền lãnh hải.
Đối với chính quyền Hà Nội – vốn đã nhận thức sâu sắc được rằng phía Việt Nam ít có hy vọng giành được thế thắng nếu chiến tranh nổ ra thật sự – thì lùi khỏi bờ vực xung đột là khôn ngoan. Còn đối với những người dân đã quen với việc tuần hành một cách thách thức và treo các khẩu hiệu yêu nước lên Facebook, thì sự chuyển hướng mới này không phải là điều họ hoan nghênh.
Một số nhân vật nổi bật đã từ chối tuân thủ theo đường lối mới của chính quyền. Ngày 10 tháng 7, 20 trí thức có tiếng đã ký vào một bản kiến nghị gửi Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam và ông chủ tịch Quốc hội, đề nghị thực hiện những thay đổi căn bản trong đường lối điều hành. Họ lập luận rằng cuộc khủng hoảng gần đây chỉ là triệu chứng của một căn bệnh nguy hiểm hơn trên bình diện quốc gia. Nếu không cải cách quyết liệt, Trung Quốc sẽ tiếp tục “ thâm nhập, lũng đoạn mọi mặt đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa của nước ta”
cho đến khi đất nước rơi vào địa vị chư hầu.
Các trí thức này đều không phải là những người xa lạ với đời sống chính trị-xã hội Việt Nam. Tất cả đều là những người có vai vế trong hệ thống chính trị; một số là quan chức sĩ quan và cán bộ ngoại giao cao cấp đã về hưu; một số vẫn còn tại vị. Họ là những người sinh trưởng trong các gia đình giàu truyền thống cách mạng. Nói theo ngôn từ của đảng thì họ là những “cá nhân yêu nước.” Họ nổi tiếng là những người bộc trực, thẳng thắn, nên họ thường xuyên trở thành đối tượng báo giới Việt Nam săn đón và tìm cách trích dẫn. Hơn hẳn phần lớn các luồng dư luận khác trong đời sống xã hội Việt Nam, ý kiến của họ về những gì đang khiến một bộ phận lớn công chúng bất mãn nhìn chung là có độ tin cậy cao.
Bản kiến nghị của các nhà trí thức, mặc dù trải rộng trên nhiều lĩnh vực và thường có phần cay độc, nhưng cũng cho thấy bản thân họ cũng biết rõ mức độ khoan dung của chính quyền. Bản kiến nghị không đả động tới việc thay đổi chế độ hoặc thiết lập thể chế đa đảng – quan niệm mà vì nó, rất nhiều người chỉ trích khác kém thận trọng hơn đã bị bỏ tù. Đó là một văn kiện dài mười trang, xứng đáng được chú ý đến và nhất định sẽ được chú ý đến một cách thỏa đáng.
Phần đầu của bản kiến nghị nêu luận điểm rằng tham vọng bá quyền trong khu vực của Trung Quốc đặt ra một hiểm họa to lớn. Các nhà trí thức khẳng định, kế hoạch chiến lược của Bắc Kinh nhằm khống chế Việt Nam đã được hiện thực hóa đáng kể, đến chừng mực nền kinh tế gần như nằm gọn trong tầm kiểm soát của Trung Quốc và “quyền lực mềm” của Trung Quốc đã làm mục ruỗng đời sống chính trị của đất nước.
Để minh họa luận điểm này, các nhà kiến nghị phân tích bản thông cáo báo chí chung giữa Trung Quốc và Việt Nam, ký ngày 26 tháng 6. Đó là một tuyên bố mà theo đó, có vẻ như Hà Nội cam kết tiến hành đàm phán song phương trong các vấn đề tranh chấp chủ quyền lãnh hải. Các nhà trí thức không nhất trí với thông cáo báo chí ở chỗ coi quan hệ song phương giữa hai nước là “lành mạnh, ổn định”, và họ cũng không chấp nhận việc Hà Nội đồng ý trấn áp biểu tình và dập tắt việc báo chí công kích Trung Quốc.
Những người ký kiến nghị phản đối nhiều nhất với khẳng định của thông cáo rằng “hai bên khẳng định, cần tích cực thực hiện nhận thức chung của lãnh đạo hai nước, giải quyết hòa bình các bất đồng trên biển giữa hai nước, thông qua đàm phán và hiệp thương hữu nghị.”
Họ bình luận rằng, trong khi Hà Nội dứt khoát im lặng, không đề cập tới bản chất của cái “nhận thức chung” đó, thì giới lãnh đạo và truyền thông Trung Quốc tuyên bố, khẳng định như thế có nghĩa là Việt Nam cũng nhất trí rằng các nước thuộc bên thứ ba không nên can thiệp vào tranh chấp lãnh hải.
Phần giữa bản kiến nghị tập trung vào phê bình rộng khắp các vấn đề của quốc gia. Nền kinh tế được cho là đang khủng hoảng, lại càng xấu thêm vì lạm phát, thâm hụt thương mại, nợ nần gia tăng, khoảng cách giàu nghèo ngày càng lớn, và phụ thuộc vào khai thác lao động chân tay và khai thác cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên. Tình hình văn hóa xã hội thì xuống cấp. Công bằng xã hội bị làm ngơ, tham nhũng hoành hành, trong khi đó hệ thống giáo dục chỉ nhào nặn ra những cỗ máy kiếm điểm.
Tiếp đến, bản kiến nghị cho rằng tất cả những yếu kém này “ phản ánh rõ nét . . . sự bất cập và xuống cấp ngày càng gia tăng của hệ thống chính trị – xã hội và bộ máy nhà nước ta” và “nhiệm vụ đổi mới chính trị tuy đã được đặt ra nhưng chưa có mục tiêu, biện pháp và hành động thiết thực”.
Chính phủ cồng kềnh, chìm ngập trong nạn quan liêu tham nhũng. Các quyền dân chủ mà Hiến pháp Việt Nam quy định, trong đó có “ quyền tự do ngôn luận, quyền được thông tin, quyền lập hội, quyền biểu tình… vẫn chưa trở thành hiện thực trong cuộc sống”. Trở lại chủ đề Trung Quốc, bản kiến nghị nhận định rằng Việt Nam, vì điều kiện địa lý bắt buộc, không có cách nào khác là phải làm láng giềng với “ một đất nước Trung Quốc đầy tham vọng đang trên đường trở thành siêu cường”.
Việc tranh chấp các hòn đảo trên Biển Đông chỉ là một góc trong bức tranh toàn cảnh rộng lớn hơn. Việt Nam phải đối diện với mưu đồ của Trung Quốc “lũng đoạn nội bộ lãnh đạo nước ta, làm suy yếu khối đoàn kết thống nhất của dân tộc ta, làm giảm sút khả năng gìn giữ an ninh và quốc phòng của nước ta”.
Các nhà kiến nghị kêu gọi chính phủ và bộ chính trị minh bạch hóa. Họ cho rằng các nhà lãnh đạo phải “công bố trước toàn thể nhân dân thực trạng quan hệ Việt-Trung”. Các nhà lãnh đạo phải đặt lòng tin vào công dân Việt Nam, kể cả vào những người Việt sinh sống rải rác ở nước ngoài, giúp họ hiểu rõ nguy cơ mà quốc gia phải đối mặt và có cách ứng xử như những người yêu nước. Cải cách kinh tế, giáo dục và chính trị được xem như thiết yếu để “ giải phóng và phát huy ý chí và năng lực của nhân dân cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”.

Cuối cùng, các nhà kiến nghị chốt trách nhiệm thẳng vào các nhà lãnh đạo đảng: “Là đảng cầm quyền duy nhất hiện nay, Đảng Cộng sản Việt Nam phải dẫn đầu”.

Nói chung, ở bất kỳ nơi nào trên thế giới, các nhà cầm quyền đều không dễ chịu khi bị lên án, thậm chí ngay cả khi sự phê phán đó là của các quan giám nghị. Thật khó mà hình dung được việc bộ chính trị Việt Nam cùng lên tiếng thừa nhận rằng họ thiếu năng lực, hoặc thú nhận họ càng ngày càng kém khả năng điều hành đất nước.
Đúng hơn, nên coi bản kiến nghị của các nhà trí thức như mục đích chính là thu hút sự chú ý của công chúng quan tâm. Nó là một văn kiện phản ánh những quan điểm điển hình của các thành phần tiến bộ trong nền chính trị Việt Nam, là một tuyên bố mà những người muốn tìm cách đổi mới “từ trong hệ thống” có thể tập hợp quanh nó.
Một trong những người viết dự thảo bản kiến nghị cho Asia Times Online biết: “Trước hết, chúng tôi muốn toàn dân biết rõ tình hình để tạo ra sự đồng thuận dân tộc. Chúng tôi không có ảo tưởng rằng Lãnh đạo Việt Nam chấp nhận tất cả các kiến nghị, nhưng cũng hướng tới sự đồng thuận của một bộ phận tích cực trong giới lãnh đạo cao nhất.”

Mặc dù chính quyền Việt Nam và ban lãnh đạo đảng rất lưu ý đến sự thay đổi tâm lý của quần chúng, họ cũng đã hiểu rằng trong kỷ nguyên Internet, họ chỉ có khả năng rất giới hạn trong việc định hình hoặc điều khiển tâm lý quần chúng. Sau khủng hoảng bauxite, cơ quan an ninh Hà Nội đã tăng cường các nỗ lực kiểm soát ngôn luận về chính trị trên môi trường blog và các mạng xã hội.
Nhưng những nỗ lực đó đều thất bại; người sử dụng Facebook và giới blogger đã nhanh chóng học được cách sử dụng các máy chủ đặt ngoài tầm kiểm soát của chính quyền. Nhờ cách đó, bản kiến nghị của các nhà trí thức đã được phát tán nhanh chóng kể từ khi nó được đưa lên trang blog của “Bauxite Việt Nam” vào tuần trước. Theo báo cáo, trong vài ngày đã có thêm khoảng 1.000 người ký tên vào đây.
Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và các đồng sự cũng đáng được thông cảm đôi chút trong tình hình này. Thật dễ tìm ra các vấn đề đáng phê phán trong đời sống xã hội ở Việt Nam, nhưng khắc phục chúng thì khó hơn nhiều. Ra lệnh thì thật dễ, nhưng thực thi lệnh thì quả thực khó. Đặc biệt, vấn đề quan hệ với Trung Quốc không thể có câu trả lời đơn giản. Cách xử trí tốt nhất đối với người láng giềng khổng lồ của Việt Nam, suốt theo chiều dài lịch sử, là một sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa thái độ tôn kính có chừng mực và ý chí sẵn sàng đổ máu chiến đấu đến cùng trong trường hợp không còn con đường nào khác.
Đó dường như vẫn chỉ là ý chí. Cho dù bản thông cáo chung Trung Quốc – Việt Nam ngày 26 tháng 6 có là thế nào đi nữa, cho dù bản kiến nghị của các nhà trí thức có vạch ra sự thật gì với chính quyền đi chăng nữa, cũng ít có bằng chứng cho thấy giới lãnh đạo hiện nay của Việt Nam đã và đang mềm mỏng với Trung Quốc.
David Brown là một nhà ngoại giao Mỹ đã nghỉ hưu, chuyên viết về Việt Nam đương đại. Có thể gửi thư cho ông tại địa chỉ nworbd@gmail.com.
Người dịch: Đan Thanh

Hiệu đính: David Brown & THA

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2011
http://anhbasam.wordpress.com/2011/07/26/212-lanh-d%E1%BA%A1o-vi%E1%BB%87t-nam-b%E1%BB%8B-ch%E1%BB%89-trich/

Asia Times
Khủng hoảng sẽ xảy ra ở Trung Quốc -Benjamin A Shobert
14-7-2011
Những ngày này, gần như không thể chọn được một tờ báo hay hay tạp chí nào mà không có các bài viết về Trung Quốc cùng sức tăng trưởng dường như vô địch của nước này. Rất nhiều bài viết đó, đặc biệt là những bài dường như hoàn toàn đầy nỗi lo sợ và thất vọng về việc Trung Quốc qua mặt Mỹ, chẳng tiên đoán được điều gì ngoài sự tăng trưởng theo cấp số cộng của nền kinh tế Trung Quốc, sự thống trị trong khu vực không thể tránh khỏi của nước này và khả năng thách thức toàn cầu của Bắc Kinh đối với việc cố gắng giữ vững quyền bá chủ của Mỹ.
Người Mỹ không nên chấp nhận viễn cảnh tương lai chắc chắn xảy ra đó của Trung Quốc. Cuối cùng, các tình huống tương tự xảy ra để biện minh cho một thị trường nhà ở dồi dào của Mỹ, các định giá vô lý về giá trị tài sản và mức nợ nần mà nền kinh tế Mỹ có thể kham nổi.
Mỗi bên đang tỏ rõ ngạo mạn và trong khi nhận thức muộn màng, những lo ngại về những vấn đề này bị vùi sâu trong ký ức của những con nợ bên trong và các chủ nợ bên ngoài nền kinh tế đất nước. Và giờ đây khi những vết sẹo mới đã thành hình sau sự suy sụp kinh tế của Mỹ, vẫn còn đang tiếp tục hình thành, một sự nhầm tưởng tương tự dường như đang xâm chiếm sự hiểu biết của chúng ta về tương lai của Trung Quốc.
Đối với một số người, sự nhầm tưởng này là cố ý: những người từ lâu đã chỉ trích hệ thống chính trị độc đoán của Trung Quốc và những người tin rằng Bắc Kinh đang được phép đi tắt để đưa nền kinh tế ốm yếu một thời của nước này vào thế kỷ 21 bằng cái giá công ăn việc làm cho người Mỹ chỉ là hai trong số các phe phái rõ ràng hơn. Còn với đa số người dân lo ngại về sự nổi lên của Trung Quốc, sự hiểu nhầm đó được hình thành thông qua độ tương phản và so sánh giản đơn: nền kinh tế Trung Quốc ngày nay trụ vững khỏe mạnh trong khi nền kinh tế Mỹ rơi vào tình cảnh ngày càng yếu kém.
Nhưng một sự so sánh như vậy là có hại cho hai nước và gieo mối xung đột ở nơi mà chẳng bên nào cần thiết. Trung Quốc không mạnh như người Mỹ lo sợ, cũng không phải là một nước tư duy chiến lược như một số người muốn tin. Tương tự, Mỹ không yếu như các vấn đề hiện nay thể hiện, cũng không rạn vỡ về cơ bản như hệ thống chính trị có thể khiến chúng ta nghĩ vậy, bất kể những gì mà các diễn biến gần đây nhất từ Washington có thể gợi ra. Cơ hội bỏ lỡ cho cả hai nước là nước này có thể có một ý kiến hoặc suy nghĩ có thể có lợi cho nước kia.
Đối với người Mỹ, hệ thống chính trị Trung Quốc có thể làm nhiều thứ sai trái (cả về thực tiễn lẫn ý thức hệ) nhưng khả năng đặt ra các ưu tiên quốc gia của nước này và thi hành chúng đã khiến hệ thống chính trị đảng phái của Mỹ phải hổ thẹn. Đối với Trung Quốc, vẻ đẹp của nền văn hóa Mỹ là nó cho phép cả bất đồng ý kiến lẫn thừa nhận sai sót; và một trong những hệ quả là nó tạo ra một kiểu lãnh đạo mềm dẻo, có khả năng chống đỡ các cú sốc cấu trúc dưới mọi hình thức hơn nhiều so với Trung Quốc.
Và, đối với tất cả những gì Trung Quốc đã làm là tốt đẹp, những thứ cho phép nước này đưa thêm nhiều người ra khỏi cảnh đói nghèo hơn so với bất kỳ giai đoạn nào khác trong lịch sử nhân loại, đó là khả năng chống đỡ những bất ổn không thể tránh khỏi của nền kinh tế trong nước và quốc tế.
Nhiều học giả từ lâu đã nghi ngờ về các nền móng kinh tế của Trung Quốc. Đặc biệt, một số người còn quả quyết rằng phép màu kinh tế của đất nước này không những không bền vững mà còn được tạo dựng trên những nền tảng yếu kém tới mức nó sắp sụp đổ, cuốn theo cả sự kiểm soát độc đoán của chính phủ. Gần đây nhất, chính Tiến sĩ Tận thế – còn được biết đến là Nouriel Roubini – đã công khai bày tỏ lo ngại rằng nền kinh tế Trung Quốc đang quá nóng và hướng tới một sự điều chỉnh lớn.
Rõ ràng, việc xây dựng chớp nhoáng cơ sở hạ tầng của Trung Quốc đã dẫn tới các khoản đầu tư không rõ ràng mà ngay cả một người đi vòng quanh nước này một cách hững hờ nhất cũng nhận ra. Các phòng trưng bày, các tòa nhà văn phòng, chung cư và tất cả các công trình đô thị khác tiếp tục được xây dựng ngay cả khi rất nhiều trong số chúng có rất ít người sử dụng. Kết hợp lại, chúng rất có thể là một dấu hiệu về đầu tư quá mức, nhưng lại là một kiểu đầu tư quá mức độc nhất vô nhị mà chính Mỹ từng phạm phải trong những năm 1800 khi, lấy một ví dụ duy nhất, nước này tạo dựng nhiều năng lực đường sắt hơn cần thiết vào lúc đó.
Tại sao Mỹ làm thế? Bởi vì vốn rất rẻ, tương lai chắc chắn sáng hơn bất kỳ ai có thể mơ ước, và bởi vì sự hấp dẫn của tăng trưởng theo cấp số cộng làm cho nước này có thể trở nên giàu có, đơn giản bằng cách làm và xây dựng hơn những gì đã đạt được trước đó. Nước Mỹ từng phạm sai lầm này, và giờ Trung Quốc lại có nguy cơ mắc phải.
Các tín hiệu từ bên trong Trung Quốc rất mâu thuẫn với nhau: lấy một ví dụ, các công ty đầu tư nghiên cứu thị trường bất động sản ước tính khoảng 30-50% thị trường văn phòng cho thuê ở Bắc Kinh vẫn trống, nhưng một nghiên cứu cuối năm 2010 của các giám đốc tài chính hoạt động ở Trung Quốc lại kết luận rằng họ đang phải đương đầu với giá thuê văn phòng tăng cao ở Bắc Kinh, chủ yếu do nguồn cung hạn chế.
Và tất cả mọi người, những ai hỏi cụ thể về những khu vực mà Trung Quốc có vẻ bị quá tải, đều đứng trước một hàng dài những người có hiểu biết chung chung chỉ hướng về phía hàng trăm triệu người Trung Quốc đang di cư tới mảnh đất hứa của một tầng lớp trung lưu toàn cầu.
Sự khác nhau giữa những gì được xây dựng và những gì được sử dụng rốt cục chỉ tới một sai lầm trong hệ thống kinh tế của Trung Quốc – thiếu minh bạch. Không may cho Trung Quốc, sai lầm này hiện diện ở khắp nơi, trong các hệ thống chính trị, tài chính và văn hóa của nước này.
Một phần trong số đó là sự khó khăn dễ hiểu mà một nền kinh tế đang nổi gặp phải khi trao cho những người bên ngoài thông tin trong lúc chính chính phủ của nó vẫn đang chật vật xây dựng các công cụ cho phép thông tin được tập hợp và phân phát cho người bên ngoài một cách chắc chắn. Nhưng một số khó khăn có thể là kết quả của những người không muốn thấy một một tia sáng lóe trên các khoản đầu tư hoặc lý do kinh tế đáng ngờ đằng sau họ.
Trong hậu quả của một cuộc khủng hoảng tài chính, Bắc Kinh sẽ phải trả lời các câu hỏi không chỉ về cách thức họ phân phối tiền vốn của đất nước mà còn cả một chuỗi các mối liên quan giữa những thành viên có quyền lực chính trị của Đảng và các chủ doanh nghiệp nhà nước. Ở Trung Quốc, nơi những mối liên hệ chính trị vốn có xu hướng quan trọng hơn một lý do kinh tế hợp lý, sẽ rất khó ngăn chặn hậu quả chính trị và ở đây, cũng dễ hiểu khi những người băn khoăn về sự ổn định của hệ thống chính trị Trung Quốc tỏ ra lo lắng.
Cú sốc cấu trúc này xuất phát từ đâu không quan trọng: nó có thể từ hệ thống ngân hàng của Trung Quốc và hàng tỷ đôla mờ ám trong các quỹ cho vay không hoạt động có và không có trong các bảng cân đối kế toán ở khắp đất nước này, hoặc nó có thể phát sinh từ tình trạng lạm phát không kiểm soát được, gặm nhấm dần khả năng tự nuôi sống bản thân của những người dân bình thường.
Dù là nguyên nhân nào, Trung Quốc cũng sẽ gặp phải cú sốc cấu trúc chắc chắn xảy ra với hành trang lịch sử và hiện thời mà các nước khác, trong đó có Mỹ, không có. Chương này của lịch sử Trung Quốc có thể mới mẻ và đầy hứa hẹn, nhưng đó vẫn là một nước có những ký ức rất rõ về các hậu quả của cuộc khủng hoảng chính trị thế kỷ trước vốn vượt khỏi tầm kiểm soát, và những ký ức đó ngày nay dường như đang dẫn dắt các chính sách của Đảng Cộng sản Trung Quốc.
Bởi vậy, lường trước khi nào các vấn đề tự bộc lộ là việc không mấy quan trọng với Bắc Kinh mà chủ yếu là xác định các phản ứng chính trị để ngăn chặn quá khứ không tái hiện vào thời đại ngày nay.
Những người bên ngoài lo lắng chính đáng về việc Bắc Kinh sẽ phản ứng như thế nào trước một cuộc khủng hoảng kinh tế bằng các hàm ý chính trị. Những giây phút như vậy sẽ là phép thử không chỉ với quyền lực của Đảng Cộng sản, mà còn cả về tính hợp pháp của nó.
Cụ thể hơn, một cuộc khủng hoảng kinh tế lan vào các thể chế chính trị của Trung Quốc, mang theo nó một thách thức đối với thương mại mà Bắc Kinh đã thực hiện với công dân của mình: chúng tôi mở ra tăng trưởng kinh tế và một tương lai tốt hơn, còn các bạn đồng ý về tính ưu việt của Đảng.
Đó là khả năng trao đổi để trụ vững trước các phép thử của một cú sốc kinh tế khó tránh khỏi mà những người bên ngoài lo ngại; và, nếu hậu quả chính trị từ cú sốc kinh tế mới đây của Mỹ là một dấu hiệu nào đó, Bắc Kinh cũng đúng khi lo lắng về nó.
Tất cả điều này không phải để nói rằng sự sụp đổ của Trung Quốc là chắc chắn xảy ra; thay vào đó, những gì khó tránh là một hệ thống quyền lực vốn bóp chặt các nguyên tắc kinh tế thị trường tự do có một số sự xung khắc cố hữu, và sẽ phải giải quyết những xung khắc đó. Có lý khi tin rằng nhiều khả năng nhất là nó sẽ xảy ra vào giữa, và cả sau, một cú sốc kinh tế hơn là trước đó.
Nhưng sẽ sai khi nói rằng Trung Quốc bất lực hoặc không muốn thực hiện những điều chỉnh cần thiết để sống sót và thành công. Một người có thể tin rằng tăng trưởng của nước này sẽ tiếp tục và rằng ban lãnh đạo của nước này sẽ điều chỉnh thành công các chính sách và thực tiễn của mình để khuyến khích bất đồng chính kiến và mở rộng tự do hơn nữa, trong khi vẫn tin rằng đất nước này đã xây dựng quá mức, tiếp tục che giấu những người bên trong và bên ngoài hệ thống về những khoản vay không hoạt động, và kết quả là có thể phải đối mặt với những trận gió lớn thổi ngược trong thời gian ngắn.
Nhưng cả Trung Quốc và Mỹ sẽ được thỏa mãn nhờ một sự đánh giá tốt hơn những thách thức mà mỗi nước phải đối mặt. Trung Quốc vẫn còn nhiều thập niên nữa để có được một nền kinh tế nội địa mạnh mẽ như Mỹ; và những thách thức mà nước này phải đối mặt là đáp ứng những nhu cầu cơ bản nhất của dân chúng trong khi thách thức của Mỹ là định nghĩa lại và xác nhận lại vị thế lãnh đạo của mình trong một thế giới đa cực.
Ngăn chặn xung đột giữa hai nước khi họ giải quyết những thách thức trên sẽ không đơn giản, và có thể còn đè lên một sự hiểu biết chung do một trong hai sự hiểu lầm, điều có thể đẩy mỗi bên vào một cuộc khủng chính trị trầm trọng hơn.
Với Trung Quốc, đó là sự hiểu lầm khi tin rằng bất đồng chính kiến đồng nghĩa với yếu kém. Không gì có thể đi xa hơn sự thật; chính sự bất đồng chính kiến sẽ mang lại cho xã hội không chỉ sự cộng hưởng văn hóa mà còn cả khả năng trụ vững và phản ứng trước những rủi ro khó tránh mà lịch sử đã mang lại cho chúng ta, những rủi ro về kinh tế và các lĩnh vực khác nữa.
Đối với Mỹ, đó là sự hiểu lầm cơ bản đẩy Trung Quốc vào vị trí của Liên Xô cũ như một kẻ thù kinh tế và ý thức hệ, khi mà những gì Bắc Kinh khát khao nhất là sự ổn định trong nước và lựa chọn xây dựng một nền kinh tế đủ sức đưa nông dân của nước này vào lực lượng lao động của thế giới.
Các quốc gia và mọi người đều học được nhiều nhất từ chính mình khi họ phải đứng trước viễn cảnh thất bại. Mỹ đang đối mặt với một khoảnh khắc như vậy và đang chật vật tập trung ý chí chính trị để giải quyết những thách thức buộc phải giải quyết. Rất có khả năng, Trung Quốc sẽ đối mặt với một trạng thái tương tự trong tương lai không quá xa, và phản ứng của nước này sẽ quyết định liệu họ có thể trỗi dậy thành một cường quốc thế giới hay liệu cam kết của họ – hiện đang rạng ngời và tràn trề hy vọng – chứng tỏ được đặt không đúng chỗ.
Người dịch: Trúc An

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2011

http://anhbasam.wordpress.com/2011/07/19/194-kh%e1%bb%a7ng-ho%e1%ba%a3ng-s%e1%ba%bd-x%e1%ba%a3y-ra-%e1%bb%9f-trung-qu%e1%bb%91c/

Mối nguy hại mới từ Trung quốc

• PSN 26.7.2011
Một số nước và vùng lãnh thổ đang quan ngại sâu sắc về vấn đề an ninh đối với Huawei (Hoa Vi), nhà cung cấp thiết bị viễn thông lớn nhất Trung Quốc. Trong khi đó, hầu hết các nhà mạng đang hoạt động tại VN đều có sử dụng thiết bị của Huawei.
Theo nguồn tin của Thanh Niên, Huawei đã ký hợp đồng với hai đối tác ở VN về việc triển khai mạng HSPA+. Theo đó, Huawei sẽ đặt hàng ngàn trạm gốc ở Hà Nội, Đà Nẵng và một phần của khu vực TP.HCM. Dựa trên trạm thu phát gốc BTS tiên tiến thế hệ thứ 4 của công ty và khả năng HSPA+/UMTS, mạng 3G này sẽ cho phép việc cung cấp tốc độ băng rộng di động rất nhanh, lên đến 21 Mb/s cho khách hàng. Theo như tuyên bố của Huawei, mạng HSPA+ mới ở VN này sẽ là một trong những mạng 3G nhanh nhất thế giới .
Trả lời câu hỏi liệu có nguy cơ về an ninh thông tin từ những thiết bị mạng do Huawei cung cấp hay không, đại diện Công ty MobiFone cho biết thời gian qua cũng nhận được những thông tin nêu trên qua báo chí. Nhưng đó là những thông tin không xuất phát từ các đơn vị có chức năng kiểm định chất lượng mạng di động nên công ty cũng khó đánh giá được mức độ chính xác đến đâu. Tuy nhiên, MobiFone khẳng định qua thời gian sử dụng 5-7 năm nay thì các thiết bị vẫn đảm bảo được chất lượng. Hơn nữa, công ty và đối tác Huawei đã có quy trình và phương án phối hợp chặt chẽ để đảm bảo tuyệt đối vấn đề an toàn thông tin cho người dùng.
Không chỉ nổi tiếng với việc cung cấp các thiết bị mạng, Huawei hiện cũng nổi lên với việc cung cấp hàng loạt thiết bị đầu cuối cho người dùng như điện thoại di động Smartphone, bao gồm sử dụng nhiều mạng khác nhau như UMTS, GSM, CDMA và TD-SCDMA; máy tính bảng; thiết bị di động như WiMax, USB 3G… Đại diện nhà mạng Vinaphone cho rằng những sản phẩm đầu cuối như ĐTDĐ, USB 3G hay máy tính bảng là những thiết bị có cấu trúc đơn giản, rất dễ kiểm tra và hầu như không có khả năng gây nguy cơ mất an toàn thông tin hay có hại cho người dùng.
Trong khi đó ông Nguyễn Minh Đức, Giám đốc bộ phận an ninh mạng Công ty an ninh mạng BKAV, cho rằng các nhà cung cấp hoàn toàn có khả năng đưa vào thiết bị mạng những tính năng ẩn để điều khiển hoạt động của mạng thông tin. Vì vậy đối với hạ tầng mạng quan trọng của một quốc gia (ví dụ như trong quân đội) thì nhiều nơi chi tiền mạnh tay để có thể tự thiết lập mạng riêng của mình. Trong trường hợp sử dụng thiết bị mạng mua ngoài thì phải có sự kiểm tra đánh giá chất lượng từ các cơ quan có thẩm quyền. Thậm chí nhà mạng phải giám sát và kiểm tra mã nguồn, hệ điều hành để đảm bảo tuyệt đối vấn đề an toàn thông tin cho người sử dụng.
Một chuyên gia viễn thông tại TP.HCM cho rằng vấn đề an ninh thông tin mạng cần phải được xem xét nghiêm túc dưới sự chỉ đạo của Chính phủ. Bởi bản thân mỗi nhà mạng chỉ lo hoạt động kinh doanh và đôi khi giá cả lại quyết định việc chọn nhà cung cấp mà không nghĩ đến các vấn đề xa hơn.
Đài Loan cấm, Mỹ, Ấn Độ ngăn chặn

Tờ Taipei Times cuối tháng trước đưa tin Cơ quan quản lý viễn thông Đài Loan (NCC) áp đặt lệnh cấm các nhà cung cấp mạng viễn thông đảo này sử dụng các thiết bị mạng cốt lõi do Tập đoàn viễn thông Trung Quốc Huawei cung cấp do có nhiều lo ngại về an ninh thông tin. Nhiều công ty viễn thông nổi tiếng của Đài Loan như Asia Pacific Telecom (APT), Vibo, Taiwan Mobile và Far EasTone được cho là đã mua các thiết bị từ Huawei. Theo Taipei Times, một số thiết bị viễn thông của Huawei đang bị hải quan Đài Loan tạm giữ để điều tra. Một phát ngôn viên của NCC khẳng định bất cứ nhà cung cấp dịch vụ viễn thông nào của Đài Loan muốn sử dụng các thiết bị mạng cốt lõi nhập từ các nhà cung cấp Trung Quốc đều phải được sự chấp thuận của cơ quan này và Cục Điều tra Đài Loan.
Không chỉ tại Đài Loan, Huawei cũng bị kiểm soát chặt chẽ tại Mỹ. Hồi tháng 2, tập đoàn này phải ngưng thỏa thuận trị giá 2 triệu USD mua lại Công ty công nghệ máy chủ 3Leaf. Ủy ban theo dõi đầu tư nước ngoài của Mỹ đã ngăn cản thỏa thuận trên sau khi đánh giá về những rủi ro an ninh có thể xảy ra. Tháng 8 năm ngoái, 8 nghị sĩ thuộc Ủy ban Tình báo Thượng viện Mỹ cũng gửi thư cho chính phủ phản đối việc Huawei nhận hợp đồng cung cấp thiết bị mạng trị giá hàng tỉ USD cho nhà mạng lớn thứ ba của Mỹ là Sprint Nextel.
Theo tờ The Wall Street Journal, Sprint Nextel đã phải loại trừ cả Huawei lẫn một nhà cung cấp thiết bị viễn thông khác của Trung Quốc là ZTE khỏi dự án nâng cấp trị giá khoảng 8,5 tỉ USD. Một số quan chức quân sự Mỹ cho rằng quân đội Trung Quốc có thể sử dụng các thiết bị của Huawei hoặc ZTE để phá vỡ và đánh chặn thông tin liên lạc của nước này. The Wall Street Journal dẫn một tuyên bố của Lầu Năm Góc nêu rõ: “Bộ Quốc phòng rất quan ngại về năng lực mạng đang trỗi dậy của Trung Quốc hoặc bất cứ mối đe dọa tiềm tàng nào”.
Ấn Độ cũng có những quan ngại tương tự đối với Huawei. Theo tờ Financial Times, từ năm ngoái, chính quyền New Delhi đã ngăn chặn việc mua sắm các thiết bị viễn thông từ Huawei cũng như các nhà cung cấp Trung Quốc khác vì lý do an ninh quốc gia. Cũng trong năm ngoái, Úc chính thức bày tỏ lo ngại về rủi ro an ninh đối với các thiết bị viễn thông do Huawei cung cấp. Trang tin TelecomsEurope dẫn lời các chuyên gia an ninh cảnh báo việc triển khai các thiết bị viễn thông của Trung Quốc có thể dẫn đến nguy cơ mạng lưới thông tin quốc gia bị xâm nhập.
Ngô Minh Trí – Thủy Lưu

—————————
Phát triển quá “thần kỳ”

Một trong những lý do khiến nhiều nước lo ngại Huawei chính là việc tập đoàn này đã phát triển quá “thần kỳ” trong một thời gian ngắn. Được thành lập vào năm 1987 bởi ông Nhậm Kiến Phi, một cựu sĩ quan Quân Giải phóng nhân dân Trung Quốc với số vốn ban đầu tương đương 4.700 USD (theo tỷ giá thời điểm đó), Huawei nhanh chóng vươn lên trở thành nhà cung cấp thiết bị viễn thông lớn nhất nước và lớn thứ hai thế giới vào năm 2009. Tập đoàn này đang đề ra mục tiêu đạt doanh thu 100 tỉ USD trong 10 năm tới.
Theo Reuters, Huawei cùng ZTE đã được nuôi dưỡng từ chính sách quốc gia của Trung Quốc để giành các hợp đồng xây dựng mạng lưới viễn thông của nước này. Từ cơ sở vững chắc trong nước, Huawei lấn sang thị trường các nước đang phát triển ở châu Phi, Mỹ La-tinh và đích cuối cùng là thị trường các nước phát triển. Tập đoàn này được chính quyền Bắc Kinh hỗ trợ mạnh mẽ dưới hình thức các khoản vay ưu đãi trị giá nhiều tỉ USD. Reuters dẫn lời ông Fred Hochberg, Chủ tịch Eximbank Mỹ, cho hay Ngân hàng Phát triển Trung Quốc đã cung cấp cho Huawei một khoản tín dụng lên đến 30 tỉ USD. Nhiều chuyên gia khác cũng cho rằng có nhiều cơ sở để thấy Chính phủ Trung Quốc có quan hệ chặt chẽ với Huawei trong một chiến lược dài hạn.
Ngô Minh Trí

http://phusaonline.free.fr/ThoiSu/2011/34_moi-nguy-moi.htm

1 Phản hồi »

  1. Các Chú đều bịa đặc, thì có nói bao nhiêu nhân dân cũng không nghe, ít xít cho nhiều.

    Phản hồi bởi tran k nguyen — 09/08/2011 @ 6:46 sáng | Trả lời


RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Blog at WordPress.com.

%d bloggers like this: