Hoàngquang’s Blog

24/06/2011

Nạn Tẩu Tán Tài Sản

Filed under: Chính trị- xã hội,Kinh tế — hoangquang @ 4:35 sáng
Tags:

Nguyễn Xuân Nghĩa – Vũ Hoàng RFA

&Khi hầu hết các gói thầu EPC vào tay Trung Quốc: Rủi ro khó lường
*Đại Bá và Đại Họa >

*Khi Nước Toàn Có Lậu >

*Trả Nợ Đậy – Với Màu Sắc Trung Hoa >

Phố Trung Quốc” ở Ninh Bình >

****
Nạn Tẩu Tán Tài Sản
Nguyễn Xuân Nghĩa – Vũ Hoàng RFA

Làm sao lấy lại tài sản quốc dân bị thất thoát?
Hôm Thứ Ba 21 Tháng Sáu, Ngân hàng Thế giới và Văn phòng Liên Hiệp Quốc về Ma túy và Tội ác, gọi tắt là UNODC vừa công bố một báo cáo đáng chú ý. Đó là “Những Rào cản trong việc Thu hồi Tài sản bị Thất thoát”.

Xuất phát từ sáng kiến do Văn phòng ODC của Liên hiệp quốc đề xướng năm 2007 nhằm thu hồi lại các khoản tài sản của quốc dân bị đánh cắp, hai tổ chức quốc tế nói trên đã nghiên cứu về những trở ngại và đưa ra nhiều đề nghị cho giới hữu trách của các quốc gia. Diễn đàn Kinh tế tìm hiểu về đề tài đặc biệt này qua phần trao đổi cùng nhà tư vấn kinh tế Nguyễn Xuân Nghĩa do Vũ Hoàng thực hiện.

Tài sản của quốc dân

Vũ Hoàng: Xin kính chào ông Nguyễn Xuân Nghĩa. Thưa ông, Ngân hàng Thế giới vừa công bố kết quả nghiên cứu hỗn hợp với Văn phòng Bài trừ Ma túy và Tội ác của Liên hiệp quốc về việc thu hồi các khoản tài sản quốc dân đã bị thất thoát. Khi được bản tin của Ngân hàng Thế giới phổ biến cho truyền thông về công trình nghiên cứu này, chúng tôi tò mò về ba chuyện, thứ nhất là tài sản thất thoát, thứ nhì là nỗ lực thu hồi, và thứ ba là những cản trở trong việc thu hồi đó
Vì vậy, mục Diễn đàn Kinh tế kỳ này đề nghị ông trình bày cho vấn đề và công trình nghiên cứu nói trên, và như thông lệ, xin ông nói về bối cảnh của câu chuyện….

Nguyễn Xuân Nghĩa:
– Trong lĩnh vực truyền thông, chúng tôi được tham khảo tài liệu này một ngày trước với yêu cầu là chỉ phổ biến ngày Thứ Ba 21, theo giờ quốc tế. Xin nói ngay rằng đây là một phúc trình chuyên môn về pháp lý của một vấn đề phức tạp vì liên hệ đến chuyện quốc gia và quốc tế, và bao trùm lên nhiều lĩnh vực khác nhau, từ kinh tế đến chính trị, từ viện trợ đến ngoại giao, từ hình sự đến chính sách….

– Về bối cảnh thì năm 2007, Văn phòng ODC của Liên Hiệp Quốc đề xuất một sáng kiến gọi là “Thu hồi Tài sản bị Đánh cắp” – Stolen Asset Recovery. Lý do là tài sản quốc dân của nhiều nước đang phát triển đã bị đánh cắp và tẩu tán nên gây thiệt hại xã hội cho các nước nghèo. Từ mười mấy năm nay, con số mà các nước nghèo bị thất thoát như vậy có thể là từ 20 đến 40 tỷ đô la một năm, mà đa số lại do chính các viên chức nhà nước gây ra. Trong 15 năm qua thì các nước chỉ thu hồi được có năm tỷ, một tỷ lệ cực kỳ ít ỏi. Vì vậy, Liên Hiệp Quốc mới cùng Ngân hàng Thế giới nghiên cứu phương cách lấy lại được các khoản tài sản đó. Bản báo cáo nêu ra 29 rào cản cho việc thu hồi và đưa ra tám nhóm đề nghị để cải tiến. Đó là về bối cảnh, thưa ông.

Vũ Hoàng: Trước tiên, chúng ta hãy nói về định nghĩa. Thưa ông, thế nào là một tài sản bị ăn cắp hoặc bị thất thoát?

Nguyễn Xuân Nghĩa: – Tiếp tục nói về bối cảnh vấn đề thì xã hội nào cũng có tội ác, nạn tham ô và ăn cắp. Nhưng trong các nước đang phát triển – tức là còn nghèo – và lại bị ách độc tài, thì hiện tượng tội ác, tham nhũng và ăn cắp rất dễ gom làm một và được chính guồng máy nhà nước “định chế hóa” – trong ngoặc kép. Sự kiện đó khiến lãnh đạo có thể thu vét tài sản của quốc dân và tẩu tán ra ngoài. Theo ước tính của Liên Hiệp Quốc vào năm 2007, trích dẫn một tác giả vào năm 2005 thì trên thế giới, tài sản bị đánh cắp như vậy có thể lên đến từ 1.000 tới 1.600 tỷ đô la một năm. Mà phân nửa là tại các nước đang phát triển! Một thí dụ ai cũng rõ là khi một chế độ độc tài sụp đổ thì lãnh tụ hoặc thân tộc của họ có tài sản tới mấy chục tỷ đô la và việc thu hồi lại khoản tiền đó để trả lại cho quốc dân bị bóc lột đã trở thành vấn đề của quốc tế.

Khi một chế độ độc tài sụp đổ thì lãnh tụ hoặc thân tộc của họ có tài sản tới mấy chục tỷ đô la và việc thu hồi lại khoản tiền đó để trả lại cho quốc dân bị bóc lột đã trở thành vấn đề của quốc tế.

Ô. Nguyễn Xuân Nghĩa

– Trả lời cho câu hỏi của ông về định nghĩa, ta có thể nhìn ra nhiều cấp khác nhau. Một tổ chức tội ác như buôn bán ma túy cũng thụ đắc, tẩu tán và còn rửa sách các khoản tiền bất chính này. Trong các nước giàu, người ta cũng có thể tẩu tán tài sản hoặc đầu tư ra ngoài để tránh thuế chẳng hạn. Trong các nước nghèo, giới chức cao cấp trong đảng cầm quyền hay bộ máy nhà nước cũng có thể ăn cắp tài sản quốc dân và chuyển ra ngoài. Một thí dụ nóng hổi là cách đây một tuần, hôm 13 vừa qua, chính Ngân hàng Trung ương của Bắc Kinh cũng vừa báo động là viên chức nhà nước, đa số trong lĩnh vực an ninh, lại đánh cắp tài sản quốc dân đến khoảng 123 tỷ đô la trong những năm từ 1995 đến 2008 và tẩu tán ra nước ngoài qua tám ngả khác nhau! Đây là con số chính thức chứ con số thật thì hiển nhiên là phải cao hơn.

– Trong đề tài chúng ta đang tìm hiểu thì Ngân hàng Thế giới và các cơ quan chuyên môn của Liên hiệp quốc tập trung chú ý đến loại tài sản bị viên chức nhà nước ăn cắp theo nhiều cách khác nhau và tuồn ra ngoài. Từ nhiều năm nay, họ thấy ra hậu quả của hiện tượng này là sự bất công cho dân nghèo và tai họa cho xã hội về mặt chính sách và pháp chế nên tìm cách thu hồi lại.

Rất khó thu hồi

Vũ Hoàng: Và theo như ông vừa trình bày, họ còn thấy ra đến 29 rào cản cho việc thu hồi này. Thế các rào cản như vậy là những gì, mà vì sao lại có quá nhiều như vậy?

Một nhà đầu tư chứng khoán ở Hà Nội hôm 25/3/2008. Ảnh minh họa. AFP photo

Nguyễn Xuân Nghĩa:
– Kết quả nghiên cứu của các chuyên gia quốc tế nêu ra ba nhóm rào cản hay những khó khăn khác nhau của việc thu hồi.

– Thứ nhất là sáu trở ngại tổng quát thuộc lĩnh vực định chế là lĩnh vực tâm lý và chính sách có khả năng chi phối cách hành xử. Các trở ngại đó gồm có sự thiếu tin cậy; thiếu một chính sách nhất quán; thiếu phương tiện; thiếu sự tham gia đồng bộ vào các biện pháp được quốc tế đề ra; thiếu phối hợp giữa các cơ quan hữu trách; v.v…

– Thứ hai là rất nhiều, có đến 14 loại, trở ngại về pháp lý khiến thủ tục tiến hành việc thu hồi bị chậm trễ, nhiêu khê, tốn kém và chưa hiệu quả. Các luật gia đang tiến hành nghiệp vụ này trong thực tế đã nêu ra những khó khăn muôn mặt về pháp lý nên cũng đề nghị một số biện pháp đối phó khá độc đáo.

– Thứ ba là chín loại rào cản thuộc lĩnh vực điều hành hay nghiệp vụ, từ chuyện thiếu thông tin đến yêu cầu tập trung giải quyết cốt lõi của vấn đề, từ tinh thần thiếu biến báo sáng tạo đến các khó khăn khá cụ thể như thiếu kế toán công khai, không có khả năng tham khảo hồ sơ của các ngân hàng nước ngoài, v.v…

– Nói chung thì sáng kiến đã có, một số khí cụ pháp lý để tiến hành việc thu hồi tài sản bị đánh cắp cũng đã có, nhưng cần có sự phối hợp và cải tiến cho tinh vi hơn thì mới đạt kết quả.

Vũ Hoàng: Từ chuyện đó, chúng ta bước qua phần đề nghị. Báo cáo này có đưa ra tám nhóm đề nghị khác nhau, thưa ông, nội dung các đề nghị đó là những gì?

Nguyễn Xuân Nghĩa:
– Nếu đối chiếu với các trở ngại nhiều mặt được quy vào ba loại khác nhau thì tám loại đề nghị có tính chất chỉ đạo ấy cũng có thể được xem như để giải quyết từng loại trở ngại. Chúng ta cần xin lỗi quý thính giả vì sẽ nói về chuyện trừu tượng nhức đầu!

– Thứ nhất là về mặt định chế. Nếu có thực tâm giải quyết, quốc gia nên quyết liệt nêu quyết tâm thi hành một chính sách và chiến lược minh bạch, rộng lớn, bền bỉ và có phối hợp. Chiến lược đó phải đưa tới chính sách có đặc tính chủ động chứ không thụ động, linh hoạt và biến báo, công khai và trong sáng, chứ không nên viện dẫn lý do thoái thác, như vì quyền lợi kinh tế chẳng hạn.

– Thứ hai, về các trở ngại pháp lý, ta thấy ra hai cấp thẩm quyền là truy tố tội phạm và thu hồi tài sản phi pháp. Đề nghị ở đây là phải có phương cách hay khảo hướng linh hoạt và chủ động, để kết hợp cả hai. Việc truy tố về hình sự cần được phối hợp với nhu cầu thu hồi tài sản và đòi hỏi nhiều thủ tục pháp lý về thời gian như kéo dài hạn kỳ hồi hiệu, và về không gian như bãi bỏ chế độ bí mật ngân hàng trong các vụ án có tính chất quốc tế. Cụ thể là tài sản tấu tán ra ngoài mà được cất giữ trong ngân hàng ngoại quốc thì phải tìm cho ra và lấy về cho hết!

Nói chung thì sáng kiến đã có, một số khí cụ pháp lý để tiến hành việc thu hồi tài sản bị đánh cắp cũng đã có, nhưng cần có sự phối hợp và cải tiến cho tinh vi hơn thì mới đạt kết quả.
Ô. Nguyễn Xuân Nghĩa

– Thứ ba, về loại rào cản trong điều hành và liên lạc khi thi hành nghiệp vụ thì bản báo cáo đề nghị xây dựng tinh thần tin cậy và trao đổi thông tin giữa các giới chức hữu trách, thúc đẩy việc huấn luyện nhân viên điều tra, các thẩm phán và công tố viên về tiêu chuẩn luật pháp quốc tế. Tinh thần chủ đạo ở đây là thông tin và hợp tác từ cấp quốc gia ra quốc tế để giới chức có nhiệm vụ thu hồi tài sản hoàn tất được nhiệm vụ.

– Nói chung, đây là các đề nghị chính yếu và thiên về lĩnh vực pháp lý xuất phát từ kinh nghiệm thực tế của hơn 50 viên chức đã phải thi hành nhiệm vụ này, cho nên nếu chúng ta không có những vụ án cụ thể hoặc thí dụ rõ ràng thì thấy là quá trừu tượng và khó hiểu.

Trường hợp Việt Nam

Vũ Hoàng: Quả thật là nếu không đặt các hồ sơ này trong khung cảnh thực tế và có kiến thức cơ bản về pháp lý thì mình khó mường tượng ra nội dung của vấn đề và các phương thức cải tiến. Câu hỏi cuối, thưa ông, nói riêng về trường hợp Việt Nam, ông có nhận định gì về hồ sơ này?

Trụ sở chính của tập đoàn Vinashin tại Hà Nội. AFP photo

Nguyễn Xuân Nghĩa: – Tài liệu nghiên cứu chú trọng đến vấn đề thu hồi tài sản bị thất thoát với các thủ tục sai áp và tịch thu để bồi hoàn cho quốc gia bị ăn cắp. Nhưng vấn đề là vì sao quốc gia lại bị ăn cắp tới bạc tỷ năm này qua năm khác? Và vì sao viên chức nhà nước lại có thể tẩu tán tài sản ra ngoài? Vì sao nhiều doanh nghiệp quốc tế còn tham dự vào các nghiệp vụ tham ô và tẩu tán này trong các nước nghèo? Tại sao các nước công nghiệp hóa và có hệ thống luật pháp tinh vi phải bước vào giúp các nước đang phát triển, là nhóm quốc gia cứ đòi vượt qua các nước tiên tiến mà vẫn để xảy ra nạn tham ô và tẩu tán tài sản? Vì sao người ta tiếp tục viện trợ và hợp tác với các chế độ độc tài dù biết rằng tham nhũng và ăn cắp là thuộc tính của độc tài?

– Nói về trường hợp Việt Nam, hay cả Trung Quốc mà tôi vừa nhắc đến ở trên, nạn tham nhũng, cướp đất của dân hoặc đảng viên cán bộ đầu tư giả tạo mà thực chất là tẩu tán tài sản ra ngoài, loại hiện tượng ấy đã thành công khai rõ ràng. Cụ thể là một năm người Việt ở nước ngoài gửi về cho thân nhân cỡ tám tỷ đô la tiền tươi, dưới dạng chính thức chứ chưa nói đến hình thức khác.

– Con số ấy cũng bằng mức tăng trưởng một năm của cả nền kinh tế quốc dân! Chả hóa ra là có tiền trút vào thì cũng có tiền tuồn ra, tối thiểu là một ngân khoản tương đương, rồi chuyển qua Mỹ hoặc ký thác vào một ngân hàng ở Singapore chẳng hạn! Làm sao ngăn cản được điều ấy khi thế giới vẫn viện trợ cho Việt Nam mà không nêu điều kiện là chính quyền phải cải thiện cơ chế và hợp tác với quốc tế một cách cụ thể, để thứ nhất, không cho cán bộ ăn cắp nữa, thứ hai, để thu hồi lại tài sản bất chính?

– Tôi thiển nghĩ rằng sự sụp đổ của các nước Á Rập độc tài vừa qua là một hồi chuông cảnh báo khiến các nước dân chủ Tây phương phải duyệt lại đối sách ngoại giao, viện trợ và thủ tục pháp lý để không dung dưỡng chế độ độc tài rồi mất cả chục năm điều tra, truy cứu và kiện tụng mà có khi vẫn chẳng thu hồi được tài sản đã bị đánh cắp, được chuyển qua các nước Tây phương và còn được các ngân hàng Tây phương bảo vệ bằng một dàn luật sư và một rừng luật lệ!

Nói về trường hợp Việt Nam, nạn tham nhũng, cướp đất của dân hoặc đảng viên cán bộ đầu tư giả tạo mà thực chất là tẩu tán tài sản ra ngoài, loại hiện tượng ấy đã thành công khai rõ ràng.
Ô. Nguyễn Xuân Nghĩa

– Cho nên, tòa đại sứ nước cấp viện, là các nước viện trợ chính thức, cần được huy động vào việc này để giải thích rõ ràng. Và thực tế thì luật lệ tại các nước cấp viện về chống tham nhũng, rửa tiền và chuyển ngân phi pháp phải được chấp hành và họ nên nêu ra một số vụ án làm gương. Một thí dụ nóng hổi là việc Interpol đang truy nã hai giới chức cao cấp của tập đoàn Vinashin trong khi tám người khác đang còn ở trong tù mà chẳng viên chức lãnh đạo nào bị khiển trách. Việt Nam và các nước liên hệ lẫn các ngân hàng cho vay phải làm cho vụ này ra lẽ để biểu dương quyết tâm. Kết luận thì nếu không chặn từ gốc mà chỉ chạy theo nhặt bạc lẻ thì người ta chưa thực sự giải quyết được vấn đề!

Vũ Hoàng: Đài Á châu Tự do xin cảm tạ ông Nguyễn Xuân Nghĩa đã dành cho cuộc phỏng vấn này.

Posted by Nguyễn Xuân Nghĩa at 19:02
http://www.dainamax.org/2011/06/nan-tau-tan-tai-san.html
______________
Khi hầu hết các gói thầu EPC vào tay Trung Quốc: Rủi ro khó lường
Tấn Đức

Nhà máy Nhiệt điện Hải Phòng 1, một dự án EPC do Trung Quốc tiến hành gặp nhiều trục trặc và chậm tiến độ. Ảnh: Quốc Dũng.
(TBKTSG) – Đến 90% các gói thầu xây lắp thực hiện theo phương thức chìa khóa trao tay (EPC) đã thuộc về các công ty Trung Quốc, trong đó phần lớn là các dự án năng lượng, luyện kim, hóa chất. Tình trạng này không chỉ gây ra sự mất cân đối ngày càng lớn trong cán cân thương mại giữa Việt Nam và Trung Quốc mà còn làm tăng sự lệ thuộc vào thị trường Trung Quốc.
Nhà thầu Trung Quốc áp đảo
Tại một hội thảo diễn ra vào đầu tháng 6-2011, Hiệp hội Nhà thầu xây dựng Việt Nam cho biết, đến 90% các gói thầu xây lắp thực hiện theo phương thức EPC đã thuộc về các công ty Trung Quốc.
Còn theo thống kê của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, gần một nửa trong tổng số 248.000 tỉ đồng giá trị các gói thầu xây lắp bằng vốn nhà nước và vay của nước ngoài trong năm 2010, do công ty Trung Quốc thực hiện.
Điều thực sự gây lo lắng ở đây không chỉ là sự mất cân đối ngày càng lớn trong cán cân thương mại giữa Việt Nam và Trung Quốc mà còn ở sự lệ thuộc ngày càng lớn vào các nhà cung cấp thiết bị của Trung Quốc.
Thực trạng nêu trên cũng không phải là mới. Năm 2009, ông Tạ Văn Hường, Vụ trưởng Vụ Năng lượng thuộc Bộ Công Thương, đã cảnh báo về tình trạng đến 80% dự án nhiệt điện than do Trung Quốc làm tổng thầu hoặc giữ vai trò chính trong liên danh. Đồng thời, Việt Nam cũng đã phải gánh chịu cái giá không nhỏ bởi chất lượng kém của các công trình xây lắp do doanh nghiệp Trung Quốc làm tổng thầu gây ra.
Nhưng vì sao tình trạng này vẫn chưa được cải thiện, thậm chí còn nặng nề hơn, khi nhà thầu Trung Quốc lại tiếp tục được giao những dự án nhiệt điện rất lớn khác, bất kể sự chậm trễ và những sự cố liên quan đến chất lượng thiết bị ở những nhà máy điện trước đó.
Những nguyên nhân thiếu thuyết phục
Những tham luận trình bày ở hội thảo do Hiệp hội Nhà thầu xây dựng Việt Nam tổ chức vừa qua và trong các diễn đàn bàn về vấn đề tương tự trước đây, đại diện các cơ quan quản lý nhà nước, hội nghề nghiệp đã phân tích và cho rằng nguyên nhân của sự thắng thế của các nhà thầu Trung Quốc ở Việt Nam là do họ chào giá quá thấp.
Trong khi đó, Luật Đấu thầu lại không cho phép chủ đầu tư đưa ra sự khống chế về xuất xứ thiết bị, công nghệ khi xét thầu, mà chỉ có thể đưa ra các điều kiện về hiệu quả, chất lượng công trình. Ngoài ra, nhiều dự án được đầu tư bằng nguồn vốn vay thương mại và ODA của Trung Quốc, nên chỉ nhà thầu của nước này mới được tham gia.
Tuy nhiên việc lý giải rằng các công ty Trung Quốc thắng thầu vì họ chào giá thấp là không thuyết phục. Với những dự án lớn về năng lượng, luyện kim… giá cả không thể xếp trên những yếu tố về chất lượng, tính ổn định trong vận hành và mức độ lệ thuộc vào một nhà cung cấp. Việc quyết định thực hiện một dự án không thể chỉ dựa vào mỗi một tiêu chí là chi phí đầu tư ban đầu mà hiệu quả vận hành mới là yếu tố quan trọng nhất.
Ngoài ra, giá cả của công ty Trung Quốc chào chưa hẳn đã rẻ, mà các dự án nhiệt điện than là ví dụ. Tập đoàn Khí Đông Phương được trúng thầu dự án nhiệt điện Duyên Hải 1 công suất 1.245 MW, do tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) làm chủ đầu tư, với giá 1,4 tỉ đô la Mỹ.
Trong khi đó, Tổng công ty Lắp máy Việt Nam (Lilama) nhận thầu dự án nhiệt điện Vũng Áng 1 công suất 1.200 MW của tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) chỉ với giá 1,17 tỉ đô la Mỹ. Gần đây, PVN lại giao cho Lilama một dự án 1.200 MW nữa với giá 1,2 tỉ đô la Mỹ. Nhà máy này sử dụng toàn bộ thiết bị, công nghệ của Nhật Bản, Mỹ. Còn công ty Trung Quốc thì nhận được dự án Duyên Hải 3, cũng với công suất 1.200 MW nhưng giá thầu là 1,3 tỉ đô la Mỹ và lắp đặt thiết bị của Trung Quốc.
Luật Đấu thầu của Việt Nam tuy còn khiếm khuyết, nhưng đó cũng không thể là nguyên nhân giải thích cho sự thắng thế của các nhà thầu Trung Quốc.
Nếu nói là tại luật, thì vì sao trong ba doanh nghiệp nhà nước đang đầu tư lớn vào nhiệt điện, gồm PVN, EVN và tập đoàn Than và Khoáng sản Việt Nam (TKV), chỉ những dự án do EVN và TKV làm chủ đầu tư, nhà thầu Trung Quốc mới thắng thế, còn các dự án của PVN thì nhà thầu trong nước chi phối hết? Riêng với TKV, hầu hết các dự án lớn của tập đoàn này, gồm sáu nhà máy nhiệt điện và các dự án luyện kim như đồng Sin Quyền, bauxite ở Tây Nguyên đều do các công ty của Trung Quốc đảm nhận.
Liên quan đến nguồn vốn, lẽ đương nhiên nước nào cấp vốn cho Việt Nam thì doanh nghiệp nước đó được độc quyền đấu thầu. Nhưng đã bao giờ chúng ta tự hỏi, vì sao các nước khác như Nhật Bản, Hàn Quốc, Úc, Pháp… chủ yếu cung cấp ODA cho các chương trình phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật và xã hội của Việt Nam. Còn Trung Quốc hầu như chỉ tập trung vào các dự án công nghiệp, nhất là công nghiệp năng lượng và những ngành khai thác tài nguyên trong nước.
Rủi ro khó lường

Vấn đề các công ty Trung Quốc chiếm lĩnh hầu hết các gói thầu xây lắp lớn đã được mổ xẻ nhiều trong ba năm qua. Điều khiến các chuyên gia kinh tế lo ngại nhất là khả năng bị phụ thuộc vào các nhà cung cấp vật tư, thiết bị thay thế của nước này.
Điều gì sẽ xảy ra nếu các nhà máy nhiệt điện dùng thiết bị của Trung Quốc bị hư hỏng, nhưng không được cung cấp phụ tùng kịp thời để thay thế, nhất là trong thời điểm căng thẳng về cung – cầu điện?

Sau khi thắng thầu, các tổng thầu Trung Quốc mang sang Việt Nam từ những thiết bị lớn cho đến những con bù lon, ốc vít.
Thậm chí, như ở dự án phân đạm Cà Mau, đến thiết bị làm vệ sinh và công nhân dọn dẹp vệ sinh cũng được mang từ Trung Quốc sang.

Hơn nữa, chuyện hư hỏng đối với thiết bị Trung Quốc lại xảy ra khá thường xuyên. Mùa khô năm ngoái, Việt Nam rơi vào tình trạng thiếu điện nghiêm trọng, mà nguyên nhân chính là do các nhà máy nhiệt điện chạy bằng than bị hư hỏng và tiến độ xây dựng chậm.
Liệu chúng ta có thể đạt được mục tiêu hiện đại hóa, nâng cao hiệu quả đầu tư với những thiết bị và công nghệ rẻ tiền nhập từ Trung Quốc hay không?
Ngoài ra, tình trạng các gói thầu xây lắp lớn rơi vào tay nhà thầu Trung Quốc còn góp phần làm cho tình trạng nhập siêu thêm trầm trọng. Các nhà thầu cho biết, ở các công trình xây lắp do các công ty Nhật Bản, châu Âu… làm tổng thầu, các doanh nghiệp trong nước thường được giao đảm nhận những công việc phụ, với giá trị có thể lên đến 30% tổng giá trị hợp đồng.
Nhưng với tổng thầu Trung Quốc thì khác hẳn. Họ mang sang Việt Nam từ những thiết bị lớn cho đến những con bù lon, ốc vít. Thậm chí, ở dự án phân đạm Cà Mau, đến thiết bị làm vệ sinh và công nhân dọn dẹp vệ sinh họ cũng mang từ Trung Quốc sang.
Tháng trước, Thủ tướng Chính phủ đã chỉ thị phải rà soát và siết lại công tác quản lý đối với hoạt động đấu thầu. Theo đó, các gói thầu mà doanh nghiệp trong nước đảm nhận được trên 50% thì không đấu thầu quốc tế nữa, mà chỉ đấu thầu rộng rãi trong nước. Trong trường hợp thiết bị công nghệ trong nước không sản xuất được, thì chủ đầu tư có thể tách riêng để tổ chức đấu thầu quốc tế.
Đây là một quyết định kịp thời và nếu thực hiện nghiêm túc, nó sẽ mang lại nhiều hy vọng cho các nhà thầu trong nước và được kỳ vọng sẽ giải quyết vấn đề nhập siêu với Trung Quốc.

http://www.thesaigontimes.vn/Home/diendan/sotay/55436/Khi-hau-het-cac-goi-thau-EPC-vao-tay-Trung-Quoc-Rui-ro-kho-luong.html

Để lại phản hồi »

Chưa có phản hồi.

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Blog at WordPress.com.