Hoàngquang’s Blog

12/07/2011

Về ‘Công hàm Phạm Văn Đồng’&Trí thức Việt Nam kiến nghị yêu cầu Bộ Ngoại giao cung cấp thông tin về quan hệ với Trung Quốc

Thạc sỹ Hoàng Việt. Hiệu Minh Blog.

+ Trí thức Việt Nam kiến nghị yêu cầu Bộ Ngoại giao cung cấp thông tin về quan hệ với Trung Quốc -Thụy My
Thư của LS Trần Vũ Hải gửi Bộ Ngoại giao về bản Kiến nghị 2/7/11

Ý KIẾN CỦA CỤ NGUYỄN TRỌNG VĨNH VỀ CUỘC GẶP VỚI BỘ NGOẠI GIAO

& +Yêu cầu chính quyền công khai chuyện nước -Thanh Quang, phóng viên RFA
+Tuyên bố năm 1979 của Bộ Ngoại giao nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam về quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa
***

Về ‘Công hàm Phạm Văn Đồng’

Thạc sỹ Hoàng Việt. Ảnh nguồn VOA.
Hiệu Minh Blog. VOAvừa đăng tải phỏng vấn thạc sỹ Hoàng Việt bàn khá thú vị về công hàm ngoại giao của Thủ tướng Phạm Văn Đồng gửi Chu Ân Lai năm 1958.
Rất nhiều người Việt Nam không biết về công hàm này, trong khi phía Trung Quốc lấy làm “cơ sở” để đòi chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa.
Thạc sỹ Hoàng Việt cho rằng, Trung Quốc đã lợi dụng sơ hở từ ngữ trong công hàm nhằm bóp méo để có lợi cho mình. Hơn nữa, Thủ tướng Phạm Văn Đồng không có quyền lấy đất thuộc chủ quyền của Việt Nam Cộng Hòa lúc đó để trao cho phía Trung Quốc.
Để tranh luận phải trái thì đôi lúc chúng ta cần nhìn thẳng vào sự thật. Nếu sai sót trong ngoại giao thì cần lấy đó làm bài học để tránh hiểm họa trong tương lai. Úp mở có khi làm tổn hại đến quyền lợi quốc gia.
Xin cảm ơn Ts. Hoàng Việt và VOA.

VOA. Trong vài ngày qua, dư luận Việt Nam lại xôn xao bàn tán về bức công hàm ngoại giao mà Thủ tướng Việt Nam Phạm Văn Đồng gởi Thủ tướng Ân Lai năm 1958, sau khi bản tin hôm 28 tháng 6 của Tân Hoa Xã nhắc đến văn thư này như một bằng chứng cho thấy, Việt Nam thừa nhận chủ quyền của Trung Quốc ở Biển Đông. Ban Việt ngữ VOA đã tiếp xúc với Thạc sĩ Hoàng Việt, một thành viên của Quỹ Nghiên Cứu Biển Đông, để tìm hiểu thêm về vấn đề được một số người Việt Nam cho là “làm sôi sục cả tim gan” này.
VOA: Xin cảm ơn giáo sư đã có nhã ý cho chúng tôi thực hiện cuộc phỏng vấn này. Trước hết, xin ông trình bày sơ qua về nội dung của lá thư thường được gọi là “công hàm Phạm Văn Đồng” và cho biết văn kiện ngoại giao này được đưa ra trong bối cảnh như thế nào?
Hoàng Việt: Thưa anh, trước hết là về bối cảnh đưa ra công hàm mà năm 1958 ông Phạm Văn Đồng đã ký. Thứ nhất là lúc đó quan hệ Việt Nam-Trung Quốc vẫn còn như là anh em, vừa là đồng chí vừa là anh em. Năm 1949, Quân Giải phóng Việt Nam còn tấn công và chiếm vùng Trúc Sơn thuộc lãnh thổ của Trung Quốc, sau đó trao trả lại cho Trung Quốc. Thế rồi sang năm 1957 Trung Quốc chiếm lại từ tay một số lực lượng khác đảo Bạch Long Vĩ và sau đó đã trao trả lại cho Việt Nam.
Muốn nói tới câu chuyện đó để làm gì? Đấy là lúc đó hai nước tình cảm rất là chặt chẽ với nhau. Và năm 1958 nó có bối cảnh là gì? Sau sự thất bại của hội nghị La Haye về luật biển năm 1930 để pháp điển hóa luật biển, đến năm 1958 – từ khoảng tháng 2 đến tháng tư, đã có hội nghị đầu tiên về Công ước Luật biển. Và sau đợt họp này đã ra được 4 công ước khác nhau, trong đó có Công ước về lãnh hải và vùng tiếp giáp lãnh hải. Tuy nhiên, hội nghị này thất bại vì đưa ra được giới hạn là lãnh hải tối đa 12 hải lý nhưng không thống nhất được là 12 hải lý. Và mỗi quốc gia lại đưa ra một yêu sách khác nhau: Mỹ yêu cầu lãnh hải là 3 hải lý, có một số nước là cho 4,5 hải lý, còn Trung Quốc đưa ra quan điểm là 12 hải lý, và một số nước Nam Mỹ còn đưa ra quan điểm là 200 hải lý.
Trong bối cảnh đó Trung Quốc đưa ra tuyên bố của ông Chu Ân Lai về lãnh hải và tuyên bố lãnh hải là 12 hải lý, và vận động quốc tế, trong đó có Việt Nam, là nước có mối tình thân thiết với Trung Quốc, để yêu cầu ủng hộ cho tuyên bố 12 hải lý đó. Còn nội dung công hàm thì có một số điều cơ bản như thế này. Thứ nhất, ông nói rằng dựa vào tuyên bố của ông Chu Ân Lai cho rằng lãnh hải Trung Quốc kéo dài 12 hải lý ông Đồng nói rằng chúng tôi tán thành và chấp nhận “hải phận” 12 hải lý. Đấy là bối cảnh và nội dung của công hàm Phạm Văn Đồng. Tuy nhiên sau này người ta diễn giải, đặc biệt là Trung Quốc. Chắc có lẽ ông Đồng cũng không ngờ là sau này công hàm của ông lại được Trung Quốc diễn giải một cách khác nhau rất nhiều như vậy.
VOA: Thưa giáo sư, theo chỗ chúng tôi được biết thì phải mất mấy mươi năm sau Trung Quốc mới lấy lá thư năm 1958 của ông Phạm Văn Đồng làm một luận cứ để hỗ trợ cho đòi hỏi của họ về chủ quyền biển đảo ở Biển Đông. Ông nghĩ sao về việc Trung Quốc giờ đây lại đề cập tới “công hàm Phạm Văn Ðồng” vào thời điểm như thế này?
Hoàng Việt: Chính sách của Trung Quốc là tuyên truyền bằng mọi cách để làm sao bảo vệ được luận cứ của họ ở Biển Đông. Có lẽ là bắt đầu từ cuộc căng thẳng mà hai bên tranh chấp với nhau ở quần đảo Trường Sa năm 1988. Tôi cũng chưa có thời gian để coi lại xem trong các tuyên bố chính thức của Trung Quốc họ đưa ra cái luận điểm, cái công hàm này, từ khi nào. Nhưng trong tất cả các sách sử của Trung Quốc, ngay từ các cuốn sách như cuốn “Ngã quốc Nam hải chư đảo sử liệu hối biên”, vân vân.. một loạt các sách khác của Trung Quốc, khi nào nói về quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa họ cũng đưa cái công hàm này vào trong đó. Và tôi có kiểm tra lại thì ngay cả trong năm 2000 trên website của Bộ Ngoại giao Trung Quốc cũng đưa lên những thông tin như vậy. Có lẽ là trong bối cảnh vừa rồi, trong vụ cắt cáp tàu Bình Minh và tàu Viking, cũng như sự xung đột va chạm căng thẳng lên, Trung Quốc đưa ra những lập luận để bảo vệ yêu sách biển của họ, trong đó có yêu sách đường lưỡi bò.
VOA: Thưa giáo sư, giới nghiên cứu Biển Đông ở Việt Nam nhận định như thế nào về giá trị của “công hàm Phạm Văn Ðồng” trong vụ tranh chấp pháp lý với Trung Quốc về chủ quyền ở Biển Đông? Và giới học thuật quốc tế, không kể tới Trung Quốc và Đài Loan, nghĩ sao về văn kiện này?
Hoàng Việt: Đương nhiên, các học giả quốc tế cũng có hai trường phái. Một trường phái, ví dụ như ông Daniel J. Dzurek cố vấn pháp lý của công ty Crestone Oil, là công ty được Trung Quốc cấp phép để thăm dò khai thác dầu trên bãi Tư Chính năm 1992. Ông ấy cho rằng như vậy có nghĩa là đã được công nhận rồi. Còn một số các học giả khác, như Monique Chemillier- Gendreau thì cho rằng nó chưa thành một cái công nhận.
Còn quan điểm của bên Việt Nam, như tôi là một học giả bình thường, tôi cho như thế này:
Thứ nhất, ông Đồng hay bất cứ ông nào ở miền Bắc lúc đó cũng chẳng có quyền gì mà có thể nói chuyện công nhận hay cho ai cái gì được cả. Bởi vì theo hiệp định Geneve 1954 thì [Việt Nam] đã chia đôi, từ vùng vĩ tuyến 17 trở về bên ngoài là chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa quản lý lãnh thổ đó, từ vĩ tuyến 17 vào trong là chính quyền Việt Nam Cộng hòa quản lý. Và như vậy là rõ ràng là các ông ở miền Bắc, dù có là ông nào đi chăng nữa, tôi nghĩ rằng cũng chẳng có quyền gì mà lại tuyên bố được với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đang thuộc một chính quyền khác quản lý. Thế Việt Nam Cộng hòa có phải là một quốc gia không? Là một quốc gia chứ! Là một quốc gia bình thường và thậm chí năm 1957 Liên hiệp quốc còn định đưa trở thành một thành viên chính thức của Liên hiệp quốc, nhưng mà sau đó có một phiếu phủ quyết của Liên Sô. Nếu không thì [đã được gia nhập Liên hiệp quốc rồi]. Thật ra Việt Nam Cộng hòa vẫn là một quốc gia bình thường. Và rõ ràng là anh không thể tuyên bố hay cho nhận cái gì của cái không phải là của mình, không do mình quản lý. Đó là điều thứ nhất.
Điều thứ hai là công hàm này cũng chỉ nói chung chung là công nhận hải phận 12 hải lý. Cho nên sự diễn giải đấy có lẽ nếu đưa ra tòa án quốc tế thì người ta phải xem trong bối cảnh nào, có đúng là ý chí tự nguyện không, và xem xét như thế thì sẽ thấy rằng có nhiều vấn đề mà như tôi đã trình bày với anh – trong bối cảnh như thế và với những tuyên bố như thế và với hiệp định Geneve chia như thế, thì có khả năng là tuyên bố này chẳng có giá trị pháp lý gì nhiều cả.
VOA: Thưa ông, trong vài ngày qua chúng tôi đọc được trên internet lời kêu gọi của một số người Trung Quốc đòi thực hiện những cuộc biểu tình ở các thành phố lớn ở Trung Quốc, như Bắc Kinh, Thượng Hải, Quảng Châu… vào ngày chủ nhật tới đây để phản đối điều mà họ cho là Việt Nam xâm phạm chủ quyền biển đảo của họ ở Biển Đông. Những người này cũng nói tới chuyện gọi là “lấy lại” đảo Bạch Long Vĩ, nơi mà năm ngoái Chủ tịch nước Việt Nam Nguyễn Minh Triết đã đến thăm và đưa ra một tuyên bố cứng rắn để bày tỏ quyết tâm bảo vệ lãnh thổ. Ông nghĩ sao về diễn tiến này?
Hoàng Việt: Trước nhất, tôi không hiểu vì sao những người đó họ nói như vậy. Bời vì như vậy thì có hai khả năng xảy ra: thứ nhất là họ không hiểu gì vấn đề liên quan tới luật pháp quốc tế cả, và thứ hai là họ có thể bẻ cong nó đi. Bởi vì đảo Bạch Long Vĩ cho đến bây giờ chưa bao giờ có tranh cãi pháp lý chính thức về chủ quyền đảo Bạch Long Vĩ cả. Bạch Long Vĩ là hoàn toàn của Việt Nam. Năm 1957 lúc đó Trung Quốc chiếm nhưng rồi trao lại cho chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Và mới đây nhất là năm 2000 Việt Nam và Trung Quốc đã ký hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ. Hiệp định này trong luật pháp quốc tế được coi là hình thức pháp lý cao nhất, ràng buộc cả hai bên. Và trong hiệp định này qui định rõ có 21 điểm nối ở đường phân định biên giới trên Vịnh Bắc Bộ. Hiệp định đó còn kèm theo hai hải đồ. Hải đồ thứ nhất nói tới đường kéo dài phân chia vịnh bắt đầu từ cửa sông Bắc Luân. Và bản đồ thứ hai vẽ đường phân chia Vịnh Bắc Bộ gồm có 21 điểm, trong đó điểm thứ nhất kéo dài từ cửa sông Bắc Luân và kết thúc ở cửa Vịnh, xuống ngang tới đảo Cồn Cỏ. Và trong đường vẽ đó, đảo Bạch Long Vĩ hoàn toàn nằm ở phía Việt Nam. Và với một cái hiệp định đã được đại diện của hai quốc gia, hai nhà nước cùng ký kết thì tính chất pháp lý của nó là tuyệt đối rồi. Tức là không có gì để tranh cãi nữa.
Chưa bao giờ có tranh cãi pháp lý nào về chủ quyền trên đảo Bạch Long Vĩ cả, và Bạch Long Vĩ hoàn toàn là của Việt Nam rồi. Cho nên người mà họ nói ở đây tôi không hiểu là họ nói với duyên cớ gì, nhưng khẳng định với anh một điều là không có chuyện tranh chấp trên đảo Bạch Long Vĩ.
VOA: Chúng tôi xin thay mặt ban Việt ngữ, các thính giả và độc giả cám ơn giáo sư đã có nhã ý dành thời giờ cho chúng tôi thực hiện cuộc phỏng vấn này.

Viết bài này tôi nhớ giai thoại về người phiên dịch của Lê Duẩn (bạn nào rõ hơn xin comment bên dưới cho bà con tham khảo). Khi diện kiến một quan chóp bu của Trung Quốc tại Bắc Kinh trước cuộc chiến tranh 1979, hai bên có bàn về Hoàng Sa và Trường Sa. Vị quan chức Trung Quốc nói rằng, hai đảo đó có xương của người Hoa cổ nên phần đất đó thuộc về nước họ. Vị phiên dịch của ta đốp lại “Nếu thế thì ở đất Việt Nam chỗ nào chả có đầu lâu người Trung Quốc”.
Giá như lấy người ấy thay ông Hồ Xuân Sơn sang “giao thiệp” với phương Bắc thì đất nước mình không đến nối yếm thế như bây giờ.

http://hieuminh.org/2011/07/08/12220/

________________

Yêu cầu chính quyền công khai chuyện nước
Thanh Quang, phóng viên RFA
2011-07-05
Làn sóng phẫn nộ, phản đối của dân Việt trong và ngoài nước trước hành động xâm lược, đe doạ, xuyên tạc sự thật của Phương Bắc – và cả cách ứng phó mập mờ của giới cầm quyền VN đang ngày càng mạnh mẽ.

AFP photo
Một phụ nữ trong đoàn biểu tình với khẩu hiệu “Chống Trung Quốc” tại Hà Nội hôm 03/07/2011.

Vào những ngày đầu tháng Bảy này, nhiều trang mạng nhật ký phổ biến các Tuyên cáo, Kiến nghị bày tỏ lòng dân quyết tâm bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, lãnh hải VN và yêu cầu nhà nước VN công khai nội dung mà Hà Nội đã thoả thuận với Bắc Kinh – trước đây cũng như bây giờ.
Chẳng hạn như Tuyên Cáo hôm mùng 3 tháng Bảy vừa rồi tại Nhà Hát Lớn Hà Nội phát xuất từ một thanh niên đi biểu tình gửi cho nhà cầm quyền TQ để phản đối hành động xâm phạm nghiêm trọng chủ quyền và sự toàn vẹn lãnh thổ VN trên biển Đông, và khẳng định:
“Chúng tôi, những người dân yêu nước Việt Nam quyết tâm làm tất cả, nguyện đem tất cả sức mình để chống lại các hành động xâm lấn hiếu chiến của nhà cầm quyền Trung Quốc, bảo vệ vững chắc chủ quyền đất, biển, đảo của Việt Nam.
Đất nước Việt Nam muôn năm! Dân tộc Việt Nam muôn năm!”
Ưu tư vận mệnh đất nước

Đặc biệt là những trí thức luôn ưu tư cho vận nước, như cựu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh, các vị GS Hoàng Tuỵ, Nguyễn Huệ Chi, Chu Hảo, Phạm Duy Hiển, những TS Nguyễn Quang A, Ngô Đức Thọ, Nguyễn Xuân Diện, nhà văn Nguyên Ngọc, LS Trần Vũ Hải cùng nhiều nhà tâm huyết khác đã gởi Kiến Nghị yêu cầu Bộ Ngoại giao VN cung cấp thông tin liên quan thực chất của mối quan hệ giữa VN với TQ, nhất là nội dung thoả thuận Việt-Trung “không thấy đăng trên báo chí của VN”, kể cả cuộc gặp gỡ mới đây nhất giữa Thứ trưởng Ngoại giao VN Hồ Xuân Sơn và các quan chức tương nhiệm Bắc Kinh. Kiến nghị Bộ Ngoại giao VN như sau:
1) Yêu cầu ông Hồ Xuân Sơn cho biết thông tin do Tân Hoa Xã đưa ra, đó là “Cả hai nước đều phản đối những thế lực bên ngoài can dự vào tranh chấp giữa Trung Quốc và Việt Nam và nguyện sẽ tích cực hướng dẫn công luận và ngăn ngừa những lời bình luận hoặc hành động làm tổn hại tới tình hữu nghị và sự tin cậy giữa nhân dân hai nước” ( theo ông Hồng Lỗi, người phát ngôn Bộ ngoại giao Trung Quốc). Trong trường hợp những thông tin trên của Trung Quốc không chính xác, yêu cầu phía Trung Quốc phải cải chính và xin lỗi.
2) Cho biết quan điểm của Việt Nam về bức thư ngoại giao của Ông Phạm Văn Đồng năm 1958 ?
3) Thông tin chi tiết (toàn văn) thỏa thuận đã đạt được (nếu có) giữa Ông Hồ Xuân Sơn và đại diện Trung Quốc trong buổi gặp đó.

Những Tuyên cáo, Kiến nghị ấy được phổ biến giữa lúc cuộc biểu tình chống TQ xâm lược của người dân VN diễn ra ở Hà Nội – dù luôn không suôn sẻ – và bị ngăn chận gắt gao ở Saigòn cùng một số nơi khác trong nước. Hành động yêu nước của người dân Việt trước hoạ Phương Bắc tiếp tục gặp khó khăn ra sao? Chúng ta hãy nghe blogger
Cánh Cò mô tả qua bài “Giữ Lửa Trong Tim”:
“Lòng tôi đau đớn vô cùng trước thủ đoạn chỉ điểm của một cô gái len lỏi trong đoàn biểu tình để chỉ điểm cho công an bắt những người nhiệt huyết trong đoàn. Tôi lại bật khóc vì xúc động, khi một người trong đoàn biểu tình phát hiện ra một người anh em trong đoàn của mình đã bị “công an nhân dân” âm thầm dí roi điện rồi lén lút bắt đi.
Ngay lập tức, tất cả những người biểu tình tập trung lại bao vây trụ sở công an Tràng Tiền để đòi người. Qua đoạn video clip tôi nghe rất rõ, rất to, rất khí thế tiếng hô vang: “Thả người yêu nước. Thả người yêu nước. Thả người yêu nước… Đả đảo công an bắt người yêu nước, đả đảo, đả đảo…”.
Tiếng hô mỗi lúc một to như sấm dậy, rền vang. Lòng tôi phấn khởi và mừng vui trước sự đoàn kết của anh em mình. Tôi nhìn thấy rất nhiều công an nổi, lẫn công an chìm lúng túng, chưa biết nên xử lí ra sao trước làn sóng đấu tranh của những người biểu tình đang dương cao khẩu hiệu, đả đảo bọn xâm lược Trung Quốc, giờ đây chuyển sang đấu tranh, đả đảo công an bắt bớ người yêu nước.
Vậy là cùng lúc, đoàn biểu tình làm được hai việc: Vừa đấu tranh chống họa xâm lăng Trung Cộng lại vừa đấu tranh giành quyền tự do ngôn luận, quyền được yêu nước với bọn phản động, phản bội tổ quốc khi bắt bớ người yêu nước.”
Ứng xử của chính quyền VN

Qua bài “VN và Philippines”, blogger Nguyễn Hưng Quốc lưu ý rằng trong vấn đề biển Đông, TQ không phải chỉ uy hiếp VN mà còn gây hấn đáng ngại với Philipines, từ việc đe doạ tàu thăm dò MV Venture của Phi ở khu vực bãi Cỏ Rong mà Manila tuyên bố thuộc vùng đặc quyền kinh tế của mình cho tới chuyện Bắc Kinh liên tục gây hấn thô bạo các tàu thăm dò của Philippines trong khu vực.
Nhưng, theo GS Nguyễn Hưng Quốc, Manila đã phản ứng cụ thể và cương quyết chứ “không phải chỉ nói suông. Họ làm thật”, như tung trên các phương tiện truyền thông một cách chi tiết những chính sách và phát biểu mạnh mẽ của giới lãnh đạo Manila, kể cả Tổng thống Benigno Aquino, về hành động đe doạ, ngạo mạn của TQ; “vạch mặt chỉ tên” Hoa Lục xâm phạm lãnh hải Manila; phổ biến những bài đề cập thẳng “Kẻ du côn trong khu vực”, “kẻ đáng sợ, chứ không phải là quốc gia hiền lành”, “sống chung hòa bình” như Bắc Kinh từng “giảng đạo”. Giáo sư Nguyễn Hưng Quốc nhận định:
“Một nước yếu và không trực tiếp đối diện với nguy cơ xâm lược của Trung Quốc như vậy nhưng cách phản ứng của họ rõ ràng là mạnh mẽ, quyết liệt, nhất quán và có tầm chiến lược hơn Việt Nam nhiều. Đó là điều đáng cho chúng ta suy nghĩ.”

Từ trước đến nay, lúc nào Việt Nam cũng tự hào là đi đầu trong các cuộc chống ngoại xâm và các cuộc bành trướng quốc tế: xưa, Việt Nam đi đầu trong việc chống lại đế quốc Mông Cổ đang dẫm nát gần trọn châu Á và một phần châu Âu; sau, Việt Nam đi đầu trong việc chống lại chủ nghĩa thực dân cả cũ lẫn mới.
Còn bây giờ? Đối diện với sự đe dọa trắng trợn từ Trung Quốc, Việt Nam lại chọn một thái độ nhịn nhục gần như bất động. Họ cố lừa dối dư luận trong nước là họ đang âm thầm giải quyết tranh chấp qua con đường đàm phán trực tiếp với Trung Quốc. Nhưng luận điệu ấy không thể dối gạt được ai cả. Người ta không thể ngồi vào bàn đàm phán mà không có một chiến lược rõ ràng và không có một sự hậu thuẫn nào hết, kể cả hậu thuẫn của dân chúng và quốc tế, hoặc ít nhất, trong khu vực. Sự im lặng và bất động của chính quyền Việt Nam, do đó, phải được hiểu như một sự đầu hàng.
Bài tựa đề “Hiểm hoạ TQ” của tác giả Huỳnh Trọng Hiếu được nhiều trang mạng nhật ký phổ biến nêu lên câu hỏi rằng trước thái độ bạo ngược, kẻ cả kiểu côn đồ của TQ, chính quyền VN đã làm gì? Tác giả Huỳnh Trọng Hiếu nhận xét:
“Một mặt, phát ngôn viên Bộ ngoại giao VN lên tiếng phản đối “mạnh mẽ” hành động của Hải quân TQ. Mặt khác, tại trong nước Chính quyền Hà Nội ra sức trấn áp thô bạo các cuộc biểu tình, tuần hành chống TQ của dân chúng VN tại Hà Nội và Sài Gòn.
Các phương tiện truyền thông quốc nội đưa tin về Hồ sơ Biển Đông với tất cả sự dè dặt và thận trọng khiến người dân VN không nhận thức hết được mối nguy hiểm đang đe dọa đến an nguy dân tộc.

Đối diện với sự đe dọa trắng trợn từ Trung Quốc, Việt Nam lại chọn một thái độ nhịn nhục gần như bất động. Họ cố lừa dối dư luận trong nước là họ đang âm thầm giải quyết tranh chấp qua con đường đàm phán trực tiếp với Trung Quốc.
Giáo sư Nguyễn Hưng Quốc

Các nước có tranh chấp trong khu vực kêu gọi Hoa Kỳ tham gia đàm phán đa phương giải quyết hồ sơ biển đông. Philippins tập trận chung với HK và vận động Thế giới lên tiếng ủng hộ, chủ quyền biển đảo của Phi.
Ngược lại, VN và TQ đi đến thỏa thuận giải quyết tranh chấp bằng mối quan hệ song phương.Thứ trưởng bộ quốc phòng Nguyễn Chí Vịnh từng lên tiếng từ chối việc tập trận chung với HK rằng VN chưa có ý định tham gia tập trận quốc tế.
Chúng ta nhận thấy hành động của chính quyền Hà Nội đang có sự mâu thuẫn, đối lập khó hiểu. Họ coi trọng mối quan hệ với Đảng CS TQ hơn cả quyền lợi và an ninh quốc gia… Qua những vụ việc trên người ta không ai biết điều gì đang thực sự xảy ra trong mối quan hệ “đồng chí, anh em “ giữa hai đảng CS, và quyền lợi quốc gia dân tộc VN đang ở vị trí nào trong mối quan hệ đó, tất cả là một sự mờ ám.”
“Ai xúi giục” yêu nước?

Có lẽ tình trạng như vậy là một lý do để công luận đồng cảm với nhận xét của blogger Phan Nguyễn Việt Đăng từ Saigòn qua bài tựa đề nghi vấn “ Im lặng mặc cả bằng tổ quốc?” với phân tích:
“Sống trên một đất nước, mà việc cầm lá cờ của tổ quốc mình, tung hô chủ quyền đất nước mình, có thể bị công an, mật vụ bắt giữ, thẩm tra, sách nhiễu… không khác gì sống trong vùng tô giới của người Việt, thuộc quyền kiểm soát của Trung Quốc, quả là một thách thức của lòng yêu nước.

Điều nực cười, là một khi các viên chức chính phủ, các nhà lãnh đạo vẫn lên truyền hình, lên mặt báo… kêu gọi phải yêu nước, phải biết tỏ thái độ nghĩa vụ của một công dân nhưng khi những người yêu nước bị bắt vì biểu tình chống xâm lược, công an lại thẩm vấn và luôn hỏi một câu “ai xúi giục”.
Ai sẽ còn dám yêu nước nữa khi thái độ của Đảng Cộng sản Việt Nam lại hai mặt đến kinh sợ như vậy? Và như vậy, có phải hiện trạng yêu nước tức là chống lại Đảng cộng sản Việt Nam?”
Nhắc đến công an thẩm vấn người yêu nước và luôn hỏi “ai xúi giục?” khiến thầy Nguyễn Thượng Long nêu lên câu hỏi “Sao lại đối xử với nhân dân như thế”, được nhiều trang blog, kể cả Dân Làm Báo, phổ biến:
“Việc cơ quan công an đã ngăn chặn thành công các kế hoạch xuống đường một cách ôn hoà của SV – HS ở Sài Gòn, Vinh, Đà Nẵng và nhiều thành phố khác trong những chủ nhật vừa qua và việc họ chủ động để có cuộc xuống đường ở quy mô kiểm soát được ở Hà Nội 4 chủ nhật vừa qua đã nói lên những gì?
Trước hết, không biết Công An làm thế thì hình ảnh họ sẽ thế nào trong con mắt của nhân dân Việt Nam? Họ đang tự giới thiệu họ đứng về phía nào giữa ranh giới Việt Nam và Trung Quốc? Với tình trạng như thế, lời dậy “Công An Nhân Dân vì nước quên thân vì dân phục vụ…” hỏi sẽ còn ý nghĩa gì?
Sau là… không chỉ ngăn cản, khống chế, xô đẩy người tuần hành mà còn cả những cú song phi, những cú Kung Fu rất hoàn hảo, những cú bẻ cổ, vặn sườn SV – HS ngay trên đường phố Sài Gòn. Hành xử như thế với những người dân biểu lộ lòng yêu nước một cách ôn hoà, họ đã chính thức phủ nhận vai trò của nhân dân, chính thức khai trừ nhân dân ra khỏi các yếu tố được gọi là tiềm năng, là nguồn lực để bảo vệ đất nước. Họ đã quên câu dân là “Biển Lớn”, dân có sức mạnh nâng thuyền và đẩy thuyền đi.”

Điều nực cười, là một khi các viên chức chính phủ, các nhà lãnh đạo vẫn lên truyền hình, lên mặt báo… kêu gọi phải yêu nước…công an lại thẩm vấn và luôn hỏi một câu “ai xúi giục”.
Blogger Phan Nguyễn Việt Đăng

Nhắc đến mối quan hệ Việt-Trung đang trong tình trạng “môi hở răng lạnh” dù hai bên, qua chuyến đi sứ sang Tàu mới đây của Thứ trưởng Ngoại giao Hồ Xuân Sơn, vẫn cố “nạm vàng” cho “16 chữ ” và “4 tốt”, blogger Hiệu Minh bỗng liên tưởng tới “Đạo Khổng và tình hữu nghị”, với nhận xét rằng “ Trong các bài giảng của Khổng Tử, có một Qui tắc vàng nổi tiếng. Tử Cống hỏi: “Có một chữ nào có thể dẫn dắt hành xử trọn đời không?”. Thầy đáp: “Có lẽ là chữ Thứ (恕) chăng? Cái gì mà mình không muốn thì đừng làm cho người khác?”.
Về tình hữu nghị thời nay, “ Xem lại tranh chấp biên giới, hải đảo, đánh bắt hải sản trên biển Đông thì hình như đạo Nho không được đám con cháu 60-70 đời của Khổng Tử nhớ cho lắm. Lẽ ra, bản thân không muốn thuyền đánh cá bị đâm, họ lại thích thú làm thuyền người khác chìm giữa biển khơi. Vì thế, những bài giảng về Luận Ngữ hay chữ Thứ (恕) dù có hay đến đâu cũng không thể xây dựng và củng cố cho tình hữu nghị”.
http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/hn-is-asked-tell-truth-tq-07052011173433.html

Tuyên bố năm 1979 của Bộ Ngoại giao nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam về quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa

Trích và lược dịch từ nguồn:
Paracels Forum – The Discussion Proceeds For Peace
Vào ngày 30/7/1979, Trung Quốc đã công khai công bố tại Bắc Kinh một số tài liệu với ý định để minh chứng cho việc tuyên bố chủ quyền của họ trên quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa. Về vấn đề này, Bộ Ngoại giao nước Cộng hoà Xã hội Chủ Nghĩa Việt Nam tuyên bố:
1. Quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa là một phần của lãnh thổ Việt Nam. Các Sứ quân Việt Nam đã là những người đầu tiên trong lịch sử đến chiếm đóng, tổ chức, kiểm soát và khai phá các quần đảo này trong chức năng của họ như là các lãnh chúa. Quyền sở hữu này có hiệu quả và phù hợp với luật pháp quốc tế. Chúng tôi có đầy đủ các tài liệu lịch sử và luật pháp để chứng minh chủ quyền tuyệt đối trên hai quần đảo này.
2. Sự diễn giải của Trung quốc về văn bản ngày 14 tháng 9 năm 1958 của Thủ tướng nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà như một sự công nhận chủ quyền của phía Trung quốc trên các quần đảo là một sự xuyên tạc trắng trợn khi tinh thần và ý nghĩa của bản văn chỉ có ý định công nhận giới hạn 12 hải lý của lãnh hải Trung Quốc.
3. Năm 1965, Hoa Kỳ gia tăng cuộc chiến tranh xâm lược tại miền Nam Việt Nam và phát động một cuộc chiến hủy diệt bằng không quân và hải quân chống lại miền Bắc Việt Nam. Họ đã tuyên bố rằng khu vực chiến trường của quân đội Hoa Kỳ bao gồm Việt Nam và vùng lân cận của khu vực khoảng 100 hải lý tính từ bờ biển Việt Nam. Vào lúc đó, trong cuộc đấu tranh chống Mỹ cứu nước, nhân dân Việt Nam đã phải chiến đấu trong mọi tình huống để bảo vệ chủ quyền đất nước. Thêm nữa, Việt Nam và Trung Quốc lúc đó vẫn duy trì quan hệ hữu nghị. Bản tuyên bố ngày 9/5/1965 của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã đưa ra lý do để tồn tại chỉ với quá trình lịch sử này.
4. Từ năm 1972, theo sau Bản Thông cáo chung Thượng Hải, những kẻ cai trị Trung Quốc đã âm mưu với bọn hiếu chiến Mỹ để phản bội nhân dân Việt Nam, gây ra biết bao nhiêu trở ngại cho cuộc chiến tranh tự vệ của Việt Nam. Ðầu tháng Giêng 1974, chỉ trước khi nhân dân Việt Nam toàn thắng vào mùa Xuân 1975, Trung Quốc đã chiếm đóng quần đảo Hoàng Sa bằng biện pháp quân sự, lúc đó vẫn dưới sự quản lý của chính quyền Sài Gòn.
Việt Nam Cộng hòa lúc đó đã tuyên bố rõ ràng cương vị của họ như sau đây:
– Chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ là những câu hỏi thiêng liêng cho tất cả mọi quốc gia.
– Những khó khăn về biên giới lãnh thổ, thường tồn tại trong các cuộc tranh chấp giữa các nước láng giềng do lịch sử để lại, có thể vô cùng rắc rối và nên được nghiên cứu kỹ càng.
– Các quốc gia quan tâm nên cứu xét vấn đề này trong tinh thần công bằng, tôn trọng lẫn nhau, hòa nhã, láng giềng tốt và giải quyết vấn đề bằng sự thương lượng.
5. Tại các cuộc thảo luận tổ chức vào ngày 24/9/1975 với phái đoàn Ðảng và Nhà nước Việt Nam trong chuyến thăm viếng Trung Quốc, Phó Thủ tướng Ðặng Tiểu Bình đã thú nhận rằng có sự tranh chấp giữa hai bên về vấn đề quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và hai bên sau đó nên bàn thảo với nhau để giải quyết vấn đề
6. Chiếm đóng quần đảo Hoàng Sa một cách bất hợp pháp bằng quân sự, Trung Quốc đã xâm phạm vào sự toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam và dẫm chân lên làm cản trở tinh thần của Hiến chương Liên Hiệp Quốc kêu gọi giải quyết tất cả các tranh chấp bằng thương lượng hoà bình. Sau khi phát động một cuộc chiến xâm lược Việt Nam với tầm vóc to lớn, phía Trung Quốc lại nêu ra vấn đề quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, trong khi tạo ra một tình trạng càng ngày càng căng thẳng dọc theo biên giới Việt Nam và từ chối việc thảo luận những giải pháp cấp thiết để bảo đảm hoà bình và ổn định trong khu vực biên giới giữa hai nước. Ðiều rõ ràng là những kẻ cai trị Trung Quốc vẫn không từ bỏ ý định tấn công Việt Nam một lần nữa. Hành động của họ là một sự đe doạ nghiêm trọng cho hoà bình và ổn định trong vùng Ðông Nam Á và làm lộ rõ hơn tham vọng bành trướng, với bản chất bá quyền hiếu chiến của một nước lớn, bộ mặt xảo trá lật lọng và phản bội của họ.
Hà Nội, ngày 7 tháng 8 năm 1979
Nguồn: anhbasam.wordpress.com
http://boxitvn.blogspot.com/2011/07/tuyen-bo-nam-1979-cua-bo-ngoai-giao.html#more

Advertisements

Gửi bình luận »

Không có bình luận

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: