Hoàngquang’s Blog

21/06/2011

Trung Quốc từ bỏ “quyền lực mềm”

Danh Đức
& Tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc trên Biển Đông rất đáng lo ngại
+ TRUNG QUỐC TRONG VẤN ĐỀ BIỂN ĐÔNG
+Trung Quốc chưa đủ năng lực để thừa nhận các sai lầm trong quá khứ
**

TRUNG QUỐC ĐÁNH CHIẾM HOÀNG SA CỦA VIỆT NAM NHƯ THẾ NÀO ?
Quan điểm của Việt Nam về vấn đề Biển Đông-Việt Hà, phóng viên RFA
Quan điểm của Hoa Kỳ về tranh chấp Biển Đông?- Việt Long, RFA>/strong>
Những dữ kiện liên quan đến cuộc tranh chấp Biển Đông-Việt Long, RFA
***
Trung Quốc từ bỏ “quyền lực mềm”
Danh Đức

Biếm họa trên tờ Hoàn Cầu Thời Báo của Trung Quốc đề nghị tham gia quản lý eo biển Malacca, hiện thuộc lãnh hải chung của ba nước Indonesia, Malaysia và Singapore

TTCT – “Quyền lực mềm” là khả năng đạt được điều mình muốn bằng cách hấp dẫn thỏa thuận, trái với “quyền lực cứng” vốn chủ trương cưỡng đoạt. Định nghĩa này của Joseph Nye (ĐH Harvard) từ năm 1990 đã được nhân rộng vào năm 2004 như một “mốt” thời thượng trong quan hệ quốc tế.
Trung Quốc nhận rằng đó chính là một tư tưởng thuần túy Trung Quốc phát xuất từ Lão Tử (1), để rồi kẻ khẩu hiệu “thế giới hài hòa” sau khi từng hô hào “xã hội hài hòa” trong nội bộ của mình.
Thế giới hài hòa nhé!
Báo chí Trung Quốc chép rằng Chủ tịch Hồ Cẩm Đào lần đầu tiên nêu thuyết này trong một bài diễn văn đọc ở Viện Quan hệ quốc tế Matxcơva ngày 28-5-2003: “Nhằm đạt đến hòa bình vững bền và thịnh vượng toàn cầu, cộng đồng quốc tế nên cộng tác trọn vẹn với nhau bằng những nỗ lực không ngừng, nhằm xây dựng một thế giới hài hòa” (2).
Hai năm sau, ngày 15-9-2005, nhân kỷ niệm 60 năm thành lập Liên Hiệp Quốc, ông Hồ Cẩm Đào dõng dạc đề xuất “bốn điểm xây dựng thế giới hài hòa”, trong đó nổi bật nhất là điểm 1: nâng tính đa phương nhằm đạt đến an ninh chung, trong đó Liên Hiệp Quốc đóng vai trò không thể thay thế được, chỉ có thể được tăng mạnh chứ không thể bị suy yếu.
Ông Hồ Cẩm Đào nhấn mạnh: “Chúng tôi phản đối mọi hành vi xâm lấn chủ quyền nước khác, can thiệp vũ lực vào công việc nội bộ nước khác, tự ý sử dụng hay đe dọa sử dụng sức mạnh quân sự”. Nhân Dân Nhật Báo bình rằng “tư tưởng xây dựng thế giới hài hòa là điểm nhấn cốt lõi của quan điểm Hồ Cẩm Đào” (3).
Đó là giai đoạn mà “thế giới hài hòa” hiển hiện nhất, đến nỗi các học giả Mỹ phải e dè lo sợ ảnh hưởng của Trung Quốc sẽ qua mặt Mỹ tại Đông Nam Á. Tháng 1-2008, ba chuyên gia về châu Á gồm Thomas Lum, Wayne M. Morrison và Bruce Vaughn đã phải tả oán như sau:
“Việc Trung Quốc tăng cường sử dụng quyền lực mềm ở Đông Nam Á, các động tác khuyến dụ phi – quân sự như văn hóa, ngoại giao, viện trợ, thương mại, đầu tư chính là những thách thức mới cho chính sách đối ngoại của Mỹ. Bằng cách giảm cường độ các lợi ích xung đột và bằng cách cộng tác với các nước cùng các tổ chức khu vực về những tranh chấp lãnh thổ và thương mại, Bắc Kinh đã làm giảm bớt được những lo ngại của Đông Nam Á về một mối đe dọa quân sự hay kinh tế là Trung Quốc.
Những gắn bó ngoại giao của Trung Quốc, so với những cảm nhận về sự giảm sút quan tâm của Mỹ, đã đem lại cho Trung Quốc một sự nể vì lớn hơn trong khu vực. Sự trỗi lên của Trung Quốc như là một nước cung cấp viện trợ cỡ lớn và thị trường cho hàng hóa các nước Đông Nam Á cũng đã làm tăng mạnh các quan hệ của Trung Quốc với các nước này. Nhiều nhà quan sát cho rằng ảnh hưởng ngày càng tăng của Trung Quốc sẽ gây phương hại đến thế lực và ảnh hưởng của Mỹ trong khu vực” (4).
Ngã rẽ năm 2008
2008 là năm của Olympic Bắc Kinh, cao điểm ngoại giao và đánh bóng thanh danh. Càng dễ hiểu tại sao Trung Quốc lại “hài hòa” với Đông Nam Á và Đông Nam Á lại buôn may bán đắt với Trung Quốc. Nếu nhìn thấy Olympic là lễ đăng quang của một quốc gia bước vào hàng ngũ phát triển, như Nhật Bản năm 1964 với Olympic Tokyo, Hàn Quốc năm 1988 với Olympic Seoul, thì sẽ thấy Trung Quốc đã sốt ruột và trân trọng cơ hội này đến chừng nào. Thế nhưng, những diễn biến trước Olympic lại không như ý nhà cầm quyền Bắc Kinh.
Tờ Băng Điểm, một phụ trương hằng tuần của Thanh Niên Trung Quốc Nhật Báo, thuật lại: “Trong hơn 20 năm, tác động của vụ Thiên An Môn đã tan và sự phát triển kinh tế nhanh chóng của Trung Quốc trở thành một trong những nền kinh tế lớn nhất đã là một điều kỳ thú trên trường quốc tế. Sau thất bại trong cuộc tranh quyền đăng cai Olympic 2000, Trung Quốc trở thành ứng cử viên sáng giá cho Olympic 2008 và đã giành thắng lợi.
Đường đường Trung Quốc cũng là một quốc gia hơn 1 tỉ dân, một thành viên (thường trực) của HĐBA Liên Hiệp Quốc và của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), Trung Quốc đâu thể bị xem nhẹ hơn chế độ quân sự ở Hàn Quốc năm 1988 để không được trao quyền đăng cai”.
Cuộc rước đuốc Olympic bị đứt quãng ở Anh, Pháp và một số nước khác, có đôi lúc biến thành hỗn loạn. Chính phủ Trung Quốc đâu có ngờ sự thể lại diễn ra như thế. Nói cho ngay, tình hình nhân quyền ở Trung Quốc đã cải thiện nhiều so với năm 1989 và tốt hơn bao giờ hết, tính từ năm 1949 đến giờ. Đó là lý do tại sao Chính phủ Trung Quốc cảm thấy đã bị đối xử quá bất công. “Sao chẳng ai nói gì đến những thành tựu của chúng tôi?” – chính phủ tự hỏi (5).
Bắc Kinh đã quay ngoặt như thế nào, trang web quốc phòng Trung Quốc đã giải thích như sau: “Đặc biệt sau Olympic Bắc Kinh, việc xác quyết chủ quyền bằng ngoại giao và quân sự của Trung Quốc đã được hỗ trợ đầy đủ bởi sức mạnh kinh tế của mình. Đối với những nước phản đối việc chọn Bắc Kinh làm nơi đăng cai, như Pháp từng có kế hoạch tẩy chay Olympic, Trung Quốc đã trả đũa lại bằng những đe dọa kinh tế từng nước một, thế là tất cả đầu hàng.
Thành công của chiến thuật áp lực đó đã thuyết phục Trung Quốc về tính hiệu quả của nó và điều này thể hiện trong nhiều động thái. Cuộc biểu dương lực lượng nhân 60 năm thành lập Trung Quốc đã là một hội hè cho quân đội nhân dân Trung Quốc và là một mối đe dọa giáng cho phương Tây” (6).
Tháng 12-2010, Giả Khánh Quốc – Phó Hiệu trưởng Trường Nghiên cứu Quốc tế, ĐH Bắc Kinh – bổ sung: “Một số nhà quan sát cảm nhận thấy trong năm qua đã có một sự thay đổi trong chính sách đối ngoại của Trung Quốc. Từ nhãn quan Trung Quốc, câu trả lời ngắn gọn là vừa tiếp tục như trước, vừa thay đổi. Trung Quốc vẫn tiếp tục tin rằng quyền lực cứng đã chẳng có mấy thay đổi.
Là một nước đang phát triển với cả trăm năm chịu nhục trong lịch sử hiện đại của mình, Trung Quốc đã vỡ lẽ ra thế nào là tầm quan trọng sống còn của quyền lực cứng (của sức mạnh quân sự) trong việc bảo vệ chủ quyền của một nước, và do đó Trung Quốc đã cật lực đạt đến sức mạnh đó qua phát triển kinh tế và hiện đại hóa quân sự” (7).
Không chỉ Biển Đông
Những hành vi cậy sức lấn phá của Trung Quốc trong thời gian qua, cả với Philippines lẫn Việt Nam, chẳng qua đến từ tập quán quyền lực cứng muôn thuở của Trung Quốc, nhất là sau cả trăm năm bị ức chế như thừa nhận của GS Giả Khánh Quốc.
Không dừng ở Biển Đông 3,5 triệu km2, đến chủ nhật 12-6, Trung Quốc còn đòi thọc chân xuống đến tận eo biển Malacca: “Trong một thời gian dài, eo biển này do ba nước Indonesia, Malaysia và Singapore cùng quản lý. Các nước này từ khước những nước khác trực tiếp tham gia quản lý an ninh hành trình trong eo biển. Đến nay, các nước không ven bờ eo biển chỉ có thể tham gia một cách gián tiếp như cung cấp ngân quỹ, kỹ thuật, phương tiện vận tải… Trung Quốc cần đóng một vai trò tích cực hơn trong việc quản lý eo biển Malacca”.
Y hệt trường hợp lấn phá Biển Đông, bỗng xuất hiện một nhà “nghiên cứu” Viện Kinh tế & Chính trị học Thế giới, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Trung Quốc đánh tiếng trong mục “Ý kiến” tờ Hoàn Cầu Thời Báo, giở luật biển UNCLOS theo cách của mình: “Lập trường hiện nay của các quốc gia ven eo biển này không được luật pháp quốc tế thừa nhận!” (8).
Quyền lực mềm hay cứng, cũng từ một bản chất!

D. Đ.
Nguồn: Tuoitre.vn
__________
(1) “Soft power” From Wikipedia
(2) President Hu elaborates the theory of harmonious world People’s Daily November 26, 2009
(3) Hu Makes 4 – point Proposal for Building Harmonious World, Xinhua News Agency September 16, 2005
(4) China’s “Soft Power” in Southeast Asia, Foreign Affairs January 4, 2008
(5) China’s soft-power failure, Li Datong, 19 May 2008
(6) http://www.china-defense-mashup.com/stop-appeasing-china-now.html
(7) China’s Attitude toward Hard Power and Soft Power, Brookings Northeast Asia Commentary | Number 44
(8) China can help guard lifeline through Strait of Malacca, Global Times 12 June
http://boxitvn.blogspot.com/2011/06/trung-quoc-tu-bo-luc-mem.html#more

________________
Tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc trên Biển Đông rất đáng lo ngại

Trong cuộc đối đầu trên Biển Đông hiện nay, người ta vẫn chưa thấy tình đoàn kết cần có của khối ASEAN. Trong những nước có lợi ích trên biển bị ảnh hưởng trực tiếp do tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc trên toàn Biển Đông, chỉ có Việt Nam và Philippines là có thái độ cứng rắn. Thậm chí cả Malaysia cũng bị Trung Quốc bắt làm con tin vì vấn đề chủng tộc nhạy cảm của nước này. Trong khi đó, Hoa Kỳ giữ thái độ trung lập về tính hợp pháp của các tuyên bố chủ quyền trên Hoàng Sa và Trường Sa – nói thế khác, Hoa Kỳ không nhúng tay vào cuộc tranh chấp chủ quyền trên các đảo. Hoa Kỳ chỉ đòi quyền lưu thông hàng hải qua Biển Đông bao gồm cả các khu đặc quyền kinh tế.
Bài bình luận sau đây của Asia Sentinent điểm xuyết về một thế liên minh mà Việt Nam có thể lựa chọn. Nhưng cái thế liên minh bền vững và quyết định nhất vẫn là liên minh với chính nhân dân Việt Nam, như từng diễn ra trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc ta, cho đến gần đây.
Bauxite Việt Nam

Cuộc đối đầu giữa Trung Quốc (TQ) và Việt Nam là một cuộc đối đầu về chủ quyền trên toàn Biển Đông.
Việc đưa tin thiếu cẩn trọng của báo chí đã gây cảm tưởng là phần lớn cuộc tranh chấp gần đây trên Biển Đông giữa TQ và Việt Nam chỉ có liên quan đến hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa. Thay vì như vậy, cuộc đụng độ giữa hai nước thực ra là một minh họa về việc TQ tuyên bố chủ quyền trên toàn Biển Đông, đến tận lãnh hải của Việt Nam, Malaysia, Brunei và Philippines, chứ không riêng gì các hải đảo. Trong vấn đề này, tàu TQ đã cắt cáp của một tàu thăm dò bằng sóng âm của Việt Nam hoạt động cách bờ biển Nam Trung Bộ khoảng 120 hải lý ở hướng Đông của Nha Trang. Địa điểm chiếc tàu Việt Nam thăm dò dầu khí không nằm trong vùng tranh chấp chủ quyền về một phần hay toàn phần các nhóm đảo nhỏ, các mõm đá hoặc đá ngầm được mệnh danh là Trường Sa (the Spratlys). Mặc dù gần như không có một đảo hay mõm đá nào trong quần thể này mà con người có thể sinh sống và đáy biển ở đây không phải là một phần của thềm lục địa, nhưng vẫn có một lý luận cho rằng các đảo và mỏm đá ở Trường Sa có thể hậu thuẫn cho một tuyên bố chủ quyền về khu đặc quyền kinh tế 200 hải lý nếu tuyên bố này không xung đột với tuyên bố chủ quyền 200 hải lý của một nước khác.
Vị trí tàu Việt Nam bị tấn công cách địa điểm gần nhất của Trường Sa ít nhất là 180 hải lý và rõ ràng là gần với bờ biển Việt Nam hơn nhiều và nằm trên thềm lục địa Việt Nam trong khi quần đảo Trường Sa nằm ở phía bên kia vực nước sâu… Tương tự như thế, tàu Việt Nam hoạt động cách địa điểm gần nhất của Hoàng Sa trên 200 hải lý – Hoàng Sa là một quần thể gồm những đảo và bãi ngầm nằm ngoài khơi duyên hải Việt Nam về phía bắc, đã bị TQ cưỡng chiếm năm 1974, trước khi nước Việt Nam thống nhất.
Sự phân biệt giữa tuyên bố chủ quyền trên đảo và tuyên bố chủ quyền trên biển là cực kỳ quan trọng vì nó có liên quan tới Hoa Kỳ. Washington giữ thái độ trung lập đối với giá trị pháp lý trong tuyên bố chủ quyền của mọi phe về các đảo Hoàng Sa và Trường Sa, nhưng có thái độ cứng rắn với quyền tự do lưu thông hàng hải, kể cả trong các khu đặc quyền kinh tế. Tuyến hàng hải giữa eo biển Luzon và eo biển Singapore nằm trong khu vực này – tức vùng nước sâu nằm giữa Việt Nam và Trường Sa, một quần đảo có thể gây rủi ro cho các tàu lớn. Do đó, trên thực tế Hoa Kỳ luôn luôn sẽ đứng về phía chống lại tuyên bố chủ quyền của TQ trên toàn Biển Đông và cũng chống lại lối giải thích hẹp hòi của TQ về quyền tự do lưu thông hàng hải.
Như vậy, nhất định hành động của TQ đã gửi thêm nhiều tín hiệu cảnh báo tới Malaysia, Philippines, Brunei và Indonesia về tầm mức tuyên bố chủ quyền của TQ đối với Biển Đông và tài nguyên nằm dưới đáy biển. Những vùng khí đốt đang được khai thác hiện nay ngoài khơi Palawan [của Philippines]và Sarawak [của Malaysia] nằm gọn trong những khu vực TQ tuyên bố chủ quyền trên những bản đồ Biển Đông mà TQ đưa ra. Tuyên bố chủ quyền của TQ cũng áp dụng cho những vùng khí đốt khổng lồ, chưa ai khai thác, nằm gần quần đảo Natuna của Indonesia, cho dù bản thân những đảo này cho đến nay vẫn chưa bị TQ tuyên bố chủ quyền.
Philippines đã bắt đầu phản ứng chống lại những hành vi sách nhiễu gần đây của TQ đối với ngư dân Philippines hoạt động trong vùng cách duyên hải nước này dưới 200 hải lý và một vụ sách nhiễu vào tháng Năm đối với một tàu thăm dò của Philippines hoạt động gần bãi Cỏ Rong (Reed), một địa điểm cách đảo Palawan chỉ 80 hải lý – và cách TQ gần 500 hải lý. Đã có những lời kêu gọi từ trong nước yêu cầu Philippines tăng cường các lực lượng hải quân còn yếu kém của mình. Họ đòi hỏi vùng biển thường được gọi bằng tiếng Anh là “the South China Sea” (Biển Nam Trung Hoa) chí ít phải được người Phi gọi là Biển Tây Philippines (vùng biển phía Đông quần đảo Philippines được gọi là Biển Philippines).
TQ chỉ gọi biển này là Nam Hải và Việt Nam gọi nó là Biển Đông. Biển này có thời còn được gọi là Biển Chiêm Thành (the Cham sea) – theo tên một vương quốc sống về nghề biển, nói tiếng Mã Lai và theo Ấn Độ giáo tại miền Trung Việt Nam. Philippines còn gọi Bãi Cỏ Rong là bãi Recto.
Một số người tại Philippines đã bắt đầu kêu gọi Hoa Kỳ phải tích cực hậu thuẫn hơn nữa đối với tuyên bố chủ quyền của Philippines dựa vào các điều khoản trong hiệp ước an ninh Mỹ-Phi và họ đã bày tỏ sự thất vọng đối với tuyên bố trung lập của các phát ngôn viên Hoa Kỳ. Nhưng vấn đề của Manila là, dù Hoa Kỳ có hậu thuẫn nguyên tắc tự do hàng hải và việc áp dụng Luật Biển LHQ cho vấn đề này năng nổ đến đâu, Hoa Kỳ vẫn chưa bao giờ tuyên bố Trường Sa là một phần của Philippines khi Hoa Kỳ còn là một cường quốc thực dân tại đây. Trong lúc đó thực dân Pháp vẫn coi Trường Sa là lãnh thổ Việt Nam – và điều này bị Trung Hoa phản đối.
Trong quá khứ, nhận thấy Philippines yếu thế, TQ thường tập trung chú ý vào vùng này trong tuyên bố chủ quyền của mình. Thật vậy sự kiện năm 1995 TQ chiếm đóng Đá Vành Khăn (tiếng TQ: Meiji Jiao, tiếng Tagalog: Panganiban), được coi là một nơi lánh bão của ngư dân, cách bờ Palawan 130 hải lý, là một trong những hành động khiêu khích hơn trước của TQ. Năm 2002, TQ đồng ý với ASEAN sẽ tìm kiếm một giải pháp hòa bình cho các cuộc tranh chấp trên biển nhưng thỏa ước này chỉ tạo được một tạm ngưng tranh chấp.
Nhưng vấn đề hiện nay của ASEAN là một số thành viên không dám bàn về vấn đề Biển Đông và bản thân TQ thì chỉ muốn giải quyết vấn đề này trên cơ sở song phương với từng quốc gia một, như vậy có thể làm suy yếu tình đoàn kết của khối ASEAN. Sự kiện Malaysia cho đến nay vẫn được TQ để yên là một điều bất lợi cho các nước đối đầu với TQ, và Kuala Lumpur cũng không muốn làm phật lòng TQ bằng cách công khai ủng hộ Việt Nam và Philippines. Động thái này có thể khiến Bắc Kinh nêu lên vấn đề nhạy cảm về sự kiện người Mã Lai kỳ thị chủng tộc đối với các công dân gốc Hoa.
Nhưng Việt Nam rõ ràng có một bản lĩnh cương quyết hơn. Và với mối quan hệ thắm thiết mới tạo dựng với Washington (cùng những quan hệ sẵn có với Nga và Ấn Độ), Việt Nam có thể đối phó với TQ hữu hiệu, hơn là chỉ mất thì giờ nói chuyện với các bộ ngoại giao đầy lạc quan của các nước thuộc khối ASEAN.
Trần Ngọc Cư dịch theo Asia Sentinel.
Người dịch gửi trực tiếp cho BVN.
http://boxitvn.blogspot.com/2011/06/tuyen-bo-chu-quyen-cua-trung-quoc-tren.html#more

THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM
TRUNG QUỐC TRONG VẤN ĐỀ BIỂN ĐÔNG
Tài liệu tham khảo đặc biệt
Thứ Tư, ngày 15/06/2011
TTXVN (Hồng Công 13/6)
Trang web của tờ Liên hợp Buổi sáng (Xinhgapo) ngày 8/6 đăng bài của nhà bình luận độc lập Chu Tuệ Lai cho biết trong vấn đề Biển Đông, Trung Quốc đang dần hình thành “sách lược hai cánh tay” và sách lược này có thể sẽ được Trung Quốc thực thi lâu dài. Dưới đây là nội dung bài viết:
Từ ngày 3 đến 5/6, Hội nghị An ninh châu Á lần thứ 10 (còn gọi là Đối thoại Shangri – La 10) đã được tổ chức tại Xinhgapo. Đối thoại Shangri-La 10 không chỉ có quy mô lớn nhất mà lần đầu tiên còn chứng kiến sự có mặt của Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc. Nhiều năm lại đây, Biển Đông (Trung Quốc gọi là Nam Hải) đã trở thành vấn đề khó tránh được tại Đối thaọi Shangri-La và năm nay cũng không là ngoại lệ. Việc Bộ trưởng Quốc phòng Lương Quang Liệt nhấn mạnh Trung Quốc nỗ lực vì hoà bình và ổn định của Biển Đông cho thấy “sách lược hai cánh tay” của Trung Quốc trong vấn đề về Biển Đông đã dần được thành hình.
Hai nhân tố quyết định tính phức tạp của vấn đề Biển Đông
Tránh không để vấn đề Biển Đông trở nên phức tạp hơn là một mục tiêu và nhiệm vụ quan trọng của nền ngoại gioa Trung Quốc nhiều năm nay. Việc này đương nhiên là chịu ảnh hưởng của vấn đề sức mạnh quốc gia, đặc biệt là sức mạnh của hải quân và không quân chưa được như ý muốn, nhưng cũng liên quan tới chiến lược ngoại giao phát triển toàn cục của Trung Quốc. Đối với Trung Quốc, việc có thành công hay không trong sách lược tránh không để vấn đề Biển Đông trở nên phức tạp hơn phụ thuộc vào hai nhân tố sau.
Thứ nhất, thế lực bên ngoài, đặc biệt là Mỹ có can dự vào vấn đề Biển Đông hay không. Là siêu cường thế giới, Mỹ không những có đồng minh và các căn cứ quân sự quan trọng nhất ở khu vực Đông Á, mà còn được nhiều nước trong khu vực dựa vào để cân bằng sức mạnh với Trung Quốc. Do đó, vấn đề Biển Đông có trở nên phức tạp hay không, thái độ và chính sách của Mỹ đóng vai trò rất quan trọng. Một khi Mỹ thay đổi thái độ duy trì hiện trạng trong vấn đề Biển Đông, trắc trở và bất ngờ sẽ nảy sinh.
Lâu nay, trọng tâm chiến lược toàn cầu của Mỹ lần lượt đặt ở châu Âu và vấn đề chống khủng bố. Tại khu vực Đông Á, Mỹ quan tâm nhiều tới các nước đồng minh như Nhật Bản và Hàn Quốc. Đối với Đông Nam Á, Mỹ dường như không có thời gian để quan tâm tới khu vực này. Mãi tới năm 2010, Mỹ mới lớn tiếng tuyên bố trở lại Đông Nam Á. Trước đó, Mỹ thiên về xu hướng duy trì hiện trạng trong vấn đề Biển Đông hay nói một cách khác là Mỹ giữ lập trường “trung lập” trong vấn đề này. Và bài phát biểu của Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton tại Hà Nội vào tháng 7/2010 đã đánh dấu sự chuyển biến trong thái độ của Mỹ đối với vấn đề Biển Đông, từ “trung lập” sang “can dự”. Sự thay đổi về thái đọ của Mỹ đã giúp các nước như Việt Nam và Philippin nhìn thấy hy vọng, trở nên mạnh mẽ hơn trong cả lời nói lẫn hành động. Ở khía cạnh khác, sự can dự của Mỹ đã khiến phức tạp hoá trở thành xu thế lớn của vấn đề Biển Đông.
Hai là, ASEAN có đoàn kết được hay không cũng là nhân tố quan trọng ảnh hưởng tới khả năng vấn đề Biển Đông trở nên phức tạp hơn. Trong 10 nước thành viên ASEAN chỉ có 4 nước là Việt Nam, Philippin, Malaixia và Brunây đang tồn tại tranh chấp chủ quyền đối với Trung Quốc ở Biển Đông, trong đó Việt Nam và Philippin là hai nước chủ chốt. Đối với ASEAN, Biển Đông là vấn đề lớn ảnh hưởng tới tiến trình nhất thể hoá của tổ chức này. Hiện nay, ASEAN đang đứng trước khó khăn giữa nhất thể hoá nội bộ và xử lý quan hệ với Trung Quốc, duy trì ổn định khu vực.
Lâu nay, Trung Quốc kiên trì theo đuổi lập trường: Vấn đề Biển Đông không phải là vấn đề giữa Trung Quố và ASEAN mà là vấn đề giữa các nước xung quanh Biển Đông với nhau. Vì vậy, Trung Quốc nhấn mạnh tới việc sử dụng cơ chế song phương để giải quyết vấn đề này, phản đối việc đa phương hoá và quốc tế hoá vấn đề Biển Đông. Đối với Trung Quốc, sự đoàn kết của ASEAN không chỉ đồng nghĩa với việc phải đối mặt với một sức mạnh tập thể, mà còn đặt ngoại giao xung quanh Trung Quốc trước những thách thức toàn diện.
Trung-Mỹ thừa nhận có lợi ích chung ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương
Trước tình hình trên, Trung Quốc có thể sử dụng “sách lwocj hai cánh tay” để đối phó.
“Cánh tay thứ nhất” là thông qua tăng cường giao lưu hợp tác để giảm thiểu ảnh hưởng tiêu cực của việc Mỹ can dự vào vấn đề Biển Đông trong khung nhận thức chung về việc xây dựng quan hệ đối tác hợp tác tôn trọng lẫn nhau, cùng có lợi, cùng thắng mà nguyên thủ Trung Quốc và Mỹ đã đạt được. Tại cuộc Đối thoại Chiến lược An ninh Trung-Mỹ lần đầu tiên từ ngày 9 đến ngày 10/5 tại Oasinhton (Mỹ), hai bên thừa nhận có lợi ích chung trong việc duy trì hoà bình, ổn định và phồn vinh của khu vực châu Á-Thái Bình Dương, quyết định xây dựng cơ chế hiệp thương Trung-Mỹ về các vấn đề châu Á-Thái Bình Dương. Trung Quốc hoan nghênh Mỹ tiếp tục phát huy vài trò tại khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Sau đó, Tổng Tham mưu trưởng Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc Trần Bỉnh Đức đã thăm Mỹ, đề xuất việc xây dựng “quan hệ quân sự kiểu mới” với Mỹ, ở một mức độ nào đó đã giúp tăng cường sự tin cậy lẫn nhau giữa Trung Quốc và Mỹ về an ninh chiến lược.
Trong bài phát biểu tại Trung tâm Chiến lược và Nghiên cứu Quốc tế ngày 31/5, ở Washington D.C, Trợ lý Ngoại giao Mỹ phụ trách các vấn đề châu Á-Thái Bình Dương, Kurt Campbell đã nói rằng “một trong những công việc quan trọng nhất mà Mỹ phải làm năm nay tại Diễn đàn khu vực ASEAN và Hội nghị cấp cao Đông Á chính là thể hiện nỗ lực hợp tác với Trung Quốc”. Tại Đối thoại Shangri-La 10, tuy Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Robert Gates tuyên bố sẽ tiếp tục theo đuổi những cam kết an ninh với các nước đồng minh châu Á-Thái Bình Dương, hơn nữa còn duy trì lực lượng quân sự hùng mạnh tại châu Á, nhưng ở một mức độ rất lớn, người ta vẫn chưa thấy sự sáng rõ trong quan hệ Trung-Mỹ cũng như việc hai nước sẽ đóng vai trò gì hay Mỹ sẽ khôi phục vị thế của mình như thế nào tại khu vực châu Á-Thái Bình Dương… Điều đó có nghĩa, phát biểu của Gates tại Đối thoại Shangri-La 10 đã không tách rời nền tảng hợp tác Mỹ-Trung.
Do vậy, trong vấn đề Biển Đông, Trung Quốc và Mỹ đều phải tuân theo chiến lược toàn cục của mỗi nước. Đối với Trung Quốc, vấn đề Biển Đông thuộc chủ quyền, là lợi ích cốt lõi và nước này không muốn thay đổi lập trường nhất quán là duy trì hiện trạng tự do đi lại ở Biển Đông và không thách thức vai trò lãnh đạo châu Á-Thái Bình Dương, nước này sẽ không đối kháng với Trung Quốc, đó là chưa nói đến việc vấn đề Biển Đông ở một ý nghĩa nào đó, chỉ là công cụ của Mỹ.
“Cánh tay thứ hai” là tiếp tục ngăn chặn sự đoàn kết của ASEAN trong vấn đề Biển Đông, kiểm soát vấn đề Biển Đông trong phạm vi song phương giữa Trung Quốc và các nước liên quan. Sách lược này được cấu thành bởi hai bộ phận.
Thứ nhất, cũng là bộ phận quan trọng nhất, là lợi dụng ảnh hưởng kinh tế ngày càng tăng để tăng cường hợp tác kinh tế thương mại giữa Trung Quốc và ASEAN. Ở mức độ nào đó, sự phát triển kinh tế của ASEAN không thể tách rời khỏi Trung Quốc. Từ khi Khu vực Mậu dịch Tự do Trung Quốc – ASEAN khởi động tới nay, thương mại song phương phát triển mạnh mẽ hơn. Từ tháng 1 đến tháng 4/2011, kim ngạch thương mại giữa Trung Quốc và ASEAN đã đạt 110 tỷ USD, tăng 26,5% so với cùng kỳ năm 2010. Với tốc độ phát triển này, kim ngạch thương mại song phương năm 2011 có hy vọng vượt qua mốc 300 tỉ USD. Lợi ích thương mại lớn như vậy sẽ là nguyên nhân chính khiến ASEAN khó có được sự đoàn kết trong vấn đề Biển Đông và gây khó dễ cho Trung Quốc. Một nhà ngoại giao Thái Lan từng nói: “Vấn đề chủ quyền Biển Đông là chủ đề song phương, không nên làm nó trở thành vấn đề của toàn bộ ASEAN”.
Thứ hai là nhấn mạnh tới việc Trung Quốc quyết tâm giải quyết vấn đề Biển Đông bằng biện pháp hoà bình và nỗ lực vì sự hợp tác của khu vực. Từ lâu, khu vực ASEAN đã tồn tại kết cấu chiến lược: dựa vào Trung Quốc về mặt kinh tế, dựa vào Mỹ về an ninh, làm hạn chế những nỗ lực thúc đẩy hợp tác an ninh với ASEAN thông qua hợp tác kinh tế của Trung Quốc. Do vậy, tại Đối thoại Shangri-La 10, ông Lương Quang Liệt đã có bài phát biểu với chủ đề “hợp tác an ninh quốc tế của Trung Quốc”, gửi đi thông điệp rằng quân đội Trung Quốc nỗ lực tăng cường sự tin cậy lẫn nhau và hợp tác an ninh khu vực, coi trọng việc bảo vệ và tăng cường an ninh khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Tuyên bố của ông Lương Quang Liệt khẳng định sữ hỗ trợ việc làm dịu bớt những lo ngại về sự lớn mạnh của quân lực Trung Quốc.
Cùng với sự lớn mạnh của lực lượng hải quân và không quân Việt Nam cũng như tình cảm dân chúng lên cao, các biện pháp đối phó của Trung Quốc (trong vấn đề Biển Đông) chắc chắn sẽ ngày một cứng rắn. Nhưng xuất phát từ nhu cầu phát triển toàn cục của đất nước cũng như sự ổn định của khu vực, “sách lược hai cánh tay” mềm dẻo của Trung Quốc có thể sẽ tiếp tục được thựchiện trong thời gian dài, trừ phi không gian hoà bình bị triệt tiêu.
***
TTXVN Bắc Kinh 12/6)
Tờ “Quốc tế tiên khu đạo báo”, ấn phẩm của Tân Hoa xã số ra ngày 10-16/6 có bài tổng hợp dài hơn một trang, với hàng tít nổi bật ngay trên trang nhất “Đông Nam Á trở thành vũ dài ra đòn giữa Trung Quốc và Mỹ”, tên tác giả được ghi là Bình luận viên thời sự Đài truyền hình vệ tinh Phượng Hoàng, thể hiện thực trạng quan hệ Mỹ-Việt Nam cũng như quan hệ Mỹ-Việt Nam-Trung Quốc trong bối cảnh đang có tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông như hiện nay và đối sách của Trung Quốc cần phải được xác định trong thời gian tới. Bài báo cho rằng “bối cảnh lớn” về sự “tan băng” trong giao lưu quân sự Trung -Mỹ tuy khiến bộ trưởng quốc phòng hai nước bề ngoài trao đổi rất vui vẻ nhưng sự thay đổi về “môi trường nhỏ” lại khiến Trung Quốc có cảm giác trước sau đều có địch.
Bài báo cho biết do Mỹ quyết định bán vũ khí cho Đài Loan, cộng thêm sự kiện tàu Cheonan ở bán đảo Triều Tiên khiến cho Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Robert Gates và Phó Tổng tham mưu trưởng PLA công khai chỉ trích lẫn nhau, đưa đến bầu không khi của Đối thoại Shangri-La năm ngoái căng thẳng, tình hình an ninh khu vực trở nên nhạy cảm và phức tạp, cơ chế an ninh song phương và đa phương mong manh. Trước Đối thoại Shangri-La lần này, bầu không khí của diễn đàn cũng căng thẳng không kém, nhưng sau chuyến thăm Trung Quốc hồi đầu năm của Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ R.Gates và sau chuyến thăm Mỹ của đoàn đại biểu cấp cao PLA do Tổng tham mưu trưởng Trần Bỉnh Đức dẫn đầu từ ngày 15-22/5, quan hệ quân sự Trung-Mỹ đã ấm trở lại. Bộ trưởng R. Gates nói Mỹ không có ý đồ gây trở ngại cho ảnh hưởng của Trung Quốc đang ngày một tăng lên, Trợ lý Ngoại trưởng Mỹ Campbell cũng nói một trong những việc quan trọng nhất của Mỹ trong năm nay là phải ra sức hợp tác với Trung Quốc ở Đông Nam Á. Viên Bằng, Trưởng phòng Nghiên cứu nước Mỹ thuộc Viện nghiên cứu quan hệ quốc tế hiện đại Trung Quốc nói, những lời nói như vậy đã xác định dòng suy nghĩ xuyên suốt cho Đối thoại Shangri-La lần này.
Tuy nhiên, khác với báo chí dự đoán, trong diễn đàn Đối thoại, R. Gates đã không bàn nhiều về quan hệ Mỹ-Trung mà tập trung nhấn mạnh nhiều hơn tới sự có mặt quân sự của Mỹ ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương, mặc dù kinh tế không sáng sủa, ngân sách quốc phòng bị cắt giảm nhưng Mỹ vẫn kiên quyết thực hiện cam kết đảm bảo an ninh với các đồng minh ở khu vực này, trong đó Gates đặc biệt nhấn mạnh đến an ninh biển.
Theo cách sắp xếp truyền thống của Đối thoại Shangri-La, mỗi lần đối thoại đều có một chủ đề liên quan đến “an ninh biển”. Chủ đề năm nay tuy vẫn không ngoại lệ nhưng đọc lên lại có cảm giác “nhức mắt” là “phản ứng trước mối đe doạ an ninh biển”, dễ khiến người ta liên hệ đến những tranh chấp chủ quyền lãnh hải liên tục xảy ra tại biển Nam Trung Hoa (Biển Đông) thời gian gần đây. Về phương diện này, có thể nước chủ nhà đã cố ý tạo cho Đối thoại diễn ra không suôn sẻ thông qua việc đảo trình tự sắp xếp mang “tính sách lược”. Trước đây Mỹ và Trung Quốc lần lượt phát, đầu tiên là Bộ trưởng Quốc phòng Nhật Bản, Hàn Quốc hay Ấn Độ… Nhưng năm nay phát biểu của hai Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ và Trung Quốc đã tách ra cách nhau hai ngày. Liền ngay sau phát biểu của Bộ trưởng Lương Quang Liệt ngày 5/6 là phát biểu của Bộ trưởng các nước Malaixia, Việt Nam và Philippin. Quan sát tinh ý sẽ thấy ba nước nói trên đều là những nước có tranh chấp chủ quyền lãnh hải với Trung Quốc, nhất là Việt Nam.
Một sĩ quan cao cấp PLA tham gia phái đoàn đối thoại Trung Quốc nói “trong vấn đề Biển Đông, Việt Nam quả thực không đủ tư cách là bạn”. Có thể do được một vài nước lớn nào đó ủng hộ, trong thời gian “Đối thoại Shangri-La” Việt Nam đã lợi dụng hai bình diện để công khai chỉ trích Trung Quốc. Trong khi phát biểu tại hội nghị, Bộ trưởng Phùng Quang Thanh đã đóng vai quan “mặt đỏ”, vừa lớn tiếng nói đến tầm quan trọng của việc bảo vệ an ninh khu vực Biển Đông, vừa cao giọng cho thấy muốn cùng với nước hữu quan đối thoại để giải quyết vấn đề, nhưng mặt khác lại hưởng ứng theo Mỹ nhấn mạnh tôn trọng Công ước Liên hợp quốc về Luật biển và Luật biển quốc gia, tất cả mọi tranh chấp phải được giải quyết trong khuôn khổ luật pháp quốc tế.
Đồng thời, Thứ trưởng Quốc phòng Việt Nam Nguyễn Chí Vịnh lại tổ chức họp báo, đóng vai quan “mặt đen” chỉ trích Trung Quốc xâm phạm chủ quyền lãnh hải của Việt Nam, rằng hành động của tàu hải giám Trung Quốc là “hành vi bạo lực”, “cơ quan chấp pháp biển của Việt Nam sẽ căn cứ theo luật biển quốc tế và luật ở trong nước để thi hành pháp luật trên biển” v.v…
Trong những phân tích ở phía sau đối với Việt Nam, thái độ của Mỹ vẫn được cho là không thể coi thường. Tư lệnh Thái Bình Dương của Mỹ Willard khi trả lời phỏng vấn của báo chí Trung Quốc đã cho biết rõ rằng “quan hệ giữa chúng tôi với quân đội Việt nam đã có thay đổi, chúng tôi muốn giữ xu thế này. Điều quan trọng nhất là quân đội hai nước chúng tôi hiểu nhau, trao đổi tình báo và từ đó mở rộng ra đến những tiêu chuẩn giá trị mà chúng tôi có thể chia sẻ để đảm bảo an ninh cho khu vực Biển Nam Trung Hoa”. Gates lại càng nói thẳng không hề giấu diếm: “Mỹ và Việt Nam cố gắng mạnh mẽ để xây dựng mối quan hệ song phương vững chắc và đầy sức sống. Mỹ cùng với Việt Nam đã thể hiện ra rằng sẽ xây dựng mối quan hệ sao cho không lặp lại lịch sử. Hôm nay lời cam kết mà dường như đã vượt qua được những trở ngại tưởng như không thể vượt qua đang định hướng cho chúng tôi xây dựng quan hệ đối tác bao gồm các lĩnh vực thương mại, đầu tư, giáo dục, y tế, an ninh và quốc phòng”. Rõ ràng trong vấn đề Biển Đông, cuộc đối đầu giữa Trung Quốc và các nước liên quan vẫn phức tạp và nhạy cảm hơn do sự can dự tích cực của Mỹ.
Báo Mainichi Shimbun của Nhật Bản ngày 4/6 cho hay bởi lo ngại Trung Quốc về mặt chiến lược nên Chính quyền Obama đã phải nâng cấp quan hệ với Việt Nam lên “một tầm cao mới”. Báo dẫn kết quả một cuộc điều tra của Quốc hội Mỹ cho thấy, để ngăn chặn Trung Quốc kiểm soát Biển Đông, Chính quyền Obama chuẩn bị để Việt Nam, nước láng giềng với Trung Quốc phát huy vai trò quân sự lớn hơn. Trước mắt, Mỹ đang mở rộng viện trợ quân sự cho Việt Nam và Philippin. Có thể nhận thấy ý đồ của Mỹ là muốn phát triển những nước này thành “đê chắn sóng Trung Quốc”. Tình hình nói trên đang báo trước một cuộc chạy đua vũ khí xung quanh hải dương có nguy cơ leo thang.
Thái độ bề ngoài “lui về tuyến sau để đứng vị trí thứ yếu” trong vấn đề điểm nóng Nam Hải (Biển Đông) lần này của Mỹ là rất đáng suy nghĩ. Trong vấn đề Biển Đông, tuy Mỹ vẫn giữ giọng điệu cũ nhưng muốn vấn đề Biển Đông được giải quyết thông qua cơ chế đa phương, đồng thời kiên trì “quyền tự do hàng hải”.
Trong bối cảnh nói trên, quan hệ quân sự Mỹ-Trung và vấn đề Biển Đông có mối liên hệ tế nhị. Trong quá trình lúc tiến lúc lùi của quan hệ quân sự không có nghĩa là quan hệ đã ổn định và hoàn hảo, Biển Đông không phải là vấn đề có thể giải quyết một lần nhưng nếu không có sự tiếp xúc giữa hai quân đội Trung-Mỹ thì vấn đề nhạy cảm này sẽ dễ đi đến chỗ mất kiểm soát.
Học giả trong nước Trung Quốc hiện nay cho rằng thái độ của Mỹ trong vấn đề Biển Đông hiện nay là lạnh lùng và kiềm chế. Có chuyên gai kiến nghị quân đội Trung Quốc cần phải tạm thời áp dụng sách lược phớt lờ, không va chạm trong điều kiện đối phó bình tĩnh, từ đó sẽ lấy tĩnh khắc chế động.
Một số đài truyền hình địa phương Trung Quốc như Đài truyền hình vệ tinh tỉnh Vân Nam tối 9/6 đã phát chương trình toạ đàm sôi nổi giữa các học giả xung quanh vấn đề Biển Đông hiện nay, cho rằng Trung Quốc tuyệt đối không được nhân nhượng. Có tin cho biết Đài truyền hình vệ tinh Phượng Hoàng Hồng Công cũng đang tổ chức chương trình bình luận xung quanh chủ đề này.
***
Trên mục Diễn đàn quân sự của Mạng Sina ngày 7/6/2011 có bài của Thượng uý Hồ Tử Lý thể hiện quan điểm của mình về vấn đề tranh chấp Biển Đông hiện nay, nội dung như sau:
Nhiều phen va chạm giữa Trung Quốc và Việt Nam gần đây về vấn đề Biển Đông không chỉ làm tăng thêm biến số cho quan hệ hai nước, mà còn làm tăng bầu không khí căng thẳng trong khu vực. Tình hình một lần nữa nhắc nhở mọi người rằng nếu bên liên quan không xử lý thoả đáng thì vấn đề Biển Đông sẽ trở thành nhân tố tiêu cực ảnh hưởng đến hoà bình và ổn định khu vực rõ nét nhất. Điều đặc biệt đáng chú ý là biểu hiện của Việt Nam lần này tỏ ra cứng rắn khác thường.
Ngày 29/5 tại buổi họp báo cuối tuần hiếm thấy, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Nguyễn Phương Nga cho biết “hải quân Việt Nam sẽ áp dụng mọi biện pháp cần thiết để bảo vệ độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam”. Lời lẽ như vậy không những tỏ thái độ cứng rắn nhất từ trước đến nay, mà rõ ràng cũng đã phá vỡ giới hạn cần có trong vấn đề này.
Để làm rõ ngọn nguồn, cần phải trở lại cả quá trình của sự việc. Cách nói của Trung Quốc và Việt Nam tuy có phần khác nhau nhưng qua lời lẽ của hai bên vẫn có thể thấy được nội dụng khái quát của câu chuyện: Sáng sớm ngày 26/5 tàu chấp pháp của hải giám Trung Quốc tuần tra thường lệ trong vùng biển Nam Hải (Biển Đông), phát hiện tàu thăm dò dầu khí của Việt Nam đang tác nghiệp ở đó, phía Trung Quốc lập tức yêu cầu Việt Nam dừng hành động “xâm phạm chủ quyền” nhưng tàu Việt Nam từ chối. Tàu Trung Quốc lập tức áp dụng biện pháp cưỡng chế, đã cắt đứt cáp quang của tàu thăm dò Việt Nam.
Hôm sau, Bộ Ngoại giao Việt Nam gửi công hàm đến Đại sứ quán Trung Quốc, yêu cầu Trung Quốc bồi thường mọi thiệt hại. Hôm sau nữa tại buổi họp báo, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc đáp trả, phê phán Việt Nam “thăm dò dầu khí ở vùng biển do Trung Quốc quản lý, gây tổn hại đến quyền và lợi ích của Trung Quốc”, đồng thời cho biết hành động mà ngành chủ quản Trung Quốc áp dụng hoàn toàn là giám sát chấp pháp biển bình thường. Vậy là, ngày 29/5 Bộ Ngoại giao Việt Nam đã thể hiện thái độ qua cách nói “hải quân Việt Nam sẽ áp dụng mọi biện pháp cần thiết để bảo vệ độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ”.
Khách quan mà nói, Trung Quốc và Việt Nam tồn tại tranh chấp chủ quyền ở vùng biển Nam Hải là một sự thực. Chúng ta cũng không có ý định mất nhiều lời ở đây, vì đó là vấn đề hết sức phức tạp, không ai thuyết phục được ai. Điều chúng ta muốn chỉ ra là sau khi hai bên xảy ra sự việc, vấn đề cần phải được giải quyết bằng thái độ như thế nào? Dàn xếp nhượng bộ cho êm ả, thông qua đối thoại hiệp thương để giải quyết, hay làm cho sự việc leo thang mất kiểm soát, thậm chí phải dùng đến cả biện pháp quân sự? Đáp an ở đây rất rõ ràng. Trong “Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Nam Hải” (Biển Đông) đã quy định rõ “các bên không dùng vũ lực hoặc đe doạ sử dụng vũ lực để giải quyết tranh chấp Nam Hải” (Biển Đông). Lần này Việt Nam đã tỏ rõ lá bài “hải quân”, quả thực cũng khiến mọi người ngạc nhiên.
Kỳ thực, nếu phải so sánh lực lượng hải quân Việt Nam về cơ bản không ở cùng một cấp độ, cùng một bình diện với Trung Quốc. Sở dĩ Trung Quốc không dễ dàng nói đến việc sử dụng vũ lực, cũng không phải không tự tin mà vì như vậy không phù hợp với ý tưởng ngoại giao và quốc phòng của chính mình, cũng không muốn kẻ khác mượn cớ làm cho dư luận bên ngoài sôi lên “thuyết về mối đe doạ từ Trung Quốc”, lại càng không muốn vì thế mà ảnh hưởng đến hoà bình, ổn định khu vực, gây tổn hại cho môi trường bên ngoài để tập trung xây dựng kinh tế ở trong nước. Nhưng như vậy hiển nhiên cũng không thể trở thành lý do để Việt Nam dễ dàng nói đến vũ lực. Việt Nam cần biết rõ rằng ngay từ thời kỳ đầu mới xây dựng chính quyền, Trung Quốc đã dám đương đầu với Mỹ trên chiến trường Triều Tiên thì sao có thể khuất phục trước sự hù doạ vũ lực của một quốc gia có lực lượng quân sự hạng ba?
Nguyên nhân Việt Nam lần này cứng rắn khác thường cũng trở thành điểm nóng để dư luận thế giới quan tâm. Tạp chí “Chiến lược quốc gia” của Mỹ cho rằng mấu chốt trong vấn đề Biển Đông là Mỹ khẳng định sẽ ngăn Trung Quốc dừng lại ở chuỗi đảo thứ nhất, nếu không được như vậy cũng phải dừng lại ở chuỗi đảo thứ hai. Dựa vào tranh chấp ở Biển Đông giữa Trung Quốc và các nước Đông Nam Á, Mỹ thực thi chiến lược này sẽ có thể bỏ một được mười. Xuất phát từ yếu tố này mà Mỹ gần đây đã mở rộng mức độ can thiệp vào vấn đề Biển Đông, lời lẽ đã rõ từ Diễn đàn khu vực ASEAN năm ngoái khi Ngoại trưởng H. Clinton công khai tỏ rõ thái độ, nói rằng vấn đề Nam Hải liên quan đến lợi ích của Mỹ, Mỹ có trách nhiệm cùng với nước hữu quan giải quyết vấn đề này.
Ngày 14/3 năm nay Ngoại trưởng H. Clinton trao đổi qua điện thoại với quan chức Philippin nói rõ tự do hàng hải ở vùng biển quốc tế xung quanh các quần đảo ở Biển Đông là hết sức quan trọng đối với lợi ích quốc gia của Mỹ. Micheal Green, cựu quan chức phụ trách khu vực châu Á thuộc Uỷ ban an ninh quốc gia Mỹ cho rằng tuyên bố như vậy làm cho một số nước Đông nam Á “hơi cảm thấy tự tin”. Rõ ràng, thái độ của Mỹ đã khiến một số nước có tâm lý cáo mượn oai hùm tìm được chỗ dựa.
Tuy nhiên, những nước này cần sáng suốt nhận thấy rằng Mỹ tuy có nhảy vào cuộc xung đột lợi ích trong các công việc ở Biển Đông nhưng nếu sự vệic gần đến điểm giới hạn, nước Mỹ khi đó liệu có đủ ý chí làm được như vậy hay không? Trong cuộc chiến ở một nước nhỏ như Libi, Mỹ đều chủ động lùi về tuyến hai, vậy Mỹ sẽ dám đương đầu vũ lực với Trung Quốc có nền kinh tế lớn thứ hai thế giới bằng cách nào? Tờ “The Huffington Post” phân tích rằng sau mấy chục năm Mỹ rút khỏi chiến trường Việt Nam, nay Việt Nam một lần nữa lại muốn sử dụng Mỹ để cân bằng với Bắc Kinh, vậy 58 nghìn người Mỹ cuối cùng vì sao lại thiệt mạng? Lịch sử như vậy tin rằng Việt Nam không thể không biết rõ.
Trên thực tế, các bên đều không nên có ý tưởng đầy tranh chấp Biển Đông đến chỗ phải dùng biện pháp quân sự để giải quyết, vì như vậy đối với ai cũng đều lợi ít hại nhiều. Vì thế từ nhiều năm nay Trung Quốc luôn áp dụng thái độ ôn hoà và nhân nhượng thận trọng. Hành động vượt quá quỹ đạo của nước hữu quan cũng cần phải được kiềm chế hết sức mình. Văn kiện có tên “Báo cáo phát triển hải dương Trung Quốc” do Cục Hải dương quốc gia Trung Quốc xuất bản năm 2007 đã nói rõ nước hữu quan đã khoan hơn 1.000 giếng dầu trong phạm vi “đường biên giới đứt đoạn” của Trung Quốc, mỗi năm khai thác trên 50 triệu tấn dầu khí. Hãng tin “United Press International-UPI” của Mỹ cho rằng tại vùng Biển Đông được gọi là “Vùng Vịnh Pécxích thứ hai”, Việt Nam, Philippin, Malaixia, Inđônêxia và Brunây là các nước luôn chiếm địa vị chủ đạo về khai thác dầu khí nhưng Trung Quốc chưa bao giờ sử dụng biện pháp quân sự để ngăn chặn các hành động nói trên. Tuy thế các nước hữu quan tuyệt đối không thể xem việc Trung Quốc nhìn nhận đại cục một biểu hiện yếu mềm có thể lừa gạt mà phải thấy được rằng Trung Quốc không muốn làm to chuyện nhưng cũng không sợ ai mượn dịp để làm to chuyện, lại càng không sợ đe doạ vũ lực./.
http://basam1.wordpress.com/2011/06/20/117-trung-qu%E1%BB%91c-trong-v%E1%BA%A5n-d%E1%BB%81-bi%E1%BB%83n-dong/

Trung Quốc chưa đủ năng lực để thừa nhận các sai lầm trong quá khứ

Trọng Thành
Với tựa đề « Trung Quốc đào sâu những điều bị quên lãng trong lịch sử », nhật báo Libération hôm nay tường trình về việc Viện bảo tàng Quốc gia Trung Quốc (Bắc Kinh) vừa mở cửa cuộc trưng bày lớn về lịch sử Trung Quốc hiện đại mang tên « Con đường hướng đến sự Phục sinh ». Tờ báo nhấn mạnh, trong toàn bộ cuộc triển lãm có bốn bức ảnh về các nạn nhân của Mao Trạch Đông, trong khi các nhà sử học đã nêu ra con số ít nhất 30 triệu người chết trong giai đoạn Cách mạng Văn hóa.
Toàn bộ cuộc trưng bày cho thấy những thắng lợi đầy vinh quang của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa dưới sự lãnh đạo của đảng Cộng sản Trung Quốc, của Mao Trạch Đông và những người kế tục, kể từ giữa thế kỷ XX, sau một thế kỷ bị ngoại bang xâm chiếm và hạ nhục.
Cách nhìn này về lịch sử Trung Quốc thống nhất với các bài học trong sách giáo khoa lịch sử Trung Quốc hiện đại, trong đó hàng triệu người chết dưới thời Mao đã không hề được nhắc đến.
Theo ông Dương Kế Thằng (Yang Jisheng), tổng biên tập Nguyệt san sử học về lịch sử Trung Quốc qua các thời đại (Viêm Hoàng Xuân Thu – Yanhuang Chunqiu), « Trung Quốc hiện nay vẫn còn chưa có đủ năng lực thừa nhận các sai lầm trong quá khứ ». Tạp chí lịch sử với ấn bản hạn chế này là một xuất bản hiếm hoi tại Trung Quốc, dám đưa ra một cách nhìn khác với quan điểm chính thức của đảng Cộng sản Trung Quốc.
Tại Trung Quốc, dưới chế độ độc đảng, lịch sử là lĩnh vực chỉ có đảng Cộng sản mới có quyền nói đến. Tất cả những gì liên quan đến quá khứ được hai cơ quan quản lý. Đó là Trung tâm nghiên cứu lịch sử của Đảng và Ủy ban bảo vệ bí mật quốc gia. Tháng trước, Ủy ban Quốc gia về phát thanh, điện ảnh và truyền hình đã đưa ra quyết định cấm tất cả các chương trình liên quan đến « cuộc du lịch theo thời gian », khái niệm này liên quan đến các cuốn phim nhiều tập xuất hiện rất nhiều trong thời gian gần đây, mang tính hư cấu, đưa những nhân vật trong lịch sử cận đại vào bối cảnh của các thời kỳ quá khứ.
Công việc của tạp chí lịch sử của nhà báo Dương Kế Thằng, nguyên phóng viên Tân Hoa Xã về hưu, đi ngược lại với đường lối chính thức của đảng Cộng sản Trung Quốc. Tuy nhiên, ông Dương Kế Thằng không đơn độc, vì đứng đằng sau ông là cả một lực lượng những cán bộ cao cấp về hưu, còn tin tưởng vào các hứa hẹn dân chủ hóa của Đảng, và hy vọng Trung Quốc tiến đến chế độ đa nguyên. Nổi bật trong số đó là Lý Nhuệ (Li Rui), một người đã từng là thư ký của Mao Trạch Đông trong những năm 1950. Ông cũng là người phản đối lại các biện pháp cực đoan của « Lãnh đạo Tối cao ».
Cho đến nay, đảng Cộng sản Trung Quốc vẫn còn chưa thừa nhận các sai lầm của mình trong quá khứ. Trong lần xuất bản mới nhất của cuốn Lịch sử đảng Cộng sản Trung Quốc, những hậu quả của Cách mạng Văn hóa chỉ được nhắc đến qua một con số, 60.000 cán bộ bị chết vì tra tấn và không có một lời giải thích nào.
Hàng chục triệu người chết đói trong Đại Nhảy Vọt (1958-1962)
Tuy nhiên, thảm họa lớn nhất do đảng Cộng sản thời Mao gây ra là cái chết của khoảng từ 30 triệu đến 35 triệu người trong nạn đói khủng khiếp được giữ trong vòng bí mật, trong những năm 1958-1962, khi Mao Trạch Đông chủ trương tiến hành « cuộc Đại Nhảy Vọt », nhằm đuổi kịp và vượt nước Anh.
Tác phẩm « Bia Mộ » (Mubei), dày 1.000 trang, về nạn đói này (xuất bản năm 2008 tại Hồng Kông) đã đưa ra các bằng chứng bác bỏ luận điểm chính thống của đảng Cộng sản, cho rằng nạn đói này chỉ là do thiên tai. Các nghiên cứu lịch sử do những người khác tiến hành cũng đưa ra những con số khổng lồ. Nhà sử học Yu Xiguang người Bắc Kinh, từng bỏ ra hai mươi năm nghiên cứu các hồ sơ về chủ đề này, đưa ra con số khoảng 55 triệu người chết, trên tổng số 650 triệu cư dân thời đó.
Một giai đoạn đen tối khác trong lịch sử Trung Quốc dưới thời Cộng sản, đó là khi hàng trăm nghìn người bị quy là địa chủ, bị giết hại trong giai đoạn cải cách nông nghiệp (1949-1950). Về giai đoạn này, có một xuất bản của nhà sử học Gao Wangling, với 100.000 ấn bản, cho thấy « các địa chủ không ác đến mức như người ta nói. Nhìn chung, họ đã cho thuê đất với giá cả tương đối hợp lý ».
Trong Bảo tàng Quảng trường Thiên An Môn, có một bức ảnh Mao và dòng chú thích : « Mao Trạch Đông và nhiều lãnh đạo trung ương và địa phương đã để cho tình cảm tự mãn và tự hào lấn át. Coi thường các quy tắc kinh tế và mong muốn đạt được các kết quả ngay lập tức, họ đã tiến hành chiến dịch Đại Nhảy Vọt. Cuối cùng, họ đã bị một làn sóng sai lầm tả khuynh lấn lướt và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội đã hứng chịu những thất bại nặng nề ». Libération bình luận, một lần nữa họ Mao lại được tha bổng.

http://www.viet.rfi.fr/chau-a/20110617-trung-quoc-chua-du-nang-luc-de-thua-nhan-cac-sai-lam-trong-qua-khu

Advertisements

Gửi bình luận »

Không có bình luận

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s