Hoàngquang’s Blog

26/06/2011

Dân tộc đang hồi sinh

Filed under: Chính trị- xã hội,TỔ QUỐC VIỆT NAM — hoangquang @ 8:48 sáng

(Thư gửi GS Nguyễn Huệ Chi và Ban điều hành trang BVN)
Thái Hữu Tình
+ Khúc hát chia tay con tháng hai năm bảy chín
& Một thiên đường của chúng ta đã mất

Dân tộc đang hồi sinh

Thưa Giáo sư Nguyễn Huệ Chi cùng Ban điều hành trang mạng Bauxite Việt Nam.
Cách đây chưa lâu, những trí thức lo lắng cho Dân trí và Văn hóa của Dân tộc đều nhận thấy tình trạng vô cảm và mất gốc trong xã hội. Một Dân tộc đã đến độ vô cảm và mất gốc thì coi như một Dân tộc chết, chỉ còn chờ kẻ cướp nước xông vào khiêng đi hoặc kẻ bán nước ký giấy bán “cái roẹt” là xong. Và đúng là kẻ xâm lược đã không bỏ lỡ “thời cơ vàng” ấy của chúng. Chúng đang hung hãn như đi vào chỗ không người, sỉ nhục Tổ quốc chúng ta.
Nhưng trong họa đã có phúc. Từ khi đất nước “thu về một mối dưới sự lãnh đạo”, đã bao giờ người dân dám tự tiện xuống đường bộc lộ lòng yêu nưóc Việt Nam, một khi Đảng chưa bảo xuống đường? Cuộc thức tỉnh đã khơi nguồn từ 3 năm trước, cũng vì những hành động leo thang của Trung Quốc lúc ấy, lặng đi một hồi, nay chính kẻ xâm lược lại đánh thức chúng ta.
1/ Để “cảm” cái “ơn” đã đánh thức Dân tộc Việt Nam, tôi đã có bài thơ “cảm ơn kẻ cướp Trường Sa” (viết ngày biểu tình sôi sục 10-12-2007). Nay chính là lúc tôi xin Giáo sư cho nhắc lại bài thơ này.

DÂN TỘC HỒI SINH
Sinh viên biểu tình phải đâu chuyện lạ
Nhưng nước mình khác nước người ta (!)
Nếu quả thực đã hồi sinh được hồn Dân tộc
Thì tôi thực tình, cảm ơn kẻ cướp Trường Sa
Kẻ quen lấy thịt đè người!
Vẫn còn đó thịt xương thối rữa:
Máu đỏ Bạch Đằng, xương trắng Đống Đa!
Nó cậy tài chuyên làm đồ giả
Mười sáu chữ vàng cũng đồ vàng mã [1]
Môi răng gì một giọng lái buôn.
“Toàn dân nghe chăng…” lời của quốc hồn
Thưa tiên tổ chúng con nghe rõ
Nhục vong quốc bao năm còn đó
Dẹp phân ly, đoàn kết giữ sơn hà!
Này anh Công an, đứng vào đây sát cánh
Nối vòng tay, ta giữ nước non ta!
Một sớm mùa đông nước non này ấm lại
Cám ơn mày, kẻ cướp Trường Sa!
10-12-2007
Và chính từ sự xúc động thiêng liêng ấy, tôi thấy trang mạng Bauxite Việt Nam cần dõng dạc công bố điều chân lý nóng hổi trước mắt như sau: NGĂN CẢN NHÂN DÂN BIỂU TÌNH ÔN HÒA CHỐNG XÂM LƯỢC LÀ HÀNH VI PHẢN QUỐC!
Người Công an Việt Nam yêu nước một mặt có nhiệm vụ giữ an ninh cho các Sứ quán và Tổng lãnh sự nước ngoài, một mặt có nghĩa vụ và trách nhiệm bảo vệ an ninh cho các đoàn biểu tình của dân mình, không để cho những kẻ côn đồ tự tiện gây rối, tự tiện bắt người biểu tình như một Công an chính thức vậy! Tại sao đối với những kẻ giả danh Công an làm điều phản quốc, khủng bố dân, mà Nhà nước ta lại làm ngơ cho chúng làm điều phạm pháp kéo dài như vậy?
Ông Trương Tấn Sang nên có tiếng nói diệt bọn SÂU khủng bố này, nguy hiểm hơn các SÂU kinh tế, SÂU tham nhũng.
– Trước sự thực cuộc biểu tình ngày 19-6-2011 ở Sài Gòn không tiến hành được như ở Hà Nội, chúng ta nên phê phán sự xiết chặt An ninh ở Sài Gòn quá đáng, và động viên tinh thần quyết tâm của bà con Sài Gòn, chứ không nên ganh tỵ rằng nhà nước “yêu” dân Hà Nội hơn nên bật đèn xanh, nghĩ như vậy là sa bẫy…
2/ Người biểu tình phải hướng vào mục tiêu đoàn kết chống xâm lược, không được làm gì chệch mục tiêu đó. Ngoài việc giương khẩu hiệu và hô khẩu hiệu cần có những BÀI HÁT thích hợp, để tăng khí thế kết đoàn, yêu nước, chống xâm lăng. Lực lượng đông đảo và có sinh lực nhất là các bạn thanh nhiên, sinh viên nam nữ. Tôi gợi ý một bài rất thích hợp với tinh thần đó: Bài HỌC SINH HÀNH KHÚC của Lê Thương. Những thanh niên cuối của “thế hệ vàng” ngày trước, khi cất lên lời ca hùng tráng:
Học sinh là người Tổ quốc mong cho mai sau
Học sinh xây đời niên thiếu trên bao công lao
Lúc khắp quốc dân tranh đấu hy sinh cho nền độc lập
Học sinh nề chi tuổi xanh trong lúc phấn đấu
Đem hết can tràng của người Việt Nam tiến lên!

Học sinh là mầm sống của ngày mai
Nung đúc tâm hồn để nối chí lớn
Theo các thanh niên sống vì giống nòi
Liều thân vì nước, vì dân mà thôi…

là thấy tuổi thanh xuân của mình được chắp cánh, thấy tâm hồn được trong sạch, thấy nghĩa vụ phải đem bầu máu nóng giữ gìn và xây đắp non sông. Các bạn thanh niên sinh viên bây giờ đồng thanh hát hành khúc này nhất định cũng thấy lòng mình như vậy. Các bậc cao niên nghe hành khúc này sẽ được sống lại tuổi trẻ hào hùng đã qua,
Tôi xin chép lại toàn bộ lời ca và 1 file âm thanh (đính kèm) của bài HỌC SINH HÀNH KHÚC để các bạn sử dụng. Kính nhờ trang mạng BVN chuyển tải.
Một ngày non nước hồi sinh, thấy mình trẻ lại.
Cảm ơn Giáo sư và trang mạng Bô-xít.
Kính thư
Thái Hữu Tình.
Phụ lục: Toàn bộ lời ca bài HỌC SINH HÀNH KHÚC của Lê Thương:
Học sinh hành khúc -Nhạc và lời: Lê Thương

Học sinh là người Tổ quốc mong cho mai sau
Học sinh xây đời niên thiếu trên bao công lao
Lúc khắp quốc dân tranh đấu hy sinh cho nền độc lập
Học sinh nề chi tuổi xanh trong lúc phấn đấu
Đem hết can tràng của người Việt Nam tiến lên!
Điệp khúc 1:
Học Sinh là mầm sống của ngày mai
Nung đúc tâm hồn để nối chí lớn
Theo các thanh niên sống vì giống nòi
Liều thân vì nước, vì dân mà thôi
Điệp khúc 2:
Học sinh là người mới của Việt Nam
Đã thoát ra một thời xưa tối ám
Đem sức thanh tân chống mọi suy tàn
Học sinh làm sáng đời dân Việt Nam.

Chú thích:
[1] Thứ vàng thoi làm bằng giấy để đốt cho người chết.
[2] Trích lời bài hát Hội nghị Diên Hồng của Lưu Hữu Phước.
Tác giả gửi trực tiếp cho BVN.
http://boxitvn.blogspot.com/2011/06/dan-toc-ang-hoi-sinh.html#more

Khúc hát chia tay con tháng hai năm bảy chín

Đoàn Bình Lục
Con à con ơi, Tổ quốc gọi rồi
Lũ giặc Trung Hoa ào qua biên giới
Nó bỏ lương tri, nó phá tình người
Cái loài gian tham, cái quân phản bội.
Đất này của ta, nhà này của ta
Luống rau công mẹ, mảnh vườn sức cha
Nó ào vào đây, đất này nó cướp
Nó muốn đời con lớn lên mất nước.
Con à con ơi, Tổ quốc gọi rồi
Lũ giặc Trung Hoa ào qua biên giới
Nó cậy đông dân, nó muốn thí người
Cái loài gian tham, cái quân phản bội.
Cha đang băn khoăn là năm thiếu nhi
Chưa kịp tặng con một món quà gì
Lũ giặc Trung Hoa ào qua biên giới
Mẹ phải bồng con gửi về quê nội.
Con à con ơi, con ngoan con ngủ
Tháng tám ngày giông, tháng ba ngày giữ
Vất vả nuôi cha tóc bà bạc phơ
Bà lại nuôi con cho cha đi xa.
Đất này của ta, nhà này của ta
Tiếng người như hát, nụ cười như hoa
Sẽ thành bão giông, sẽ thành lửa thép
Nó ào vào đây, nó thua nó chết.
Rồi con lớn lên, mai sau ngoảnh lại
Sẽ không phải. Cuộc đời ta không phải
Bứt dứt giật đi sợi bạc trên đầu
Đời cha tự hào, đời con tự hào.
Con đi công viên con cưỡi máy bay
Cho tiếng hát con hòa trong nắng gió
Con đi học trường UNICEF xây
Cao, thoáng, mát và ngời ngời màu đỏ.
Cha bế con nào, cha hôn con nhé
Mơ ước của cha, niềm vui của mẹ
Con à con ơi, Tổ quốc gọi rồi
Con lớn ngoan trong niềm tin cuộc đời.

Đ. B. L.
Bài thơ này tôi viết tháng 2 năm 1979 khi Trung Quốc tấn công Việt Nam.
Lúc đó chúng tôi là cán bộ công nhân viên Viện Luyện kim đen ở Khu Gang thép Thái Nguyên. Con gái tôi sinh ngày 10 tháng 5 năm 1978 nhưng tháng 2 năm 1979 chúng tôi phải gửi về quê cho ông bà nội cháu nuôi hộ để tham gia dân quân và quân dự nhiệm chuẩn bị đánh Tàu.
Tôi muốn gửi một tiếng nói nhỏ góp vào phong trào chung phản đối Trung Quốc xâm phạm vùng biển Việt Nam hôm nay.
Được đăng bởi bauxitevn vào lúc 02:12
Nhãn: Biên giới
http://boxitvn.blogspot.com/2011/06/khuc-hat-chia-tay-con-thang-hai-nam-bay.html#more

Một thiên đường của chúng ta đã mất

(Năm 2007, còn làm ở báo Pháp Luật TP HCM. Bài này viết nhưng Ban Biên tập không đăng).

“Sáng đó (19.1.1974), chúng tôi dậy tập thể dục. Mặt trời lên rất đẹp. Bất ngờ một người nhìn thấy ngoài khơi có rất nhiều tàu bao vây quanh đảo. Mọi người vội vàng chạy vào lấy ống nhòm ra nhìn và biết đó là tàu của Trung Quốc” – ông Tạ Hồng Tân, một trong những người Việt Nam cuối cùng rời khỏi Hoàng Sa nhớ lại như vậy.

Bị Trung Quốc bắt làm tù binh
Đó là một ngày không quên trong đời ông Tân. Năm nay đã 73 tuổi, ông Tân sống bằng nghề dạy kèm tiếng Anh, tiếng Pháp tại phường An Hải Đông thành phố Đà Nẵng. Ông là người gốc sài Gòn, làm nhân viên quan trắc cho Đài khí tượng Sài Gòn, được điều ra Trung tâm khí tượng Đà Nẵng làm quan trắc viên Trạm khí tượng Hoàng Sa cuối năm 1973 cho đến ngày bị Trung Quốc bắt làm tù binh. Khi đó, trên đảo có một trung đội Địa phương quân thuộc Đại đội 157, địa phương quân Đà Nẵng của chế độ Sài Gòn và 6 nhân viên thuộc Trạm khí tượng Hoàng Sa. Ông Tân kể: “Thấy tàu chiến nhiều quá chúng tôi rất lo âu. Nhân viên vô tuyến của trạm liên lạc về Đài khí tượng Đà Nẵng cầu cứu. Kêu thì kêu vậy nhưng biết không làm gì được vì lực lượng bên đó quá đông!”. Từ sáng sớm đến hết cả ngày 19-1-1974, tàu chiến Trung Quốc án binh bất động. Lúc đó, đã xảy ra hải chiến ngoài khơi, ở các đảo xung quanh, nhưng những nhân viên khí tượng này không biết. Khoảng 5h chiều, sau một đợt pháo kích, Trung Quốc cho quân đổ bộ vào đảo bắt sống toàn bộ trung đội Địa phương quân và 6 nhân viên khí tượng, trong đó có ông Tạ Hồng Tân. “Họ đưa chúng tôi lên tàu về đảo Hải Nam ngày hôm sau. Chúng tôi được chuyển lên xe bịt bùng về giam ở đâu không biết!” – ông Tân kể. Chúng tôi xác định được nhà giam ông Tân cũng như các binh lính khác là nhà lao Thu Dung thuộc tỉnh Quảng Châu. Vào nhà giam, mọi người bị lấy lời khai nhưng được đối xử tử tế.
Khoảng gần 3 tuần sau, ông Tân nói có một cán bộ Trung Quốc tới trại, đem theo người phiên dịch nói cho chúng tôi biết: “Hoàng Sa là đảo của Trung Quốc nhưng Việt Nam chiếm làm đài Khí tượng. Nay Trung Quốc lấy lại và các anh sẽ được trả tự do trong vài ngày tới”. Khoảng gần 1 tuần sau, ông Tân cùng toàn bộ tù binh bị Trung Quốc bắt đưa qua Hồng Kông. Chính quyền Sài Gòn điều một chiếc máy bay C130 sang Hồng Kông nhận trao trả tù binh. Phần lớn số tù binh sau đó về lại nơi làm việc ở Đà Nẵng. Tiễn chúng tôi ra về tới cửa, ông Tân còn nheo nheo mắt hỏi: “Không biết bây giờ tên của tôi có còn ngoài Hoàng Sa không?”. Một câu hỏi thật khó trả lời. Tất cả những binh sĩ chế độ Sài Gòn và nhân viên khí tượng khi đến Hoàng Sa, những giờ rảnh rỗi họ ra những tảng đá ven biển khắc họ tên và địa chỉ mình lên đó làm kỷ niệm. Khi ông Tân ra thì đã thấy lớp lâu lớp mới tên người Việt Nam trên đá, ở những vị trí tuyệt đẹp.

Thiên đường đã mất
Một trong những người từng làm việc lâu đời ở Hoàng Sa hiện còn sống tại Đà Nẵng là ông Nguyễn Tấn Phát, nhân viên quan trắc Đài khí tượng Sài Gòn. Đầu năm 1958, ông Phát được điều theo dạng luôn phiên ra Đà Nẵng rồi đi Hoàng Sa. Đó là một thời kỳ đẹp đẽ nhất trong đời của một chàng trai Sài Gòn. Ông nói: “Mỗi nhân viên chỉ đi Hoàng Sa luân phiên 3 tháng, mỗi lần đi có 6 người gồm 4 quan trắc viên, 1 nhân viên vô tuyến và 1 nhân viên phục vụ lo thổi bóng hơi quan trắc cao không đo gió kiêm hậu cần. Tôi lúc đó mới 23 tuổi, chưa lập gia đình, thấy cảnh sắc thần tiên nên mê và xin ở lại luôn cả nửa năm”. Nửa năm sống trên đảo trong ký ức của ông Phát bây giờ là nửa năm làm Từ Thức!”. Công việc quan trắc cũng khá nhẹ nhàng, chủ yếu vài thời điểm trong ngày. Thời gian còn lại ông cùng những đồng nghiệp mình ngao du khắp đảo Hoàng Sa. Lâu lâu, ông kể là đi theo xuồng máy của đơn vị Thủy quân lục chiến chế độ Sài Gòn đi thăm các đảo có chim sinh sống. Đó là những bãi cát vàng rực trong ánh chiều tà. Chân chúng tôi len lỏi giữa những ổ trứng chim. Chim nhiều vô kể, chúng không hề sợ hãi khi thấy người tới gần. Bình Minh trên quần đảo Hoàng Sa là thời khắc huy hoàng nhất trong ngày. “Chúng tôi thấy mặt trời đỏ rực, to và rất gần. Nắng lên một chút, nước biển ven bờ xanh một màu ngọc bích đẹp lạ lùng, xa xa hơn một chút nữa màu xanh dương rồi tới xanh lục. Chiều chiều rảnh rỗi chúng tôi bơi ra xa lặn xuống xem những rạn san hô với cá đủ màu sắc…” – ông Phát kể như vậy.
Đặc biệt nhất tại Hoàng Sa là cá. Cá nhiều vô kể, nhất là cá mú. Lính đảo cùng các nhân viên khí tượng sống nhờ nguồn thực phẩm khá dồi dào tại Hoàng Sa. Cá, ốc, mực, bạch tuộc, chim… “Chỉ cần quăng câu chừng vài phút là được gần cả chục con cá mú, cá khế, cá xanh xương… Con nào con đó nặng trên 5 – 7 ký” – đó là ký ức của ông Võ Như Dân, người ở Hoàng Sa nhiều nhất nay còn sống. Ông Dân làm nhân viên hậu cần cho Trạm khí tượng Hoàng Sa từ năm 1956. Đội hậu cần thời đó chỉ có 3 người luân phiên nhau ra Hoàng Sa. Chính vì vậy, cho đến ngày Hoàng Sa rơi vào tay Trung Quốc năm 1974, ông Dân có 14 chuyến ra Hoàng Sa, mỗi chuyến 3 tháng, tổng cộng là 3 năm rưỡi sinh sống trên đảo. Cảnh sắc quen thuộc thân thương quá đỗi đến mức ông bảo: “Hôm qua tôi xuống Sở Nội vụ TP Đà Nẵng, nơi có kho tư liệu và hành ảnh về Hoàng Sa, tối về tôi nằm mường tượng nó ở trước mặt tôi. Cả phần đời tôi đã ở đó…”. Nhiệm vụ là hậu cần nên suốt ngày ông Dân đi câu cá phục vụ thức ăn cho toàn đội. Đồ hộp cũng nhiều nhưng không ai ăn. Khu nhà khí tượng do Pháp xây trên đảo có những hầm chứa nước mưa dùng uống quanh năm.
Khoảng năm 1958, có lần một đoàn tàu Trung Quốc đến gần nhưng bị Thủy quân lục chiến chế độ Sài Gòn bắn dọa đuổi đi. Tàu cá của Nhật cũng có tới xin nước ngọt. Họ không biết tiếng Việt nhưng ra dấu xin lên đảo lấy nước rồi cúi đầu cảm tạ… Bao nhiêu kỷ niệm còn sống trong lòng những người đã từng ở Hoàng Sa. Ông Phạm Khôi, nguyên là lính địa phương quân Việt Nam cộng hòa, hiện sống ở Đà Nẵng mở tủ lấy ra hai chiếc vỏ ốc hoa còn khắc ngày ông đặt chân lên Hoàng Sa: 23 tháng chạp năm 1969. Đó là hai chiếc vỏ ốc ông mang về và trở thành báu vật của đời ông!
NGUYỄN MINH SƠN
http://www.pagewash.com//nph-index.cgi/000010A/uggc:/=2fia.360cyhf.lnubb.pbz/athlrazvaufba72-athlrazvaufba72/negvpyr=3fzvq=3d968

Để lại phản hồi »

Chưa có phản hồi.

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Tạo một website miễn phí hoặc 1 blog với WordPress.com.

%d bloggers like this: