Hoàngquang’s Blog

07/06/2011

Ngẫu nhiên Bình Minh 02?

Filed under: HOÀNGSA -TRƯỜNG SA VIỆT NAM,VIỆT NAM-TRUNG QUỐC — hoangquang @ 2:05 chiều
Tags: ,

Tống Văn Công
& LAI LỊCH VỀ CÁI GỌI LÀ ” ĐƯỜNG LƯỠI BÒ ” TRUNG QUỐC
***

Về câu trả lời “song phương” của ông Phùng Quang Thanh trước ông Lương Quang Liệt bên lề Hội nghị Shangri-La, BVN đã trình bày chủ kiến rõ ràng trong bài bình luận “Cuộc gặp Bộ trưởng Quốc phòng Việt Trung” ngày 5-6-2011 (boxitvn.blogspot.com). Còn về nhiều vấn đề khác, ông Tống Văn Công đã mang một trái tim cộng sản trong sáng để soi rọi vào những khuất khúc, hy vọng nó sáng tỏ thêm. Tuy nhiên, biết đâu những điều ông Công cho là đáng tiếc biết đâu chẳng là cái hay, ở chỗ sẽ thúc đẩy lịch sử tiến nhanh hơn, và ngược lại thì cũng như vậy. Chẳng hạn, khi miền Nam sắp giải phóng, tướng Dương Văn Minh đã từ chối lời đánh tiếng của Bắc Kinh muốn chìa bàn tay ra giúp đỡ quân đội miền Nam khi ấy. Dương Văn Minh quả không tủi hổ với tư cách một người lãnh đạo coi dân tộc, quốc gia lớn gấp vạn lần quyền lợi cá nhân ích kỷ. Nhưng giá phỏng ông cứ nhận lời thì sao? Bắc Kinh không đời nào đưa quân cản được mũi tiến công của Bắc Việt đâu – điều đó chắc chắn như đinh đóng cột. Tuy nhiên, đó lại là cơ hội để bộ mặt tởm lợm “CS anh em” của Bắc Kinh lộ diện sớm và lộ diện không còn gì có thể che giấu, thì ngày nay, món nợ cốt nhục của “những người đồng chí vô sản” hẳn đã được thanh toán tận gốc từ lâu lắm rồi, không phải là một mối lo canh cánh lâu dài cho dân tộc như hiện tại – chúng tôi nghĩ kẻ thù không đáng lo mà chính “tình đồng chí” ấy mới là vô cùng nguy hiểm.
Bauxite Việt Nam

Vụ 3 tàu hải giám Trung Quốc ngày 26-5-2011 cắt cáp tàu Bình Minh 02 hoạt động cách bờ biển nước ta 120 hải lý đã gây phản ứng mạnh mẽ của Chính phủ và nhân dân ta. Lần đầu tiên các báo Việt Nam đã có những bình luận với những từ ngữ thích đáng như “Trung Quốc có tính toán”, “họ ngang ngược bất chấp luật pháp”,”họ hành động rất man rợ”…
Căng thẳng dường như đã được hóa giải đối với Chính phủ ta? Sau khi tại Diễn đàn an ninh khu vực mang tên Shangri-La Dialogue, hai Bộ trưởng quốc phòng Việt, Trung gặp nhau, tướng Lương Quang Liệt nói “Quân Giải phóng nhân dân Trung Quốc không có hoạt động nào can dự vào sự việc vừa qua”và ông ta “nhất trí đánh giá của Đại tướng Phùng Quang Thanh”. Phải chăng từ đó mà có văn thư của Trường đại học Công nghiệp TP HCM, với chỉ đạo của Ban Giám hiệu: “ Đoàn Thanh niên phổ biến đến tất cả các cơ sở Đoàn yêu cầu hoc sinh sinh viên không tham gia vào việc biểu tình ngày 5-6-2011” và “Báo cáo Ban Giám hiệu nếu có thông tin ảnh hưởng an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội liên quan đến sinh viên”?!
Trong khi đó, báo chí Trung Quốc tường thuật cuộc gặp này khác với chúng ta, họ không nhắc gì chuyện Bộ trưởng ta nêu sự kiện Bình Minh 02; họ khen ở cuộc họp này Việt Nam đã tỏ ra biết điều hơn, họ tường thuật “Phùng Quang Thanh nói vấn đề Biển Đông cần được giải quyết song phương không có can thiệp của nước thứ ba” (tức là đã chịu theo quan điểm Trung Quốc). Người phát ngôn Hồng Lỗi của họ tiếp tục luận điệu “Các cáo buộc Trung Quốc nổ súng uy hiếp ngư dân Việt Nam là hoàn toàn bịa đặt”.
Có thể nói, lần này Chính phủ và nhân dân ta phản ứng mạnh mẽ và chúng ta đã giành được thắng lợi bước đầu, khiến họ “mềm nắn, rắn buông”. Tuy nhiên, quan hệ Việt, Trung về chủ quyền biển đảo chưa hề biến mất! Hãy giữ trong tim mình ngọn lửa của những người dân Việt đang bị mất một phần lãnh thổ và hiện nay đang thường xuyên có kẻ cướp rình rập sát bên hè nhà, chúng chỉ đợi thời cơ để ngoạm thêm. Chúng tôi muốn nhân đây cùng nhau nghiêm túc tiếp tục suy ngẫm một vấn đề ở tầm tồn vong của Tổ quốc.
BẮC KINH CÓ CHIẾN LƯỢC NHẤT QUÁN
KIỀM CHẾ VÀ BÀNH TRƯỚNG ĐỐI VỚI TA
Chúng ta đều biết năm 1954, Chu Ân Lai không đồng ý chúng ta đòi giới tuyến tạm thời quá vĩ tuyến 17.
Năm 1956 lợi dụng thời gian Pháp rút khỏi Việt Nam và Chính quyền Sài Gòn chưa ổn định, Bắc kinh đánh chiếm một phần Hoàng Sa.
Năm 1974, lợi dụng thế bí của Mỹ, và sự suy yếu của Chính quyền Sài Gòn, họ mặc cả với Mỹ trên lưng chúng ta để đánh chiếm toàn bộ Hoàng Sa.
Năm 1975, họ mưu toan ngăn chặn chiến dịch Hồ Chí Minh kết liễu chế độ Sài Gòn, vì sợ một Việt Nam thống nhất sẽ mạnh lên. Nhà báo Lý Quý Chung, thành viên của nội các Dương Văn Minh đã kể với tôi chuyện cựu tướng Pháp Vanuxem hiến kế ông Minh cầu cứu Bắc Kinh. Nhưng trong hồi ký của mình anh Chung chỉ viết “nên lên tiếng kêu gọi sự can thiệp của một cường quốc”, “nước này không muốn cho Bắc Việt kiểm soát cả Việt Nam”… Nhà báo Dương Văn Ba, cũng là người rất thân cận với ông Minh, đã ghi lại sự kiện này trong hồi ký “Những ngã rẽ” của anh (chưa xuất bản). Xin phép anh được trích đoạn ấy:
“Ngày 30-4-1975 tại dinh Độc lập” 8 giờ 40 phút: Có một ông già người Pháp, tướng hơi thấp, to béo, mặc “complet” thắt cà vạt đến tiền sảnh Phủ Thủ tướng. Tôi đích thân ra tiếp.
Ông ta tự giới thiệu là Đại tướng Vanuxem trong quân đội Pháp, từng là bạn thân của Đại tướng Dương Văn Minh, ông ta muốn gặp tướng Minh có việc gấp. Tôi vào phòng Thủ tướng báo cáo sự việc. Tướng Dương Văn Minh và Thủ tướng Vũ Văn Mẫu đồng ý tiếp.
Tướng Vanuxem được tiếp kiến khoảng 15 phút. Ông ta nói với Tổng thống Dương Văn Minh: “Bắc kinh sẵn sàng có hành động quân sự để cứu lấy Việt Nam Cộng hòa khỏi rơi vào tay quân đội BắcViệt. Ông là sứ giả mật của Bắc Kinh. Nếu Tổng thống Minh đồng ý cứ lên truyền hình kêu gọi quốc tế can thiệp, vì quân đội Bắc Việt đã xé hiệp định Pari. Tướng Vanuxem đảm bảo lập tức Bắc Kinh sẽ đổ bộ vào Việt Nam”.
Tổng thống Dương Văn Minh đã phản ứng: “Cám ơn, cám ơn bạn. Đây là chuyện riêng của người Việt Nam, tôi không muốn có bất cứ người nước ngoài nào can thiệp vào”.
Điều Vanuxem nói đã được chứng thực bằng cuộc tiến công xâm lược 6 tỉnh biên giới phía Bắc Việt Nam của Bắc Kinh năm 1979. Sau đó là cuộc tập kích bất ngờ cao điểm 1509 (thuộc xã Thanh Thủy, huyện Yên Minh, Hà Giang) giết 3.700 chiến sĩ ta, dùng súng phun lửa đốt xác, đốt luôn cả thương binh còn sống vùi xuống mồ tập thể, biến cao điểm này thành địa danh Lão Sơn của họ. Năm 1988, chúng tập kích đảo Gạc Ma (thuộc Trường Sa) giết 70 chiến sĩ hải quân Việt Nam. Từ đó đến nay, những hành động ngăn cấm ngư dân Việt Nam đánh cá, tịch thu tàu thuyền đòi tiền chuộc, bắt, giết ngư dân ta liên tục xảy ra. Tham vọng và hành vi độc chiếm Hoàng Sa, Trường Sa và Biển Đông của chúng ngày càng điên cuồng hơn. Họ đang đợi thời cơ thuận lợi để ra tay.
Sự kiện Bình Minh 02, một lần nữa chứng minh Bắc Kinh có chiến lược nhất quán kiềm chế và bành trướng của họ đối với nước ta. Phải nhận thức như vậy để soát xét đường lối của chúng ta đối với họ có những điểm nào đúng và chưa đúng để khắc phục .
CHÚNG TA KHÔNG CÓ CHIẾN LƯỢC
NHẤT QUÁN ĐỐI VỚI BẮC KINH
Những thập niên 50, 60, chúng ta hoàn toàn tin theo Trung Quốc, mời họ làm cố vấn, gây ra nhiều thảm họa như cải cách ruộng đất, cải tạo công thương nghiệp, nông nghiệp. Thậm chí còn có Nghị quyết 09 theo quan điểm của họ, chống lại Liên Xô với tên gọi là “chống chủ nghĩa xét lại hiện đại”.
Đến những thập niên 70, 80 ta chuyển sang chống chủ nghĩa bành trướng Bắc Kinh. Rồi đầu thập niên 90, bất chấp Bắc Kinh không hề thay đổi chủ nghĩa bành trướng, chúng ta quay ngoắt 180 độ, xin cầu hòa vô điều kiện.
Tức là không đòi họ phải trả lại những vùng đất lấn chiếm khi gây ra chiến tranh biên giới 1979 (như cao điểm 1509 nói trên).
Họ khôn ngoan và ma mãnh đưa ra “16 chữ vàng”, và “4 tốt” nhằm mục đích buộc tay, khóa miệng chúng ta.Trong khi đó họ vẫn viết báo, viết sách ca ngợi tướng lãnh, quân nhân của họ đã “dạy Việt Nam một bài học”. Còn chúng ta thì 30 năm qua không dám kỷ niệm cuộc chiến bảo vệ Tổ quốc của mình, không dám tuyên dương những anh hùng của mình. Tệ hại hơn là sự vô tâm đến nỗi đã có tờ báo viết bài ca ngợi Hứa Thế Hữu, tư lệnh cuộc chiến xâm lược biên giới, trên báo điện tử của Ban Chấp hành Trung ương Đảng [CS Việt Nam – BVN chú thêm: từ nay cần ghi rõ tên vì Đảng này đâu phải đảng của tất cả mọi người Việt] đăng bài tập trận của quân Trung Quốc trên quần đảo Hoàng Sa là để tự vệ! Ngay sau khi chúng bắt ngư dân ta đánh cá trên vùng biển của mình, những người Việt Nam phẫn nộ kéo đến cơ quan ngoại giao Trung Quốc biểu tình ôn hòa đã bị công an Việt Nam bắt. (Sợ bị tù tội, đạo diễn Song Chi bỏ chạy xin nhà nước Na Uy cho được tị nạn chính trị!).
Trong quan hệ giữa hai nước, phần thua thiệt luôn luôn ở phíaViệt Nam, nguyên nhân là do:
1 – Bị ru ngủ bởi quá tin ở “đồng chí tốt”, cho nên rút ruột rút gan cho người ta mà không hề cảnh giác đề phòng, quên mất rằng đó chính là kẻ đang chiếm giữ một phần máu thịt của Tổ quốc mình!
2 – Do “Đảng bao biện làm thay Nhà nước” và do thiếu kiến thức, không đủ trình độ đề xử lý những vấn đề mà phía Bắc Kinh đã tính toán kỹ và mưu toan gài bẫy, giành phần lợi cho họ .
3 – Do cán bộ tham nhũng bị họ mua chuộc trong quá trình đàm phán, giao dịch.
Ba nguyên nhân đó đưa tới những hậu quả vô cùng tai hại là: Rước hổ vào nhà, đưa họ đứng chân vào những vùng đất hiểm yếu mà nếu có biến thì họ đưa gươm kề cổ chúng ta, như cùng họ khai thác bôxít Tây Nguyên, cho thuê những vùng rừng đầu nguồn rộng lớn ở các tỉnh biên giới. Nhiều bộ ngành giúp họ trúng thầu nhiều công trình quan trọng khắp cả nước. Kết quả là chúng ta nhận của họ những thiết bị lỗi thời lạc hậu, năng suất chất lượng sản phẩm đều thấp, giá thành cao hơn hàng hóa nhập khẩu. Tài nguyên đất nước bị bòn rút không ngăn chặn được, hằng năm có cả chục triệu tấn than xuất lậu sang Trung Quốc, trong khi trữ lượng than chúng ta cạn kiệt sắp phải nhập khẩu.
VẤN ĐỀ LỚN NHẤT LÀ ĐOÀN KẾT DÂN TỘC,
NUÔI DƯỠNG LÒNG YÊU NƯỚC
Đó là bài học lịch sử, ai cũng biết, nhưng do những sai lầm kể trên mà lâu nay bị mai một, cần phải được nhắc lại trong bối cảnh mới và có những giải pháp mới.
1- Cần nhất là tổ chức phổ biến học tập sâu rộng, trước hết là trong toàn Đảng về lịch sử hình thành lãnh thổ quốc gia, đặc biệt là các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa, thềm lục địa trên Biển Đông. Toàn Đảng phải cùng với toàn dân một ý chí “một tấc đất thấm máu cha ông quyết không để mất”.
Nhớ lại năm 2009, trong bài “Đổi mới Đảng tránh nguy cơ sụp đổ”, tôi có viết điểm yếu thứ nhất của Đảng là “nhầm lẫn chọn bạn đồng minh” và “thật ra thì bọn bành trướng Bắc Kinh đâu có xem Đảng cộng sản Việt Nam là đồng chí”. Tôi hết sức đau lòng khi bị những đồng chí của mình trong cấp ủy hằn học hỏi: “Bài này không phải của một mình đồng chí Công, đằng sau là những kẻ nào” và “Toàn là những luận điệu thù địch nhằm chia rẽ hai nước xã hội chủ nghĩa anh em”. Càng kinh ngạc hơn khi một chi ủy viên nói: “Hoàng Sa,Trường Sa là bãi hoang chim ỉa”. Vậy mà hai ủy viên Thường vụ quận ủy đang có mặt không ai có ý kiến uốn nắn những ý kiến lệch lạc rất nguy hiểm đó!
2 – Nhiều năm nay, việc tổ chức kỷ niệm ngày chống Bắc Kinh gây chiến tranh xâm lược 6 tỉnh biên giới, kỷ niệm ngày bị chiếm Hoàng Sa, ngày bị tấn công chiếm đảo Gạc Ma đều do người dân làm một cách âm thầm thậm chí lén lút!
Hình như chúng ta sợ tổ chức kỷ niệm sẽ làm phật lòng Bắc Kinh! Thiết nghĩ, chúng ta chỉ nên sợ khi mình làm những điều sai trái, không đúng với sự thật lịch sử, hoặc trong sự thật đó phần sai trái thuộc về chúng ta. Nhưng đây chúng ta là nạn nhân, hàng vạn sinh mạng của dân ta phải hy sinh để chống xâm lược tàn bạo với lý lẽ ngông cuồng “dạy cho Việt Nam một bài học”. Hơn nữa kẻ kia lại còn ngang nhiên tự ca ngợi chiến công của chúng dối với chúng ta. Vậy thì cách hành xử của chúng ta như thời gian qua đối với bên ngoài là thiếu tự trọng, nuông chiều thói trịch thượng vô lối của ngoại bang, là vong ơn đối với các anh hùng liệt sĩ vì nước quên mình. Bài học cổ kim đều cho thấy nếu thiếu tự trọng thì không bao giờ được tôn trọng!
3 – Những cuộc biểu tình hòa bình trước cơ quan ngoại giao Trung Quốc phản đối chúng bắt bớ ngư dân Việt Nam cũng bị ngăn chặn. Sau sự kiện Bình Minh 02, cư dân trên mạng xôn xao: Liệu lần này có được phép tổ chức biểu tình phản đối Bắc Kinh gây hấn? Hôm qua, Chủ nhật ngày 5-6-2011, ở TP HCM, một thanh niên biểu tình hỏi anh cảnh sát ngăn chặn mình: “Anh có phải người Việt Nam hay không ?” Anh cảnh sát trả lời nhẹ nhàng: “Tôi cũng là người Việt Nam. Nhưng tôi phải làm nhiệm vụ theo lệnh cấp trên”. Sự việc diễn ra không nặng nề đáng tiếc như năm 2007. Tuy nhiên cần phải tìm phương thức cho tiếng nói chung, thể hiện triệu triệu người Việt Nam bao gồm người đi biểu tình hòa bình chống xâm lược, người cảnh sát và người cấp trên có quyền “ra lệnh”. Giải pháp ấy những người lãnh đạo đất nước có trách nhiệm phải tìm ra!
Có ý kiến cho rằng: Nhà nước cần quản lý liều lượng phản ứng đối ngoại sao cho đúng liều lượng. Nhân dân cần tuân thủ sự quản lý của Nhà nước để tạo ra sức mạnh đạt hiệu quả. Nói như vậy có phần đúng, nhưng lại dồn hết gánh nặng trách nhiệm cho Nhà nước và cũng là không tôn trọng, không khuyến khích, không khơi dậy sức mạnh năng động sáng tạo của nhân dân. Chúng ta đã từng đánh giặc bằng “3 thứ quân”, đã từng “ba mũi giáp công”, từng khuyến khích ngoại giao nhân dân. Chẳng lẽ trong cuộc đấu tranh này lại quên?
Lại có ý kiến cho rằng: Nếu không quản lý việc biểu tình thì sẽ có nguy cơ kẻ địch lợi dụng kích động quần chúng, hoặc nắm quyền lãnh đạo quần chúng. Chúng tôi e rằng ý kiến này đã lệch lạc nghiêm trọng. Thứ nhất là không tin quần chúng Việt Nam từng trải qua thử thách trong đấu tranh cách mạng lâu dài, chỉ cần thoáng qua họ đã phân rõ yêu nước hay bán nước, xây dựng hay phá hoại. Cũng có thể trong khi quá phấn khích quần chúng hơi lố một chút, sau đó chỉ cần góp ý uốn nắn thì họ dễ tiếp thu và khâm phục lãnh đạo. Ngược lại nếu cứ áp đặt o ép quần chúng thì sẽ xảy ra hai tình trạng: hoặc là quần chúng sợ sệt ỉu xìu; hoặc là mất niềm tin ở lãnh đạo. Cả hai dạng này đều rất nguy hiểm. Sự cấm đoán bắt bớ những người biểu tình những năm qua đã tạo thành một dư luận bất lợi và đẩy không ít những người nhiệt tâm ra khỏi quỹ đạo bảo vệ chế độ. Kẻ địch lợi dung ư? Hãy thách thức mọi kẻ địch nào muốn tranh giành quần chúng bằng những chủ trương gây dựng phong trào yêu nước, chứ sao lại đi sợ chúng?
4 – Mấy năm qua có những triệu chứng đe dọa sự ổn định. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng nguyên nhân là do đổi mới chưa đồng bộ, đổi mới chính trị chưa theo kịp với đổi mới kinh tế. Đại hội 11 cũng đã nhìn thấy: “Kiên trì và quyết liệt thực hiện đổi mới. Đổi mới chính trị phải đồng bộ với đổi mới kinh tế theo lộ trình thích hợp” (Văn kiện Đại hội 11). Điều có thể gây ra trì trệ chính là 4 chữ “theo lộ trình thích hợp”! Thước đo nào cho sự thích hợp? Đó chính là một chế độ dân chủ, pháp quyền. Điều đó rất dễ thấy: Ở một Quốc hội không chờ ý kiến chỉ đạo của Bộ Chính trị; ở mọi người dân từ Tổng Bí thư đến người bình thường đều bình đẳng trước pháp luật; không có người dân nào bị chết vô cớ khi bị giam giữ; “Mọi người dân đều được mở miệng ra nói” đúng với suy nghĩ của mình, dù trái với quan điểm của lãnh đạo… Được như vậy là chúng ta đã có một xã hội dân chủ và khi đó sẽ có đồng thuận xã hội làm cơ sở cho hòa hợp và đoàn kết toàn dân tộc trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trước mọi kẻ xâm lược.
HÒA BÌNH HỮU NGHỊ, BÌNH ĐẲNG VỚI BẮC KINH
1- Đây là một bài toán rất khó. Tuy nhiên nếu chúng ta có cách ứng xử hợp với xu thế thời đại thì sẽ thực hiện được. Nhìn lại 100 năm qua nhân loại không ngừng tiếp tục những phong trào dân chủ hóa. Cách đây 20 năm đã diễn ra một đợt dân chủ hóa vĩ đại sau khi bức tường Berlin sụp đổ. Nhân loại tiến bộ nhất trí đánh giá sự kiện này thúc đẩy mạnh mẽ quá trình toàn cầu hóa. Tuy nhiên bài học này chúng ta còn rất ngập ngừng. Mới đây một “Mùa xuân nhân dân” nổi lên từ Bắc Phi xô đổ hàng loạt những chế độ độc tài tưởng đâu đã vững như bàn thạch. Hình như chúng ta chưa cảm nhận đầy đủ sức mạnh của mùa xuân dân chủ Bắc Phi để thu nhận sức xuân ấy cho Việt Nam mình. Tôi nghĩ rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam có sứ mạng tìm tòi học hỏi vận dụng sức xuân từ những phong trào dân chủ không ngừng phát triển đó để vun xới chăm bón cho mầm xuân dân chủ Việt Nam. Được như vậy nhân dân ta sẽ đứng vững trong lòng nhân loại tiến bộ như những năm xa xưa, sẽ không có kẻ địch nào dám ngông cuồng lấn lướt.
Hiện nay, nhiều quốc gia trong vùng bị Bắc Kinh tranh chấp lãnh thổ như Ấn Độ, Nhật Bản, Philipin, Indonexia… Cách hành xử của các quốc gia này rất thẳng thắn, theo đúng luật pháp quốc tế và được quốc tế hậu thuẫn mạnh mẽ. Bài học đó chúng ta cần nghiên cứu trao đổi.
2 – Vừa qua có ý kiến cho rằng đã đến lúc phải vứt đi “16 chữ vàng” và “4 tốt”, hoặc mâu thuẫn đã lên đến cấp chính phủ thì tình hữu nghị không còn. Có lẽ suy nghĩ đó là do mất bình tĩnh chăng? Tôi nghĩ khác.
Chúng ta tin rằng nhân dân Trung Quốc theo đạo đức nhân nghĩa họ cũng muốn sống hiếu hòa với lân bang. Nhiều tin tức cho biết nhân dân Trung Quốc đang là nạn nhân của chế độ, nạn phân biệt giàu nghèo đã xảy ra rất khủng khiếp. Cũng có tin cho rằng nhà cầm quyền gây sự với Việt Nam là nhằm kích động chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi của người dân quá bất mãn, toan gây bạo loạn khắp nơi.
Đối với lãnh đạo Trung Quốc, chúng ta biết họ đưa ra “16 chữ vàng” chỉ nhằm để ràng buộc ta, còn họ không hề thực hiện. Tuy vậy cũng phải thấy chúng ta cũng có lỗi là không đấu tranh đòi họ phải bình đẳng cùng thực hiện. Họ đưa ra “16 chữ vàng” là muốn tỏ ra có thiện chí, ta phải nắm lấy và đòi hỏi hai bên cùng thực hiện thiện chí ở từng điểm một: về tôn trọng chủ quyền, về hợp đồng kinh tế, trao đổi văn hóa… Ngược lại nếu ta tuyên bố vứt bỏ “16 chữ vàng”, vứt bỏ “tình hữu nghị”, như vậy có phải là hành động thiếu thiện chí thuộc về chúng ta hay không? Thiết nghĩ nếu hai bên cùng thực hiện được “16 chữ vàng” thì đó sẽ là đại phúc cho cả hai dân tộc. Chỉ khi nào họ cố tình vứt bỏ “16 chữ vàng” thì ta phải trình bày cho nhân dân Trung Quốc phán xét họ.
Tuy nhiên không phải vì bảo vệ “16 chữ vàng” mà không thể đưa vấn đề Biển Đông, Hoàng Sa,Trường Sa ra Tòa án quốc tế. Khi hai bên không nhất trí được với nhau sẽ dễ gây ra cãi vã, không khéo lại có hành động nóng nảy không kiềm chế. Thực tế những năm qua đã chứng tỏ điều đó. Không chỉ tranh cãi mà máu đã đổ, liên tục đổ, đổ rất nhiều mà chủ yếu là máu Việt Nam! Vậy thì tốt hơn là đưa ra trọng tài phán xử cho công bằng, giữ được hòa khí giữa nhau. Lý lẽ rất đơn giản, ngay chuyện chơi thể thao cũng vẫn cần có trọng tài đó thôi. Lần này sau sự kiện Bình Minh 02, rất nhiều ý kiến của nhân dân, trí thức, luật gia đều cho rằng Nhà nước ta nên đưa vấn đề ra Quôc tế. Mong rằng vấn đề trọng đại này không bị tiếp tục “ngâm cứu”.
3 – Vừa qua, Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc Lương Quang Liệt nói quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc không can dự vào vụ tàu Bình Mình 02, chứng tỏ họ khôn khéo và có tính toán kỹ từng hành động. Trong khi đó người phát ngôn Nguyễn Phương Nga của ta đã tuyên bố “Hải quân Việt Nam sẽ …”. Chúng ta thiếu một sách lược khôn ngoan để ứng phó với một đối tượng ranh mãnh, có tính toán chu đáo cách tiến thoái, việc chuẩn bị từng bước để thực hiện các phép thử, chờ thời cơ… Rất nên học họ!
Nên xúc tiến nhanh chóng việc hình thành những hình thức tổ chức hải giám, dân quân, tự vệ biển. Phát động một phong trào toàn dân Việt Nam cả trong và ngoài nước đóng góp 10 chiếc tàu, 100 chiếc tàu xây dựng lực lượng dân quân tự vệ biển. Chắc chắn đồng bào ta sẽ nhiệt liệt hưởng ứng.

Ngày 6-6-2011
T.V.C.
Tác giả gửi trực tiếp cho BVN.
http://boxitvn.wordpress.com/2011/06/07/ng%E1%BA%ABu-nhin-bnh-minh-02/#more-24849
_______________
LAI LỊCH VỀ CÁI GỌI LÀ ” ĐƯỜNG LƯỠI BÒ ” TRUNG QUỐC
‘Đường lưỡi bò’ – phi lý & ngụy biện

TP – Bản đồ ‘đường lưỡi bò’ được Trung Quốc đưa ra quá phi lý về cả góc độ lịch sử và pháp lý quốc tế, chuyên gia nghiên cứu về biển Đông, Th.s Hoàng Việt – Giảng viên Trường Đại học Luật TPHCM – trao đổi với Tiền Phong.

Thạc sĩ Việt nói: Trung Quốc chỉ đưa một bản đồ có đường lưỡi bò kèm theo công hàm của họ phản đối về các báo cáo của Việt Nam về ranh giới ngoài thềm lục địa (năm 2009). Nhưng họ cũng không giải thích rõ ràng đường lưỡi bò này là gì.
Theo các học giả Trung Quốc, đường lưỡi bò chính thức xuất hiện lần đầu tiên trên một bản đồ do chính quyền Cộng hòa Trung Hoa xuất bản vào tháng 2-1948, được thể hiện là một đường đứt khúc gồm có 11 đoạn, bao trùm xung quanh cả bốn nhóm quần đảo, bãi ngầm lớn trên biển Đông.
Đến năm 1953, theo phê chuẩn của Thủ tướng Chu Ân Lai, đường lưỡi bò bị bỏ hai đoạn đứt khúc, nằm giữa đảo Hải Nam và bờ biển Việt Nam trong vịnh Bắc Bộ, một đoạn nằm giữa Đài Loan và các đảo Lưu Cầu (Ryu Kyu) của Nhật Bản. Và từ giai đoạn này trở đi, nó chỉ còn 9 đoạn.
Như thế, việc Trung Quốc muốn xem đường lưỡi bò (gồm 9 đoạn như đã biết) chính là đường biên giới biển cũng không đủ cơ sở?
Đặc tính quan trọng nhất của một đường biên giới quốc tế là sự ổn định và dứt khoát. Đường lưỡi bò không phải là con đường có tính ổn định và xác định. Như đã nói, từ 11 đoạn, năm 1953, Trung Quốc đã phải bỏ đi hai đoạn vì quá vô lý.
Nói như Du Khoan Tứ, GS Luật của Đại học Quốc lập, Đài Loan: “Đường ranh giới chữ U không những được xác định trước khi Công ước Geneva 1958 về lãnh hải và vùng tiếp giáp lãnh hải và Công ước Liên Hợp Quốc về Luật biển (UNCLOS) 1982 xuất hiện, mà còn không có điểm cơ sở, cũng không có mốc kinh độ, vĩ độ, vì thế nó khó mà biểu thị là một đường biên giới được”.
Chiếu dưới góc độ lịch sử, theo ông, đâu là những yếu tố phi lý của đường lưỡi bò?
Yêu sách đường lưỡi bò quá ư phi lý! Bởi lẽ, thứ nhất, Trung Quốc cho rằng đã thực thi chủ quyền trên vùng biển này từ rất lâu, thậm chí từ trước Công nguyên. Nhưng, họ lại không đưa ra được các bằng chứng thuyết phục về vấn đề này. Ngược lại, các sách Hán văn cổ đều ghi nhận các hoạt động của dân đánh cá và dân buôn Ả rập, Ấn Độ, Mã Lai, Việt trong vùng biển này, không có một bằng chứng nào cho thấy biển Đông hoàn toàn là “ao hồ của Trung Quốc”.
Các chính quyền phong kiến Trung Quốc cũng không thiết lập hoặc duy trì có lợi cho họ một sự độc tôn nào, trước các hoạt động khai thác của các đội Hoàng Sa và Bắc Hải của triều Nguyễn. Ngược lại còn có những hành động thừa nhận tính hợp pháp của các hoạt động đó như trường hợp năm 1774: quan huyện Văn Xương giúp đội viên đội Hoàng Sa khi đi làm nhiệm vụ bị bão dạt vào đất Trung Quốc.
Thứ hai, các văn kiện chính thức của nhà nước phong kiến Trung Quốc, như Đại Nguyên nhất thống chí (1294) đến Đại Thanh Nhất thống chí (1842), trước năm 1909 đều khẳng định “cực Nam của lãnh thổ Trung Quốc là Nhai huyện, đảo Hải Nam”.
Các bản đồ lãnh thổ Trung Quốc của người nước ngoài cùng thời cũng vẽ và giải thích phù hợp với cách hiểu này của người Trung Quốc. Bản đồ Trung Quốc thế kỷ XVII của Peter de Goyer và Jacob de Keyzer thuộc Cty Đông Ấn – Hà Lan cũng có lời giải thích rất rõ: “Nơi xa nhất của Trung Quốc bắt đầu từ phía Nam đảo Hải Nam ở 18 độ vĩ Bắc, rồi từ đó ngược lên phía Bắc đến vĩ độ 42 độ”.
Trung Quốc chỉ thực sự bước chân lên quần đảo Hoàng Sa năm 1909 khi quần đảo này đã thuộc Việt Nam, không còn là đất vô chủ.
Ý kiến cho rằng đường lưỡi bò là vùng nước lịch sử của Trung Quốc cũng phi lý ở cả góc độ luật pháp quốc tế?
Đường lưỡi bò không chỉ bị Việt Nam mà ngay cả Malaysia, Indonesia, Philippines… phản đối bởi vì nó không có cơ sở nào trong pháp luật quốc tế. Bản thân các học giả Trung Quốc rất bối rối khi tìm quy chế pháp lý áp dụng cho vùng nước bao bọc bên trong đường lưỡi bò đó, chưa kể đến việc chính quyền Trung Quốc đã đưa ra những tuyên bố trái ngược nhau.
Tuyên bố năm 1958 về lãnh hải của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa xác định rõ ràng các đảo bị tách biệt với lục địa bởi biển cả, chứ không phải là vùng nước lịch sử. Chẳng lẽ lại tồn tại vùng biển cả nằm trong nội thủy của Trung Quốc? Không thể có điều vô lý đó.
Khái niệm vịnh lịch sử hay vùng nước lịch sử đã được luật pháp quốc tế chấp nhận trong một số hoàn cảnh hạn chế. Năm 1962, Ủy ban pháp luật quốc tế thực hiện nghiên cứu. Quy chế pháp lý của vùng nước lịch sử, bao gồm cả vịnh lịch sử.
Theo đó, xác định tiêu chuẩn một vịnh hay một vùng nước được coi là lịch sử, căn cứ theo tập quán quốc tế và các án lệ quốc tế phải thỏa mãn tối thiểu 3 điều kiện sau: 1) Quốc gia ven biển thực thi chủ quyền của mình đối với vùng được yêu sách; 2) Sự liên tục của việc thực thi quyền lực đó theo thời gian; 3) Quan điểm của các quốc gia khác với yêu sách đó. Ngoài ra, một quốc gia yêu sách danh nghĩa lịch sử phải có trách nhiệm đưa ra bằng chứng đối với các vùng nước có vấn đề đang tranh cãi này.
Như đã phân tích, Trung Quốc đã không trưng ra được những bằng chứng gì chứng minh họ đã thực thi chủ quyền của họ một cách sớm nhất, liên tục, với những biện pháp hòa bình mà luật pháp quốc tế yêu cầu.
Ngay cả khi các học giả Trung Quốc đã viện dẫn một số trường hợp yêu sách vùng nước lịch sử trong thực tiễn quốc tế như: yêu sách của Libya ngày 11-10-1973 tại vịnh Sidra… Nhưng 15 trường hợp này là những yêu sách quá đáng “vùng nước lịch sử” mà luật pháp quốc tế luôn phê phán. Nó không tạo ra được một ý thức pháp luật và không bao giờ được luật quốc tế chấp nhận như một quy tắc tập quán.
Cộng đồng quốc tế chưa bao giờ ghi nhận một yêu sách vùng nước nằm trong đường lưỡi bò chiếm 80% diện tích biển Đông như thế. Yêu sách biển Đông như một ao hồ của Trung Quốc là xa lạ, đi ngược lại học thuyết các vùng nước lịch sử và sẽ không chấp nhận một khoảng không gian rộng lớn như biển này, biển lớn vào loại nhất, nhì thế giới lại nằm dưới quyền tài phán của duy nhất một nước.
Xin cám ơn ông.
Nguyễn Huy thực hiện
( Theo Tiền Phong )

Ngày 7-5-2009, Trung Quốc lần đầu tiên công khai bản đồ đường lưỡi bò kèm theo công hàm phản đối báo cáo của Việt Nam và Malaysia. Ngay sau đó, ngày 8-5-2009, Việt Nam và Malaysia cùng gửi công hàm phản đối lại.
Ngày 8-7-2010, Indonesia gửi công hàm lên Liên Hợp Quốc, trong đó nói rõ đường lưỡi bò không có cơ sở nào trong luật pháp quốc tế. Ngày 5-4-2011, Philippines cũng gửi công hàm lên Liên Hợp Quốc phản đối đường lưỡi bò.
Ngày 30-3-2011, Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton ra tuyên bố gián tiếp phản đối sự vô lý của yêu sách đường lưỡi bò… Như vậy, có thể nói là yêu sách này chưa bao giờ có được sự thừa nhận của cộng đồng quốc tế.
ThS. Hoàng Việt

http://phamvietdao2.blogspot.com/2011/06/lai-lich-ve-cai-goi-la-uong-luoi-bo.html

Advertisements

1 Phản hồi »

  1. Chào các bạn, các thông tin của các bạn theo mình thì rất có lý. Mình xin góp thêm 1 số ý sau :
    Muốn chống Trung Cộng thì phải có sự nhất quán thống nhất từ Chính phủ đến toàn thể người con Việt (trong và ngoài nước). Trung Công ngày nay ngoài ma mãnh, dã tâm còn xã hội đen nữa. Việt Nam ta bên cạnh còn 2 nước anh em Đông Dương, thuộc khối asian và cao hơn nữa là LHQ, vậy thì chúng ta thuộc sân chơi trên toàn thế giới, không phải của riêng anh Trung Cộng.
    Trong những ngày qua hoan nghênh Chính phủ Việt Nam đã có những giải pháp khôn ngoan để đối đầu với Trung Cộng. Đây chưa phải là thời điểm thuận lợi dùng quân sự để đối đầu với TC. Các bạn đã có lòng yêu nước cũng đừng manh động vuốt râu hùm, chiến tranh xảy ra người dân vô tội sẽ đổ máu..bận việc mình sẽ viết thêm.

    Phản hồi bởi Quỳnh Gia Binh Pháp — 09/06/2011 @ 4:31 sáng | Phản hồi


RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: