Hoàngquang’s Blog

12/07/2011

Trung Quốc Giương Cờ và Hạ Cánh

Filed under: HOÀNGSA -TRƯỜNG SA VIỆT NAM,Trung Quốc — hoangquang @ 3:34 chiều
Tags: ,

Vũ Hoàng & Nguyễn Xuân Nghĩa – RFA

& +NATO Ô Hô và Đông Phương Hồng
+On Target
+Tam giác Tây-Ta-Tầu

***

Trung Quốc Giương Cờ và Hạ Cánh

Lãnh đạo Bắc Kinh thấy những gì ở bên trong?

AFP Những sự kiện quan trọng trong lịch sử của Đảng Cộng sản Trung Quốc từ năm 1921. Trung Quốc kỷ niệm 90 năm ngày thành lập đảng Cộng sản hôm 01/7/2011.

Nhân dịp kỷ niệm 90 năm ngày thành lập đảng Cộng sản Trung Quốc hôm mùng một vừa qua, Chủ tịch Hồ Cẩm Đào phát biểu rằng đảng phải đảm bảo ổn định xã hội nếu không thì mọi thành quả đạt được đều tiêu vong.

Ông nói thêm rằng trong tiến trình phát triển hiện nay, thể nào cũng có vấn đề và xung đột. Trong khi ấy, người ta chú ý đến sự kiện là tư tưởng cực tả thời Mao Trạch Đông đã tái xuất hiện và đang trở thành một chủ nghĩa dân tộc không chỉ nhắm vào Tây phương mà còn có chiều hướng chỉ đạo phương thức sinh hoạt và suy tư của người dân.

Lãnh đạo Trung Quốc đang thấy những gì ở bên trong, 90 năm sau khi đảng Cộng sản ra đời, 60 năm sau khi thành lập Cộng hoà Nhân dân Trung Quốc và 30 năm sau khi tiến hành cải cách kinh tế? Diễn đàn Kinh tế nêu câu hỏi cho nhà tư vấn kinh tế Nguyễn Xuân Nghĩa qua cuộc trao đổi do Vũ Hoàng thực hiện sau đây.

Lãnh đạo TQ âu lo?

Vũ Hoàng: Đài Á Châu Tự Do xin kính chào ông Nguyễn Xuân Nghĩa. Thưa ông, mùng một Tháng Bảy vừa rồi, Trung Quốc long trọng tổ chức lễ kỷ niệm 90 năm ngày thành lập đảng Cộng Sản Trung Hoa. Trong dịp này người ta lại chú ý đến lời phát biểu đầy ưu lo của Chủ tịch Hồ Cẩm Đào, người lãnh đạo cả đảng, nhà nước và quân đội Trung Quốc.

Trong khi ấy, thế giới cũng nói đến sự tái xuất hiện của phong trào “Văn hóa đỏ” – nhất là ở thành phố Trùng Khánh – khiến người ta nhớ đến cuộc “Cách mạng Văn hóa” xảy ra đúng 45 năm trước. Thưa ông, câu hỏi mà nhiều người nêu lên là “chuyện gì đang xảy ra tại Trung Quốc”?

Lãnh đạo đảng Cộng sản xứ này thấy những gì mà có vẻ e ngại và dường như còn đang huy động quần chúng vào những chiến dịch tuyên truyền đã từng thấy ngày xưa?

Nguyễn Xuân Nghĩa: – Tôi thiển nghĩ rằng xứ này đang ở vào một khúc quanh khá ngặt nghèo về kinh tế xã hội, lại đang ở giữa giai đoạn chuyển giao quyền lực qua một đại hội đảng, và đảng Cộng sản Trung Quốc thấy ra những bất ổn về chính trị nên mới tìm về phản ứng cách mạng năm xưa. Đây là điều rất đáng lo ngại cho người dân ở bên trong và cho các lân bang bên ngoài.

Vũ Hoàng: Chúng ta không quên rằng 30 năm sau khi ông Đặng Tiểu Bình tiến hành cải cách, Trung Quốc đã vọt lên thành một cường quốc kinh tế và năm nay vừa qua mặt Nhật Bản. Thế thì vì sao lãnh đạo của họ lại có vẻ ưu lo như vậy?

Nguyễn Xuân Nghĩa: – Trước hết, có lẽ ta nên nhìn vào bối cảnh chung của các quốc gia khi khởi sự công nghiệp hóa, với quy luật phổ biến là “đà gia tốc của khoa học kỹ thuật” khiến các nước đi sau có thể tiến nhanh hơn vì tiếp nhận kinh nghiệm và kiến thức của các nước đi trước.

– Chẳng hạn như Tây phương mất chừng 200 năm để công nghiệp hóa; sau đó, Nhật Bản mất 125 năm; đến các nước tân hưng Đông Á thì chỉ mất có 50 năm. Cũng trong giai đoạn khởi phát đó, nước Anh mất gần 60 năm để nhân đôi lợi tức bình quân một đầu người, sau đó Hoa Kỳ mất chừng 47 năm, Nhật Bản mất có 34 năm và Nam Hàn mất 11 năm. Trung Quốc cũng thế, từ khi chuyển hướng kinh tế vào năm 1979, xứ này đã thấy lợi tức nhân đôi trong vòng chưa đầy 10 năm đầu tiên.

– Với một dân số cực lớn là hơn một tỷ 300 triệu người, tổng sản lượng tăng vọt sau 150 năm lụn bại của xứ này mới gây ấn tượng về một “sự kỳ diệu kinh tế của Trung Quốc”, hoặc về thành tích của đảng Cộng sản Trung Quốc. Đó là nói về số lượng và thời khoảng trong giai đoạn “cất cánh” hay khởi phát của một quốc gia.

– Nhưng 30 năm sau Đặng Tiểu Bình, chiến lược kinh tế đã đi hết sự vận hành dễ dàng ban đầu và đảng cần có những chọn lựa khác trong khi lại gặp nhiều mâu thuẫn bên trong do chính hệ thống kinh tế chính trị gây ra. Cho nên, kinh tế có thể hạ cánh thiếu an toàn và có khi chính trị sẽ lâm khủng hoảng. Nỗi bất an đó mới khiến một số xu hướng trong đảng phát huy lại tinh thần cách mạng thời Mao Trạch Đông để bảo vệ quyền lực đảng. Chủ tịch Hồ Cẩm Đào có nói đến yêu cầu chiến lược là ổn định thì cũng vì sự ưu lo ấy.
Mâu thuẫn chính trị-kinh tế

Vũ Hoàng: Ông vừa nói rằng chiến lược kinh tế của Đặng Tiểu Bình đã đi hết sự vận hành dễ dãi ban đầu và xứ này gặp nhiều mâu thuẫn do hệ thống kinh tế chính trị gây ra. Xin ông giải thích cho thính giả hiểu rõ hơn sự thể ấy vì dường như Việt Nam cũng áp dụng mô thức cải cách kinh tế của Trung Quốc và đang gặp một số vấn đề tương tự.

Cuộc triển lãm lịch sử ĐCS TQ ở tỉnh Chiết Giang hôm 01 tháng 7, 2011 tại Thượng Hải, Trung Quốc, nhân dịp ĐCS TQ kỷ niệm 90 năm thành lập. AFP photo

Nguyễn Xuân Nghĩa: – Sau giai đoạn cách mạng hoang tưởng và duy ý chí của Mao khiến xứ này còn lụn bại hơn trước, Đặng Tiểu Bình đã tiến hành cải cách qua việc giải phóng khả năng sản xuất của khu vực tư nhân và áp dụng quy luật tự do của thị trường một cách có chọn lọc. Nhờ vậy mà sản lượng kinh tế tăng vọt nếu ta so sánh với sự suy sụp thảm khốc của “Bước Nhảy Vọt Vĩ Đại” thời Mao. Nhưng chỉ 10 năm sau thôi, quy luật thị trường cũng gây ra vấn đề về kinh tế, trước tiên là lạm phát. Và hệ thống kiểm soát chính trị trong nền kinh tế tự do hơn lại sản sinh ra thuộc tính của mọi chế độ độc tài, là nạn tham nhũng, Do đó, năm 1989, xứ này mới bị khủng hoảng, kết thúc bằng vụ thảm sát Thiên an môn vào tháng Sáu năm đó.

– Năm 1992, sau khi tuần thú các tỉnh miền Nam, Đặng Tiểu Bình tiếp tục cho phát triển khu vực kinh tế tư doanh vì đấy là động lực cần thiết cho phát triển, nhưng lại củng cố quyền lực đảng cho chặt chẽ hơn. Khi ấy, thiên hạ mới nói đến phép lạ kinh tế Trung Quốc mà ít chú ý đến phí tổn xã hội của cái phép lạ này. Sau khi họ Đặng tạ thế năm 1997, thế hệ thứ ba lên lãnh đạo là Giang Trạch Dân, Lý Bằng và Chu Dung Cơ tiếp tục chiến lược đó và lấy xuất khẩu làm đầu máy tăng trưởng nên mới có tốc độ tăng trưởng gọi là rồng cọp, nhất là từ khi xứ này gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới WTO vào năm 2001.

– Điều sáng tạo của Giang Trạch Dân mà Việt Nam cũng đang kín đáo và dè dặt áp dụng là kết nạp tư doanh vào hệ thống chính trị, cụ thể là cho doanh gia được gia nhập đảng để đảng có thể kiểm soát được doanh trường. Nhưng kết quả lại là sự cấu kết giữa các đảng viên và đại gia kinh doanh để chia chác đặc quyền và đặc lợi. Chính là sự cấu kết này mới cản trở nhiều nỗ lực cải cách của thế hệ lãnh đạo thứ tư là Hồ Cẩm Đào và Ôn Gia Bảo ngày nay.

Nhưng kết quả lại là sự cấu kết giữa các đảng viên và đại gia kinh doanh để chia chác đặc quyền và đặc lợi. Chính là sự cấu kết này mới cản trở nhiều nỗ lực cải cách của thế hệ lãnh đạo thứ tư là Hồ Cẩm Đào và Ôn Gia Bảo ngày nay.
Ô. Nguyễn Xuân Nghĩa

Vũ Hoàng: Nhưng thưa ông vì sao thế hệ thứ tư lại phải tiến hành cải cách và họ bị cản trở như thế nào?

Nguyễn Xuân Nghĩa: – Nhìn từ cơ cấu địa dư hình thể Trung Quốc, ta thấy xứ này có ba khu vực khác biệt theo lối ta gọi là “nhất quốc tam kinh”, một quốc gia có ba nền kinh tế mà diễn đàn của chúng ta nhiều lần đề cập tới từ mấy năm qua. Thế hệ Giang Trạch Dân có thấy ra vấn đề là tốc độ tăng trưởng không đều giữa các khu vực nhưng vẫn ưu tiên phát triển khu vực trù phú nhất ờ vùng duyên hải, qua chiến lược xuất khẩu.

– Thế hệ Hồ Cẩm Đào càng thấy ra vấn đề chính trị của lối phát triển đầy bất công xã hội nên muốn tập trung quyền lực để trung ương tái phân phối lợi tức cho các tỉnh nghèo và cho các thành phần cùng khốn ở thôn quê hầu tránh nguy cơ động loạn xã hội. Nhưng họ bị chính hệ thống cấu kết giữa các thế lực kinh tế và đảng bộ địa phương cản trở.
Tình trạng cấu kết ấy thực tế khai thác đặc lợi cho một thiểu số chừng 70 triệu đảng viên và hai ba chục triệu đại gia kinh tế, tổng cộng là trăm triệu người so với dân số một tỷ ba, và họ cưỡng chống những chủ trương cải cách bất lợi cho họ. Hệ thống kinh tế chính trị này thực tế là một thế lực phản tiến hóa rất mạnh.

Vũ Hoàng: Một trọng điểm của chiến lược Đặng Tiểu Bình được Giang Trạch dân tiếp tục chính là lấy xuất khẩu làm đầu máy. Thưa ông, tình hình bây giờ có khác hay không và thế hệ Hồ Cẩm Đào hay thế hệ nối tiếp sau Đại hội 18 vào năm tới có chọn lựa nào khác chăng?

Nguyễn Xuân Nghĩa: – Sau khi lên lãnh đạo từ năm 2003, thế hệ Hồ Cẩm Đào đã muốn thay đổi và tìm một lực đẩy khác hơn là xuất khẩu hầu tránh được sự khác biệt lợi tức quá lớn giữa các khu vực và thành phần kinh tế. Nhưng họ làm không nổi vì sức kéo hay sự cưỡng chống của các đảng bộ kiếm lời nhờ chiến lược này. Thực tế thì ngày nay, họ vẫn đang phải áp dụng chiến lược xuất khẩu trong khi thế giới đã đổi khác.

– Đổi khác vì thế giới ngày nay hết còn các đầu máy nhập khẩu hàng hóa Trung Quốc như xưa. Cụ thể là ba khối kinh tế giàu mạnh nhất là Hoa Kỳ, Âu Châu và Nhật Bản đang phải giảm chi và tiêu thụ ít hơn nên xuất khẩu không còn tạo ra tác dụng đòn bẩy cho kinh tế Trung Quốc, cho nên thị trường tiêu thụ nội địa của xứ này phải giữ vai trò thay thế, mà thật ra vẫn chưa đủ lực.

– Người ta cứ nói đến sức mạnh rồng cọp của kinh tế Trung Quốc chứ lợi tức một người dân xứ này chỉ bằng 8% lợi tức bình quân của dân Mỹ thôi. Vì vậy, trong những năm tới, với sức mua nội địa chưa đủ mạnh để bù đắp thiếu hụt về xuất cảng, kinh tế Trung Quốc sẽ có đà tăng trưởng chậm hơn trung bình mấy chục năm qua.

– Nếu tăng trưởng dưới 8% một năm là bộ máy sản xuất không hấp thụ nổi 14 triệu thanh niên đến tuổi gia nhập thị trường lao động và thất nghiệp trong giới trẻ sẽ là yếu tố khủng hoảng khác, ngoài sự bất mãn phổ biến của dân nghèo về đời sống của họ và về sự lạm dụng của hệ thống kinh tế chính trị, của các tay tư bản đỏ được nhiều đảng viên bảo trợ phía sau. Chính là sự bất mãn phổ biến này mới khiến đảng nói đến việc chuyển hướng từ lượng sang phẩm trong Kế hoạch Năm năm thứ 12, từ 2011 đến 2016. Nếu không thì xứ này có thể bị loạn và càng dễ bị loạn nếu kinh tế hạ cánh không an toàn trong thời gian tới đây.

Củng cố quyền lực

Vũ Hoàng: Phải chăng vì vậy mà đảng Cộng sản Trung Quốc mới đang củng cố quyền lực và lại tung ra khẩu hiệu cách mạng đỏ như dưới thời Mao Trạch Đông?

Cảnh sát tuần tra đường phố đã yên ắng hôm 15/6/2011, sau nhiều ngày bạo loạn ở Tăng Thành – TQ. AFP photo

Nguyễn Xuân Nghĩa: -Tôi có cảm tưởng là lãnh đạo Trung Quốc đang thiếu thống nhất về các ưu tiên và sau Đại hội năm tới thì Thường vụ Bộ Chính trị có thay đổi lớn với bảy ủy viên mới bên cạnh hai nhân vật có thể lãnh đạo là Tập Cận Bình và Lý Khắc Cường. Trong hoàn cảnh bất nhất của lãnh đạo trước các mục tiêu mâu thuẫn, lại gặp bất ổn về kinh tế và tranh giành quyền lực trên thượng tầng, Trung Quốc có thể gặp rủi ro lớn.

– Chính là trong không khí ấy ta mới thấy xuất hiện xu hướng mị dân lối cực tả là phát huy sức mạnh của quần chúng bằng khẩu hiệu cách mạng như Mao Trạch Đông. Hiện tượng Trùng Khánh giương cờ đỏ là một biểu hiện rõ rệt nhất. Lồng trong đó là tư tưởng ái quốc theo kiểu chủ nghĩa Đại Hán chống mối nguy lũng đoạn của Tây phương hay sự cấu kết của các đảng viên tham ô biến chất với doanh nghiệp nước ngoài. Rồi còn phản ứng bành trướng của nhiều tướng lãnh, vốn cũng có tiếng nói trong hai cơ chế lãnh đạo quân đội là Quân ủy Trung ương của đảng và của nhà nước. Họ đang đẩy những kẻ có tham vọng lên lãnh đạo vào chủ trương bá quyền của nước lớn để tìm thêm phương tiện cho quân đội.

– Nếu nhìn về dài thì khi Đặng Tiểu Bình chuẩn bị rút lui vì đã cao tuổi sau năm 1992, ông ta vẫn duy trì chiến lược mở cửa về kinh tế nhưng tuyệt đối kiểm soát chính trị và dựa vào quân đội để chuẩn bị việc chuyển quyền êm thấm cho thế hệ Giang Trạch Dân mà còn chọn người sẽ kế nhiệm Giang Trạch Dân là Hồ Cẩm Đào.

Trong hoàn cảnh bất nhất của lãnh đạo trước các mục tiêu mâu thuẫn, lại gặp bất ổn về kinh tế và tranh giành quyền lực trên thượng tầng, Trung Quốc có thể gặp rủi ro lớn.
Ô. Nguyễn Xuân Nghĩa

– Hơn hai chục năm sau, khi Hồ Cẩm Đào chuẩn bị rút lui, kinh tế bắt đầu có triệu chứng suy trầm với lạm phát và rủi ro bể bóng đầu tư, mà ông ta lại không có uy tín hay ảnh hưởng lớn mạnh như Đặng Tiểu Bình và thực tế thì vẫn phải nương vào các tướng lãnh mà không chọn được người sẽ kế vị sau này.

– Kết cuộc thì nếu không thay đổi, đảng sẽ bị khủng hoảng, mà thay đổi không khéo thì càng dễ bị khủng hoảng! Chính là sự phân vân ấy mới là cơ hội tái xuất hiện của các phản ứng cực đoan nhất, khiến nhà nước sẽ kiểm soát kinh tế chặt chẽ hơn và đảng sẽ lấy ý thức hệ cách mạng làm kim chỉ nam, một kịch bản có rất nhiều rủi ro cho các lân bang yếu kém như Việt Nam.

Vũ Hoàng: Xin cảm tạ ông Nguyễn Xuân Nghĩa đã giành cho cuộc phỏng vấn này.

Posted by Nguyễn Xuân Nghĩa at 21:29
http://www.dainamax.org/2011/07/trung-quoc-giuong-co-va-ha-canh.html

NATO Ô Hô và Đông Phương Hồng

2011-07-07
Nguyễn Xuân Nghĩa – Việt Tribune San Jose Ngày 110707
Từ Minh ước NATO đến Trung Quốc….

NATO – cờ bay như phướn

Tháng trước là lần đầu tiên từ hai ngàn năm nay mà thế giới cùng ngó vào Hy Lạp!

Khác với thời Thượng Cổ, khi Hy Lạp còn là Đế quốc chế ngự cả “thế giới văn minh” tập trung quanh Địa trung hải, ngày nay, Hy Lạp là một con bệnh Âu Châu. Tháng trước, cả thế giới chú ý đến xứ này khi Chính quyền của Thủ tướng George Papandreou xoay trở với Quốc hội để khỏi bị bãi nhiệm và còn hai lần đề nghị các biện pháp kinh tế khắc khổ, trong khi dân chúng xuống đường biểu tình phản đối.

Hy Lạp phải trải qua giai đoạn kiệm ước khắc khổ để được các nước cấp cứu hầu khỏi bị vỡ nợ. Các nước phải trợ giúp Hy Lạp để cứu lấy đồng Euro, đơn vị tiền tệ thống nhất của 17 quốc gia trong số 27 nước hội viên của Liên hiệp Âu Châu.

Với dân số hơn 500 triệu, Liên Âu là khối kinh tế có sản lượng hơn 15 ngàn tỷ một năm, cao nhất thế giới – hơn cả Hoa Kỳ, Trung Quốc và Nhật Bản. Nếu Hy Lạp bị khủng hoảng, đồng Euro mà bị sứt mẻ thì Liên Âu càng khó thoát khỏi tình trạng kinh tế èo uột hiện này. Khủng hoảng sẽ dội vào các quốc gia đang ở vào hoàn cảnh chi thu bấp bênh nhất, đa số ở miền Nam….

Vì vậy, các thủ đô và trung tâm tài chánh thế giới đều nín thở nhìn vào Hy Lạp, một cái chốt cho chuyện áo cơm của thiên hạ.

Khi ấy, người ta ít chú ý đến một chuyện khác…. chuyện súng đạn.

***

Chuẩn bị về hưu sau gần năm năm làm Tổng trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ, ông Robert Gates giã từ các đồng minh Âu Châu trong Minh ước Phòng thủ Bắc Đại Tây Dương NATO bằng những lời phê phán rất nặng.

Là một viên chức ôn hoà, nguyên Giám đốc CIA và Khoa trưởng Đại học, mà cũng chẳng có tham vọng chính trị gì, Robert Gates không có thói ăn nói lung tung tùy hứng. Ông than phiền các nước Âu Châu không gánh vác trách nhiệm trong minh ước NATO mà cứ lệ thuộc vào Hoa Kỳ và trong nhiều năm liền chẳng đầu tư phần tối thiểu vào ngân sách quốc phòng nên không còn khả năng bảo vệ nền an ninh của Âu Châu.

Dịp này, tuần báo The Economist của Anh đã có bài nhận định về sự thể được ông Gates nêu ra ( “On Target” ngày 18 Tháng Sáu 2011, mà người viết xin tạm dịch là “Đúng Boong!” và Dainamax sẽ giới thiệu bản dịch của một dộc giả).

Chúng ta quan tâm đến chuyện Hy Lạp và hồ sơ kinh tế nên cho rằng Âu Châu bị bội chi ngân sách hoặc vung tay tiêu xài và mắc nợ nên hết phương tiện đầu tư vào quân sự. Trong 28 thành viên của liên minh quân sự này, chỉ có Hoa Kỳ, Anh, Pháp và Hy Lạp còn giữ chỉ tiêu là dành tối thiểu 2% ngân sách quốc gia cho quốc phòng. Nhiều thành viên khác thì chưa đạt tới 1%.

Vì vậy, chưa đầy trăm ngày sau khi can thiệp vào Libya vì một nghị quyết do chính Âu Châu đề nghị, nhiều nước đã thiếu đạn và lại cầu cứu Hoa Kỳ. Bị mắng là phải.

Nhưng thật ra, vấn đề nó trầm trọng hơn vậy!

Các quốc gia Âu Châu thiếu tiền mua ổ khóa hay võ khí để bảo vệ quyền lợi và lối sống của họ. Mà lại thừa khôn ngoan chính trị để vừa trông cậy vào Hoa Kỳ vừa đả kích nước Mỹ ưa can thiệp vào thiên hạ sự! Ngày xưa, họ có lý cớ bằng vàng là chủ trương hung hăng của Tổng thống George W. Bush. Sau đó, họ hết lòng ủng hộ Nghị sĩ Barack H. Obama vì mong rằng lập trường trí thức bất nhất của một tay hùng biện thiếu thực chất sẽ làm suy yếu nước Mỹ.

Khiến Âu Châu hy vọng trở thành lực đối trọng trong một thế giới đa cực thay vì cứ bị chi phối bởi một siêu cường độc bá là Hoa Kỳ. Nhưng đấy chỉ là trò ngoại giao dễ hiểu giữa các nước.

Nó cũng phi lý như việc thống nhất tiền tệ và sinh hoạt kinh tế mà không có cơ chế thống nhất về chính trị có khả năng cưỡng hành về chánh sách, khiến nhiều nước Âu Châu khôn ngoan mặc tình vay tiền ban phát phúc lợi và gây khủng hoảng khiến xứ khác phải gánh nợ cho mình. Về kinh tế, các nước khôn ngoan trông chờ vào Đức, về an ninh, họ núp dưới cây dù của Mỹ.

Nhìn xa hơn vậy, chúng ta thấy ra nguy cơ khủng hoảng của Minh ước NATO và sự suy bại của Âu Châu sau 500 năm tung hoành toàn cầu.

***

Thế giới bắt đầu gặp “Hiệu ứng Âu Châu” – bị Âu Châu chi phối – từ năm 1492 là khi Columbus giăng buồm thám hiểm và tìm ra “Tân thế giới”.

Từ đó, cả địa cầu phải sinh hoạt theo quy ước Âu Châu. Năm 1991, khi cường quốc Âu Châu sau cùng là Liên bang Xô viết tan rã thì cái “Trật tự Âu Châu” chấm dứt. Thế giới lạc quan gọi sự kết thúc của Chiến tranh lạnh là sự “cáo chung của lịch sử”, là mở đầu cho một “Trật tự Toàn cầu”, v.v…. mà không nhìn ra sự khủng hoảng của NATO.

Minh ước này là lá chắn bảo vệ an ninh cho Tây Âu trước đà bành trướng và đe dọa của Liên Xô. Sau khi Liên Xô sụp đổ năm 1991, các nước Âu Châu không giải quyết nổi một vấn đề nội bộ là sự tan rã và nội chiến của Cộng hoà Liên bang Nam Tư. Lần đầu tiên lá chắn NATO xẹt lửa là khi NATO can thiệp vào Kosovo năm 1999 để cứu lấy người dân theo Hồi giáo nơi đây trước nguy cơ tàn sát của Cộng hoà Serbia dưới chế độ độc tài Slobodan Milosevic.

Liên Xô tan rã khiến hậu thân là Liên bang Nga bị đẩy lui và thừa thắng xông lên, lá chắn NATO cứ thế Đông tiến: minh ước mở rộng theo đà phát triển dân chủ muôn màu để bao gồm các nước Cộng hoà Baltic, các nước Đông Âu và Trung Âu…. Từ đó, minh ước mất định hướng. Bên trong là sự ỷ lại vào thế lực Hoa Kỳ.

Mất định hướng vì NATO có ba khối nhìn ra ba hướng.

Các nước phía Bắc, từ Anh quốc trở lên, thì đồng ý với tinh thần Bắc Đại Tây Dương nguyên thủy là chặt chẽ hợp tác với Hoa Kỳ để bảo vệ mọi thành viên trước mọi nguy cơ về an ninh, dù là Nga hay Iran hay A Phú Hãn. Các nước Tây Âu cũ – Pháp, Đức, Bỉ, Ý. v.v… – trong lục địa thì nhìn xuống miền Nam và chủ trương hợp tác với Liên bang Nga vì nguồn lợi kinh tế, năng lượng và đầu tư. Các nước Đông Âu vừa thoát khỏi khối Xô viết thì không quên kinh nghiệm lịch sử là đà bành trướng của Đế quốc Nga, nhất là khi Nga và Đức lại cùng hợp tác để tấn công họ từ hai ngả Đông-Tây. Họ âu lo nhìn về hướng Đông.

Khi Liên bang Nga phục hồi và tranh thủ lại những quyền lợi đã mất trong vùng quỹ đạo truyền thống của mình – khởi điểm là việc tấn công Cộng hoà Georgia và khuynh đảo Cộng hoà Ukraine từ năm 2008 – NATO lâm vào khủng hoảng.

Khi ấy, thế giới chỉ nói đến khủng hoảng tài chánh và suy trầm kinh tế. Rồi nguy cơ vỡ nợ của Hy Lạp, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, v.v…. NATO lâm khủng hoảng vì hết xác định nổi mục tiêu và chiến lược giữa ba ngả chọn lựa của ba nhóm địa dư.

Trong khi Hoa Kỳ bất định vì Barack Obama cứ lang ba vi bộ!

Obama cần hợp tác với Nga để giải quyết ưu tiên của ông là chiến trường A Phú Hãn, đồng thời can gián một đối thủ hung hăng là Iran vì ảnh hưởng của xứ này vào chiến trường Iraq. Vì cần hợp tác nên có lập trường đảo điên về việc bảo vệ các nước Đông Âu, cụ thể là kế hoạch phòng thủ chiến lược BMD cho Ba Lan và Cộng hoà Tiệp đã được chính quyền Bush hứa hẹn trước đó.

Trong khi ấy, vì ở xa nước Nga, cả Pháp và Đức đều yên tâm nghĩ đến mối lợi kinh tế – khí đốt của Nga – và tìm giải pháp thỏa hiệp với Moscow, bất chấp sự e ngại của nhóm Đông Âu và Trung Âu. Ngược với Hung, Tiệp và Ba Lan, hai cường quốc Âu Châu là Pháp và Đức lại hài lòng với sự lật lọng của Hoa Kỳ về kế hoạch BMD. Vì khỏi làm phật lòng Liên bang Nga.

Và nói chung, sau khi chống việc Mỹ tham chiến vào Iraq, các nước Âu Châu đều tìm cách rủt khỏi chiến trường A Phú Hãn, để đỡ tốn xương máu và khỏi gây hiềm khích với khối Hồi giáo!

Trong hoàn cảnh đó, sau ba lần thay đổi chiến lược từ khi Chiến tranh lạnh kết thúc, đến tháng 10 năm ngoái NATO vẫn chưa thống nhất được chủ trương. Rồi lại còn bị ba nước Anh, Pháp, Ý dẫn vào một cuộc hành trình chưa có lối ra, là Libya! Cậu bé quàng khăn đỏ Obama bị các cáo gìà Âu Châu dẫn vào chỗ lạ khiến người chỉ huy quân đội là Robert Gates phải nói nặng trước khi ra về!

***

Nhưng, việc các thành viên Âu Châu không chịu gom tiền đánh giặc mà ông Gates nói tới chỉ là một vấn đề. Vấn đề kia là chuyện… định nghĩa: giặc là ai?

Là nguy cơ Hồi giáo từ miền Nam, từ Trung Đông, hay chế độ hung đồ Iran với kế hoạch hạch tâm nguyên tử? Là sự bành trướng của Liên bang Nga? Hay là sự tan rã của nhiều quốc gia trong khối Bắc Phi Trung Đông khiến di dân sẽ vượt biển Địa Trung Hải, bên trong có cả con buôn ma túy lẫn đặc công khủng bố?….

Nhìn trên toàn cảnh và trong lâu dài, sau khi Chiến tranh lạnh kết thúc, mối quan tâm của Hoa Kỳ đã chuyển hướng. Hết là kẻ thù đáng sợ, Liên bang Nga chỉ còn là đối thủ, nên có thể tùy từng hồ sơ mà đổi chác – và hy sinh xứ khác. Sau vụ khủng bố 9-11, mối quan tâm ấy chuyển qua sự bất ổn của Trung Đông rồi Trung Á, và nay đã lan vào tiểu lục địa Nam Á.

Âu Châu hết là trọng lực của thế giới và sự hèn nhát hay ỷ lại của khối này chỉ là vấn đề… của Âu Châu. Ông Robert Gates có cảnh báo điều ấy thì cũng do lòng ái ngại chứ bản thân ông và cả Hoa Kỳ nay đã phải lo chuyện khác!

May ra, trong cương vị Chủ tịch luân phiên của Liên Âu kể từ Tháng Bảy này, Ba Lan có thể nhắc nhở các nước về hai nhu cầu song hành: áo cơm và võ khí! Về lâu dài, có thể Ba Lan sẽ nhìn sâu xuống miền Nam và hợp tác với một cường quốc dân chủ Hồi giáo trong Minh ước NATO, là Turkey, để xây dựng một trục phòng thủ Bắc Nam, từ biển Baltic xuống Hắc hải.

Nhưng đó là chuyện 10 năm sau….

***

“Đông phương hồng” từ dưới hố đen

Chuyện trước mắt là nếu có giải quyết xong mối lo Hồi giáo tại Trung Đông, rồi Trung Á, Nam Á – tại Iraq, A Phú Hãn rồi Pakistan – Hoa Kỳ sẽ đi ngược ánh mặt trời mà trở về Đông Á. Tại Đông Á, một cường quốc mới nổi là Trung Quốc đang e ngại kịch bản đó, nhất là khi Obama hết làm Tổng thống và nước Mỹ sẽ lạnh lùng xác định lại ưu tiên cho rõ rệt hơn.

Chúng ta trở về chuyện Đông hải!

Lồng trong nhiều biến động trên mặt nổi đã thấy từ đầu năm nay, người ta chú ý đến một hiện tượng khác, trở thành rõ rệt nhân lễ kỷ niệm 90 năm ngày thành lập đảng Cộng sản Trung Quốc. Đó là sự tái sinh của – hay lòng hoài niệm về – tư tưởng Mao Trạch Đông! “Văn hoá đỏ” trong nhạc khúc “Đông phương hồng” đã trở thành một chiến dịch rợp trời.

Đây không chỉ là sáng kiến của Bí thư Trùng Khánh là Bạc Hy Lai nhằm tranh thủ một ghế rất cao trong Thường vụ Bộ Chính trị sau Đại hội khóa 18 năm tới của đảng. Nó phản ảnh tâm tư luyến nhớ của nhiều đảng viên và cả thường dân Trung Quốc về thời Mao Trạch Đông nắm quyền.

Thời ấy, Trung Quốc không bị thế giới đe dọa – nhờ chánh sách bế quan tỏa cảng và tự cung tự cấp – lại còn làm thế giới lo ngại – vì chiến lược bành trướng cách mạng vô sản để lãnh đạo Thế giới Thứ ba. Lòng hoài niệm về Mao có khả năng… “lọc lựa ký ức”, là chỉ nhớ những gì đáng nhớ mà quên hẳn nhiều tội ác của bạo chúa.

Người ta không nên đánh giá sai phản ứng này mà cho rằng cũng khôi hài như khi dân Nga luyến nhớ thời ổn định huy hoàng của Liên bang Xô viết. Phản ứng này có khác mà lại dễ hoà nhập với một tâm lý truyền thống. Là tinh thần bài ngoại, là mặc cảm tự tôn, là sự biến thái của chủ nghĩa duy chủng – chủng tộc của ta là nhất – là việc đề cao chủ nghĩa Đại Hán!

Tinh thần này thường bùng phát mỗi khi có một biến cố ngoại nhập.

Ngày nay là tranh chấp chủ quyền với Nhật trên đảo Điếu Ngư Đài mà Nhật gọi là Senkaku, với các nước Đông Nam Á về quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Ngày xưa là khi Thế vận hội Bắc Kinh 2008 bị nhiều nước phản đối vì chuyện Tây Tạng, hoặc khi Sứ quán Trung Quốc tại Belgrade bị NATO oanh tạc lầm vào năm 1999. Xa xưa hơn nữa thì có cả chục vụ trong lịch sử… Từ trận Thảm sát Nam Kinh đến Loạn Quyền phỉ hay Thái bình Thiên quốc, v.v…

Vì vậy, cho dù việc Bạc Hy Lai khôi phục tinh thần Mao Trạch Đông sẽ khó tái diễn thảm kịch siêu hiện thực bên trong là “Cách mạng Văn hoá Vô sản Vĩ đại”, nó lại dễ bắn điện vào những gì đó còn nguy hiểm hơn cho thế giới bên ngoài.

Tình trạng ấy càng dễ xảy ra khi lãnh đạo đảng đang lúng túng trước quá nhiều vấn đề ngổn ngang ở bên trong. Thực tế là thả nổi bản năng đập phá vì động lực gọi là “dân tộc”, “ái quốc” và chấp nhận những đề nghị rất phiêu lưu của quân đội, được các trí thức khoác áo viện sĩ biện minh bằng những lý luận hàm hồ. Xưa kia, trong thời tao loạn, các Nho thần cũng đã từng uyên áo nên ra loại lý luận ấy, trước sự bần thần của một Thiên tử bị rối trí….

Vốn đang tập trung vào nhiều ưu tiên khác, Hoa Kỳ không muốn châm lửa vào thùng thuốc súng ở bên kia Thái bình dương. Nhưng bộ máy an ninh và đối ngoại cũng biết là sẽ có ngày phải ứng phó với kịch bản tồi tệ nhất tại Đông Á. Vì vậy, chuyện Âu Châu và NATO chỉ là vụn vặt! Và những loay hoay của Obama chỉ là nhất thời….
Posted by Nguyễn Xuân Nghĩa at 19:18
http://www.dainamax.org/2011/07/nato-o-ho-va-ong-phuong-hong.html

_______________
On Target
2011-07-08
Thương Dăng – ngày 110707

Đúng Boong!

NATO xoải cánh vào Libya

Cú bắn giã từ của Robert Gates phơi ra nhược điểm quân sự của Châu Âu

Sau đây là bản dịch bài viết của Charlemagne trên tờ The Economist “On Target”, do độc giả Thương Đăng có thiện chí thực hiện cho quý vị, với vài hiệu đính nhỏ của Dainamax. Phần chú thích trong ngoặc vuông [ ] là của người dịch. Dainamax xin cảm tạ vị độc giả cần cù và tài hoa này.

Cuộc chiến tại Libya đã bước sang tháng thứ ba và lập luận tự tin rằng lực lượng của Muammar Qaddafi[1] bị bom đạn của NATO đập tan giờ này lại kéo theo nỗi lo, rằng chính các lực lượng đồng minh bắt đầu cảm thấy sự hao mòn do một chiến dịch quân sự kéo dài. Tư lệnh Hải quân Anh cho biết, nếu cuộc chiến kéo dài qua mùa Thu, ông sẽ buộc phải ra “những quyết định gai góc” về cách điều động các hạm đội Anh. Ở nước Pháp kế bên, người tương nhiệm của ông lại than phiền rằng, nếu hàng không mẫu hạm duy nhất của Pháp, chiến hạm Charles de Gaulle, lại tham chiến ở Libya đến hết năm, thì nó phải ngưng hoạt động để tiến hành bảo dưỡng tới năm 2012. Na Uy, một nước hiếm hoi trong số đồng minh cứng cỏi đã sẵn sàng oanh kích lực lượng của Đại Tá Qaddafi, cho biết lực lượng không quân khiêm tốn của họ hiện không còn sức: trước mắt sẽ cắt số phi vụ, rồi ngưng toàn bộ hoạt động vào ngày một tháng Tám tới đây.

Tuy nhiên, cú bắn sấm sét trước khi về hưu của Robert Gates, Tổng trưởng Quốc phòng đang ra đi của Hoa Kỳ, mới phũ phàng phơi bày những khuyết khuyết của Châu Âu. Từ khởi thủy, các nước Châu Âu dựa vào Hoa Kỳ để xứ này lãnh đạo chiến dịch Libya. Giờ đây dưới quyền chỉ huy của NATO, họ vẫn phụ thuộc vào Hoa Kỳ trong việc xác định mục tiêu và thi hành tiếp liệu trên không. Các chuyên gia Mỹ đang đổ xô và thành phố Naples [của Ý] để tiếp sức cho Bộ Chỉ huy NATO. Ông Gates nói thẳng ra: “Liên minh quân sự hùng mạnh nhất trong lịch sử này chỉ mới qua 11 tuần tham gia chiến dịch chống lại một chính quyền võ trang kém ở một quốc gia dân cư thưa thớt. Vậy mà nhiều nước đồng minh đã bắt đầu thiếu đạn, rồi đòi Hoa Kỳ, một lần nữa [2], bù cho phần thiếu hụt.”

Lý do bên dưới khuyết điểm này không là bí mật. Đa số quốc gia Châu Âu chi tiêu rất ít cho quốc phòng mà lại lãng phí rất nhiều. Việc các nước Châu Âu phải chật vật, về cả quân sự lẫn chính trị, để duy trì vài chục ngàn quân ở xứ Afghanistan (A Phú Hãn) xa xôi là điều dễ hiễu. Nhưng việc họ thấy mệt mỏi trong chiến dịch không tập có hạn chế ở vùng biên vực Âu Châu (chẳng hạn cường độ còn thấp hơn cuộc chiến ở Kosovo hồi năm 1999) cho ta thấy điều gì đó còn nghiêm trọng hơn.

Chiến sự Lybia đang mở ra một sự thật không thoải mái về NATO. Sức mạnh quân sự của họ chủ yếu phụ thuộc vào nguồn lực mà Hoa Kỳ sẵn sàng châm thêm. Nếu không có Hoa Kỳ, thì đòn quân sự của các cường quốc mạnh của Châu Âu, như Anh và Pháp, cũng bị giới hạn. Hơn thế nữa, như ông Gates cũng phát biểu, Châu Âu đừng nên tin vào sự cam kết của Hoa Kỳ. Ông Gates là một trong các cựu chiến binh Mỹ cuối cùng của thời Chiến tranh lạnh hiện còn đương chức; một thế hệ mới (của Hoa Kỳ) có thể sẽ không tán thành sự gắn bó giữa ông với liên minh này, thậm chí còn có thể coi các đồng minh Châu Âu như gánh nặng. Nếu Châu Âu không nỗ lực hơn, thì NATO trước sau cũng đối diện với “sự tồn tại không đáng kể của tập thể quân sự” và một “tương lai tối tăm ảm đạm”[3].

Lời lẽ của ông Gates có thể bị gạt qua như sự lèm bèm của một chính khách bẳn tính sắp về hưu. Ngần ấy chính quyền Hoa Kỳ vẫn đe nẹt Châu Âu về chuyện chia sẻ gánh nặng. John Foster Dulles, Ngoại trưởng trào Eisenhower, đã đe dọa “một vụ tái thẩm định chết người”[4] hồi năm 1953. Lãnh đạo Mỹ đều nhất quán khi xem các nước Châu Âu là đồng minh chính trị hữu dụng, nếu không là đồng minh quân sự. Ngay cả một tay đơn phương xông xáo như ông Bush con [George W. Bush] cũng đành chịu đựng những lời đả kích từ Âu Châu. Giữa nỗi khổ tâm về Iraq, các tướng lãnh Mỹ đã trích lời Churchill[5]: “Ít ra còn một thứ tệ hơn cả việc tham chiến bên các đồng minh – là tham chiến mà không có đồng minh.”

Cho đến nay, NATO đã thọ quá sứ mệnh ban đầu, là đối đầu với Liên bang Xô viết. Liên minh này băn khoăn bất tận về mục đích tồn tại, và bây giờ thì bận rộn hơn bao giờ hết. Nhưng nội bộ đã có một sự thay đổi nhận thức, theo lời Kurt Volker, một cựu đại sứ Mỹ tại NATO. “Với Châu Âu, NATO chính là Hoa Kỳ; với Hoa Kỳ thì nó là Âu Châu. Giờ thì nó không còn thuộc phe nào trong chúng ta.” Sự xa cách này có thể sẽ trầm trọng hơn. Khi chiến tranh lạnh kết thúc, mối quan ngại về an ninh của Hoa Kỳ đã chuyển từ Châu Âu sang Trung Đông, Nam Á, và cuối cùng đến nước Trung Hoa đang trỗi dậy. Châu Âu phải tự lo lấy chuyện an ninh; giá trị [hay sự xứng đáng] của họ nằm ở chỗ có giúp ích gì được gì không.

Nhưng vụ khủng hoảng nợ nần ở Châu Âu có nghĩa là các quốc gia ở lục địa này phải giảm chi về quốc phòng. Hiện chỉ có ba nước đạt chỉ tiêu của NATO là chi tối thiểu 2% Tổng sản lượng Nội địa GDP cho yêu cầu phòng vệ: đó là Anh, Pháp và Hy Lạp. Nhiều xứ khác chỉ chi 1%, hoặc còn ít hơn. So với mức cam kết của Mỹ là chi khoảng 5% GDP cho quốc phòng. Khi cũng bắt đầu cắt giảm quân phí, thì Mỹ sẽ phê phán nặng hơn các đồng minh đi bóong tại Châu Âu[6].

Chẳng bõ công[7]

Libya là dấu hiệu cảnh báo. Hoa Kỳ không còn muốn lãnh đạo chiến dịch quân sự; thậm chí vai trò giám trận cũng gây tranh luận trong nước. Lẽ ra, khu vực phía Nam bên kia Địa Trung Hải phải là trọng yếu cho cả Châu Âu. Nếu họ không thể hành động ở đây, thì việc chi ra 275 tỷ Mỹ kim cho quốc phòng còn có nghĩa lý gì? Vào những lúc kham khổ như hiện nay, các nước Châu Âu sẽ không đột ngột tăng chi quốc phòng. Nhưng tối thiểu cũng có thể tránh cắt giảm quân phí quá mạnh – và phối hợp khá hơn để giúp NATO duy trì được cán cân lực lượng.

Giờ đây, hơn lúc nào hết, Châu Âu cần chi cho đáng đồng tiền bát gạo. Họ có nhiều binh lính hơn Mỹ, nhưng khả năng trải quân ra hải ngoại thì thấp hơn nhiều. Ngân sách của họ bị xé vụn cho quá nhiều quân chủng, như bộ binh, hải quân và không quân. Châu Âu sản xuất ra đến 20 loại xe bọc thép khác nhau, sáu loại tàu ngầm tấn công và ba loại chiến đấu cơ. Với mức quân phí gia tăng hơn tốc độ lạm phát, rõ ràng là các nước Châu Âu cần tìm ra giải pháp tiết kiệm nhờ quy mô lớn hơn. Nói vậy không có nghĩa là họ nên thành lập một đạo quân Châu Âu, như có người mong muốn. Đây là một công thức dẫn đến tê liệt: hãy thử điều động lữ đoàn Pháp-Đức đến A Phú Hãn, chưa nói gì đến Lybia. Thay vào đó, các nước Châu Âu nên chuyên biệt hóa (quân đội của họ) và khi thực hiện những việc tương tự, họ nên gom chung trang thiết bị quân sự.

Những việc trên đều không dễ. Các nước thường không muốn lệ thuộc vào xứ khác hoặc bị lôi vào cuộc chiến của xứ khác. Một số nước có thể kích hoạt nền công nghiệp quốc phòng. Nhưng Đan Mạch đã buông các tiềm thủy đĩnh; cho chúng thủ vai quan trọng hơn tại A Phú Hãn và Libya. Nhiều quốc gia thì dùng chung vận tải cơ C-17. Năm qua, hiệp ước phòng vệ chung của Pháp và Anh đã chỉ ra con đường đi: hai quốc gia này sẽ gia tăng phối hợp, trong nhiều lĩnh vực thì có thử nghiệm vũ khí hạt nhân, điều động hàng không mẫu hạm và lực lượng viễn chinh liên hợp, cũng như sứ mệnh thiếu hấp dẫn mà thiết yếu, là yểm trợ[8]. Bài học rất rõ ràng: hoặc gom sức hoặc kiệt sức.

——————————————————————————–

Chú thích của Người Dịch

[1] Có thể chỗ này tác giả nhắc đến vụ Quốc hội Hoa Kỳ nhận được một lá thư dài đến ba trang, được cho là do ông Qaddafi gởi hồi thượng tuần tháng Sáu vừa rồi, kêu gọi Quốc hội Mỹ tiếp tục điều tra hành động quân sự của NATO và các đồng minh tại Lybia mà tác giả cho là rõ ràng vi phạm nghị quyết 1973 của Hội Đồng Bảo An Liên Hợp Quốc

[2] Ông cựu chiến binh này tế nhị nhắc đến vụ Hoa Kỳ tham chiến cùng các đồng minh Châu Âu hồi Đệ Nhị Thế Chiến.

[3] Nguyên văn: “collective military irrelevance” & “dim and dismal future”.

[4] Cái này là nhắc lại vụ tháng Chạp năm 1953, lúc ông Foster Dulles cảnh báo Châu Âu rằng mấy nước này cứ lộn xộn, còn Pháp Đức cứ đứng ngoài, để kế hoạch xây dựng EDC (European Defence Community – Cộng đồng Phòng thủ Âu Châu, tiền thân của NATO ngày nay) thất bại, thì Hoa Kỳ sẽ bỏ mặc Châu Âu, quay lại Châu Á và chỉ phòng thủ khu vực Tây bán cầu.

[5] William Churchill, Thủ tướng Anh thời Đệ Nhị Thế Chiến, ra cầm quyền hai lần (1940–1945 và 1951–1955)

[6] Nguyên văn: “free-riders”, nghĩa là “những kẻ đi boóng”, người hưởng lợi mà không bỏ ra công sức hay tiền của tương ứng. Trong văn cảnh này, có lẽ ám chỉ các quốc gia khác trong khối NATO đang hưởng xái của Hoa Kỳ

[7] Câu này “big bucks, small bangs” bắt nguồn từ thành ngữ “bang for the buck”, là phải đáng đồng tiền bát gạo, và ý ngược là cho rất nhiều mà hưởng chẳng bao nhiêu! “Nén pháo đùng ra pháo tẹt” cũng có thể là một cách dịch.

[8] Chắc là cái này nói tới vụ cho phép các phi đội của quân lực Pháp dùng không phận Anh để tiếp vận nhiên liệu theo hiệp ước. Có khi là vụ các trung đoàn Đức và Pháp phải thuê vận tải cơ Ukraine để đưa quân vào A Phú Hãn hoàn thành nghĩa vụ với NATO vào cuối năm 2001.
http://www.dainamax.org/2011/07/on-target.html

Tam giác Tây-Ta-Tầu

Nguyễn Xuân Nghĩa – Đinh Quang Anh Thái “Giờ Giải Ảo” ngày 110510

“Ai ôi hãy chống trời Nam lại
Kẻo nữa dân ta phải cạo đầu!”

Tầu đánh Tây để… cứu Bắc Ninh của ta!

ĐQAThái: Đây là Giờ Giải Ảo với ông Nguyễn Xuân Nghĩa, phát thanh mỗi tối Thứ Ba trên băng tần 1190AM của đài NVR và trên mạng lưới điện toán kxmx.com cùng trang nhà của nhật báo Người Việt. Xin kính chào ông Nghĩa cùng quý thính giả gần xa. Mặc dù rằng đây là một việc rất riêng tư, đài NVR vẫn xin mượn làn sóng điện này có lời phân ưu cùng ông Nguyễn Xuân Nghĩa và tang quyến sau khi thân phụ ông Nghĩa là cụ Nguyễn Xuân Hiếu vừa tạ thế hôm Thứ Tư mùng năm vừa qua và chúng tôi xin cảm tạ ông Nghĩa vẫn trở lại với chương trình Giờ Giải Ảo mặc dù gia đình đang rất bận về tang lễ.

Nguyễn Xuân Nghĩa: – Kính chào và cảm tạ Người Việt, đài NVR và nhiều thân bằng quyến thuộc cùng thính giả gần xa đã liên lạc để chia buồn. Thông thường, theo phong tục xưa thì khi có đại tang trong nhà, ta cứ thấy như trái đất ngừng quay và trong ba năm thì coi như không được làm gì cả để gọi là “cư tang”, nếu không thì mang tiếng là “bất hiếu”. Chúng ta nên đổi khác việc đó và cách hay nhất để tưởng nhớ đến người đã khuất chính là tiếp tục làm việc tử tế cho những người còn lại….

ĐQAThái: Kỳ này, ông Nghĩa sẽ đề cập tới chuyện gì trong một chuỗi các vấn đề mà ông cho là mình cần giải ảo?

NXN: – Thưa rằng có chuyện trăm năm! Chuyện trăm năm về trước khi Pháp nhóm ngó Bắc Kỳ và chuẩn bị tấn công Hà Nội lần đầu vào năm 1872. Chuyện ấy cho thấy vấn đề của Việt Nam trong quan hệ với Trung Quốc và đáng lý đã phải khiến dân ta suy nghĩ vào năm 1972, khi Nixon qua Tầu!

– Trước tiên, xin đọc một bài thơ của Ông Ích Khiêm, một người văn võ toàn tài và đã có nhiều công lao chống giặc và trừ loạn, đã than phiền việc tướng tá của ta không ngăn được giặc Pháp mà phải thuê giặc Tầu là quân Cờ đen của Lưu Vĩnh Phúc.

Áo chúa cơm vua đã bấy lâu
Ðến khi có giặc phải thuê Tàu!
Từng phen võng giá mau chân nhẩy
Ðến bước chông gai thấy mặt đâu?
Tiền bạc quyên hoài dân xác mướp
Trâu dê ngày hiến đứa răng bầu!
Ai ôi hãy chống trời Nam lại
Kẻo nữa dân ta phải cạo đầu.

ĐQAThái: Nghĩa là hơn trăm năm trước, khi thực dân Pháp xâm lăng nước ta, triều đình đã phải thuê một đám giặc cướp người Trung Hoa cùng ngăn giặc Pháp và có một viên tướng của ta không đồng ý với việc đó? Vì thế, ông mới nhắc tới bài thơ của cụ Ông Kích Khiêm?

NXN: – Chúng ta nhắc lại bài thơ của Ông Ích Khiêm vì một vấn đề còn lớn hơn gấp bội.

– Nhà Mãn Thanh từ đời Gia Khánh và Đạo Quang khi ấy đã lụn bại sau vụ nổi loạn của Hồng Tú Toàn và phong trào gọi là “Thái bình Thiên quốc” nhuốm mùi tôn giáo vào năm 1850. Vụ khởi nghĩa lớn lao ấy làm nhà Thanh bị rung chuyển, xuýt bị lật đổ nên mới giải thích vì sao lãnh đạo Bắc Kinh ngày nay rất sợ giáo phái Pháp luân công! Giáo phái Thái bình Thiên quốc nổi lên từ hai tỉnh miền Nam giáp giới với nước ta là Quảng Đông và Quảng Tây. Sau này, dư đảng của Hồng Tú Toàn mới trở thành đám giặc Cờ Vàng, Cờ Trắng và Cờ Đen qua nhũng nhiễu miền Bắc nước ta.

– Sau khi chiếm Nam kỳ Lục tỉnh vì tưởng rằng có thể lần theo sông Mekong vào buôn bán với Trung Hoa, quân Pháp tìm đường từ sông Hồng lên và chuẩn bị tấn công miền Bắc. Khi ấy, vào triều Tự Đức, quân ta chống cự không nổi và nghĩ đến cách nương tựa vào Trung Quốc. Nhưng, Tổng đốc Lưỡng Quảng là Trương Thụ Thanh gửi mật sớ lên vua Thanh, nói rằng: “nước Nam và nước Tàu tiếp giáp với nhau mà thế lực nước Nam thật là suy hèn, không có thể tự chủ được nữa, vậy ta nên mượn tiếng sang đánh giặc mà đóng giữ ở các tỉnh thượng du. Đợi khi có biến thì ta chiếm lấy những tỉnh ở về phía bắc sông Hồng Hà”. Bởi vậy triều đình nhà Thanh mới sai Tạ Kính Bưu, Đường Cảnh Tùng đem quân sang đóng ở Bắc Ninh và ở Sơn Tây, sau lại sai quan bố chính Quảng Tây là Từ Diên Húc đem quân sang tiếp ứng. Xin quý vị xem lại Việt Nam sử lược, chương XIII của cụ Trần Trọng Kim.

– Trong khung cảnh lịch sử ấy, ta mới nhớ ra cái thế “tam giác” giữa Tây, Ta và Tầu! Tưởng rằng mượn quân của Trung Quốc để chống Tây chống Mỹ, giờ này dân ta mới thấy hố. Mà Trung Quốc thời nay lại không mục nát rệu rã như nhà Mãn Thanh thời xưa cho nên chuyện trăm năm trước chính là chuyện ngày nay!…

Tranh Tầu vẽ chiến thắng của Lưu Vĩnh Phúc chống quân Pháp tại… Bắc Ninh

ĐQAThái: Ông nhắc tới chuyện ấy thì mới thấy ra những cảnh tương đồng! Khi còn bé mà đi học thì ta chỉ nhớ lõm bõm nào là giặc Cờ Vàng Hoàng Sùng Anh hay giặc Cờ Đen của Lưu Vĩnh Phúc. Ít ai chú ý tới khung cảnh gọi là địa dư chính trị của hoàn cảnh “tay ba” vào thời ấy. Bây giờ, nhờ ông nhắc thì ta mới thấm thía lời kêu gọi của Ông Ích Khiêm: “Ai ơi hãy chống trời Nam lại – Kẻo nữa dân ta phải cạo đầu!”

NXN: – Chúng ta có nhiều cách suy nghĩ về chuyện xưa lắm.

– Lưu Vĩnh Phúc chẳng hạn, có thể là một nhân vật của tiểu thuyết hay điện ảnh mà tôi cho là còn ly kỳ gấp trăm lần phim “The Last Samurai” của Mỹ hay truyện “Lord Jim” của Anh. Các em nhỏ thích chơi trò điện ảnh thì nên nghiên cứu và tìm hiểu về hoàn cảnh lịch sử và nhân vật này vì nó liên hệ đến cả miền Bắc, đến dân thiểu số miền núi, đến tỉnh Quảng Tây và Vân Nam của Tầu, đến tay thương nhân đầy chất con buôn phiêu lưu là Jean Dupuis hay cha Puginier của Công giáo.

– Lưu Vĩnh Phúc là kẻ đã phục kích quân Pháp hai lần tại Ô Cầu Giấy và giết chết hai viên tư lệnh của đội quân viễn chinh Pháp tại Bắc Kỳ là Đại úy Francis Garnier vào cuối năm 1873 và Đại tá Hải quân Henri Rivière vào đầu năm 1883. Tôi còn nhớ là hồi bé mình có đọc được một cuốn tiểu thuyết của Đinh Hùng ký tên Hoài Điệp Thứ Lang mô tả lại trận phục kích Francis Garnier và nói rằng Garnier bị một hiệp khách của ta giết chết. Quý thính giả nào còn nhớ tới truyện này thì xin mách cho biết, chứ tôi thì quên mất rồi! Ở đây thì chỉ còn nhớ bài văn tế Francis Garnier của cụ Nguyễn Khuyến.

ĐQAThái: Ông có thể đọc lại bài văn tế đó ở đây không?

NXN: – Sau khi Garnier bị giết năm 1873, tổng đốc Hà Nội là Trần Đình Túc phải vâng lệnh triều đình hoà hoãn với quân Pháp và phải tổ chức lễ truy điệu. Cụ Tam nguyên Yên Đổ là Nguyễn Khuyến bậc đại khoa được cử viết bài văn tế. Cụ Lãng Nhân Phùng Tất Đắc có ghi lại bài đó như sau trong cuốn “Giai thoại Làng nho” xuất bản ngày xưa ở Sàigòn:
Than ôi! Một phút sa cơ, ra người thiên cổ
Nhớ ông xưa: Cái mắt ông xanh, cái da ông đỏ
Cái tóc ông quăn, cái mũi ông lõ
Đít ông cưỡi lừa, miệng ông huýt chó
Ông đeo súng lục-liên, ông đi giày có mỏ

Ông ở bên Tây, ông sang bảo-hộ
Ông dẹp Cờ Đen, để yên con đỏ
Nào ngờ: Nó bắt được ông, nó chặt mất sỏ
Cái đầu ông kia, cái mình ông đó
Khốn-khổ thân ông, đù mẹ cha nó

Tôi: Vâng lệnh quan trên, cúng ông một cỗ
Này chuối một buồng, này rượu một hũ
Này xôi một mâm, này trứng một rổ
Ông có linh-thiêng, mời ông xơi hộ
Ăn uống no say, nằm cho yên chỗ
Ới ông Ngạc Nhi ơi! Nói càng thêm khổ!

– Ngày xưa, các cụ mình phải phiên âm tên của Francis Garnier ra Nhạc Nhi. Mình nên nhắc lại cho đời sau khỏi quên. Cũng cần nói lại là sau vụ phiêu lưu và làm ẩu của Francis Garnier, ông ta bị chính phủ Pháp quy cho là có trách nhiệm chính. Nhưng sau này, vào đầu năm 1983, thi thể của Francis Garnier được khai quật (cũng như của Ernest Doudart de Lagrée) đã được hỏa táng. Các lọ đựng tro được bàn giao lại cho tổng lãnh sự Pháp tại Sàigòn ngày 2 tháng 3 năm 1983 và được chuyển về Pháp sau đó để chôn cất tại quận sáu của Paris trước một đài kỷ niệm ở công trường Camille Julian. Ngày nay, tên Francis Garnier còn được dùng cho một chiến hạm vận tải nhẹ của Hải quân Pháp.

ĐQAThái: Đó là một cách nghĩ lại chuyện xưa. Nhưng hình như ông còn có cách khác nữa phải không?

NXN: – Thưa vâng, nếu mình chịu khó đọc lại sử Tầu vào thời đại ấy thì sẽ thấy ra rất nhiều chuyện lạ và… rất hiện đại.

– Thí dụ như Hồi giáo đòi tự trị, các tỉnh miền Nam thì đòi tách riêng, và liệt cường Tây phương, kể cả nước Nga, thì gõ cửa đòi giao thương làm ăn. Triều Thanh khi ấy rất hoang mang, hốt hoảng vậy mà vẫn còn ý định xâm lấn nước ta. Và triều đình nước Nam vào năm 1882 còn cầu cứu với Trung Hoa. Đó là lý do khiến ngoài đám giặc Cờ Đen của Lưu Vĩnh Phúc, Bắc Kinh còn phái thêm bốn vạn quân của các tỉnh Quảng Đông Quảng Tây qua đánh Pháp. Rốt cuộc thì lãnh thổ nước Nam thành địa bàn giao tranh giữa quân Thanh và quân Pháp trước sự lúng túng của triều đình. Vì nội loạn và kiệt quệ, nhà Mãn Thanh đành ký hòa ước Thiên Tân với Pháp vào năm 1883 để thừa nhận là nhường chủ quyền trên đất nước ta cho thực dân Pháp.

– Sau đấy, chúng ta lại tái diễn sai lầm cũ khi Cộng sản Việt Nam lại mượn quân Tầu đánh Tây đánh Mỹ và lần này thì chưa biết là sẽ làm sao thoát vì đảng Cộng sản Việt Nam nay tự nhận là phụ dung của đảng Cộng sản Trung Quốc. Bất cứ ai muốn lên lãnh đạo đảng ở Hà Nội thì cũng phải chạy qua Bắc Kinh cầu phong trước! Khác với ngày xưa có giặc Cờ Đen, nay ta có giặc cờ đỏ nằm ngay trong triều đình ở Hà Nội!
Posted by Nguyễn Xuân Nghĩa at 19:40

http://www.dainamax.org/2011/07/tam-giac-tay-ta-tau.html

1 Phản hồi »

  1. Tam giác quỷ sứ

    Phản hồi bởi Hoàng Thị Gái — 13/07/2011 @ 1:11 chiều | Trả lời


RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Blog at WordPress.com.

%d bloggers like this: