Hoàngquang’s Blog

12/07/2011

Giới hạn nào cho kẻ côn đồ Trung Quốc

Filed under: HOÀNGSA -TRƯỜNG SA VIỆT NAM,Trung Quốc — hoangquang @ 3:52 chiều
Tags: , ,

Đăng bởi basamnews on 03.07.2011
The Diplomat
‘Lãnh đạo TQ hành xử tiểu nhân với VN’

+Trung Quốc: Ngoại giao lòng dân đổ vỡ phá hỏng giấc mơ thành rồng thế giới –
Nhà văn Văn Cầm Hải

+Ứng phó với bất bình ở Trung Quốc
+Khối ASEAN trôi dạt giữa biển Đông-David Brown/Asia Times

***
Giới hạn nào cho kẻ côn đồ Trung Quốc
Trefor Moss
Ngày 29-6-2011

Những căng thẳng hiện nay trên biển Hoa Nam [Biển Đông] không thể chỉ đổ cho Bắc Kinh gây ra. Sự yếu kém của ASEAN đã góp phần rất lớn.
Trung Quốc thường xuyên được “đo ni đóng giày” cho vai kẻ côn đồ trong các vở kịch an ninh quốc phòng ở châu Á-Thái Bình Dương, và những vụ đối đầu gần đây ở biển Hoa Nam cũng không có gì khác. Kịch bản tiếp tục xoay quanh một nhân vật Trung Hoa hung hãn, liều lĩnh tung ra các yêu sách về chủ quyền, dồn dập uy hiếp các láng giềng yếu thế hơn và phá hoại ổn định khu vực.

Quả thật là hành động của Trung Quốc, cộng với truyền thông sai lệch từ phía họ, có thể đã góp phần làm nên những nốt nhạc chối tai trong bản nhạc an ninh quốc phòng, trong khi Philippines và Việt Nam nói riêng thì báo động một cách chân thành về sự quyết liệt mà Trung Hoa đang thể hiện trên vùng tranh chấp thuộc biển Hoa Nam. Có lẽ sự quyết liệt này được chuyển đổi giữa hai trạng thái, là sự hung hăng và sự vụng về thô mộc.
Nhưng đó chỉ là một phần của câu chuyện; những khó khăn trong hàng hải ở châu Á mới thực là một thất bại tổng hợp. Các nước có quyền lợi liên quan trong khu vực đã chỉ thành công trong việc bộc lộ những yếu kém nguy hiểm trong thể chế đa phương của họ. Những thể chế đó, kể cả Diễn đàn Khu vực ASEAN (ARF), đều đang vật lộn để có thể điều tiết được hành vi ứng xử của các nước thành viên và triển khai các biện pháp kiểm soát có ý nghĩa đối với vấn đề an ninh khu vực. Ấy là bởi vì những lợi ích đối kháng nhau, chứ không phải một mục đích chung nào cả, vẫn đang tiếp tục chi phối tư duy của khu vực, thậm chí trong nội bộ ASEAN. Điều này cũng có thể được lý giải một phần là do sự hiện diện kéo dài của một thiết chế an ninh đơn phương, rất thành công ở khu vực Thái Bình Dương: quân đội Hoa Kỳ.
Cuộc khủng hoảng của chủ nghĩa đa phương ở châu Á thể hiện kiệt cùng và công khai tại Đối thoại Shangri-La được tổ chức ở Singapore đầu tháng 6 vừa qua. Đó là nơi những tranh chấp hàng hải của khu vực và giải pháp tốt nhất cho chúng là một trong hai chủ đề lấn át trong chương trình nghị sự. Chủ đề còn lại, liên quan rất chặt chẽ đến chủ đề thứ nhất, là liệu Mỹ có duy trì hiện diện quân sự ở châu Á không.
Các nhà lãnh đạo Á châu dường như đã ngừng việc cố gắng xây dựng những thể chế mới để giải quyết các khó khăn. Ý kiến của hai nhà lãnh đạo gần đây nhất còn cố làm việc này – tức cựu Thủ tướng Australia Kevin Rudd và cựu Thủ tướng Nhật Bản Yukio Hatoyama – ì xèo suốt thời gian họ tại vị, và chìm dần trước các chính phủ của họ. “Thành lập thể chế mới chẳng được ưa thích chút nào” – ông Tim Huxley, giám đốc IISS-châu Á (chính là viện tư tưởng (think-tank) tổ chức Đối thoại Shangri-la), nhận định. “Cái chúng tôi đã nghe ở Đối thoại là lời tái khẳng định lợi ích trong việc sử dụng các thể chế hiện nay, lấy ASEAN làm trung tâm, nhưng cùng với việc đó thì cũng xuất hiện những vấn đề khá nan giải đối với khu vực”.
Khó khăn lớn nhất của đường lối lấy ASEAN làm trung tâm là bản thân ASEAN trong những tháng qua cũng rất dễ nổi khùng – hậu quả của xung đột đang tiếp diễn giữa Thái Lan và Campuchia, cũng như xung đột của các nước thành viên khi theo đuổi những yêu sách chủ quyền gây tranh chấp của họ trên biển Hoa Nam. Việt Nam chẳng hạn, đã nắm lấy vấn đề tranh chấp biển một cách nhiệt tình y như Bangkok làm ầm ĩ về những đụng độ của họ với Campuchia nhằm hút sự chú ý khỏi các vấn đề trong nước (với trường hợp Hà Nội thì các vấn đề ấy là kinh tế). Bộ trưởng Quốc phòng Malaysia Ahmad Zahid Hamidi nói với tờ The Diplomat ở Singapore rằng “bất chấp tất cả những thách thức về an ninh đã phải vượt qua, ASEAN đã không ngừng tiến lên để đi tới mục tiêu xây dựng một cộng đồng an ninh – chính trị vào năm 2015”.
Nhưng đó là một đánh giá cực kỳ lạc quan vào lúc này. Ông Huxley cho biết: “ASEAN rất khó thừa nhận thất bại, do đó họ có thể sẽ phải quay lại với cái hạn 2020 đặt ra lúc đầu. Dù sao thì cũng rõ ràng là (kế hoạch xây dựng) Cộng đồng Chính trị – An ninh ASEAN đang bị đe dọa nghiêm trọng”.
Câu hỏi đặt ra là tại sao các nước ASEAN lại có vẻ như đang để cho lịch trình của cả khối bị đổ bể ngay vào lúc sự ngạo mạn của Trung Quốc lẽ ra đã phải kích thích ASEAN siết chặt hàng ngũ hơn. Trong một chuyến thăm Brunei hồi tháng 6, Tổng thống Philippinesz Benigno Aquino đã nói về việc ông ủng hộ một mặt trận ASEAN thống nhất trong vấn đề biển Hoa Nam. “Chúng ta hãy xích lại bên nhau như một tổ chức” – ông nói, và khuyến nghị cần có một cách tiếp cận tổng hợp, thay vì thực thi đường lối riêng rẽ như các nước ASEAN hiện nay với việc mỗi nước tự giải quyết vấn đề của mình với Trung Quốc một cách song phương (như là Việt Nam và Trung Quốc bây giờ đang có xu hướng song phương hóa).
Tuy nhiên, dường như ít có dấu hiệu về việc ASEAN hình thành một khối trong đàm phán để giải quyết tranh chấp với nước láng giềng phương Bắc. Quan hệ kinh tế chặt chẽ giữa Trung Quốc và nhiều nước ASEAN đã ngăn cản những quốc gia không trực tiếp liên quan tới tranh chấp biển Hoa Nam, khiến họ phải giữ một tiếng nói trung lập trước hành động bị coi là xâm lược của Trung Quốc. Trong khi đó, các yêu sách mâu thuẫn của các thành viên ASEAN ngăn trở họ hành động thống nhất.
Vì lợi ích của chính họ, các thành viên ASEAN, nếu không đoàn kết chống Trung Trung Quốc, thì cũng phải siết chặt hàng ngũ để làm cho Bắc Kinh khó khăn trong việc theo đuổi bất kỳ chiến lược “chia để trị” nào. Công cuộc đàm phán để cho ra một bộ Quy tắc Ứng xử (COC) nghiêm ngặt hơn để thay thế bản Tuyên bố chung về Ứng xử (DOC) vốn rời rạc – là điều mà Philippines đang đặc biệt kêu gọi và Indonesia bây giờ cũng đang ủng hộ – nên là điểm gắn kết các nước ASEAN: Ít nhất họ cũng phải có khả năng nói cùng một giọng khi bàn đến việc lập ra các quy tắc nền tảng, chưa nói đến việc giải quyết các bất đồng thực sự. Khi ấy, một khi Trung Quốc xâm phạm thỏa thuận mới, ASEAN sẽ có thể tự coi mình là một mặt trận tổng hợp, như vai trò họ từng đóng trong lần vận động cho ra DOC hiện nay.
Thái độ kiêu ngạo mà Trung Quốc thể hiện gần đây được cho là nhằm phản ứng trước hai yếu tố: Ý thức của Trung Quốc, được hình thành một cách vội vã, về việc Mỹ đã yếu thế ở châu Á, và ý thức đúng đắn hơn về những yếu kém của ASEAN. Việc Mỹ tái khẳng định lợi ích chiến lược của họ trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương có thể thuyết phục Trung Quốc phải dè dặt hơn trong tương lai. Nhưng sẽ thật nhục nhã nếu những lời hứa của Mỹ chỉ là để ru ngủ ASEAN, để ASEAN bỏ quên việc sửa chữa những khuyết tật về thể chế mà họ đang cực kỳ cần tiến hành. Nếu Mỹ đóng vai trò nhà bảo trợ an ninh cuối cùng, thì sự hiện diện của Mỹ đã không thể ngăn chặn những tranh chấp hàng hải kéo dài mòn mỏi, đang tiếp tục làm hỏng mối bang giao giữa các nước châu Á-Thái Bình Dương. Các biện pháp xây dựng lòng tin – điều mà Trung Quốc luôn to giọng ủng hộ – chắc chắn là hữu ích, nhưng rất hay có xu hướng chỉ hàn gắn một cách đơn giản những trục trặc xuất phát từ các lần sụp đổ niềm tin trước đây. Một khung thể chế mạnh mẽ và có tính chất ngăn ngừa sẽ đảm bảo cho những lần sụp đổ niềm tin như thế xảy ra ngày một ít đi, bằng cách vạch nên những đường ranh giới rõ ràng mà Trung Quốc và các bên có lợi ích khác sẽ buộc phải thử nghiệm (trước khi vượt qua).
Do đó bước đầu tiên trên con đường phục hồi là thiết lập một COC mới, mạnh hơn, chi phối biển Hoa Nam, như thể được đàm phán bởi một ASEAN thống nhất. Kết quả tốt đẹp sẽ là lời tái khẳng định vai trò của ASEAN như là nền tảng vững chãi cho an ninh của khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Điều này rất quan trọng bởi nếu an ninh châu Á-Thái Bình Dương lấy ASEAN làm trung tâm – và không ai đưa ra một khung thể chế mới với những điều khác biệt gì khác – thì ASEAN, trung tâm của cái cấu trúc quyền lực đó, sẽ là thành tố cần được củng cố nhất.
Một ASEAN chia rẽ, nơi các thành viên thích theo đuổi những thỏa thuận an ninh song phương của riêng mình hơn là đoàn kết phối hợp, sẽ chỉ tạo ra một châu Á-Thái Bình Dương nghiêng ngả.
Người dịch: Đan Thanh

http://anhbasam.wordpress.com/2011/07/03/152-gi%e1%bb%9bi-h%e1%ba%a1n-nao-cho-k%e1%ba%bb-con-d%e1%bb%93-trung-qu%e1%bb%91c/

Trung Quốc: Ngoại giao lòng dân đổ vỡ phá hỏng giấc mơ thành rồng thế giới
Nhà văn Văn Cầm Hải

Văn Cầm Hải (giữa) ở Tây Tạng
Trung Quốc là một nước lớn về mặt dân số và cương vực lãnh thổ, nhưng tại sao, dù ngày càng giàu mạnh về kinh tế và quân sự, Trung Quốc vẫn không trở thành một con rồng tung hoành dọc ngang trong sự ngưỡng vọng của nhân loại như nước Mỹ hay Nga? Câu trả lời nằm ở một điểm yếu chí mạng: Trong khi các cường quốc đã yên dân để mở mang đất nước theo chiều sâu và chiều thẳng đứng của khoa học và trí tuệ, Trung Quốc vẫn còn phải bận tâm với việc mở mang đất nước theo chiều ngang, vật lộn với công cuộc mở đất, đồng hóa dân chúng ở các vùng “phên dậu” bất thành!
Những ai từng đến thăm Lhasa – thủ phủ Tây Tạng đều có tâm nguyện lễ Phật ở cung điện Potala. Đối mặt với thánh địa huyền bí với hơn 1000 bảo tháp chứa đựng thánh tích lama này là một công trình kiến trúc hiện đại phản ánh mối quan hệ đặc trưng đầy máu và nước mắt giữa chính quyền Trung Quốc và Tây Tạng: tượng đài hòa bình, nhưng dưới chân nó lại lấp loáng những chiếc lưỡi lê tuốt trần đầy khí sắc đe dọa từ các tay súng người Hán.
Từ Lhasa – thủ phủ của các Dalai Lama chống Trung Quốc, cho đến Tashilhungpo – nơi trú ngụ uy quyền của các Panchen Lama thân Bắc Kinh, tôi khó tìm được một nụ cười thân thiện giữa người Hán và người dân bản địa. Mở đầu chương trình ti vi vào ban mai là cảnh chào cờ, hát quốc ca Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa với khuôn mặt rực rỡ của các cháu thiếu nhi Tây Tạng. Nhưng trên đường phố Lhasa, mỗi sáng sớm tôi chỉ nhìn thấy những gương mặt trẻ thơ gò má cháy nắng bán dạo trên phố hay lăn lóc bên cạnh những bà mẹ lấm bụi. Đêm về tôi đã gặp một cô gái Tạng, hậu duệ của vũ công cao quý Yeshe Tsogyel – một nữ bồ tát xứ Tạng, chưa đến 18 tuổi phải làm điếm trong một nhà thổ sau hàng ngàn năm chỉ biết tay cầm chuông chuyển kinh nguyện cầu cho tâm linh nhân loại được xiển dương.

Chính sách ngoại giao lòng dân của Trung Quốc bị phá sản ở Tây Tạng vì chiến lược đồng hóa “diệt chủng văn hóa” (chữ dùng của Dalai Lama) bản địa với nhiều phương thức: hủy diệt nhân mạng, triệt phá tu viện tôn giáo, đưa chữ Hán vào nhà trường, xây dựng các công trình kiến trúc vô thần với các phương tiện kỹ thuật hiện đại. Những cái gọi là “cải thiện dân sinh” không làm cho người Tạng khâm phục, ngược lại càng tăng thêm sự căm phẫn vì đời sống tâm linh của họ như bị cưỡng hiếp. Là một miền đất tâm linh, 800 năm qua Tây Tạng dành 75% ngân sách để dựng xây 60.000 tu viện, nhưng từ năm 1950, thời điểm Đặng Tiểu Bình – Bí thư thứ nhất cục Tây Nam của Mao tiến quân vào Tây Tạng, cho đến nay, như đại sư Sogyal Rinpoche công bố trong Tạng Thư Sống Và Chết: đã có hơn 1 triệu trong số 6 triệu người dân Tây Tạng bị tiêu diệt và đại đa số các tu viện trong số 6.500 tu viện bị tàn phá [1].Bước vào thế kỷ 21 cho dù Bắc Kinh và Lhasa đã nối liền một dải đường sắt, chính quyền Trung Quốc đã phải ra tay đàn áp các phong trào nổi dậy đòi độc lập của người Tạng. Hơn 203 người bị giết, 1.000 người bị thương, hơn 6.000 người bị bắt vào năm 2008 [2].
Trung Quốc là một đất nước mà một phần lịch sử được dựng lên bởi sự kiên trì theo đuổi công cuộc Hán hóa từ thế hệ này sang thế hệ khác đối với các vùng đất họ lấn chiếm và thèm muốn. Tân Cương, vùng lòng chảo sa mạc Gobi-Taklamakhan mênh mông gió cát, thánh địa của dòng Hồi giáo Sunni chính thống Hanafi của tộc người Uyghur là một ví dụ điển hình. Quá trình chiếm đất lấn dân diễn ra từ năm 139 trước Công Nguyên khi Trương Khiên đời Hán Vũ Đế dấn thân ra chốn quan ải tìm đến con đường tơ lụa nối liền Âu – Á, cho đến năm 1884 triều Mãn Thanh biến lãnh thổ Đông Turkestan thành Xinjiang – Tân Cương cho đến ngày hôm nay dưới chế độ cộng sản. Từ chỗ chỉ có 4% là người Hán năm 1949, đến nay Tân Cương đã có hơn 40% là người Hán với hơn 8 triệu người. Người Uyghur bản địa bị người Hán áp đảo về mặt dân số, kinh tế, chính trị và văn hóa ngay trên chính mảnh đất tổ tiên của mình. Theo Baline Kaltman, 82% người dân Uyghur nhìn nhận quan hệ Hán – Uyghur rất tệ hại và có cái nhìn tiêu cực về chính sách tự do tôn giáo của chính quyền, vì những đạo luật không cho phép trẻ em đến nguyện cầu ở thánh đường hoặc tham gia các lễ hội tôn giáo cho đến năm 18 tuổi. 82% dân bản địa không muốn kết bạn với người Hán và 94% dân chúng Uyghur không biết đến những ngày lễ quốc gia Trung Quốc [3]! Nhờ có vị trí địa lý tựa lưng vào những người anh em Hồi giáo ở Afghanistan, Pakistan và các nước Trung Á bao quanh, phong trào ly khai của người Uyghur đã gia tăng những vụ xung đột sắc tộc và tôn giáo giữa người Hán và Uyghur. Nếu trong thập kỷ 90 của thế kỷ 20 chỉ có 200 vụ việc với 162 người bị chết, 440 bị thương thì chỉ riêng trong năm 2008, theo số liệu chính thức đã có 184 người bị chết từ những vụ đàn áp của chính quyền trong khi các phong trào ly khai công bố có đến 600 đến 800 nạn nhân Ughur bị giết hại [4]. Chính quyền Trung Quốc, theo nhận định của Ziad Haiker, rơi vào tình trạng tiến thoái lưỡng nan: tiếp tục đàn áp dân chúng Hồi giáo Uyghur hay xa lánh họ, hoặc là khuyến khích người Uyghur bảo vệ tín ngưỡng tôn giáo của họ, cho dù những điều này sẽ làm cho dân Uyghur tăng cảm giác li khai và ác cảm với xã hội người Hán [5]?
Cùng chia sẻ sa mạc Gobi với Tân Cương là Nội Mông – vùng đất của Thành Cát Tư Hãn – nay cũng nằm dưới sự cai trị của Trung Quốc. Những cuộc xung đột dẫn đến chết người giữa chính phủ và người dân du mục trong những tháng gần đây báo hiệu sự nỗi dậy công khai của lòng dân Nội Mông mong được trở về với đất mẹ Mông Cổ. Tôi đã biết về sự nhẫn nhịn của người sa mạc qua một người bạn Mông Cổ mời tôi ăn thịt nướng trong đêm mưa ở Lan Châu – thủ phủ tỉnh Cam Túc. Anh ta khuyên tôi rằng, nếu muốn giết sói, hãy cho nó chạy và hú đến lúc nào nó quỵ xuống vì sức lực mà chúng bỏ ra! Người Mông Cổ đang chờ đợi điều ấy diễn ra với người Trung Quốc. Trong thời đại internet liên thông này, ước mơ của người Mông Cổ không phải là một sự hảo huyền. Công cụ truyền bá thông tin này góp sức làm những vùng đất phên dậu phía Tây và Tây Nam, Tây Bắc trở thành những thùng thuốc súng sẵn sàng bùng nổ trên trên lưng Trung Quốc. Một phóng viên truyền hình người Hazark, quê ở Yili, tôi gặp ở Urumqi đã mong ước một ngày người Tạng Mật giáo, người Uyghur Hồi giáo Sunni và Mông Cổ liên kết với nhau đứng lên giành lại lãnh thổ của cha ông. Lần hiếm hoi trong đời tôi nhìn thấy một ước nguyện chính trị vượt lên sức mạnh của đức tin vì các tín đồ khác đạo cùng có chung một kẻ thù. Sự phản kháng này cho thấy sức mạnh của nền văn hóa bản địa và bản lĩnh sắc tộc tôn giáo đã làm cho công cuộc Hán hóa của Trung Quốc thất bại trong việc tìm kiếm sự chiến thắng lòng người trên mọi vùng đất nằm ngoài cõi Hoa Hạ dọc sông Hoàng Hà sau hàng ngàn năm gắng sức.
Trung Quốc từ xa xưa cho đến nay, dù trải qua bao nhiêu thời đại do người Hán, Nguyên hay Mãn Châu cầm đầu, phong kiến hay cách mạng, cộng sản hay không cộng sản, những kẻ cầm quyền đất nước này vẫn theo quán tính thực hiện những âm mưu đã trở thành cố hữu lịch sử của họ: tự cho mình là dân tộc trung tâm của thế giới, có quyền bành trướng lãnh thổ bất chấp các nền độc lập của các dân tộc khác. Năm 1911, trong cuộc gặp gỡ giữa Tôn Trung Sơn- lãnh tụ cách mạng Tân Hợi, và chính trị gia Ki Tsuyoshi Inukai ở Tokyo, Inukai đã hỏi Tôn có cái nhìn như thế nào về người Việt Nam. Tôn, người được xem là cha đẻ của Trung Quốc hiện đại với chủ thuyết tam dân độc lập, tự do và hạnh phúc cho muôn dân, đã không chút do dự trả lời với giọng điệu đầy miệt thị rằng người Việt Nam bẩm sinh là loài nô lệ. Dân Việt Nam bị cai trị bởi người Hán và bây giờ (1911) họ lại bị người Pháp cai trị, nên họ không thể có một tương lai tươi sáng! Inukai đáp lại: Tôi không đồng ý với nhận định của Ngài, vì dù người Việt Nam chưa được độc lập trong hiện tại nhưng họ chính là bộ tộc duy nhất trong các bộ tộc Bách Việt đã thành công trong việc chống lại sự Hán hóa. Do đó trước sau gì họ cũng giành độc lập! Tôn Trung Sơn đỏ lựng mặt xấu hổ và tức giận nhưng đành lặng câm. Tôn hiểu ông ta đã sập bẩy Inukai, bởi vị chính trị gia Nhật Bản thừa biết Tôn vốn xuất thân từ Quảng Đông, một dân tộc trong nhóm Bách Việt đã bị Hán hóa [6]! Mấy chục năm sau, Mao không ngần ngại nói ra tham vọng bành trướng ngay cả với người anh em Việt Nam cùng hệ tư tưởng cộng sản. Năm 1963, Mao trâng tráo nói với Lê Duẩn và Trường Chinh, hai cựu Tổng bí thư Đảng cộng sản Việt Nam, rằng ông ta sẽ là Chủ tịch của 500 triệu dân đang thiếu đất và ông ta sẽ mang một đạo quân tiến xuống khu vực Đông Nam Á [7]! Người Trung quốc đâu có thiếu đất làm ăn, gần 50 năm trôi qua từ ngày Mao nói câu đó, tuy dân số đã vượt 1,3 tỷ người, nhưng từ Tây An nơi có lăng mộ Tần Thủy Hoàng, ra Gia Dụ Quan miền đất của Hung Nô ở Cam Túc, đến Kashgar giáp biên Pakistan của Tân Cương, tôi vẫn thấy những lục châu dân cư thưa thớt trên sa mạc rộng lớn giàu dầu lửa và các loại khoáng sản khác.
Để trở thành một cường quốc, điều kiện tiên quyết phải có là sự ổn định lòng dân nội địa, hai là có sự tâm phục của lòng dân ngoài nước. Trung Quốc, như mệnh trời đã an bài, không bao giờ có đủ hai nguồn lực thâm hậu đó. Tây Tạng, Tân Cương và Nội Mông trở thành những chuỗi nguy cơ của đổ vỡ và li khai, buộc Trung Quốc chỉ còn một cách là tiến ra biển khơi, mà biển Đông là mục tiêu trọng yếu. Ở đó họ không gặp phải liên quân Mỹ – Nhật, Mỹ – Hàn hay con gấu Nga chắn giữ, mà chỉ gặp một khối ASEAN có sức mạnh trên giấy nhiều hơn thực tiễn. Nhưng dù sao đây vẫn là một khối mà muốn phá vỡ nó trước hết phải bước qua một chướng ngại vật có tên gọi là Việt Nam.
Những sự kiện bắn giết, tịch thu tài sản những ngư dân Việt Nam vô tội, tự tuyên bố chủ quyền hơn 80% diện tích Biển Đông trong khi vẫn thuyết khách về một sách lược “trỗi dậy hòa bình, thân thiện và hợp tác” đã làm cho các quốc gia trên thế giới củng cố sự nghi ngờ, gia tăng nỗi lo sợ về đặc tính cố hữu bành trướng của người Hán. Qua hai sự kiện phá hoại tàu thăm dò dầu khí Bình Minh II và Vicking II của Việt Nam ngay trong phạm vi thềm lục địa của Việt Nam, cùng với chiến dịch truyền thông đe dọa, dối trá, và vu khống Việt Nam, Trung Quốc đã tự làm phá sản toàn bộ “16 chữ vàng”, “4 tốt” họ đã cố công dựng lên. Báo chí Trung Quốc cảnh báo Việt Nam cần phải học lại lịch sử! Trớ trêu thay, điều này càng làm cho lòng dân Việt Nam thêm tự hào về những chiến công hiển hách của cha ông mình trong suốt ngàn năm chống lại quân phương Bắc vốn đã trở thành di sản họ đã kế thừa thành công trong mọi cuộc chiến. Sau nhiều năm Việt Nam ẩn mình và Trung Quốc ủ mưu trong cơn hôn mê “16 chữ vàng” và “4 tốt”, cả hai bên đều lộ diện tâm can của mình. Chuyên gia về an ninh quốc phòng Hồ Trọng Ngũ đã vạch ra bản chất đích thực của một nhà nước Trung Quốc lợi dụng “tình đồng chí và giai cấp” để thực hiện âm mưu bành trướng với Việt Nam: Xin nhắc lại là một Trung Quốc có hai chế độ thì họ không có nhu cầu quan tâm đến chủ nghĩa xã hội hay chủ nghĩa cộng sản ở Việt Nam. Mục đích của họ là lợi dụng luận điểm rằng cả Việt Nam và Trung Quốc đều có Đảng cộng sản để dễ bề qua mắt người dân Việt Nam rằng ta là đồng chí của họ. Trong khi đó, họ lại gặm nhấm từng mẩu đất. Đây là luận điệu rất nguy hiểm mà nếu nhân dân không hiểu được hết để giải thích thì bạn bè quốc tế cũng có thể hiểu sai [8]. Chủ nghĩa dân tộc tự mãn và chủ nghĩa bành trướng bá quyền từ trong quá khứ đã hình thành nên một Trung Quốc có dân số và lãnh thổ rộng lớn nhưng trong hiện tại và tương lai của một thế giới đa chiều và tương thông, nó chính là những sợi xích kìm hãm Trung Quốc trở thành một siêu cường thực sự.
Trung Quốc, trong khi đang ra sức mài giũa một chuỗi ngọc trai từ vùng Hải Nam xuống Ấn Độ Dương làm bàn đạp tiến ra với thế giới mà chưa thành, lịch sử và những sự kiện đang diễn ra ở Tây Tạng, Tân Cương, Nội Mông và Biển Đông đã trở thành một “chuỗi ngọc trai nhức nhối” khác xiết chặt tham vọng của Trung Quốc. Hậu quả là Trung Quốc có nguy cơ trở lại nguyên hình một “vị vua không ngai”, bị suy vong bởi những mối đe dọa an ninh truyền thống và phi truyền thống. Tình hình bất ổn từ nội địa, sự phản ứng chống đối từ các nước sẽ làm nên một cơn bão tố chính trị, ngoại giao và quân sự khó lường với Trung Quốc. Trung Quốc cần có một sự thay đổi tận gốc quan điểm lịch sử và thời đại về sức mạnh và sự tồn tại hài hòa của mình với thế giới. Nếu không thay đổi, dù có bỏ ra hàng tỷ đô la, dù có hào nhoáng kết nối với chính quyền bản địa bằng những thỏa thuận hay kiềm chế chính trị nhưng không thể nào mua được lòng dân, Trung Quốc sẽ quỵ ngã bởi chính sức mạnh hung hãn của mình, như hình ảnh con sói mà người Mông Cổ từng nói với tôi trong đêm mưa ở Lan Châu. Uớc muốn hóa thành con rồng tung hoành ngang dọc trên thế giới chỉ là một ảo tưởng không bao giờ có thật đối với người Trung Quốc.
Giấc mơ đó càng khó trở thành sự thật khi Trung Quốc có vị trí địa chính trị “bất lợi” do nằm gần Việt Nam. Một đất nước không lớn diện tích và dân số nhỏ nhưng lúc bị dồn vào chân tường, Việt Nam luôn xuất hiện những Lê Duẩn, dù trong hoàn cảnh phải nương tựa vào Trung Quốc, vẫn không vì thế mà nhụt chí và đã ngang nhiên cảnh cáo Mao rằng ông ta sẽ đánh và thắng Mao nếu Mao tiếp bước quân Nguyên, Minh và Thanh xâm lược Việt Nam [9].
Ngày 3 tháng 7 năm 2011
V.C.H.
Tác giả gửi trực tiếp cho BVN
Tài liệu tham khảo:
1. Sogyal Rinpoche, The Tibetan Book of Living and Dying (NewYork: HarperCollin Publishers, 2002).
2. Tú Anh, “Tây Tạng, Tân Cương : Chính sách đồng hóa của Trung Quốc là nguyên nhân gây bất mãn”. rfi.fr. Retrieved on June 5, 2011.
3. Baline Kaltman, Under the Heel of the Dragon: Islam, Racism, Crime, and the Uygur in China( A
thens: Ohio University Press, 2007), p.67.
4. Tú Anh, “ Tây Tạng, Tân Cương”.
5. Ziad haider, “Sino-Pakistan Relations and Xinjiang’s Uighuirs: Politics, Trade, and Ílam along the Karakoram Highway”, Asian Survey, p. 545.
6. Doulas Pike, Viet Cong: The Organization and Techniques of the National Liberation Front of South Vietnam (Cambridge, Massachusetts, and London: The M.I.T. Press, 1966), p.2.
7. Cold War International History Project Bulletin, “Comade B on the Plot of the Reactionary Chinese Clique Against Vietnam”, trans. Christopher E. Goscha. http://www.wilsoncenter.org/topics/pubs/New_Ev_CWAsia.pdf . Retrived on 4 May, 2011.
8. Lê Nhung, “Hồ Trọng Ngũ: Bảo Vệ Chủ Quyền: Công Khai Để Thống Nhất Lòng Dân”. vietnamnet.vn.
9. Cold War International History Project Bulletin, “Comade B on the Plot of the Reactionary Chinese”.
http://boxitvn.blogspot.com/2011/07/trung-quoc-ngoai-giao-long-dan-o-vo-pha.html#more

¬¬¬¬¬¬¬¬¬¬¬¬-___________________
Ứng phó với bất bình ở Trung Quốc
Giáo sư Pamela Kyle Crossley
Gửi cho BBCVietnamese.com từ New Hampshire, Hoa Kỳ

Có những điểm tương đồng giữa nhà Thanh và chính quyền Trung Quốc hiện nay?
Phản ứng của chính phủ Trung Quốc trước các cuộc biểu tình của dân chúng – phong trào Thiên An Môn 1989 hay “Cách mạng Hoa nhài” 2011 – được mô tả như một chính quyền rơi vào thế thủ cố lo mà đàn áp mọi hình thức bất mãn của nhân dân. Tuy nhiên, trong cuốn sách của tôi The Wobbling Pivot, China since 1800 (tạm dịch: Điểm tựa lắc lư, Trung Quốc từ 1800), tôi thấy nên nhìn những sự kiện như vậy, dù trong quá khứ hay hiện tại, thông qua mối quan hệ dễ thay đổi giữa trung tâm và các địa phương.
Giới sử gia thường chỉ ra rằng từ cuộc chinh phạt Trung Hoa năm 1644 đến cuộc chinh phạt Tân Cương 1755, diện tích đế chế Thanh triều đã trở nên to gấp đôi so với đế chế Minh triều trước đó, và dân số cũng tăng gấp đôi. Nhưng điểm thực sự quan trọng về các con số này lại thường bị bỏ qua – dẫu rằng diện tích và dân số tăng gấp đôi, chính quyền nhà Thanh không lớn hơn nhiều so với nhà Minh. Ta hình dung có một lớp màng mỏng phải kéo căng trên một thùng hàng nay to và sâu gấp đôi. Những đế chế khác, như Nga và Ottoman, cũng đã áp dụng phương pháp chính quyền rất nhỏ và hệ thống thuế tương đối nhẹ tay để ngăn ngừa nội loạn vào lúc mở mang đế chế.
Tổ chức địa phương
Điều quan trọng là ảnh hưởng của chiến lược này. Trước hết, chính quyền lấy quân đội làm ưu tiên cao nhất, và cấp ngân sách cho rất ít lĩnh vực của việc quản lý hay phát triển. Ví dụ, giáo dục tại Trung Quốc truyền thống hầu như được bảo trợ tài chính hoàn toàn nhờ tư nhân. Do độc quyền về sức mạnh quân đội chính quy, nhà nước có thể ép từ giới quý tộc đến dân đen đóng thuế, lao động nhằm đáp ứng những nhu cầu thông thường của xã hội. Điều này có nghĩa là nhiều mặt trong việc cai trị địa phương – từ việc điều tra dân số, thu thuế, bảo trì hệ thống tưới tiêu và đường xá – được tư nhân hóa. Bên dưới tầm viên chức địa phương và địa chủ lớn, người dân quê gánh phần lớn trách nhiệm: không chỉ phải lo công việc đồng áng, mà còn lo cả an ninh cho chính họ. Họ quản lý các nhóm dân phòng, và trong nhiều trường hợp, buộc phải hợp tác với băng nhóm tội phạm để có an ninh. Họ phải tin nhau, và thường nghi ngờ kẻ ngoài, đặc biệt là giới chức chính quyền.
Những người dân rành rẽ cách dùng đơn kêu oan, đình công, hay thậm chí tổ chức các vụ nổi loạn nhỏ, có thể thành công để giới chức địa phương bị cách chức, thuế được xóa hoặc giảm tiền thuê ruộng đất.
Giới sử gia đôi khi cho rằng các tổ chức địa phương phức tạp và bền vững này – dù hợp pháp hay phi pháp – đã tồn tại bất chấp chính quyền. Nhưng nhà Thanh lại phụ thuộc vào sự cố kết của các tổ chức địa phương, để tránh trách nhiệm và tổn phí cho chính quyền trung ương. Sự thừa nhận phụ thuộc này được thể hiện trong nhiều khía cạnh của luật pháp.
Vì chính quyền trung ương phải dựa vào các tổ chức địa phương trong việc gìn giữ trật tự, làm nông, môi trường…, nên dư luận địa phương luôn quan trọng với triều đình. Tham nhũng – khi giới chức làm theo ý mình, chứ không phải ý của triều đình – là tội lớn mà có thể đem lại hậu quả tàn khốc. Tuy vậy, Thanh triều không có phương tiện toàn diện và hữu hiệu để phát hiện tham nhũng. Một dấu hiệu đáng tin nhất về sai trái của quan chức là khi nổ ra biểu tình, hay nổi loạn. Tương tự, việc khiếu nại lên triều đình có thể là bài kiểm tra sự bất tài hay tham nhũng của quan địa phương.
Vì vậy, tiến trình chính trị truyền thống ở Trung Quốc đã phụ thuộc vào việc người dân phải lên tiếng khi họ bất mãn. Những người dân rành rẽ cách dùng đơn kêu oan, đình công, hay thậm chí tổ chức các vụ nổi loạn nhỏ, có thể thành công để giới chức địa phương bị cách chức, thuế được xóa hoặc giảm tiền thuê ruộng đất.
Phản ứng song đôi
Nhà nước thường có phản ứng song đôi: Một, đàn áp thẳng tay bạo động và trừng phạt quan chức. Hai, phô trương việc sửa sai để chứng tỏ đó chỉ là sai lầm nhất thời của một chính quyền tốt. Ngay cả những phong trào thành công nhất của dân chúng cũng sẽ có những tử sĩ, như một phần cần thiết của cả tiến trình.
Dĩ nhiên, một chính quyền dựa vào sự cân bằng mỏng manh giữa phản ứng của dân chúng và sự đáp trả của trung ương sẽ cận kề nguy hiểm nếu sự cân bằng đó bị phá vỡ. Dưới triều Thanh, các vụ tranh chấp địa phương có thể dẫn tới nổi dậy – một số cuộc nổi dậy kéo dài đến hơn 10 năm. Trong thế kỷ 18, nhà Thanh đủ sức đàn áp các cuộc nổi dậy và xoa dịu các nhóm dân phẫn uất vì tham nhũng. Nhưng dần dần, nhà nước ngày càng kém cỏi trước các thách thức. Sang thế kỷ 19, chính quyền Trung Quốc bị suy nhược vì tham nhũng, sản xuất nông nghiệp kém đi, và đòi hỏi của các thế lực châu Âu sau khi Trung Quốc bị đánh bại trên bộ và trên biển. Các tổ chức địa phương quản lý kinh tế và tự vệ ngày càng mạnh mẽ, còn chính quyền trung ương yếu đi đến mức chưa từng thấy trong hai thế kỷ trước đó.
Chừng nào đây vẫn là thành tố hiến pháp trong chính trị Trung Hoa, thì nhu cầu phát triển định chế của một chính phủ tự do vẫn bị ngăn chặn. Và chính phủ Trung Quốc, trong mắt nhiều người, sẽ vẫn tiếp tục có vẻ bất ổn hơn so với thực tế.
Đỉnh điểm là cuộc nội chiến từ loạn Thái Bình Thiên Quốc vào giữa thế kỷ 19. Cuộc nổi dậy rộng khắp và kéo dài đến mức triều đình chỉ có thể tồn tại bằng cách để toàn bộ tài nguyên và giao thông rơi vào tay địa phương. Khi chiến tranh chấm dứt, toàn bộ chức năng của chính quyền – kể cả ngoại giao và quân sự – nay thuộc quyền kiểm soát của những người đã cầm quân trong chiến tranh. Mặc dù đến cuối thế kỷ 19, Thanh triều vẫn mang tiếng là cai trị Trung Hoa, nhưng thực ra đất nước nằm trong tay các lãnh chúa, mỗi người có bộ máy hành chính, thu thuế và ngoại giao riêng. Mô hình này kéo dài đến nửa đầu thế kỷ 20, và chỉ bị triệt hạ bằng việc tái cấu trúc bộ máy địa phương với cao trào là Cách mạng Văn hóa cuối thập niên 1960.
Không bao giờ ta có thể tính chính xác kích cỡ chính quyền so với xã hội. Tuy vậy, khi so sánh số người nhận lương của chính phủ trung ương và toàn bộ dân số, ta thấy chính quyền Trung Quốc hiện đại to gấp hàng trăm lần so với triều đình phong kiến. Nó cũng được trang bị công nghệ để theo dõi, lung lạc, cưỡng ép, và nếu cần thì dùng vũ lực đánh bại.
Vì vậy, thoạt nhìn cứ tưởng như Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa không còn cần đến cách hành xử truyền thống trước những hoạt động hay bất mãn của dân chúng. Nhưng, sự gia tăng dân số từ mấy trăm năm đem lại những thách thức, giảm bớt một số lợi thế mà chính phủ hiện nay có được. Đồng thời, nhiều sự phức tạp mà triều đình phong kiến đối diện – đa dạng văn hóa, khoảng cách kinh tế giữa các giai cấp, khác biệt giữa nông thôn và thành thị – vẫn còn đó, và thường được mở rộng vì khủng hoảng môi trường, một hiện tượng trước đây chưa có. Kể từ đầu thập niên 1980, chính phủ buộc phải giảm bớt tập trung hóa, để dân chúng tự chủ động thực hiện nhiều sáng kiến. Giống như các chính quyền trước đây, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa vẫn cần một sự cân bằng mới trong quan hệ dễ thay đổi giữa chính phủ và xã hội.
Kết luận
Có lẽ quan trọng nhất, văn hóa chính trị truyền thống trong dân chúng vẫn chưa bị xóa bỏ.

Phong trào Thiên An Môn 1989 có những hình thức tương tự các cuộc biểu tình truyền thống
Trong khi nhiều xã hội khác, từ 300 năm qua, đã phát triển các định chế đại diện, lập pháp và kiện tụng, Trung Quốc không hề có những định chế đó, hay nếu có thì chỉ là hình thức. Các cuộc biểu tình tại Trung Quốc, dù là hòa bình hay bạo lực, xuất phát từ nhiều bất bình mà dân chúng ở những nước khác có lẽ chẳng bao giờ xem là đáng phải xuống đường – những vụ lừa đảo kinh doanh, cảnh sát giao thông xử sai, bất đồng quanh lộ giới hành chính, cấp phép, hay thậm chí các cuộc thi giải trí.
Một số phong trào như vậy – như phong trào sinh viên ở Thiên An Môn – cố ý dùng hình thức kiến nghị theo phong cách truyền thống, ví dụ nằm sóng soài ra đường. Tất cả đều mang những biểu ngữ lớn, thường kèm khẩu hiệu tiếng Anh và tiếng Hoa, gợi nhớ Phong trào Ngũ Tứ 1919. Ngày nay cũng như quá khứ, tham nhũng thường là chất xúc tác của các phong trào. Nhưng trong thế kỷ 20, vấn nạn môi trường và bất công đã trở thành yếu tố mới và rất khẩn thiết trong các cuộc biểu tình và nổi loạn. Lịch sử gần đây của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa cho thấy người dân hy vọng các phong trào sẽ đạt được những mục tiêu truyền thống và không phải lúc nào họ cũng bị thất vọng. Trong nhiều trường hợp, chính phủ trung ương cho phép người dân đánh bại chính quyền địa phương trước khi người của trung ương kéo vào. Giới chức và doanh nhân địa phương sẵn sàng bị đem ra làm vật tế thần, và hình phạt, có khi nặng nề, thường được tiến hành chóng vánh.
Phản ứng song đôi – vừa đàn áp thẳng tay nổi loạn, nhưng cũng thừa nhận bất mãn của dân – vẫn tiếp tục là mô hình cai trị ở Trung Quốc hiện đại cũng như phong kiến. Và điều đó duy trì một xu hướng trong người dân, đó là sẵn sàng hy sinh một thiểu số người hoạt động với hy vọng có sự chỉnh sửa cho đa số.
Chừng nào đây vẫn là thành tố hiến pháp trong chính trị Trung Hoa, thì nhu cầu phát triển định chế của một chính phủ tự do vẫn bị ngăn chặn. Và chính phủ Trung Quốc, trong mắt nhiều người, sẽ vẫn tiếp tục có vẻ bất ổn hơn so với thực tế.
Giáo sư Pamela Crossley nhận bằng tiến sĩ ở Đại học Yale năm 1983, hiện dạy ở khoa Lịch sử của Đại học Dartmouth, tiểu bang New Hampshire, Mỹ. Bà từng nhận giải Levenson Prize of the Association for Asian Studies năm 2001. Cuốn The Wobbling Pivot, China since 1800 là tác phẩm mới nhất của bà.

http://www.bbc.co.uk/vietnamese/world/2011/07/110707_chinahistory_pamela_crossley.shtml

Khối ASEAN trôi dạt giữa biển Đông

David Brown/Asia Times
Theo: X-CafeVN
Lê Quốc Tuấn chuyển ngữ
Cuộc tranh chấp về chủ quyền trong vùng biển Nam Trung Hoa bùng lên trong những tuần gần đây đã trở thành lớn hơn chuyện cãi vặt trong một khu hàng xóm – cuộc tranh chấp này cũng hình thành một loại thử nghiệm thực tế của khái niệm cho rằng Hoa Kỳ và Trung Quốc có thể phát triển được một mối quan hệ “tích cực, hợp tác và toàn diện”.
Các tranh chấp lãnh thổ từng mưng mủ trong nhiều năm của Hiệp hội 10 thành viên các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) như một khuyết tật mãn tính nhưng không làm họ phải tàn phế. Hiện nay, sự quấy rối các tàu thăm dò dầu khí của Trung Quốc trong vùng biển mà Việt Nam và Philippines từng khẳng định chủ quyền đã mang vấn đề tranh chấp trong vùng biển Nam Trung Hoa đến một tình trạng nguy kịch. Và thách thức trắng trợn của Bắc Kinh đối với Quy luật về Ứng xử từng được khối ASEAN quyết định vào năm 2002 đang thử thách đến tính thích đáng liên tục của khối ASEAN trong các vấn đề an ninh khu vực.
Ảnh hưởng hỗ tương của những tình huống này hình thành chương trình nghị sự và nhấn mạnh tầm quan trọng của những cuộc họp đa phương sắp diễn ra. Tại phạm trù ngắn hạn là diễn đàn khu vực châu Á tại Bali, Indonesia, vốn sẽ mang bộ trưởng ngoại giao khối ASEAN và các nước khác về họp bên nhau từ ngày 22-23 tháng 7. Indonesia cũng sẽ chủ toạ các nhà lãnh đạo khu vực và toàn cầu tại Hội nghị Thượng đỉnh Đông Á vào giữa tháng Mười.
Đó là một mưu đồ nguy hiểm, theo nhà nghiên cứu Indonesia Monica Maria Wihardja. “Trong khi Mỹ không muốn gì hơn ngoài việc đưa vấn đề an ninh lên bàn thương lượng – bao gồm việc giao thông tự do và tránh sự thống trị bá quyền trong vùng biển Nam Trung Hoa – mà Trung Quốc đã tìm mọi cách để tránh điều này” cô đã viết cho trang web Diễn đàn Đông Á, lưu ý là Thủ tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo, trong chuyến thăm gần đây đến Indonesia, đã nhắc lại rằng khối ASEAN nên ngồi yên trong “tay lái” của Hội nghị Thượng đỉnh Đông Á.
Diễn đàn khu vực Châu Á năm ngoái đã nêu bật một cuộc va chạm đầy kịch tính giữa Trung Quốc và Mỹ. Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton tái nhấn mạnh các quyền lợi chiến lược của Mỹ ở Biển Nam Trung Hoa. Tuyên bố của bà được ca ngợi bởi sáu trong số 10 thành viên ASEAN và Bộ trưởng Trung Quốc Dương Khiết Trì từng cảm nhận một cách chính xác rằng mình đã bị phục kích.
Từ đó, dường như Trung Quốc đã có ý định chứng minh khả năng phát triển của mình để thách thức những vụ thăm dò dầu khí của các quốc gia lân cận, cả ở trong vùng biển tranh chấp với Nhật Bản cũng như ở vùng Biển Nam Trung Hoa. Ngày 15 tháng 6, ngày chiếc tàu tuần tra 3000 tấn mới nhất của họ và chiếc trực thăng Haisun 31, rời Quảng Châu trong chuyến thăm cấp cao tới Singapore, các sĩ quan Lực lượng Hải giám (CMS) đã thông báo kế hoạch mở rộng thêm hai phần ba lực lượng sẵn có của mình lên đến 260 tàu chiến và chín máy bay vào năm 2020.
Trong cuộc đụng độ gần đây ở Biển Đông, Trung Quốc cho rằng lực lượng của mình là nạn nhân của sự gây hấn từ Philippines và Việt Nam, một tuyên bố đã bị bác bỏ thông qua các phim video ghi lại một số sự cố. Khi được hỏi về những việc xảy ra, cán bộ hải quân Trung Quốc từ chối trách nhiệm, họ cho rằng đó là một vấn đề của lực lượng hải giám. Trong khi đó, phát ngôn viên của chính phủ trung ương nhấn mạnh rằng lực lượng Hải Giám đã dự phần vào việc “thực thi pháp luật thông thường … trong vùng biển có thẩm quyền tài phán của Trung Quốc” và vẫn cam kết rằng sẽ “làm việc cùng với các bên quan tâm để tìm kiếm một giải pháp cho tranh chấp liên quan”.
Lời giải thích khoan dung hơn cho hành vi của Trung Quốc đến từ các nhà phân tích từng cho rằng họ đã nhìn thấy bằng chứng về một chính sách không nhất quán. Không hề có va chạm hơn nữa kể từ ngày 09 tháng Sáu. Các giải thích của Trung Quốc tại cuộc họp vào ngày 25 Honolulu với các nhà ngoại giao cấp cao Mỹ và ở Bắc Kinh cùng một sứ giả đặc biệt từ Hà Nội đến tham dự cho thấy rằng cuộc khủng hoảng đã chấm dứt trong thời gian này.
Được biết, Hoa Kỳ đã đồng ý rằng cuộc tham vấn một ngày ở Honolulu, trao đổi về chính sách và mục tiêu hướng tới các diễn đàn khu vực từ 22 đến 23 tháng Bảy, hội nghị Đông Á và các cuộc họp đa phương khác, là “thân thiện, thẳng thắn và xây dựng”. Trong khi đó, cố vấn nhà nước Trung Quốc Đới Bỉnh Quốc và Phó ngoại trưởng Việt Nam Hồ Xuân Sơn “đã đồng ý để gấp rút hình thành một hiệp ước tham vấn có liên quan đến các nguyên tắc cơ bản để chỉ đạo giải quyết tranh chấp hàng hải giữa Việt Nam và Trung Quốc”, theo một thông cáo báo chí chung.
Bản báo cáo lạc quan từ Honolulu là không đáng ngạc nhiên, bất chấp lời cảnh báo thẳng thừng của Bắc Kinh trước cuộc họp – khác với những câu hỏi về tự do hàng hải – rằng Mỹ nên để các vấn đề biển Nam Trung Hoa cho những quốc gia nguyên đơn giaỉ quyết để khỏi bị “thiêu cháy bởi cơn giận dữ”.
Sau những va chạm mạnh bạo bằng lời với Trung Quốc trong năm 2010, bao gồm những trao đổi tại diễn đàn khu vực tại Hà Nội, Washington đã đầu tư mạnh vào việc sắp đặt lại mối quan hệ song phương. Chuyến thăm cấp nhà nước của Chủ tịch Hồ Cẩm Đào vào tháng Giêng đã cải thiện cuộc hoà giải. Trung Quốc tuyên bố rằng các cuộc họp Hồ-Obama đã mở ra một chương mới trong quan hệ song phương và cho rằng việc xây dựng mối quan hệ giữa hai cường quốc là rất cần thiết.
Như tờ New York Times nhận xet vào thời điểm ấy, chương trình nghị sự của Hồ Cẩm Đào trong chuyến thăm Mỹ cấp nhà nước của mình đã “vắng mặt một cách đáng nghi” mối tham vọng trong vùng biển Nam Trung Hoa của Trung Quốc. Tờ báo kết luận rằng nhà lãnh đạo Trung Quốc đã “sung sướng để cho vấn đề được chìm xuống, có lẽ vì lợi ích của việc muốn xoa dịu hơn nữa mối quan hệ với chính quyền Obama”. Tuy nhiên, việc chứng tỏ sức mạnh cơ bắp ở vùng biển Nam Trung Hoa hồi đầu tháng Ba của Trung Quốc đang thách thức đến những giả định về sự suy giảm mối căng thẳng Trung-Mỹ từng được dựng nên.
Những hành vi bao gồm việc quấy nhiễu các ngư dân Việt Nam (mà hiện nay sự xảy ra thường xuyên), thiết lập những khu vực chỉ định “cấm xâm phạm” trong các khu đảo san hô gần Philippines và quấy rối tàu thăm dò dầu khí. Sự cố gần đây nhầt, liên quan đến nỗ lực cắt đứt những cáp kéo từ hai con tàu thuộc công ty dầu khí quốc gia của Việt Nam và một chiếc thứ ba dưới hợp đồng với một công ty Philippines, tất cả đều trong vòng 200 dặm (321 km) vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) thuộc chủ quyền Hà Nội và Manila, là chưa hề có tiền lệ.
Nói ít nhưng làm nhiều
Với cái nhìn cố định của mình trên khung cảnh lớn hơn, không chính xá là các quan chức Mỹ tại Washington muốn ra khỏi các nguyên tắc của Clinton tại Diễn đàn khu vực châu Á năm ngoái, bao gồm cả việc Mỹ sẵn sàng tạo điều kiện cho các cuộc đàm phán hướng tới một giải pháp hòa bình cho các xung khắc.
Tuy nhiên, giọng điệu bình luận của các viên chức Mỹ rõ ràng là vẫn nhẹ nhàng. Các hành vi của Trung Quốc đã chỉ được mô tả như việc “gây phiền phức” dù còn có hàng chục tính từ mạnh mẽ hơn – như “nghiêm trọng” hoặc “khiêu khích” – vốn mô tả đúng đắn hơn cho tình huống ấy.
Washington đã phải chịu khó khăn để nhấn mạnh rằng Mỹ “không đứng về phe nào” trong cuộc tranh chấp lãnh thổ. Quan điểm “không đứng về phe nào” là không trung thực khi Hoa Kỳ vẫn tiếp tục cho rằng các tranh chấp chủ quyền quốc gia phải được hòa giải qua tham chiếu với “luật pháp quốc tế”.
Bằng cách này, Washington muốn nói rằng các quy tắc để sửa chữa những giới hạn của khu đặc quyền kinh tế (EEZ) và vùng lãnh hải đã được nêu trong UNCLOS, Hiệp ước về Luật biển của Liên Hiệp Quốc từng có hiệu lực vào năm 1994 và đã được phê duyệt bởi 161 quốc gia. Áp dụng các quy tắc của UNCLOS vào vùng biển tranh chấp với Trung Quốc, một khu vực rộng lớn trải dài 1.000 km về phía nam của đảo Hải Nam, trong tất cả các tính toán sẽ để vùng biễn này lại trong hai phần ba diện tích phía đông bắc của vùng biển xung quanh quần đảo Hoàng Sa – nhóm đảo nhỏ và các đảo san hô trong nửa phía bắc của vùng biển Nam Trung Hoa – và không một vùng biển nào trong số này ở quanh quần đảo Trường Sa về phía nam.
Các quy định của UNCLOS cũng không cho phép Trung Quốc sử dụng những đường cơ sở rút ra từ quần đảo Hoàng Sa để mở rộng đặc khu kinh tế của mình. Trong việc đòi hỏi chủ quyền, Trung Quốc bám vào chứng cớ từ việc khai thác lịch sử, hỗ trợ ngầm bởi khả năng phát triển nhanh chóng lực lượng an ninh hải quân và hàng hải của mình.
Trong bối cảnh hiện nay, những gì các nhà ngoại giao Mỹ đang nói với các phóng viên là hoàn toàn không quan trọng nếu trong hậu trường họ vẫn đang bận rộn củng cố xương sống của khối ASEAN và can ngăn Trung Quốc khỏi những cơn bốc đồng tồi tệ nhất. Trong khi đó, Việt Nam và Trung Quốc đã đồng ý khởi động lại những cuộc đàm phán của một “thỏa thuận về những nguyên tắc cơ bản nhằm hướng dẫn việc giải quyết các vấn đề biển” song phương, bất chấp thực tế thường được Hà Nội thể hiện là một căn bản đa phương.
Có rất nhiều định chế liên lạc giữa giới cầm quyền Trung Quốc và Việt Nam – giữa đảng với đảng, Bộ với Bộ, các tổ chức quần chúng lớn và đoàn thể, cấp tỉnh tỉnh lân cận với nhau – và một số khá đông các nhà lãnh đạo ở cả hai bên từng đầu tư vào một mối quan hệ lành mạnh và ổn định.
Kể từ đầu năm 2010, các quan chức ở cấp độ có trách nhiệm đã tổ chức sáu vòng đàm phán nhằm làm rõ vị trí về thẩm quyền biển trong khu vực quần đảo Hoàng Sa, phần biển Nam Trng Hoa mà chỉ có Trung Quốc và Việt Nam cùng tranh chấp quyền sở hữu. Những cuộc đàm phán – mà dường như cho đến nay vẫn ít có tiến bộ nào đáng kể – đã bị gián đoạn bởi cuộc khủng hoảng hiện tại, một sự trùng hợp khiến dẫn đến một số ủng hộ cho lý thuyết rằng sự cố cho thấy mục tiêu thật sự của Bắc Kinh đã bị cắt ngang bởi một mưu đồ của chủ nghĩa siêu ái quốc Trung Quốc.
Dù đúng hay sai, không chắc là Bắc Kinh sẽ phủ nhận những sự cố gây ra bởi lực lượng hải giám của mình sau thực tế xảy ra. Thật vậy, người phát ngôn của Trung Quốc đã liên tục cố gắng miêu tả các vụ đụng độ gần đây là những phản ứng hợp lý trước hành động khiêu khích của Việt Nam hoặc Philippines. Như vậy trên thực tế Trung Quốc đã chuyển hướng tới một lý thuyết về sự can thiệp để đảm bảo quyền độc quyền khai thác tài nguyên biển Nam Trung Hoa ở bất cứ nơi nào trong giới hạn “chín dòng vạch” khét tiếng của mình phủ khắp khu vực.
Vì vậy, những gì có thể làm được để đưa những đòi hỏi rắc rối vào một lộ trình hướng tới cuộc phân giải công bằng căn cứ vào luật pháp quốc tế ? Điều này tùy thuộc vào việc Indonesia chứng minh được mối thích đáng liên tục của ASEAN đối với các tranh chấp qua việc vận dụng Diễn đàn khu vực châu Á và các cuộc họp Hội nghị Thượng đỉnh Đông Á sắp tới để mang lại kết quả, hoặc một sự đồng thuận. Sau Tháng Mười Một, ghế chủ tịch của ASEAN sẽ đến tay Campuchia, rồi Myanmar và sau đó là Lào – tất cả các nước từng xem Trung Quốc là khách hàng cấp nhà nước vốn chắc sẽ không thể chống lại áp lực từ Bắc Kinh.
Một bài xã luận gần đây trên tờ Jakarta Post đề nghị một phương hướng mới. Bài viết lập luận rằng sau 10 năm căng thẳng để tìm một mẫu số chung đồng thuận thấp nhất, trước tiên là khối ASEAN nên đến với một nền tảng chung về quy tắc ứng xử, từ đó đặt áp lực lên Trung Quốc để hành động có trách nhiệm như một siêu cường trong khu vực.
Chừng nào các thành viên của ASEAN còn không thể đồng ý với nhau, Trung Quốc vẫn còn khó mà cưỡng lại cám dỗ của việc lựa ra từng đối thủ riêng lẻ. Một khi đã quy phục được Philippine và Việt Nam, bằng cách chia để trị thì Malaysia và Brunei sẽ dễ dàng hơn để tạo áp lực. Ngược lại, nếu bốn nước ASEAN tranh chấp lãnh hải có thể giải quyết các tranh chấp lãnh thổ với nhau, họ sẽ ở vào được một vị trí đáng kể để đàm phán mạnh mẽ trực diện với Trung Quốc. Trừ khi bị lôi kéo bởi các khách hàng của Trung Quốc trong nội bộ ASEAN, cũng không phải phân chia các phần của Biển Nam Trung Hoa bao gồm quần đảo Trường Sa trải dài rất khó chứng minh. Tất cả bốn nước tranh chấp ASEAN đã cho thấy sự sẵn lòng để áp dụng quy định UNCLOS của mình, chỉ còn Trung Quốc tiếp tục chống lại điều này.
http://tintuchangngay4.wordpress.com/2011/07/05/kh%E1%BB%91i-asean-troi-d%E1%BA%A1t-gi%E1%BB%AFa-bi%E1%BB%83n-dong/
________________

Để lại phản hồi »

Chưa có phản hồi.

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Blog at WordPress.com.

%d bloggers like this: