Hoàngquang’s Blog

09/06/2011

Trung Quốc và Đông Nam Á

Nguyễn Xuân Nghĩa & Vũ Hoàng – RFA ngày 110608
& Biển Đông: Sợ hãi không đẩy lùi hiểm họa- André Menras Hồ Cương Quyết
***
Trung Quốc và Đông Nam Á

“Người Mặc Cảm Thường Hay Xuất Hư Chiêu”…

…”

do nhu cầu an ninh chủ quan, Bắc Kinh muốn xây dựng sức mạnh quân sự nhằm kiểm soát vùng biển cận duyên, là biển xanh lục, và tiến tới vị trí một đại cường hải dương có khả năng can thiệp viễn duyên, là biển xanh dương. Đấy là bài toán của thế giới, cũng gay go như khi xứ này bị nội loạn và lại tan rã, cho đến ngày họ chấp nhận dân chủ và thể chế liên bang.”

Từ ba tháng nay, Trung Quốc đã gây ra nhiều vụ đụng độ liên tiếp trên vùng biển Đông Nam Á khiến các nhà quan sát quốc tế nói đến sự bành trướng của Trung Quốc vào một khu vực có nhiều mối lợi kinh tế. Diễn đàn Kinh tế sẽ tìm hiểu về hồ sơ này qua phần trao đổi do Vũ Hoàng thực hiện sau đây cùng nhà tư vấn kinh tế Nguyễn Xuân Nghĩa.

Vũ Hoàng: Xin kính chào ông Nguyễn Xuân Nghĩa. Thưa ông, vì những biến động vừa qua trên vùng biển Đông Nam Á, chúng tôi xin đề nghị là kỳ này ta sẽ tìm hiểu về mục tiêu bành trướng của Trung Quốc trong khu vực. Đó là kinh tế vì tài nguyên ở nơi đó hay còn là những gì khác? Như mọi khi, xin ông trình bày cho bối cảnh của hồ sơ rất phức tạp này.

Nguyễn Xuân Nghĩa: – Về bối cảnh thì ta nên ngó qua cuốn lịch và tấm bản đồ để xác định thời gian và không gian trước khi tìm hiểu. Nhưng trước hết, tôi xin đề nghị với người Việt ta là khỏi dùng từ “Trung” để nói về xứ này mà nên dùng từ “Hoa” xưa nay vẫn thông dụng, như “Hoa kiều”, “Hoa quân nhập Việt” hay “Tân Hoa xã”. Chỉ dân Trung Quốc mới dùng từ “Trung” do hàm ý họ là trung tâm của thiên hạ, mà chẳng hiểu sao ngày nay Hà Nội lại dùng chữ đó!

– Về cuốn lịch thì từ khi nhà Hán tiêu vong thời Tam Quốc, xứ này có lịch sử quãng 1.800 năm mà phân nửa là nội chiến và loạn lạc. Và gần 600 năm bị các dị tộc như Liêu, Mông, Mãn, đô hộ – hoặc bị Tây phương xâu xé, bị Nhật xâm lăng. Giai đoạn 150 năm suy bại gần đây – là thế kỷ 19 và 20 – khiến dân tộc này có mặc cảm nặng. Ngày nay lãnh đạo của họ khai thác tâm lý đó và giãi bày sự thể như một dân tộc nạn nhân phải giành lại sự vinh quang chính đáng của lịch sử.

– Tấm lịch lầm than đó còn khiến ta nên lạnh lùng nghĩ là trong thế kỷ 21 này chưa chắc Trung Quốc đã thống nhất như hiện nay!

– Lãnh đạo của họ cũng ý thức như vậy nên rất sợ cái lẽ hợp tan đã từng thấy trong lịch sử. Vì vậy, tánh khoa trương về chủ nghĩa Đại Hán ưu việt và nỗi lo bị phân hoá thành nhiều mảnh đã thấy trong quá khứ là hai động lực đang chi phối cách xử trí của họ. Trong khi ấy, việc sinh hoạt hòa đồng với thể giới là mới chỉ có từ ba chục năm thôi, nên chưa là ý thức phổ biến trong một xã hội chưa chấp nhận tinh thần tự do, cởi mở và không ai được có độc quyền chân lý.

Vũ Hoàng: Đó là về cuốn lịch, là yếu tố lịch sử có ảnh hưởng đến tâm lý của giới lãnh đạo và cả quần chúng. Còn về tấm bản đồ như ông nói, mình có thể nhìn ra những gì?

Nguyễn Xuân Nghĩa: – Về tấm bản đồ thì lãnh đạo đời nay dựa vào bản đồ nhà Đại Thanh thời cực thịnh để nói về lãnh thổ và các vùng phiên trấn ngoại vi của họ, lại còn nhập nhằng kể thêm kết quả chinh phục thời Nguyên Mông. Thực tế thì lãnh thổ của Trung Quốc không rộng lớn như vậy, nhất là không xuống tới vùng biển Đông Nam Á.

– Về miền Đông, chúng ta không quên là hơn trăm năm, từ thế kỷ 13 qua 14, biển Đông của họ là nơi hải tặc hoành hành. Họ gọi là “Nụy khấu”, giặc lùn từ Nhật, mà cũng là cướp biển người Hoa, nhân vật Từ Hải là một thí dụ! Thế rồi vì kinh tế lụn bại sau 20 năm xâm chiếm Đại Việt – từ 1407 đến 1427 – lại bị Hung Nô uy hiếp và các nho thần hủ lậu can gián, nhà Minh Tuyên Đức ra lệnh “Hải cấm” là cấm thuyền bè buôn bán ngoài biển sau khi Tam bảo Thái giám là Đô đốc Trịnh Hoà tạ thế năm 1433. Đến đời Minh Long Khánh, là Mục Tông, vào năm 1567, mới thu hồi lệnh đó. Qua đời Thanh, chính sách bế quan tỏa cảng ấy lại được áp dụng nữa.

– Tức là mấy trăm năm liền, Trung Quốc bỏ ngỏ Đông Nam Á, là nơi thương nhân quốc tế tấp nập buôn bán với Đàng Trong của các Chúa Nguyễn. Đấy là lý do khiến Nhật chứ không phải Trung Quốc đã góp phần lập ra trung tâm Hội An của nước ta. Sau đấy, người Hoa có đến vùng đất này như tại nhiều xứ khác trong khu vực, nhưng là di dân tỵ nạn mà thôi. Vì vậy, khi Bắc Kinh đòi chủ quyền trên các quần đảo Đông Nam Á là họ nhập nhằng với lịch sử!

– Qua thế kỷ 20, chiếm xong Hoa lục năm 1949 Mao Trạch Đông mới ngó xuống Đông Nam Á, mà để gieo rắc hạt nhân cộng sản tại Lào, Việt Nam, Thái Lan, Malaysia, Singapore, Indonesia và Philippines nên gây phản ứng chống cộng và bài Hoa dữ dội tại các xứ này. Việt Nam là ngoại lệ, lại còn hãnh diện về sự yểm trợ đó cho nhu cầu cách mạng vô sản cho đến năm 1979 mới hiểu ra, mà tôi e chừng là vẫn chưa hiểu ra! Khi Trung Quốc bắt đầu cải cách thì Bắc Kinh mới thay đổi dần cách tiếp cận với Đông Nam Á, bằng những bước rất nhẹ.

Vũ Hoàng: Sau bối cảnh địa dư và lịch sử, ta đi vào mục tiêu của Trung Quốc tại Đông Nam Á. Họ muốn những gì mà đưa ra một bản đồ về vùng đặc quyền kinh tế bao trùm lên cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa? Thưa ông, có phải là trữ lượng dầu thô và khí đốt rất dồi dào ở bên dưới hay không?

Nguyễn Xuân Nghĩa: – Thưa rằng năng lượng là một nhu cầu khi họ cần nhiên liệu cho công nghiệp và đánh giá trữ lượng dầu thô trong vùng biển quốc tế này là từ 28 tỷ đến 213 tỷ thùng. Cơ quan Thông tin Năng lượng Hoa Kỳ ước đoán trữ lượng khí đốt là 27 ngàn tỳ thước khối. Nhưng vấn đề nào chỉ có vậy khi mà Trung Quốc không giải quyết nhu cầu kinh tế của họ qua giao thương bình thường và ôn hòa như các xứ khác? Chẳng lẽ cứ thấy nơi nào có tài nguyên thì lại nhận là của mình? Tôi thiển nghĩ Bắc Kinh nhắm vào nhiều mục tiêu một lúc, mà người ta có thể hiểu ra nếu kết hợp chuyện lịch sử ngày xưa và kinh tế ngày nay của họ.

– Dân Trung Quốc sợ nội loạn và ngoại xâm nên lãnh đạo mọi thời đều nhắm vào ba mục tiêu chiến lược là 1) bảo đảm sự cai trị thống nhất của Hán tộc bên trong lãnh thổ, 2) kiểm soát được vùng trái độn quân sự ở vòng ngoài và 3) bảo vệ được sự an toàn của khu vực duyên hải. Từ 1979 trở đi, khi mở cửa trao đổi để công nghiệp hóa xứ sở bằng kinh tế thì lần đầu tiên trong lịch sử, Trung Quốc cần nguyên nhiên vật liệu và nông sản và thị trường xuất cảng ở bên ngoài. Đấy là lúc mà họ ý thức được một sự thật khác: Trung Quốc bát ngát và cao ngạo như vậy chỉ là xứ đói ăn và khát dầu. Phản ứng tự vệ dễ hiểu khiến họ muốn kiểm soát tất cả và bằng mọi cách.

Vũ Hoàng: Như ông phân tích thì Trung Quốc có những mục tiêu đa diện vì bao gồm cả kinh tế, chính trị lẫn an ninh chiến lược, mà an ninh mới là then chốt, có phải không?

Nguyễn Xuân Nghĩa: – Thưa đúng như thế và lãnh đạo của họ hiểu chữ an ninh trong thế động, tức là phải biến hóa, và “toàn phương vị”, tức là mở ra cả bốn phương!

– Họ đòi chủ quyền kinh tế trên vùng biển Đông Nam Á để chiếm tài nguyên và kiểm soát nguồn cung cấp cho 80% lượng dầu nhập khẩu qua eo biển Malacca. Lên lãnh đạo năm 2003, Chủ tịch Hồ Cẩm Đào nói đến “Nan đề Malacca” vì yết hầu này mà bị khóa là xứ sở bị thiếu dầu!

– Yêu cầu an ninh toàn phương vị khiến Trung Quốc không chỉ đòi khống chế Đông hải của Việt Nam mà còn khai triển giải pháp đầu tư kinh tế và quân sự vào Đông Dương, Miến Điện, Pakistan hầu kiểm soát tình hình từ biển Thái bình qua Ấn Độ dương, từ Vịnh Bengal tới Biển Á Rập qua Trung Đông, Phi Châu và Âu Châu. Việc họ lạm thác sông Mekong và mở đường thông thương từ các tỉnh bị khóa trong lục địa ra tới biển ở chung quanh Việt Nam cũng nằm trong hướng đó. Cho nên kinh tế là mục tiêu mà cũng là phương tiện, y như ngoại giao hay chính trị vậy.

Vũ Hoàng: Nếu hiểu như vậy thì mục tiêu không chỉ là năng lượng hay tài nguyên ngoài Đông hải. Nhưng Bắc Kinh tiến hành những việc đó như thế nào trước cộng đồng thế giới và khu vực?

Nguyễn Xuân Nghĩa: – Khu vực này có 10 hội viên của Hiệp hội Đông Nam Á ASEAN, gồm năm xứ trong lục địa là Việt Nam, Lào, Cambốt, Miến Điện và Thái Lan và năm xứ hải đảo là Philippines, Malaysia, Indonesia, Brunei và Singapore.

– Vì địa dư và lịch sử, họ chi phối mỗi xứ một cách, nhưng trên đại thể, hiệp hội chỉ là câu lạc bộ kinh tế có mục tiêu hợp tác ngoại thương và Trung Quốc triệt để khai thác việc đó từ năm 1993 trở đi. Thế giới lạc quan với thị trường hơn một tỷ 900 triệu dân Hoa lục và ASEAN và với Hiệp định Tự do Thương mại áp dụng từ đầu năm ngoái nên nêu ra nhiều thống kê ngoạn mục về đầu tư và hợp tác. Nhưng dưới con mắt Bắc Kinh, có lẽ các nước ASEAN hành xử như nước Tề lý tài trước cường Tần trong thời Chiến Quốc, nên bị dính mồi kinh tế! Vấn đề nó không chỉ là kinh tế.

– Từ nguyên thủy, Bắc Kinh có nhu cầu họ coi là sinh tử về chính trị là thôn tính được Đài Loan thì mới thật sự thống nhất đất nước vì lẽ chính danh. Họ gọi đó là “hạch tâm nghĩa lợi” hay “hạch tâm lợi ích” là “quyền lợi cốt lõi”. Chưa làm được việc ấy sau khi đã thu hồi Hong Kong và Ma Cao thì họ phải cô lập Đài Loan với Đông Nam Á và trấn an khu vực này rằng đây là chuyện nội bộ, chứ Trung Quốc rất hiếu hòa. Nhưng đấy là chuyện xưa. Từ năm 2003, ý niệm “quyền lợi cốt lõi” xuất hiện thường xuyên và mở rộng hơn, từ Tân Cương, Tây Tạng qua tới Đông hải.

Vũ Hoàng: Thưa ông, hiểu như vậy thì kinh tế chỉ là miếng mồi, thế lưỡi câu giấu kín bên trong là gì?

Nguyễn Xuân Nghĩa: – Thực tế thì Bắc Kinh muốn biến cả khu vực Đông Nam Á thành vùng “trái độn quân sự” theo khái niệm truyền thống của họ. Đó là “quyền lợi cốt lõi” được hiện đại hóa theo ý tích cực và triệt để.

– Về chính trị, họ tiến hành qua ba ngả là: dùng ngoại giao trấn an các nước về thiện chí gọi là “quật khởi hòa bình” và dàn xếp mâu thuẫn bằng thương thảo; hai là dùng giao thương kéo Đông Nam Á vào quỹ đạo của họ; và thứ ba, khai thác mọi định chế hay diễn đàn trong khu vực để có cơ hội đối thoại tập thể nhưng lại tranh thủ từng nước qua mua chuộc theo lối bẻ đũa từng chiếc.

– Kín đáo bên dưới là nỗ lực tuyên truyền, kiều vận và thậm chí khuynh đảo qua việc đưa người vào đầu tư, cấp học bổng và lập ra các đền thờ Khổng tử hay hội Khổng học. Dùng Khổng tử phát huy đức sáng của Hán tộc cũng là cách tuyên truyền khá công hiệu! Nhưng đấy chỉ là khía cạnh rơi rớt lại từ chủ trương của Đặng Tiểu Bình là dùng quyền lực âm nhu mà khỏi gây hãi sợ gọi là – “đạo quang dương hối” – che giấu sức mạnh và bày tỏ thiện chí.

Vũ Hoàng: Hình như những động thái vừa qua của họ lại ra khỏi phương thức âm nhu hay ôn hòa như ông vừa trình bày. Tại sao lại như thế?

Nguyễn Xuân Nghĩa: – Nếu chỉ nhìn qua số liệu giao dịch kinh tế giữa Trung Quốc và Hiệp hội ASEAN, ta chưa thấy hết sự công hiệu của lối tranh thủ ôn nhu này. Thực ra, các nước nơi đây cần thấy rằng Bắc Kinh tuyệt đối tránh đưa vụ tranh chấp chủ quyền ra thảo luận trên diễn đàn quốc tế đa phương trong khi ráo riết viện trợ hay đầu tư vào từng nước theo những điều kiện dễ dãi mà chả gây phiền hà gì về nhân quyền hay môi sinh. Và lãnh đạo Bắc Kinh giải thích với thần dân u mê của họ rằng đây là hình thức “triều cống” mới mà chúng ta sẽ có dịp tìm hiểu sau. Họ tìm chư hầu hay thân chủ qua ngả song phương và quả là liên kết được với một số quốc gia thiếu dân chủ vì dân chúng không được có tiếng nói.

– Bây giờ, trở lại câu hỏi của ông, khi ngầm tranh thủ từng quốc gia trong Hiệp hội thì Bắc Kinh lại dở đòn uy hiếp, có thể là do sức ép của quân đội và các thành phần cực hữu Maoist khi họ tác động vào Đại hội 18 của năm tới. Cũng có thể là do nhiều khó khăn chồng chất bên trong mà Bắc Kinh gây sóng gió bên ngoài để khai thác tự ái dân tộc hầu giải tỏa những bất mãn của quần chúng.

– Khi ấy, các nước có thể chọn giải pháp thỏa hiệp, thì lãnh đạo sẽ có lợi do sự mua chuộc của Bắc Kinh. Hoặc nếu muốn bảo vệ chủ quyền và độc lập thì gặp rủi ro xung đột. Nhìn ngược lại thì đây là cơ hội cho ASEAN thức tỉnh và phát huy tiếng nói thống nhất của cả tập thể 10 nước để nêu vấn đề với Trung Quốc. Khi ấy, vấn đề không còn là của từng hội viên mà là thách đố chung và cũng trở thành vấn đề của cả thế giới, trên một khu vực chiến lược của kinh tế toàn cầu vì chi phối đến 40% lượng hàng hóa giao dịch của nhân loại.

– Để kết luận thì do nhu cầu an ninh chủ quan, Bắc Kinh muốn xây dựng sức mạnh quân sự nhằm kiểm soát vùng biển cận duyên, là biển xanh lục, và tiến tới vị trí một đại cường hải dương có khả năng can thiệp viễn duyên, là biển xanh dương. Đấy là bài toán của thế giới, cũng gay go như khi xứ này bị nội loạn và lại tan rã, cho đến ngày họ chấp nhận dân chủ và thể chế liên bang.

Vũ Hoàng: Xin cảm tạ ông Nguyễn Xuân Nghĩa về cuộc phỏng vấn này.

____________________________________________________________

Ghi Chú Ngoài Lề: Mọi người Việt Nam đều thấy đau và thấy nhục về chuyện này. Ban Việt ngữ đài SBS bên Úc có hai cuộc phỏng vấn, chiều 31 Tháng Năm và sáng mùng tám Tháng Sáu về chuyện đau lòng. Xin nối vào đây:
http://www.sbs.com.au/yourlanguage/vietnamese/highlight/page/id/171586/t/Sino-Vietnamese-Relations

Ngẫm lại thì nhớ đến… Uy Viễn Tướng công Nguyễn Công Trứ và cái mo nang che bớt cái miệng của các Thầy Mo.
http://www.dainamax.org/2011/06/trung-quoc-va-ong-nam.html
\____________

Biển Đông: Sợ hãi không đẩy lùi hiểm họa
Tác giả: André Menras Hồ Cương Quyết

Có những tình huống mà im lặng không giúp ta tránh né được hiểm nguy, ngược lại chỉ làm tăng mối họa vì khiến người khác lầm tưởng im lặng là bạc nhược.

LTS: André Menras, một người Pháp đã có hộ chiếu và chứng minh thư Việt Nam với cái tên Hồ Cương Quyết. Hơn 40 năm trước, ông là một trong hai người Pháp đã dũng cảm phất cao cờ Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam trước toà nhà Quốc hội của chính quyền Sài Gòn và rải truyền đơn đòi độc lập, hoà bình cho VN vào năm 1970. Hành động này khiến ông bị bắt giam rồi bị trục xuất về nước. Trong tù với những người Cộng sản kiên trung, ông được đặt tên là Hồ Cương Quyết. Sau khi ra tù, ông đi khắp thế giới để tuyên truyền về cuộc chiến tranh mà Mỹ dính líu và sa lầy ở Việt Nam. Từ năm 2002 đến nay, ông sống ở Việt Nam và tham gia vận động quyên góp cho các chương trình hỗ trợ biển đảo Việt Nam.
Ông đã gửi tới Tuần Việt Nam bài viết bày tỏ góc nhìn riêng trước sự kiện tàu Bình Minh 02.

Thông tin trung thực cho dân
Có những tình huống mà im lặng không giúp ta tránh né được hiểm nguy, ngược lại chỉ làm tăng mối họa vì khiến người khác lầm tưởng im lặng là bạc nhược.
Phản ứng ngoại giao tất nhiên là cần thiết, nhưng không đủ để tranh thủ được sự đoàn kết quốc tế mà Việt Nam rất cần trong lúc này. Hơn ai hết, những người đã từng dựa vào sức mạnh của nhân dân để giải phóng và thống nhất đất nước hiểu giá trị của quyền tiếp cận thông tin và quyền được hành động của nhân dân.

Trung Quốc đã quyết đẩy mạnh cuộc tiến công ở Biển Đông. Đó là điều là nhãn tiền đối với cộng đồng quốc tế: Chúng ta hãy lên tiếng mạnh mẽ!
Trung Quốc đã vi phạm mọi thỏa thuận mà họ đã ký kết: Chúng ta hãy lên tiếng mạnh mẽ!
Hải quân Trung Quốc sách nhiễu, khủng bố ngư dân Trung Bộ trên những vùng biển mà họ đã đánh bắt từ đời cha ông họ: Chúng ta hãy lên tiếng mạnh mẽ!
Hãy thông báo về số phận những đồng bào bị sách nhiễu, bắt giam, cướp bóc và phá sản trên Biển Đông, phổ biến thông tin trên khắp đất nước, đến mọi vùng sâu vùng xa.
Nói một cách ngắn gọn: Hãy thông tin trung thực cho dân!
Hoàng Sa và Trường Sa là của Việt Nam! Chúng ta không nên tự bằng lòng với những cuộc họp của các chuyên gia Việt Nam với các chuyên gia quốc tế để khẳng định điều ấy một cách âm thầm. Các hội nghị ấy đều quan trọng, nhưng chúng ta cần khẳng định chủ quyền ấy trong các trường học, trong các chương trình sử địa được dạy trên toàn quốc.
Tôi rất sửng sốt và nhói đau khi thấy trên đảo Lý Sơn, nơi xuất phát của những ngư dân vẫn kiên trì đánh cá ở vùng biển Hoàng Sa và là hòn đảo đứng đầu sóng ngọn gió trong cuộc tranh đấu để khẳng định chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa, con em của họ không biết gì về địa lý của những hải đảo, nơi mà cha anh của các em đã bị hải quân Trung Quốc bắt giữ…
Biết bao tấm bản đồ hành chính Việt Nam còn thiếu vắng đảo Hữu Nhật và đảo Quang Ánh, những địa danh mang nặng nghĩa tình, vì tại đó tổ tiên của họ trong hải đội Hoàng Sa đã hy sinh!
Sợ hãi không đẩy lùi được hiểm họa
Tôi rất hiểu vị thế cực kỳ khó khăn và tế nhị của các nhà lãnh đạo Việt Nam với mong muốn tránh cho nhân dân mình, vốn đã trải qua bao đau thương trong suốt lịch sử dân tộc, lại phải gánh chịu những mất mát mới. Lịch sử Việt Nam đã không ít lần phải chứng kiến máu đổ: năm 1974, năm 1979, năm 1988…
Nhưng sợ hãi không đẩy lùi được hiểm họa. Nói như Đại tướng Lê Đức Anh: “Nếu SỢ thì mất. Mất chỗ mà người ta muốn chiếm. Không SỢ thì mình có cách đấu tranh để vừa giữ được chủ quyền, vừa giữ được hòa khí”.

Cụ Bùi Thượng 73 tuổi, vô địch lặn nước sâu ở Lý Sơn, rất ý thức được điều ấy. “Gặp một con cá mập lớn, thì phải đối mặt với nó, nhìn trừng mắt vào nó. Có như thế thì nó mới không tấn công”, cụ nói.
Có những thời điểm phải biết đối mặt. Đó là vấn đề sống còn. Đối mặt trước hết là nói thật, và chỉ nói sự thật.
Ở Bình Châu và Lý Sơn, tôi đã phỏng vấn những ngư dân ngày ngày phải mạo hiểm tính mạng khi ra khơi. Họ kể rằng họ đã đụng phải những đoàn tàu đánh cá Trung Quốc tới sát đảo, chỉ cách chừng 20 hải lý. Những đội đánh cá Trung Quốc tổ chức chặt chẽ, được sự yểm trợ của hải quân Trung Quốc. Còn ngư dân Việt Nam, họ đã ra khơi với cảm giác bất an. Và khi gặp họa, thì bị bắt, bị giam cầm, bị tịch thu cá mú và thiết bị, và những món nợ to lớn phải trả. Có người như ông Tiêu Viết Là, người xã Bình Châu, bốn lần bị Trung Quốc bắt giam.
Trợ cấp của nhà nước thì không thấm vào đâu. Phải bản lĩnh lắm mới dám tiếp tục đi khơi ra lộng trong tình hình như vậy!
Những người vợ góa của các ngư dân đã bị mất tích một cách bí hiểm ở khu vực Đá Bông Bay, một thứ “tam giác Bermuda ” của Quần đảo Hoàng Sa, ngày nay sống đơn côi, cô độc, vì “vốn liếng” duy nhất của họ là người chồng. No đói là nhờ chồng.
Có chị thậm chí tiền không có để xây được một cái “mộ gió” cho chồng. Mùa mưa, không có tiền sửa lại mái dột trên căn nhà một gian trơ trọi. Tiền đâu cho con cái học thêm, mà việc học của con cái là tia hi vọng duy nhất cho phần đời còn lại của những góa phụ đau khổ đến tột cùng này.
Món tiền tượng trưng hai triệu đồng mà chính quyền cấp cho nơi này nơi khác không thay đổi được số phận của họ.
Phải lên tiếng, phải nói về họ!
Họ phải được hưởng một chương trình hỗ trợ chính thức của Nhà nước, một chương trình ưu tiên, và tối thiểu họ cũng phải được chu cấp đầy đủ lương thực, nhu yếu phẩm và thuốc men. Con cái của họ phải được đến trường và chăm sóc sức khỏe hoàn toàn miễn phí. Các cháu, các em phải được coi là nghĩa tử quốc gia. Bảo vệ các em và mẹ của các em là bảo vệ biển đảo, là bảo vệ đất nước một cách thiết thực và hữu hiệu nhất.
Trong bối cảnh ấy, không ai có quyền giảm nhẹ trách nhiệm của Trung Quốc. Hãy nói chuyện “tàu lạ” với ngư dân Trung Bộ, họ sẽ sửa ngay thành “tàu Trung Quốc”. Đối với họ có gì là “lạ” cả.
Nhiều bạn Việt Nam đã nói với tôi: “Trung Quốc khôn ngoan lắm”. Các nhà lãnh đạo Trung Quốc có thực là “khôn ngoan” hay không? Leo thang tranh chấp, Trung Quốc đang tạo điều kiện cho các nước ASEAN, mà lợi ích của họ ở Biển Đông bị đe dọa, xích lại gần nhau.
Họ mở ra một trận tuyến mới, nghĩa là phải găm ở đây những nguồn lực, phải chuyển hướng một phần đầu tư cần thiết cho công cuộc phát triển kinh tế vào một cuộc phiêu lưu tốn kém mà chắc chắn sẽ làm họ sa lầy.
Đã qua rồi cái thời mà họ có thể ngang nhiên chiếm đoạt Hoàng Sa, ngang nhiên đánh chìm tàu tiếp vận của Việt Nam tại Bãi Gạc Ma. Trung Quốc đang phát triển mạnh, song chính sự phát triển ấy đang khoét sâu những mâu thuẫn nội tại, khuếch đại những bất bình đẳng xã hội. Không cần phải là nhà tiên tri cũng thấy được rằng khó khăn của Bắc Kinh đang còn trước mặt, chứ không phải đã ở sau lưng. Và đến lúc đó, họ sẽ phải trả lời.
Còn một bài học lịch sử nữa mà nhà cầm quyền Trung Quốc muốn quên – như thế không “khôn ngoan” tí nào. Đó là: về lâu dài, không thể làm nên điều gì khi họ đi ngược lại ý chí của các dân tộc khác, bởi vì sức mạnh thực sự nằm trong nhân dân, chứ không nằm trong họng súng, trong số lượng vũ khí.
Ở Lý Sơn, tôi có dịp tham dự một nghi thức rất có ý nghĩa, nói lên ý chí của người dân hải đảo: Khi một ngư dân mất tích vì bão biển hay vì lí do bí ẩn nào đó, gia đình nào có khả năng xây mộ và mời thầy cúng, thì tổ chức một cái lễ rất độc đáo, có lẽ có một không hai, để gọi hồn người đã khuất về nhập vào một hình nhân nặn bằng đất sét được phù phép. Hình nhân được an táng trong một cái mộ gọi là “mộ gió”, để thân nhân có thể tới cúng viếng. Mê tín chăng? Có thế. Nhưng không chỉ có thế. Tôi nghĩ việc này có một ý nghĩa sâu sắc: phong tục mấy trăm năm này nói lên ý chí của những người sống, kiên quyết giành lại từ biển cả, từ kẻ địch cái gì quý nhất, mang về cho gia đình, cho đất nước. Đó là thông điệp rất rõ ràng gửi tới kẻ xâm lược: “Dù các người làm gì đi nữa, chúng tôi vẫn gắn bó với những người đi biển, gắn bó với biển, với nền văn hiến này, với đất nước này. Những điều ấy, không ai, không sức mạnh nào, có thể chiếm đoạt được”.
Người dịch : Nguyễn Ngọc Giao
http://tuanvietnam.vietnamnet.vn/2011-06-08-bien-dong-so-hai-khong-day-lui-hiem-hoa

Advertisements

Gửi bình luận »

Không có bình luận

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: