Hoàngquang’s Blog

02/06/2011

CẢNH GIÁC BẨY”GÁC TRANH CHẤP, CÙNG KHAI THÁC

CẢNH GIÁC BẨY”GÁC TRANH CHẤP, CÙNG KHAI THÁC

“Nên rút kinh nghiệm đàm phán phân định biên giới trên bộ mà phát huy vụ “Bình Minh II”. Hãy công khai tất cả những trò hèn hạ của Bắc Kinh. Hãy để nhân dân đứng sau lưng những người giữ biển.”-Thông điệp Bình Minh II-Huy Đức

&Trung Quốc với Biển Đông: “Láng giềng hữu nghị” hay “Chủ quyền thuộc ngã”-Đinh Kim Phúc
+Sự kiện “Bình Minh”-Dương Danh Huy

+Thông Điệp “Bình Minh II”-Huy Đức

***
CẢNH GIÁC BẨY”GÁC TRANH CHẤP, CÙNG KHAI THÁC”

Theo các chuyên gia về Trung Quốc ở Nhật, Trung Quốc một mặt chủ trương “giải quyết hòa bình” cuộc tranh chấp nhưng mặt khác lại củng cố chiếm cứ bằng sức mạnh quân sự.

Ngày 31-5, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Khương Du lại tiếp tục khẳng định việc tàu hải giám của họ xâm phạm vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam hôm 26-5 là “hoàn toàn hợp lý” và còn tuyên bố: “Chúng tôi yêu cầu phía Việt Nam chấm dứt ngay các hoạt động xâm phạm chủ quyền của chúng tôi và tránh tạo ra những sự cố mới”. Cần nhìn nhận những phát ngôn đổi trắng thay đen, làm sai bản chất sự việc của phía Trung Quốc như thế nào? Pháp Luật TP.HCM tiếp tục trao đổi với chuyên gia nghiên cứu về biển đảo Đinh Kim Phúc.
Ông Đinh Kim Phúc khẳng định: “Về mặt địa lý lẫn luật pháp quốc tế, Trung Quốc không có lý do gì để kéo dài thềm lục địa của họ theo đường lưỡi bò. Việt Nam cần phải liên kết chặt chẽ với các nước trong khu vực để phản đối, gây sức ép bằng cách đặt vấn đề tranh chấp này trong các cuộc đàm phán trong quan hệ song phương lẫn diễn đàn đa phương, tạo tiền đề cho việc đưa vấn đề ra tòa án quốc tế”.
Tuyên bố của Trung Quốc không có gì mới
. Ông đánh giá thế nào về những phát ngôn bóp méo sự thật của phía Trung Quốc?
+ Thực ra những lời tuyên bố của phía Trung Quốc không có gì mới. Vào tháng 2-1992, Trung Quốc đặt ra Luật về lãnh hải và vùng nước tiếp giáp của nước CHND Trung Hoa. Điểm đáng lưu ý là Điều 14 luật này quy định: “Trung Quốc có quyền truy đuổi tàu bè nước ngoài vi phạm luật pháp Trung Quốc” và “giữ quyền truy đuổi ở vùng biển nằm ngoài lãnh hải Trung Quốc”; “việc truy đuổi được thực hiện bởi những lực lượng quân sự như tàu chiến, máy bay của quân đội hay tàu bè, máy bay được chính phủ trao quyền chấp hành công vụ”.
Khi quy định như vậy, luật này đã lờ đi những gì mà Trung Quốc đã cam kết khi tham gia Công ước Luật Biển năm 1982 của Liên Hiệp Quốc (UNCLOS 1982).

. Trung Quốc đang cố tình làm dư luận hiểu sai khi kéo vấn đề xâm phạm vùng đặc quyền kinh tế Việt Nam vào vấn đề tranh chấp trên hai quần đảo Hoàng Sa-Trường Sa. Ông có thể phân tích để làm rõ vấn đề này?
+ Trên biển Đông hiện đang tồn tại nhiều mối quan hệ tranh chấp giữa các nước và vùng lãnh thổ. Trước hết là tranh chấp chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa giữa Việt Nam và Trung Quốc. Thứ hai, tranh chấp chủ quyền trên quần đảo Trường Sa là tranh chấp đa phương giữa Việt Nam với Trung Quốc, Đài Loan, Philippines, Malaysia, Brunei. Thứ ba, việc tuyên bố đường lãnh hải lưỡi bò của Trung Quốc ở biển Đông (chiếm 80% diện tích trên biển Đông) là một yêu sách vô lý, bất chấp luật pháp quốc tế, hòng độc chiếm biển Đông.
Do đó để giải quyết vấn đề biển Đông, chúng ta cần phải xác định nội dung và lộ trình cho các biện pháp đấu tranh theo thứ tự ưu tiên. Đầu tiên cần phải đấu tranh về mặt luật pháp quốc tế để bác bỏ chủ trương lãnh hải theo đường lưỡi bò của Trung Quốc là bất hợp pháp.
Ngoài việc Việt Nam đã cung cấp hồ sơ về lãnh hải của Việt Nam cho Ủy ban Ranh giới thềm lục địa của Liên Hiệp Quốc (CLCS) đúng thời hạn, chúng ta cần tổ chức nhiều cuộc hội thảo quốc tế với các nước Philippines, Malaysia, Indonesia, Brunei cùng thống nhất quan điểm công bằng và hợp lý về việc phân định lãnh hải.
Về dài hạn là củng cố quốc phòng, liên minh chiến lược, diễn tập chiến thuật chung với các nước trong khu vực và quốc tế có cùng chung quyền lợi. Tiến đến việc đưa vấn đề chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa ra tòa án quốc tế để ngăn ngừa trường hợp Trung Quốc sử dụng vũ lực để giải quyết tranh chấp.
Cẩn thận tránh lọt bẫy
. Trung Quốc đưa ra nguyên tắc “gác tranh chấp, cùng khai thác” để đàm phán với các nước có tranh chấp trên biển với họ. Ông bình luận gì về quan điểm này?
+ Chủ trương này nghe qua có vẻ hòa hoãn nhưng thực chất đây là một xu thế tấn công trên bàn đàm phán, trong khi chờ “điều kiện chín muồi” để sử dụng sức mạnh.
Theo các chuyên gia về Trung Quốc ở Nhật, Trung Quốc một mặt chủ trương “giải quyết hòa bình” cuộc tranh chấp nhưng mặt khác lại củng cố chiếm cứ bằng sức mạnh quân sự; đàm phán song phương với nước có yêu sách về chủ quyền, phản đối việc giải quyết bằng thương lượng đa phương. Mặt khác, Trung Quốc đưa ra chủ trương “cùng nhau khai thác” tài nguyên đáy biển, “gác lại” vấn đề lãnh thổ với tiền đề Hoàng Sa, Trường Sa và các đảo nhỏ, dãy đá ngầm khác là của Trung Quốc, với việc khư khư lập trường xem biển Đông là vùng biển “mang tính lịch sử”. Nói là “giải quyết hòa bình” để “cùng khai thác” bằng cách “gác lại tranh chấp” nhưng chính Trung Quốc là nước thực quyền chi phối các quần đảo này.
Vì vậy, nếu chấp nhận đàm phán với Trung Quốc theo phương thức này là lọt bẫy của họ; là thừa nhận một tiền đề nguy hiểm là Trung Quốc có chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa-Trường Sa của Việt Nam.
. Xin cảm ơn ông.
MINH CƯỜNG thực hiện
http://www.baomoi.com/Home/TheGioi/www.phapluattp.vn/Canh-giac-bay-gac-tranh-chap-cung-khai-thac/6371794.epi

_______________
Trung Quốc với Biển Đông: “Láng giềng hữu nghị” hay “Chủ quyền thuộc ngã”-Đinh Kim Phúc

Nước Mỹ xâm phạm Việt Nam là xâm phạm Trung Quốc”

(chinaconfidential.blogspot.com)
Báo VietNamNet ngày 31-5-2011 dẫn lại thông tin từ Reuters cho biết liên quan đến vụ tàu hải giám Trung Quốc xâm phạm vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, trong cuộc họp báo thường kỳ chiều 31-5, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Khương Du một lần nữa khẳng định: “Các hoạt động thực thi mà các tàu hàng hải của Trung Quốc đã tiến hành đối với các hoạt động bất hợp pháp của tàu Việt Nam là hoàn toàn hợp lý”. Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc còn tuyên bố: “Chúng tôi yêu cầu phía Việt Nam chấm dứt ngay các hoạt động xâm phạm chủ quyền của chúng tôi và tránh tạo ra những sự cố mới”.
Thực ra những lời tuyên bố của phía Trung Quốc không có gì mới.
Vào tháng 2-1992 Trung Quốc đặt ra “Luật về lãnh hải và vùng nước tiếp giáp của nước CHND Trung Hoa” (Luật lãnh hải), đây chỉ là cụ thể hóa “Tuyên bố của Chính phủ Nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa về Lãnh hải (Ðược thông qua trong kỳ họp thứ 100 của Ban Thường vụ Đại hội đại biểu Nhân dân toàn quốc ngày 4 tháng 9 năm 1958).
“Luật về lãnh hải và vùng nước tiếp giáp của nước CHND Trung Hoa” gồm 17 điều. Biên độ lãnh hải theo luật này áp dụng “12 hải lý tính từ đường bờ biển cơ bản (Điều 3). Hơn luật lãnh hải này còn qui định phạm vi lãnh hải của Trung Quốc bao gồm cả vùng biển tiếp giáp với nội thủy và lãnh thổ trên đất liền” Điều 2 về lãnh thổ trên đất liền xác định “tất cả đại lục Trung Quốc, các đảo ven biển, Đài Loan và các đảo phụ thuộc bao gồm đảo Điếu Ngư (Senkaku-theo cách gọi của Nhật Bản), quần đảo Bành Hồ, các quần đảo Đông Sa, Tây Sa, Trung Sa, Nam Sa và kể cả các đảo nhỏ khác có tên gọi Trung Quốc để khẳng định phạm vi chủ quyền của Trung Quốc.
Điểm đáng lưu ý là Điều 14 cho rằng “Trung Quốc có quyền truy đuổi tàu bè nước ngoài vi phạm luật pháp Trung Quốc” và “giữ quyền truy đuổi ở vùng biển nằm ngoài lãnh hải Trung Quốc” việc truy đuổi được thực hiện bởi những lực lượng quân sự như tàu chiến, máy bay của quân đội hay tàu bè, máy bay được chính phủ trao quyền chấp hành công vụ”.
Như vậy, chúng ta đã thấy rõ rằng Luật này đã lờ đi những gì Trung Quốc đã cam kết quốc tế trong lần ký kết Công ước quốc tế về biển của LHQ (UNCLOS) vào năm 1982. (1)
Tất cả những căn cứ trên đã cho thấy rằng tư tưởng “Chủ quyền thuộc ngã” của Trung Quốc trên Biển Đông là không thay đổi, cho nên những ai tin tưởng vào thiện chí của Trung Quốc đều là ảo tưởng.
Trong một khía cạnh khác, Trung Quốc đưa ra “gác tranh chấp, cùng khai thác” (2) là một chủ trương nghe qua có vẻ hòa hoãn nhưng thực chất đây là một xu thế tấn công trên bàn đàm phán trong khi chờ “điều kiện chín muồi” để sử dụng bạo lực. Các chuyên gia về Trung Quốc ở Nhật Bản phân tích: “Trung Quốc một mặt chủ trương “giải quyết hòa bình” cuộc tranh chấp nhưng mặt khác lại củng cố chiếm cứ bằng sức mạnh quân sự, cố chấp đàm phán song phương với nước có yêu sách về chủ quyền, phản đối việc giải quyết bằng thương lượng đa phương. Mặt khác Trung Quốc vừa đưa ra chủ trương “cùng nhau khai thác” tài nguyên đáy biển, “gác lại” vấn đề lãnh thổ với tiền đề là Hoàng Sa và Trường Sa và các đảo nhỏ, dãy đá ngầm khác là của Trung Quốc, lập trường xem Biển Đông là vùng biển “mang tính lịch sử”, chủ trương “giải quyết hòa bình” để “cùng khai thác” bằng cách “gác lại” nhưng chính Trung Quốc là nước thực quyền chi phối các quần đảo này”.
Vì vậy, nếu chấp nhận đàm phán với Trung Quốc theo phương thức này như Đại sứ Trung Quốc Tôn Quốc Tường đã nói chính là lọt bẫy của Trung Quốc, thừa nhận một tiền đề là Trung Quốc có chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa-Trường Sa, một cái lưới mà Đặng Tiểu Bình từng sử dụng khi đàm phán về chủ quyền đảo Senkaku với Nhật Bản khi bình thường hóa quan hệ Trung-Nhật. Vấn đề Hoàng Sa bị Trung Quốc chiếm cứ tháng 1-1974 hay 7 đảo thuộc quần đảo Trường Sa đã bị chiếm đóng năm 1988 mới là vấn đề Việt Nam cần thương lượng để đòi phía Trung Quốc trao trả vì đây là chiếm cứ trái phép, xâm phạm chủ quyền lãnh thổ của nước CHXNCN Việt Nam chứ không thể đánh tráo bằng cụm từ “vấn đề do lịch sử” để lại theo chủ trương của nhà cầm quyền Trung Quốc.
Thử hỏi Việt Nam đã có bao giờ mang quân sang gây hấn, hay tàu chiến của Hải quân Việt Nam bắt bớ, đánh đập và đòi tiền chuộc ngư dân Trung Quốc bao giờ chưa? Thế mà những người “đồng chí”, “anh em” đó đã làm như vậy, thường xuyên hù dọa, nạt nộ… thì người dân bình thường như chúng ta sẽ phải hiểu như thế nào?
Thiết tưởng trong thế trận quốc phòng toàn dân, ngoài vấn đề xây dựng ý thức bảo vệ lãnh thổ và biển đảo, cần có sách lược và lộ trình lâu dài, từng bước bền bỉ để biến cái “không thể tranh cãi” trở thành điều “có thể thương lượng được” với phía “bạn” trong việc trao trả những gì vốn là của dân tộc Việt Nam một cách ôn hòa theo đúng “phương châm 16 chữ vàng” và “tinh thần 4 tốt” mà lãnh đạo cao nhất của nhà nước Trung Quốc cam kết vì đây cũng là chỗ dựa để chúng ta có thể đặt lại vấn đề chủ quyền biển đảo một cách sòng phẳng và tỉnh táo. Dù muốn hay không, người Việt Nam hôm nay phải gánh vác vai trò lịch sử đó.
Chúng ta không thể hô hào mãi khẩu hiệu “Hoàng Sa-Trường Sa là của Việt Nam” mà nên kết hợp thành một cuộc vận động quốc tế đòi trao trả Hoàng Sa-Trường Sa trong hoạt động đối ngoại, là một chủ đề trọng tâm trong những cuộc tiếp xúc để củng cố và nâng cao hợp tác song phương và đa phương ở tầm cao chiến lược trong khu vực và trên phạm vi toàn cầu. Thế giới phẳng ngày nay đã cung cấp cho Việt Nam một phương tiện để quảng bá những vấn đề cần được phổ biến ra bên ngoài trong thế chủ động, vấn đề còn lại là liệu chúng ta có lợi dụng được nó, phát huy tác dụng hỗ trợ tích cực này được đến đâu mà thôi.
Trộm nghĩ nếu giữa hai nước Việt-Trung không tồn tại cái gọi là “vấn đề do lịch sử để lại” thì mối quan hệ này tốt đẹp biết bao, khả năng hợp tác toàn diện và chiến lược sẽ đưa Việt Nam lẫn Trung Quốc lên một tầm cao tương xứng với lòng tri ân và sự ngưỡng mộ, tin cậy và tôn trọng lẫn nhau của nhân dân hai nước thay vì kích động lòng “hãnh tiến dân tộc” Đại Hán mà một số người nào đó đang rắp tâm theo đuổi. Phải chăng đó là một quan hệ hài hòa, công bằng, bình đẳng đem lại sự phồn vinh lâu bền cho cả hai dân tộc chúng ta.
Chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào đã từng nói rằng “phải cùng với các nước trên thế giới thúc đẩy xây dựng một thế giới hài hòa, cố gắng tôn trọng lẫn nhau, tăng thêm nhận thức chung và cùng chung sống hài hòa với các nước trên thế giới, ra sức đi sâu hợp tác, cùng phát triển và đôi bên cùng có lợi với các nước trên thế giới, tích cực đề xướng chủ nghĩa đa phương, thúc đẩy dân chủ hóa quan hệ quốc tế và giao lưu văn hóa quốc tế, thực hiện mục tiêu cùng phồn vinh”. Nếu nhà đương cuộc Trung Quốc áp dụng tinh thần chỉ đạo này vào vấn đề biên giới trên Biển Đông thì chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa-Trường Sa có thể giải quyết trọn vẹn và chóng vánh vì mọi người đã có Công ước về Luật Biển của LHQ (UNCLOS) làm cơ sở quốc tế vững chắc.
Ngày 12/1/2010, trong buổi tiếp Giáo sư Joseph Nye (Mỹ), Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng phát biểu: “ Mọi hành vi bắt nạt nước khác đã lỗi thời. Bất kỳ quốc gia nào muốn đứng trên bắt nạt dân tộc khác thì thời đại này cũng khó thực hiện được và không có lợi cho bất kỳ ai”. Quan hệ Việt-Trung trong những năm trước và sau ngày Việt Nam thống nhất đất nước, có lúc đã xảy nhiều sự kiện đáng buồn như Trung Quốc tranh thủ “thời cơ” đem quân chiếm đóng quần đảo Hoàng Sa năm 1974 và một số đảo ở Trường Sa năm 1988, 1992, xua lính tràn sang biên giới “cho Việt Nam một bài học” vào năm 1979 và mới đây sự kiện ngày 26/5/2011 đã chứng minh tư duy “lỗi thời” như đe dọa, nạt nộ mà Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nhắc nhở không hề thừa, ngược lại, phản ánh nghĩ suy và lo lắng của nhân dân Việt Nam trước những bản tin đầy quan ngại từ Biển Đông suốt cả năm nay, cho phép chúng ta nghi ngờ những lời phát biểu tốt lành của các nhà lãnh đạo Trung Quốc nhân dịp 60 năm kỷ niệm ngày thành lập quan hệ ngoại giao Trung-Việt cách đây không lâu. (3)
Trong bối cảnh quốc tế và ý đồ của nhà nước Trung Quốc như đã nói ở trên, vấn đề chủ quyền trên Biển Đông hiện nay của Việt Nam đang gặp nhiều bất lợi nếu không tìm giải pháp hữu hiệu để đối phó. Không nước nào có thể khai thác tài nguyên ở thềm lục địa Trường Sa nếu chủ quyền các đảo tại đây chưa được xác định và được nhìn nhận bởi các bên liên quan. Vấn đề “gác tranh chấp, cùng khai thác” đã được phía Trung Quốc đưa ra, nhưng sẽ rất khó thực hiện mỗi khi Trung Quốc khăng khăng yêu sách chủ quyền trên Biển Đông theo “chiếc lưỡi bò”. Vả lại, nếu thực hiện thì phía chịu nhiều thiệt thòi vẫn là Việt Nam. Việc tranh chấp, đôi co có thể kéo dài thêm nhiều thập niên, vẫn giữ “nguyên trạng”, nếu các bên tranh chấp vẫn tôn trọng Qui tắc ứng xử Biển Đông (DOC) đã được các nước ASEAN ký với Trung Quốc năm 2002. Với thời gian, chỉ cần một, hai thập niên nữa, sự lớn mạnh về kinh tế và quân sự (hải-không quân) của Trung Quốc không những chỉ dễ dàng thâu tóm Biển Đông mà còn đặt được ảnh hưởng của mình đến các nước trong khu vực là một nguy cơ, đe dọa đến hòa bình, an ninh và ổn định của khu vực và thế giới.
Vì thế, cần có một giải pháp ngăn ngừa khả năng xấu nhất xảy ra. Việt Nam cần làm như thế nào, trước tình trạng căng thẳng hiện nay, để có thể khai thác, ít ra một phần, ở những vùng biển thuộc khu vực kinh tế đặc quyền của nước mình? Giải pháp nào có lợi nhất cho Việt Nam trong việc bảo vệ chủ quyền các đảo và hải phận Biển Đông?
Theo các chuyên gia về luật pháp quốc tế và quan hệ quốc tế ở Đông Nam Á, các yếu tố xét ra có lợi cho Việt Nam, đó là:
1. Việt Nam tôn trọng các công ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết.
2. Vận động quốc tế ủng hộ lập trường về biển và thái dộ hiếu hòa của Việt Nam trong những cuộc tranh chấp về vấn đề chủ quyền và khai thác dầu khi trên Biển Đông.
3. Trong trung hạn là hợp tác với các nước để khai thác những dvùng biển và thềm lục địa của Việt Nam đã được quốc tế công nhận (hay không phản đối).
4. Về dài hạn là củng cố quốc phòng, liên minh chiến lược, diễn tập chiến thuật chung với các nước trong khu vực và quốc tế có cùng chung quyền lợi để đối trọng với Trung Quốc.
5. Tiến đến việc đưa vấn đề chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa ra tòa án quốc tế để ngăn ngừa trường hợp Trung Quốc sử dụng vũ lực để giải quyết tranh chấp.
6. Gìn giữ quan hệ Việt-Trung hòa bình, hữu nghị, ổn định, bình đẳng và hợp tác để cùng phát triển lâu dài theo đúng nghĩa mà lãnh đạo Trung Quốc đã cam kết. Yêu cầu phía Trung Quốc chấm dứt mọi hành động đe dọa, khiêu khích và bắt giữ ngư dân Việt Nam, không có hành động gây phức tạp và căng thẳng thêm tình hình hiện nay.
Trong vấn đề Biển Đông chúng ta cần phải phân biệt các mối quan hệ tranh chấp sau đây:
Thứ nhất, tranh chấp chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa là tranh chấp giữa Việt Nam và Trung Quốc (hiện nay Trung Quốc đang chiếm đóng trái phép toàn bộ quần đảo này bằng cuộc chiến tranh xâm lược vào tháng 1 năm 1974).
Thứ hai, tranh chấp chủ quyền trên quần đảo Trường Sa là tranh chấp đa phương: giữa Việt Nam với Trung Quốc, Đài Loan, Philippines, Malaysia, Brunei (chỉ có duy nhất Brunei lên tiếng về chủ quyền nhưng không có chiếm đóng).
Thứ ba, việc tuyên bố đường lãnh hải lưỡi bò của Trung Quốc ở Biển Đông (chiếm 80% diện tích trên Biển Đông) là một yêu sách vô lý, bất chấp luật pháp quốc tế, hòng độc chiếm Biển Đông
Do đó để giải quyết vấn đề Biển Đông, chúng ta cần phải xác định nội dung và lộ trình cho các biện pháp đấu tranh theo thứ tự ưu tiên sau đây:
Đầu tiên cần phải đấu tranh về mặt luật pháp quốc tế để bác bỏ chủ trương lãnh hải theo đường lưỡi bò của Trung Quốc vì chủ trương này là bất hợp pháp.
Ngoài việc Việt Nam đã cung cấp hồ sơ về lãnh hải của Việt Nam cho Ủy ban Ranh giới thềm lục địa của Liên Hiệp Quốc (CLCS) đúng thời hạn, chúng ta cần tổ chức nhiều cuộc hội thảo quốc tế vận động các nước Philippines, Malaysia, Indonesia, Brunei cùng thống nhất quan điểm công bằng và hợp lý về việc phân định lãnh hải.
Về mặt địa lý lẫn luật pháp quốc tế, Trung Quốc không có lý do gì để kéo dài thềm lục địa của họ ra đến đây. Các đảo họ chiếm của Việt Nam thì đang trong vòng tranh chấp, vả lại, các đảo này không thể có vùng kinh tế độc quyền hay thềm lục địa. Việt Nam cần phải liên minh chặt chẽ với các nước trong khu vực để phản đối, gây sức ép bằng cách đặt vấn đề tranh chấp này trong các cuộc đàm phán trong quan hệ song phương lẫn diễn đàn đa phương, tạo tiền đề cho việc đưa vấn đề ra tòa án quốc tế.
Các quan chức cao cấp của Hoa Kỳ đã nhiều lần phát biểu về quan điểm của chính phủ Hoa Kỳ trong vấn đề Biển Đông là không can dự nhưng luôn luôn nhấn mạnh đến việc tuân thủ Luật Biển quốc tế 1982. Quan điểm quan trọng nhất của Hoa Kỳ trong vấn đề Biển Đông là cam kết của nguyên Tổng thống Hoa Kỳ G. Bush về sự toàn vẹn và thống nhất lãnh thổ của Việt Nam. Cũng như trước đây khi phát biểu về quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc liên quan đến Hoàng Sa và Trường Sa, Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam, Michael Michalak nói: “Về vấn đề ở Biển Đông, Hoa Kỳ không có lập trường nào về những vụ tranh chấp lãnh thổ trong vùng biển này. Chúng tôi tin tưởng vào quyền tự do hàng hải và sự khai phóng của các thủy lộ, và chúng tôi hành xử quyền tự do hàng hải của mình qua việc đưa tàu bè đi qua các thủy lộ này. Chúng tôi đã gặp phải sự can thiệp trái phép của tàu bè Trung Quốc đối với tàu Impeccable. Tôi nghĩ rằng chúng tôi đã có phản ứng thận trọng và thỏa đáng trong vụ này. Chúng tôi cũng đã áp dụng thêm những biện pháp để bảo đảm quyền tự do hàng hải và kiên quyết thể hiện quyền này”.
Mới đây, trong cuộc tiếp xúc với báo chí tại Malaysia(4), Đô đốc Robert F. Willard, Tư lệnh Bộ chỉ huy Thái Bình Dương của Hoa Kỳ đã nói: “Trong năm 2010, toàn bộ khu vực đã trở nên quan ngại về khả năng các vụ đụng độ ở Biển Đông”, “Vâng, tôi thấy lo lắng bất cứ khi nào chứng kiến căng thẳng gia tăng và va chạm diễn ra ở khu vực rất chiến lược và rất quan trọng với tất cả chúng ta”.
Tư lệnh Robert F. Willard tiếp tục tuyên bố: “Hoa Kỳ không đứng về phía nào trong một cuộc tranh chấp. Đó là cam kết mạnh mẽ để thấy rằng các bên tranh chấp giải quyết vấn đề hòa bình và thông qua hội đàm, không đối đầu trên biển hay trên không”.
Khái niệm “tự do hàng hải” mà nhiều lần Hoa Kỳ đề cập đến cũng chính là Luật Biển Quốc tế 1982. Đây là lợi thế của Việt Nam trong việc đấu tranh khẳng định chủ quyền của mình trên Biển Đông.
Hy vọng rằng đây là một tín hiệu tốt cho tương lai khu vực Đông Nam Á và sẽ được phía Trung Quốc thể hiện bằng hành động cụ thể.
Đ. K. P.
Chú thích:
(1) Xem “Bàn về Quân sự của Trung Quốc”, chương 9 “Vươn ra biển lớn và tăng cường hải quân của Trung Quốc” của Kayahara Ikuo, trang 301-327, Nhật Bản
(2) Những vấn đề đảm bảo an ninh cho tuyến đường chuyên chở tài nguyên-dầu mỏ vào Nhật Bản ở thế kỷ 21 21世紀に於けるわが国への石油資源輸送ルート(シーレーン)に関する安全保障上の問題点)
(Nguồn: bauvinal.info.free.fr)
(3) “Lời Non Nước” Hồng Lê Thọ
(Nguồn: bauvinal.info.free.fr)

Vietnamplus.vn
(4) bloomberg.com
Tác giả gửi trực tiếp cho BVN.
http://boxitvn.wordpress.com/2011/06/02/trung-qu%E1%BB%91c-v%E1%BB%9Bi-bi%E1%BB%83n-dng-lng-gi%E1%BB%81ng-h%E1%BB%AFu-ngh%E1%BB%8B-hay-ch%E1%BB%A7-quy%E1%BB%81n-thu%E1%BB%99c-ng/#more-24519
________________

SỰ KIỆN “BÌNH MINH”
Dương Danh Huy-Nhà nghiên cứu về Biển Đông

Hình chụp tàu Bình Minh (ở trên) và bên dưới là tàu Trung Quốc


Khi nói về các tranh chấp trên Biển Đông, thí dụ như tranh chấp nghề cá hoặc tranh chấp dầu khí, ít nhất cho đến gần đây, nhận thức thuần túy của người Việt cũng như thế giới là do tranh chấp Hoàng Sa, Trường Sa.
Song, sự thật nghiêm trọng hơn thế nhiều.
Trung Quốc không chỉ hài lòng với tranh chấp Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam và những vùng biển mà theo luật quốc tế thì thuộc hai quần đảo này, họ bành trướng vùng tranh chấp ra cả những vùng biển không liên quan, ra phần lớn Biển Đông. Thậm chí, có thể nói rằng Trung Quốc dùng tranh chấp Hoàng Sa, Trường Sa để làm hỏa mù nhằm che dấu tính vô lý của một yêu sách về biển có một không hai trong lịch sử hải dương.
Là nước láng giềng của Trung Quốc, hệ quả cho Việt Nam là vùng biển thuộc Việt Nam bị Trung Quốc tranh chấp trải dài từ cửa Vịnh Bắc Bộ xuống đến bồn trũng Nam Côn Sơn. Điều đó tạo ra một sự đe dọa nghiêm trọng cho kinh tế, quốc phòng, sự vẹn toàn lãnh thổ và nền độc lập của Việt Nam.
Sự kiện “Bình Minh”
Ngày 26/5/2011, ba tàu hải giám Trung Quốc uy hiếp tàu khảo sát địa chấn tên Bình Minh của Việt Nam và phá hoại thiết bị của tàu này. Sự kiện Bình Minh không phải là một sự kiện đơn lẻ mà là một hành vi trong một chính sách của Trung Quốc nhằm bành trướng vùng tranh chấp ra cả những vùng biển không liên quan đến tranh chấp Hoàng Sa, Trường Sa.

Bản đồ (1)


Để hiểu sự kiện Bình Minh có thể xem bản đồ (1).
Sự kiện này xảy ra tại điểm X trên bản đồ, tọa độ 12o84’25’’ Bắc, 111°26’48’’ Đông. Các đốm tròn là lãnh hải 12 hải lý chung quanh các đảo, đá thuộc quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa, và bãi cạn Scarborough. Đường xanh lá cây bao quanh hai quần đảo là đường cách đều hai quần đảo này và các vùng lãnh thổ không bị tranh chấp. Đường xanh da trời từ cửa Vịnh Bắc Bộ ra đến quần đảo Hoàng Sa là đường cách đều Việt Nam – Hải Nam không tính quần đảo Hoàng Sa. Đường xanh da trời từ quần đảo Hoàng Sa đi xuống phía Nam là đường 200 hải lý tính từ bờ biển đất liền Việt Nam.
Chiếu theo các án lệ của Tòa án Công lý Quốc tế và tập quán ngoại giao, vùng biển thuộc quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa sẽ không vươn xa hơn các đốm tròn nhiều. Vì điểm X nằm cách xa các đốm tròn này, chiếu theo luật quốc tế nó sẽ không nằm trong vùng biển thuộc hai quần đảo này, tức là không liên quan đến tranh chấp Hoàng Sa, Trường Sa.
Giả sử như không chiếu theo luật quốc tế mà theo trí tưởng tượng phong phú nhất về sự công bằng đi nữa, thì cũng chỉ có thể cho rằng các đảo, đá thuộc quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa có giá trị ngang hàng với đất liền trong việc vạch ranh giới. Với trí tưởng tượng đó thì vùng biển thuộc quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa cũng chỉ vươn ra đến đường cách đều, tức là điểm X vẫn không liên quan đến tranh chấp Hoàng Sa, Trường Sa.
Như vậy, việc tàu hải giám Trung Quốc uy hiếp tàu Bình Minh và phá hoại thiết bị của tàu này là một hành vi bành trướng vùng tranh chấp ra cả những vùng biển không liên quan đến tranh chấp Hoàng Sa, Trường Sa.
Đó không phải là hành vi duy nhất.
Một chính sách có hệ thống
Có thể nói rằng Trung Quốc dùng tranh chấp Hoàng Sa, Trường Sa như hỏa mù để ngụy trang cho chủ trương chiếm phần lớn Biển Đông.
Trung Quốc hiện đang “cấm đánh cá” trong vùng biển phía bắc 12° Bắc và phía tây 113° Đông. Vùng biển này bao gồm một vùng đặc quyền kinh tế rộng lớn của Việt Nam không liên quan đến tranh chấp Hoàng Sa, Trường Sa. Điều đáng chú ý về vùng “cấm đánh cá” này là Trung Quốc đã thiết kế nó sao cho xâm phạm vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, nhưng không xâm phạm vùng đặc quyền kinh tế của nước Đông Nam Á nào khác, và không xâm phạm vùng bên ngoài 200 hải lý, nơi cả thế giới có quyền đánh bắt.
Cũng có thể thấy trên bản đồ (1) rằng hai vùng Mộc Tinh, Hải Thạch, được đánh dấu bằng ký hiệu M và H, không thể nào có liên quan với tranh chấp Trường Sa. Hai vùng này cũng nằm sâu trong vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý của Việt Nam. Năm 2007 Trung Quốc đã ép BP rút ra khỏi hợp tác với Việt Nam trong hai vùng này.
Tiếp tục đi ngược thời gian, vào năm 1992 Trung Quốc ký hợp đồng khảo sát dầu khí với công ty Mỹ Crestone trong vùng Tư Chính (đường tím trong bản đồ (1)). Trung Quốc còn tuyên bố rằng sẽ dùng hải quân để yểm trợ việc khảo sát. Khu vực cụ thể của hợp đồng này nằm hoàn toàn trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam. Chiếu theo luật quốc tế thì vùng Tư Chính không nằm trong tranh chấp Trường Sa.
Những điều trên thể hiện một chính sách có hệ thống của Trung Quốc để bành trướng vùng tranh chấp ra cả những vùng biển không liên quan đến tranh chấp Hoàng Sa, Trường Sa. Có thể nói rằng Trung Quốc dùng tranh chấp Hoàng Sa, Trường Sa như hỏa mù để ngụy trang cho chủ trương chiếm phần lớn Biển Đông.
Việt Nam phải làm gì
Ngày nay, một lần nữa Việt Nam phải đối diện với tham vọng mở rộng lãnh thổ xuống phương nam của Trung Quốc. Cùng với những đòi hỏi và những hành động đối với Hoàng Sa, Trường Sa, Trung Quốc còn thể hiện quyết tâm đòi hỏi gần như toàn bộ Biển Đông.
Cơ bản, chúng ta phải tích cực chống lại sự đe doạ này với một sự tích cực không kém gì tổ tiên ta đã từng giữ nước. Trong vô số việc phải làm, dưới đây là một số việc cụ thể Việt Nam nên làm.
Việt Nam phải xác định và khẳng định ranh giới cho các vùng biển thuộc quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa, và khẳng định rằng tranh chấp Hoàng Sa, Trường Sa chỉ có thể nằm trong các vùng biển đó. Những hành vi xâm phạm vùng đặc quyền kinh tế Việt Nam bên ngoài vùng tranh chấp đó là một sự bành trướng vô cớ vượt quá tranh chấp Hoàng Sa, Trường Sa.
Nếu nước có hành động xâm phạm không phải trả giá ít nhất là bằng hình ảnh xứng đáng thì họ sẽ tiếp tục xâm phạm, và sự xâm phạm sẽ ngày càng ngang ngược hơn.
Sau khi xác định, Việt Nam phải công bố rộng rãi các ranh giới biển của mình. Tất cả các bản đồ Việt Nam nên thể hiện quan điểm của Việt Nam về đâu là ranh giới của tranh chấp Hoàng Sa, Trường Sa, đâu là ranh giới vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của mình không liên quan đến tranh chấp Hoàng Sa, Trường Sa. Việt Nam nên gửi bản đồ thể hiện quan điểm đó đến các nước trên thế giới và các cơ quan quốc tế. Như vậy để thế giới thấy yêu sách của Việt Nam là gì và yêu sách đó công bằng và phù hợp với luật quốc tế hơn yêu sách của Trung Quốc.
Yêu sách của Trung Quốc đối với 75% diện tích Biển Đông là vô lý và Trung Quốc phải ngụy trang cho yêu sách đó bằng sự mù mờ. Việt Nam phải đối trọng điều đó bằng những ranh giới hợp lý và minh bạch.
Kế đến, Việt Nam nên tranh thủ và đàm phán với các nước Đông Nam Á trong tranh chấp về các ranh giới mà mình chủ trương. Trước nhất, Việt Nam và các nước này nên đi đến một quan điểm chung về ranh giới của tranh chấp Hoàng Sa, Trường Sa. Sau đó, Việt Nam và các nước này nên đi đến một thực tế ngoại giao trong đó tất cả đều ủng hộ nạn nhân trong trường hợp xảy ra việc xâm phạm chủ quyền bên ngoài ranh giới của vùng tranh chấp.
Trong những trường hợp xâm phạm như sự kiện Bình Minh, nếu tất cả các nước Việt Nam, Philippines, Malaysia, Brunei và Indonesia đều lên án hành vi của Trung Quốc thì tiếng nói chung đó sẽ mạnh mẽ hơn nếu chỉ cho Việt Nam lên án.
Dù sao đi nữa, trong mỗi trường hợp cụ thể, mọi sự xâm phạm chủ quyền Việt Nam đều phải trả một giá xứng đáng trong lãnh vực ngoại giao và hình ảnh của nước xâm phạm trước cộng đồng quốc tế. Hình ảnh xứng đáng cho nước có hành động xâm phạm ngang ngược, là một hình ảnh ngang ngược. Nếu nước có hành động xâm phạm không phải trả giá ít nhất là bằng hình ảnh xứng đáng thì họ sẽ tiếp tục xâm phạm, và sự xâm phạm sẽ ngày càng ngang ngược hơn.
D. D. H.
Nguồn: bbc.co.uk
http://boxitvn.wordpress.com/2011/06/02/s%E1%BB%B1-ki%E1%BB%87n-bnh-minh/#more-24523

___________________

THÔNG ĐIỆP “BÌNH MINH II”
Huy Đức
Cho dù điều gì thực sự diễn ra ở hậu trường, người dân cũng nhận thấy thông điệp từ vụ tàu Bình Minh II: Các nhà lãnh đạo Việt Nam đã bắt đầu nhiệm kỳ với thái độ rõ ràng hơn trước “anh Hai” Trung Quốc. Vụ “Bình Minh 2” xảy ra khoảng năm tuần sau khi một “cột mốc” chủ quyền Việt Nam được cắm trên vùng Tư Chính. Kể từ sau khi hoàn thành việc phân giới trên bộ, Hà Nội đã không còn ngại đụng chạm với Bắc Kinh. Từ cuối năm 2009 trở đi, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Nguyễn Phương Nga, thỉnh thoảng, đã được nói những lời đàng hoàng nhắm vào Trung Quốc. Truyền thông đã được sử dụng trước những đe dọa đến từ phương Bắc. Lòng dân lại được khai thác sau một thời gian bị kiểm soát ngặt nghèo. Báo “lề phải” cũng giật tít kiểu Nhân Dân thời 1978: Biển đông không phải là ao nhà Trung Quốc.
Nhà báo Đào Tuấn viết, “không thể giữ nước bằng lòng phẫn nộ”, anh đòi “phải làm gì đó” trên biển đông. Một blogger được nói là làm việc trên tàu Bình Minh II viết, khi tàu của anh bị tấn công, các “tàu hải quân giả dạng tàu bảo vệ” đã sẵn sàng “phi thẳng vào” tàu giặc. Nhưng, “các anh ấy nói, chưa có lệnh từ Bộ chính trị, chưa dám bắn dù tức vãi ra rồi”. Thời nào cũng có những người Việt Nam sẵn sàng tử chiến với giặc Tàu. Nhưng, xương máu chỉ nên hy sinh những khi không còn con đường nào khác.
Không có gì khó khi tập hợp lòng dân trước “hiểm họa Bắc Kinh”, nhưng mỗi khi máu nóng đã được bốc lên thì thường chỉ có chiến tranh mới giải tỏa được lòng phẫn nộ. Năm 1978, khi Trung Quốc bắt đầu hục hặc với Việt Nam, không có ngôn từ nào là đã không được dùng thường xuyên trên báo chí. Hai tuần sau khi Trung Quốc tấn công Biên giới. Ngày 5-3-1979, Chính phủ ra Nghị định “Quân sự hóa toàn dân”, cùng ngày, Hoàng Tùng viết trên báo Nhân Dân: “Cả nước đánh giặc, toàn dân là lính”. Hàng ngàn thanh niên đã chích máu tình nguyện, khoảng một triệu sáu bộ đội đã phải cầm súng suốt 10 năm. Trong số hàng trăm ngàn người lính đã hy sinh ở phía Bắc và ở Campuchia, trong số hàng triệu anh em đã trở lại quê cũ làm dân và tới Đông Âu làm thuê, có ai biết vì sao họ đã phải trải qua mười năm cầm súng ấy.
Công bố hành vi du côn của Trung Quốc với tàu Bình Minh II là rất cần thiết. Nhân dân có quyền được biết điều gì thực sự đang xảy ra trên lãnh thổ của ông cha. Nhưng, thông tin cho dân phải là một việc làm thường xuyên chứ không phải là sách lược trước từng chiến dịch. Có thể nói, nếu như người dân được tin cậy và sát cánh với chính quyền thì đường biên giới trên bộ Việt-Trung sẽ có nhiều phần khác.
Ngày 19-10-1993, sau một năm đàm phán, hai bên ký được những “nguyên tắc cơ bản giải quyết vấn đề biên giới lãnh thổ Việt – Trung”. Trên cơ sở “Công ước hoạch định biên giới ký giữa nhà Thanh và Pháp”, hai bên đồng ý sẽ “đối chiếu xác định lại toàn bộ đường biên”. Có một khoảng thời gian khá dài đã được dành để đôi bên đưa ra bản đồ hiện trạng. Vào thời điểm này, phía Việt Nam đang là một bãi mìn dày đặc. Các chiến sỹ biên phòng cho biết, các đoàn khảo sát đã không thể tiếp cận đến các ngóc ngách của đường biên. Nhưng, điều đáng nói, theo các chiến sỹ biên phòng, thay vì huy động sự góp sức của nhân dân, không hiểu vì lý do gì công việc này đã được tiến hành bí mật. Một vị đồn trưởng Biên phòng ở Hà Giang nói: “Chúng tôi thuộc địa hình đến từng milimet nhưng các đoàn khảo sát đã bí mật luôn cả với chúng tôi”. Người dân và các chiến sỹ biên phòng cho rằng, nếu có sự tham gia của họ, “bản đồ hiện trạng” sẽ thể hiện đủ hơn phần đất mà ông cha đã làm ăn sinh sống.
Trong quá trình tranh chấp, nếu những đòi hỏi vô lý của Trung Quốc được công khai thì thái độ của người dân sẽ là chỗ dựa cho các nhà đàm phán. Khi đối chiếu bản đồ hiện trạng, có 289 khu vực hai bên “có nhận thức khác nhau” với tổng diện tích khoảng 231 km2. Sau 16 vòng đàm phán, kết quả: “quy thuộc khoảng 114,9 km2 cho Việt Nam và khoảng 117,2 km2 cho Trung Quốc”. Nhìn các con số thì “đây là một kết quả công bằng”. Nhưng, khi dừng lại ở một số địa danh, không có người Việt Nam nào lại không cay đắng.
Tại Lạng Sơn, đường biên giới mới đi cách Mục Nam Quan một quãng xa. Các nhà đàm phán trấn an là nó “đi qua Km0, mốc 19 cũ của Pháp”. Nhưng, những ai từng đọc báo Nhân Dân và Sài Gòn Giải Phóng, số ra ngày 19-3-1979, sẽ nhớ, Bị vong lục của Bộ Ngoại giao Việt Nam đã nói rõ rằng: “Phía Trung Quốc đã ủi nát mốc biên giới số 18 nằm cách cửa Nam Quan 100 mét để xóa vết tích đường biên giới lịch sử rồi đặt cột Km0 sâu vào lãnh thổ Việt Nam trên 100m”. Các nhà đàm phán cũng cho hay, từ điểm nối ray, Việt Nam đã “Bắc tiến” được 148m. Phần tranh cãi ở đây gồm 300m, nước to chỉ lấy được hơn Việt Nam 2m kể cũng đáng gọi là thành công. Nhưng, 300m đường biên ấy không hề là một vùng chồng lấn dẫn đến “nhận thức khác nhau”. Bị Vong lục năm 1979 của Bộ Ngoại giao đã nói: “Năm 1955, khi giúp Việt Nam khôi phục đoạn đường sắt từ biên giới tới Yên Viên, lợi dụng lòng tin của Việt Nam, phía Trung Quốc đã đặt điểm nối ray vào vào sâu trong lãnh thổ Việt Nam 300m so với đường biên giới lịch sử”. Các nhà đàm phán cũng trích dẫn “thông lệ quốc tế” để nói việc phân chia thác Bản Giốc như là một thành công: “Hai bên điều chỉnh đường biên giới đi qua cồn Pò Thoong, quy thuộc 1/4 cồn, ½ thác chính và toàn bộ thác cao cho Việt Nam”. Hình như họ quên, Bị Vong lục 1979 đã nói, toàn bộ thác Bản Giốc và cồn Pò Thoong là của Việt Nam, Trung Quốc chỉ mới “đưa 2.000 người sang cưỡng chiếm từ ngày 29-2-1976”. Ở điểm cao 1509, tuy chỉ nhượng bộ có 0,87 hecta, nhưng mỗi tấc đất ở đó đều là xương, là máu.
Nếu các nhà đàm phán biết lịch sử sẽ phán xét họ ra sao, chắc chắn sẽ sáng suốt hơn khi đối diện với Bản Giốc, Ải Nam Quan và cao điểm 1509. Biên giới Việt-Trung dài 1.406 km, thời Pháp-Thanh chỉ cắm 341 cột mốc, giữa núi non hiểm trở chắc chắn không ít nơi hai bên đã có “nhận thức khác nhau”. Khi thương lượng, muốn nhận thì cũng phải cho. Nhưng, ở những nơi mà từ xa xưa, trong tiềm thức của người Việt Nam đã khắc dấu lãnh thổ của cha ông, thì một tấc cũng không thể đem ra thương lượng.
Việc phân giới 1509, Bản Giốc, Ải Nam Quan, lẽ ra nên trưng cầu dân ý. Thái độ người dân cũng là vũ khí của các nhà đám phán, đồng thời giúp họ ý thức đầy đủ trách nhiệm lịch sử của mình. Nếu người dân nói không thì hãy giữ nguyên hiện trạng những vùng tranh chấp ấy. Trong số 2.000 cột mốc trên đường biên phía Bắc, để lại vài ba cột để con cháu làm tiếp cũng không sao. Bảo lưu những vùng tranh chấp là kinh nghiệm của không ít quốc gia. Đành rằng, không có quốc gia nào lại ứng xử như người Trung Quốc. Các chiến sỹ biên phòng Cao Bằng kể, khi người dân cày ruộng ở sát đường biên, biên phòng phải dựng lưới B40 chặn “củ đậu” được ném sang từ Trung Quốc. Rất lạ là những chuyện như thế không được đài báo đưa tin. Những chuyện lén lút dời cột mốc, ném đá dọc đường biên, cắt cáp và trấn lột ngư dân… có thể bị dửng dưng trước các nhà lãnh đạo mặt mo, nhưng hơn một tỷ người dân Trung Quốc chắc cũng có hàng chục triệu người xấu hổ.
Người Nhật giàu có vậy mà vẫn chưa đòi được quần đảo Kuryl từ Liên xô. Việc đòi lại Hoàng Sa có thể sẽ là sự nghiệp ngàn năm của cháu con người Việt. Sự nghiệp ấy đòi hỏi sự bền bỉ, đường đường chính chính, chứ không phải thỉnh thoảng lại làm cho người dân phẫn nộ lên. Nên rút kinh nghiệm đàm phán phân định biên giới trên bộ mà phát huy vụ “Bình Minh II”. Hãy công khai tất cả những trò hèn hạ của Bắc Kinh. Hãy để nhân dân đứng sau lưng những người giữ biển.

http://www.facebook.com/#!/profile.php?id=100000755701241
________________

Advertisements

%(count) bình luận »

  1. viet nam tuy la nuoc ngheo nhung dan toc ta chua bjo het long yeu nuoc ca..
    bao nhieu suong mau cua hai quan viet nam da hy sinh vo ich neu chinh phu de mat hoag xa va truong xa.

    Bình luận bởi thajanh — 13/06/2011 @ 6:16 sáng | Phản hồi


RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: