Hoàngquang’s Blog

18/04/2011

Đọc truyện đêm khuya: Việt Nam – con rồng trỗi dậy &Nhiều câu hỏi cần giải đáp

Filed under: Kinh tế — hoangquang @ 9:43 sáng
Tags: , , ,

Đọc truyện đêm khuya: Việt Nam – con rồng trỗi dậy – Đoan Trang

+Nhiều câu hỏi cần giải đáp- Nguyễn Gia Hảo

+Chuyên gia độc lập về tác động của nợ nước ngoài và các nghĩa vụ tài chánh có liên quan khác của Quốc gia về việc thụ hưởng đầy đủ các quyền con người, đặc biệt là quyền kinh tế, xã hội và văn hóa -Việt-Studies

***
Đọc truyện đêm khuya: Việt Nam – con rồng trỗi dậy-Đoan Trang

Cách đây ít lâu tôi tình cờ tìm được một cuốn sách có tựa đề “Vietnam – Rising Dragon” của tác giả Bill Hayton, một nhà báo Anh. Đọc xong thì thấy một cảm giác hết sức cay đắng, hay nói theo mốt đặt tít của báo mạng là “đắng lòng đọc sách Bill Hayton”.
Sở dĩ “đắng lòng”, không phải vì ông Bill Hayton đệm vào tác phẩm những câu nào kiểu như “hỡi những người có lương tri”, “chúng ta nhất định không để mất đi sự tin cậy của…”, “ai ơi xin đừng để người dân thất vọng”, v.v. Trên thực tế, cuốn sách của ông Hayton không có lấy một lời kêu gọi. Còn tôi thấy “đắng lòng” là bởi vì, cố gắng nhìn thật thẳng vào sự thực mà nói, sẽ phải thừa nhận là 30.000 (?) nhà báo ở Việt Nam hiện nay, không ai viết được như nhà Bill! Mà cay hơn nữa là, ông chỉ ở Việt Nam khoảng một năm, từ 2006 đến 2007.
Ở ta thường có câu: “Cái này đưa ra vào thời điểm này chưa có lợi”. Ví dụ đạo diễn Đặng Nhật Minh khi trình kịch bản phim “Mùa Ổi” lên Hội đồng duyệt, được trả lời là “Trong giai đoạn này, dựng phim chưa có lợi”. Về sau ông Minh trả lời phỏng vấn báo An ninh thế giới, có kể: “Tôi chờ hai năm, làm sao biết lúc nào có lợi, tôi sốt ruột quá vì không thể chờ sang năm thứ ba”. Gần đây hơn, Giáo sư Ngô Bảo Châu viết entry “Về sự sợ hãi”, tôi cho là đâu đó cũng đã/đang/sẽ có người bảo rằng Giáo sư Châu “viết cái này vào thời điểm này chưa có lợi”. Rút kinh nghiệm, tôi sẽ chờ đến khi nào có lợi để viết một bài “nghiên cứu” lấy chủ đề là: Vì sao ở Việt Nam không có nhà báo lớn?
Tuy nhiên, riêng trong trường hợp “Rising Dragon” của Bill Hayton, sơ sơ thì cũng có thể giải thích là muốn viết được như ông Hayton, phải có quan hệ càng cao càng tốt, (từ đó có) thông tin tốt… Mà như thế thì đa số nhà báo Việt Nam đơn giản là không đủ lực. Nhiều người (chắc trong này có cả mình rồi, thôi, cứ nhận luôn cho mau tiến bộ) viết được cái entry tâm huyết vài trăm từ, ném đá phe này tí, xé áo phe kia tị, đã sướng lâng lâng cả ngày, mất ngủ gần hết đêm, còn bắt họ viết một cuốn sách mấy trăm trang phân tích tình hình đất nước nữa, e là đuối sức.
Vậy thiểu số những nhà báo giàu kinh nghiệm, quen biết ông thủ này ông tướng nọ, “có thế”, “có lực”, “có tầm”, thì sao? Với sự gần gũi những nhân sự cấp cao, được “ai đó” chống lưng, được cung cấp những thông tin “nóng và độc”, liệu họ viết nổi (như tay người Anh kia) không? Nếu phải trả lời câu này, tôi sẽ cười khùng khục mà rằng: “Gớm, thôi, có mà viếtttttt. Các bác đừng cố, hệ hệ hệ… Chúng cháu chả dám chắc lép, nhưng quả thật là ít vốn”.
Tóm lại, về căn bản thì vẫn phải nhìn nhận một nguyên nhân vừa sâu xa, vừa trực tiếp, vừa trừu tượng lại vừa cụ thể, vừa rất “đắng lòng”, đó là vì nhà báo ta kém. Còn vì sao kém, thì… thôi để đến thời điểm có lợi, ta sẽ cùng mổ xẻ vấn đề sau.
Xin được dừng mọi sự bình luận ở đây. Bây giờ mời bạn đọc một vài đoạn ngắn trong chương I cuốn sách “Vietnam – Rising Dragon” của Bill Hayton, nguyên phóng viên BBC tại Hà Nội. Lưu ý quan điểm của người dịch không nhất thiết trùng với quan điểm của tác giả.
+++++++
… Đối với Đảng Cộng sản, điều quan trọng hơn cả các giáo điều kinh tế là sự tồn tại. Mọi cái khác: tăng trưởng, xóa đói giảm nghèo, bình đẳng giữa các khu vực, tự do báo chí, bảo vệ môi trường – mọi thứ – đều nằm dưới cái bản năng gốc đó. Để tồn tại được, Đảng biết rằng họ phải đạt được một con số tuy đơn giản nhưng đáng sợ: 1 triệu việc làm một năm. Mỗi năm các trường học ở Việt Nam sản xuất ra 1 triệu nông dân và vô sản mới, sản phẩm của một thời kỳ bùng nổ dân số khổng lồ thời hậu chiến mà không có mảy may dấu hiệu chậm lại nào bất chấp chính sách “hai con” gắt gao. Tăng trưởng là sống còn, nhưng không phải với cái giá là tạo ra quá nhiều bất bình đẳng. Xóa đói giảm nghèo cũng thế, nhưng không phải với cái giá là ngăn cản tăng trưởng quá. Suốt 30 năm qua, chính sách cứ dao động qua lại, lúc thì ưu tiên tăng trưởng, lúc thì ưu tiên ổn định. Những người hưởng lợi là nông dân và vô sản. Thành tựu của Việt Nam trong việc xóa đói giảm nghèo là rất ấn tượng. Theo số liệu của Chính phủ, năm 1993, gần 60% dân số sống dưới mức nghèo khổ. Cho tới năm 2004, con số giảm xuống còn 20%. Đất nước đã sớm thực hiện được phần lớn các Mục tiêu Thiên niên kỷ, là những mục tiêu phát triển do LHQ đặt ra, và thoát khỏi hàng ngũ những quốc gia nghèo nhất để tham gia nhóm “các nước thu nhập trung bình”. Mức sống của người dân đang tăng, chân trời của họ rộng mở và tham vọng của họ tăng dần. Sự hợp hôn giữa kiểm soát của Nhà nước và tự do hóa, giữa Đảng với lợi ích tư, đang bóp méo nền kinh tế theo hướng biến thành ham muốn của một số ít thay vì là nhu cầu của đa số. Và những mạng lưới “chủ nghĩa xã hội thân hữu” này đang trở thành mối đe dọa cho sự ổn định của Việt Nam trong tương lai. Việt Nam có nguy cơ chung số phận với rất nhiều hình mẫu trước đây của Ngân hàng Thế giới: phát triển bùng nổ và sau đó tan vỡ.
(…)
Ở gần như mọi quốc gia nơi phần kiểm soát của Nhà nước trong nền kinh tế tăng lên, hậu quả đều là đình đốn, khủng hoảng tài chính và siêu lạm phát. Việt Nam thì khác, bởi vì các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) của họ hoạt động phần lớn là không có sự hỗ trợ của Nhà nước; đến mức những “ông chủ” của DNNN – các bộ ngành trong Chính phủ, chính quyền địa phương, cơ quan Đảng, v.v. – đối xử với DNNN, trên thực tế, như là đối xử với công ty tư nhân, mặc dù DNNN được hưởng ưu đãi khi tiếp cận các ngân hàng quốc doanh và được các cơ quan nhà nước bảo hộ. Adam Fforde, một nhà phân tích kinh tế hàng đầu ở Việt Nam, gọi đó là “những công ty cổ phần ảo”. DNNN làm ra lợi nhuận, mở rộng và đa dạng hóa: xuất khẩu của Việt Nam tăng gấp 4 lần từ năm 1990 tới năm 1996. Các vị giám đốc có được hợp đồng, trả tiền cho những người đã bảo hộ họ, và thịnh vượng. Đối với những người quan hệ tốt thì thật dễ để họ ngăn chặn cạnh tranh từ phía các đối thủ, từ phía hàng nhập khẩu hay là những công ty nước ngoài vừa bước vào thị trường. Tham nhũng trở thành bệnh dịch, ngân hàng quốc doanh cho vay tiền một cách phóng túng và một số công ty cố trở thành những tiểu đế chế – đến mức độ mà, trong một số trường hợp, chúng thành lập nên các liên doanh phi chính thức với những nhà đầu tư bí mật, vượt ra khỏi sự kiểm soát của nhà nước – vốn dĩ là chủ sở hữu chúng. Trong trường hợp xấu nhất thì một số trong các công ty này trở thành những tên tội phạm công khai.
Đây không phải là điều mà các nhà tài trợ quốc tế thúc đẩy đạt tới. Suốt từ năm 1993, khi Mỹ chấm dứt cấm vận, khiến Ngân hàng Thế giới có thể nối lại việc cho Việt Nam vay tiền, thì Ngân hàng Thế giới và Quỹ Tiền tệ Quốc tế đã nỗ lực thuyết phục Chính phủ Việt Nam theo đuổi công thức tự do hóa kinh tế truyền thống. Năm 1996, Ngân hàng Thế giới, Chính phủ và Quỹ Tiền tệ Quốc tế thậm chí còn thỏa thuận một bản Khuôn khổ Chính sách chung, định ra những bước sẽ phải tiến hành. Nhưng các bước ấy không bao giờ được thực thi cả. Rất nhiều người trong Đảng phản đối bất kỳ nỗ lực nào nhằm làm suy yếu vị trí của DNNN hay là mở cửa khiến nền kinh tế bị ảnh hưởng nước ngoài thái quá. Năm 1997, việc Việt Nam cố làm được điều này khi mẫu hình trước đó của Ngân hàng Thế giới là Indonesia bị rơi vào suy thoái kinh tế, chỉ càng làm tăng thêm các khó khăn. Ngân hàng Thế giới cung cấp 300 triệu USD Tín dụng Điều chỉnh Cơ cấu. Việt Nam thản nhiên bác bỏ. Đất nước chẳng có bao nhiêu nợ và cũng đã kiếm đủ tiền từ xuất khẩu và đầu tư thương mại của nước ngoài, nên chẳng cần tiền. Ngân hàng Thế giới, không quen với việc bị từ chối phắt như thế, lủi thủi cụp đuôi bỏ đi.
Cuối năm 1998, Ngân hàng Thế giới lại trở lại. Cùng với các nhà tài trợ khác, họ cấp cho Việt Nam 500 triệu USD viện trợ bổ sung (thêm vào khoảng 2,2 tỷ USD viện trợ không điều kiện) nếu Việt Nam đồng ý thực hiện kế hoạch bán bớt các DNNN hiện có, tái cấu trúc khu vực ngân hàng quốc doanh và đưa ra một chương trình cải cách thương mại. Chính phủ Việt Nam đồng ý với thỏa thuận này nhưng sau đó đã chẳng làm gì để thực hiện. Các đòi hỏi như vậy là quá nhiều khiến phe chủ đạo trong Đảng không thể nào chấp nhận được. Tháng 12 năm 1999, giới tài trợ cam kết nhiều hơn nữa – 700 triệu USD – nếu đất nước đi theo các đề xuất của họ. Phản ứng của phía Việt Nam là không nhân nhượng. Bộ trưởng Kế hoạch và Đầu tư Trần Xuân Giá nói với báo chí: “Không thể dùng tiền mua cải cách… không ai có thể bắt ép Việt Nam”. Những mối ưu tiên của Đảng được thể hiện một cách không thể rõ ràng hơn. Trong vòng ba năm trời họ từ chối tổng cộng 1,5 tỷ USD, bởi họ đã đặt ổn định chính trị lên trên những hứa hẹn tự do hóa kinh tế. Mặc dù Ngân hàng Thế giới tiếp tục cho vay những khoản viện trợ truyền thống rất lớn mà không có ràng buộc gì đi kèm, nhưng họ đã không áp đặt thực thi các điều kiện của mình. Việt Nam đã tiến rất gần đến định chế hùng mạnh này của Washington và chiến thắng. Ngân hàng Thế giới đi tới kết luận rằng hợp tác với Đảng thì dễ hơn là chống Đảng.
Nhưng trong khi cuộc chiến với Ngân hàng Thế giới đang hồi gay cấn, Đảng bắt đầu nhận ra rằng, ngay cả khi có đầu tư nước ngoài, khu vực nhà nước cũng sẽ không thể tạo ra con số cần thiết 1 triệu công việc mỗi năm. Họ đã ra một quyết định lịch sử: để cho khối tư nhân phát triển. Tháng 5 năm 1999, một Luật Doanh nghiệp mới được thông qua, loại bỏ phần lớn thủ tục hành chính phiền hà ngăn cản các công ty tư nhân có thể tự đăng ký chính thức. Khi luật có hiệu lực vào ngày 1 tháng giêng năm 2000, ảnh hưởng gần như ngay tức thì: trong 5 năm sau đó, 160.000 doanh nghiệp được đăng ký mới. Phần lớn trong số này đã hoạt động từ trước đó mà không có giấy phép, và nay họ tận dụng luật mới để đăng ký. Tuy nhiên, luật cũng có nghĩa là khối tư nhân cuối cùng đã đến Việt Nam – 20 năm sau ngày bắt đầu cải cách kinh tế. Với sự nhận thức muộn màng này, có lẽ quá trình hình thành kéo dài đã cho những công ty “tiểu thương” nhỏ bé thời gian để tạo vốn và đúc rút kinh nghiệm trước khi cú sốc tàn nhẫn của các lực lượng thị trường không bị kiểm soát đè họ bẹp dí. Ở khía cạnh ấy, Việt Nam đã làm tốt hơn nhiều so với nhiều nền kinh tế “chuyển đổi” khác.
Sau khi khối tư nhân được giải phóng, xung đột lớn cuối cùng trong nội bộ Đảng là về việc nên mở cửa rộng tới mức nào để chào đón thương mại quốc tế. Mâu thuẫn kết lại trong vấn đề nên hay không nên ký Hiệp định Thương mại Song phương (BTA) với Mỹ. Đàm phán bắt đầu từ năm 1995, chấm dứt tại Hà Nội năm 1997, nhưng sau đó lại được tiếp tục. Sau 9 vòng đàm phán dài – phiên cuối cùng vào tháng 7 năm 1999, kéo dài 17 tiếng đồng hồ – hai bên thống nhất về cái được coi là bản hiệp định thương mại phức tạp nhất trong lịch sử Mỹ, dài tới 100 trang. Một nhân vật chủ chốt ở bên phía Việt Nam là Phó Thủ tướng lúc đó, ông Nguyễn Tấn Dũng. Liên tục, liên tục, mỗi khi đàm phán có vẻ đi vào ngõ cụt, người Mỹ lại nói chuyện trực tiếp với ông Dũng và thế bế tắc lại được gỡ bỏ. Nhưng thỏa thuận của ông Dũng không làm hài lòng những thành phần trong Đảng lúc đó vốn vẫn thù địch với thương mại nước ngoài và Mỹ. Một lễ ký kết chính thức được sắp xếp để diễn ra vào Hội nghị thượng đỉnh châu Á – Thái Bình Dương năm đó – nhưng đã bị hủy vào phút cuối cùng do các nhân vật chủ chốt đòi phải đưa bản text cho cơ quan ra chính sách của Đảng, tức là Ban Chấp hành Trung ương Đảng, duyệt trước. Mãi cho đến tháng 7 năm 2000, Ban Chấp hành Trung ương mới đồng ý ký. Đó là một hội nghị đáng nhớ. Trung ương Đảng không chỉ đồng ý ký BTA, mà họ còn phê chuẩn việc mở một thị trường chứng khoán ở TP HCM. Từ thời điểm ấy trở đi, tăng trưởng trong khu vực tư nhân bắt đầu vượt khu vực nhà nước và cứ duy trì như thế. Việt Nam đã được đặt vào một con đường hướng tới hội nhập kinh tế quốc tế – sẽ lên tới cao trào (sau quá trình đàm phán kéo dài) khi họ chính thức gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới vào tháng 1 năm 2007. Khi đó Nguyễn Tấn Dũng, người đã giúp người Mỹ đàm phán BTA, là Thủ tướng của đất nước và là nhà cải cách hàng đầu, con gái ông là nhà kinh doanh ngân hàng.
Đoan Trang biên dịch
Nguồn: Trangridiculous.blogspot.com
http://boxitvn.wordpress.com/2011/04/18/d%E1%BB%8Dc-truy%E1%BB%87n-dm-khuya-vi%E1%BB%87t-nam-con-r%E1%BB%93ng-tr%E1%BB%97i-d%E1%BA%ADy/#more-22484

Nhiều câu hỏi cần giải đáp
Đăng bởi bauxitevn on 18/04/2011
Nguyễn Gia Hảo
Người viết bài này hoạt động dưới tầng thấp vi mô lại muốn bàn về những chuyện vĩ mô trong kinh tế, quả là uống thuốc liều. Nhưng với sức ép của cung cách quản lý vĩ mô như bấy lâu nay làm cho vi mô bị bóp méo nên buộc phải lên tiếng tham gia luận bàn.
Mỗi lần kinh tế trong nước gặp khó khăn, lại một lần kinh tế thế giới có khó khăn “theo” và vì vậy không thiếu những người cho nguyên nhân gây ra khó khăn trong nước chủ yếu là do ảnh hưởng tình hình chung của thế giới, nhất là trong bối cảnh hội nhập ngày càng sâu và rộng như hiện nay.
Trong bối cảnh khủng khoảng toàn cầu hiện nay, xu hướng chung của nhiều nền kinh tế là (i) giá giảm;(ii) thuế giảm;(iii) lãi suất giảm; (iv) đồng USD mất giá so với nội tệ. Trong các chính sách kinh tế đều nổi lên những điểm chung chủ yếu là (i) kích thích tiêu dùng; (ii) cải cách cơ cấu, về mặt vĩ mô chủ yếu, là trông chờ vào chính sách tài khóa và chính sách tài chính-tiền tệ; (iii) an sinh xã hội và (iv) chuẩn bị cho việc thích ứng với thời kỳ phát triển mới.
Câu hỏi đặt ra là tại sao ở ta lại có xu thế ngược lại: giá tăng tới mức “bão”; thuế, tính theo thu nhập, cá nhân hay doanh nghiệp, tăng; lãi suất tăng và tỷ giá giữa USD và Việt Nam đồng vẫn không ngừng tăng… Cái “giá của vốn” cao là vậy, chênh lệch giữa lãi suất vay và cho vay lớn là vậy sao mà có thể duy trì được nhịp độ phát triển 7-8% như mong muốn, lạm phát vẫn ở mức cao hơn so với nhiều nước khác…
Phải chăng trong việc điều hành vĩ mô chưa nhịp nhàng đồng bộ, điển hình lớn nhất là sự “vênh váo” giữa chính sách tài chính và tài khóa nên trong 7 biện pháp Chính phủ mới nêu ra để kiềm chế lạm phát, duy trì ổn định mới thấy dáng dấp “giảng hòa” giữa “ông chẳng, bà chuộc”, người nọ lấn sân người kia, giữa tài chính và tài khóa. Phải chăng Bộ Tài chính đứng ngoài cuộc, nếu không nói là bất lực trong việc bơm tiền đúng nơi, đúng chỗ khi cải cách cơ cấu mới chỉ là định hướng, mới chỉ là khẩu hiệu, chưa ai biết rõ là ngành gì, nghề gì, dự án nào, ở đâu… còn đang bị những “bàn tay vô hình” (xin đừng đổ oan tất cả cho thị trường mà vì căn bệnh cũ “duy ý chí” thì ít mà “nhóm lợi ích” mới thì nhiều) để cho hai ông liên quan chính tới tiền tệ-tài chính cứ đấu nhau trong khi bộ chủ quản mất kiểm soát với các tập đoàn, tổng công ty trong hệ thống tổ chức của mình… và dửng dưng “không chịu trách nhiệm” khi có vụ việc đổ bể (điển hình là vụ Vinashin vì chẳng tìm được một “Vina-cho”!).
Nợ công chiếm tới hơn 40% GDP, cao là vậy, sao mà không lo? Cứ tiếp tục mua sắm “dự án” và tiêu dùng mà thất thoát ngoài lên tới 30% như có đại biểu đã nói trong Quốc hội, hệ số ICOR (hiệu quả tăng vốn đầu tư trên tăng GDP) vượt ngưỡng con số 8 thì sao còn hiệu quả, kiểm toán vẫn xào xáo số liệu trong “hộp đen” để dễ bề mua thành tích, tạo ra những viên thuốc “an thần” cho xã hội… để cuối cùng… một màn đồng ca… “bão giá”… Không “kiểm kê, kiểm soát” thực mà sao có được quản lý(1), đơn giản là bài toán “con gà và quả trứng”, trong tin học là hệ quả giữa đầu vào và đầu ra (đúng hay sai giữa đầu vào và đầu ra, input right, output right, ngược lại input wrong, output wrong).
Lãng phí và tham nhũng đang là vấn đề lớn, ở một chừng mực nhất định, nếu không nói là chủ yếu (chưa ai đánh giá chiếm tỷ lệ bao nhiêu), đang đẩy giá thành tăng lên và làm yếu năng lực cạnh tranh của hàng hóa của ta trong và ngoài nước. Lãng phí và tham nhũng có mối quan hệ tương hỗ với nhau, lãng phí để tham nhũng, tham nhũng để lãng phí…
Chính sách tài khóa phải rõ ràng, phải “hy sinh” những dự án chưa thực sự cần thiết, nhất là chỉ có tính chất “trang trí”, phô trương, thấy người khác có mình cũng phải có, không loại trừ là chỉ cần có dự án để có lợi ích kèm theo; dự án nào sẽ không làm, dự án nào sẽ ngưng thi công, của ai, ở đâu, bao giờ… cần công bố công khai để ngăn chặn tình trạng “đâm lao phải theo lao”. Cần phải xem lại việc rót vốn vào những khu vực, những địa phương làm ăn không hiệu quả cho dù họ có bứt đầu, bứt tai mè nheo xin vốn, xin bảo lãnh vay nợ, bởi với họ “tiền vào nhà khó như gió vào nhà trống”.
Trong Đại hội Đảng lần thứ XI, nhiều đại biểu đã nói lên tinh thần “xả thân”. Tinh thần đó phải thể hiện cụ thể từ trên xuống dưới trong việc hạn chế chi tiêu công. Năm 2011, sau Đại hội Đảng sẽ đến bầu cử Quốc hội, thay đổi cán bộ ở từng cấp, ở từng địa phương. Người cũ không chịu rời nhiệm sở, vòi thêm lợi ích trước khi “hạ cánh”, người mới không chịu dùng vật dụng, xe cộ của người tiền nhiệm, rồi “tướng số”, “phong thủy”… dẫn đến thay đổi đồ đạc, sắp xếp cơ ngơi… mua sắm cứ thế mà tăng lên. Mong rằng mọi cấp hãy “xả thân”cụ thể trong việc giảm chi tiêu công, trong việc tiết kiệm từ trong công sở cho tới ngoài đường phố, bởi lẽ đóng một cái đinh lên cây để treo một cài biểu ngữ, giăng qua phố một cái băng-drôn… nhất nhất là tiền, người nước ngoài nhìn thành phố của ta trong những ngày lễ cứ tưởng như nước khác thời “cách mạng văn hóa”, cờ xí lòe lọet, loa nói oang oang… Đừng coi thường việc tiết kiệm từ việc nhỏ này, bởi người đóng đinh, giăng dây được chẳng bao nhiêu mà những người vẽ ra chuyện đó thì được nhiều hơn, và, cứ thế, cứ thế, họ cũng chẳng cần biết đến tác dụng của việc mình làm trong cái xã hội hiện nay với nhiều công cụ truyền thông hiện đại có hiệu quả cao hơn.
Cũng cần phải kiềm chế lại tiêu dùng của một bộ phận người có thu nhập cao, nếu không nói là Nhà nước cần phải có chính sách, chủ yếu thông qua thuế, phân bổ lại thu nhập. Không thể hiểu nổi một nước mới “thoát nghèo”, thu nhập bình quân mới ở mức 1.050 USD (cuối hạng thu nhập trung bình) mà trong một năm 2010 bỏ hẳn 10 tỷ USD ra nhập đồ xa xỉ. Một Giám đốc người Anh của một Công ty liên doanh nói rằng đơn đặt hàng của Việt Nam trong năm ngoáí về các xe loại “khủng” của Anh được xếp loại dài nhất thế giới. Nếu quả đúng như vậy, tiêu xài sang như vậy thì cũng xin đừng trách Chính phủ Anh mới ra quyết định đưa nước ta ra khỏi danh sách các nước cần viện trợ hàng năm. Cũng cần lưu ý một thực tế là trong số những người có “thu nhập cao” để có thể xài “hàng hiệu”, xe “khủng”…, có nhiều “đại gia” mới phất lên, nhiều “thiếu gia” sinh sau đẻ muộn, rất nhiều người không hoạt động trong các lĩnh vực có thu nhập ngoại tệ, …
Nhiều doanh nghiệp, kể cả doanh nghiệp nhà nước, nhiều ngành, kể cả những ngành trực tiếp xuất khẩu, ngành làm ra ngoai tệ, phàn nàn rằng họ phải bán ngoại tệ cho các ngân hàng với tỷ giá quy định và khi cần họ không mua được theo giá nhà nước ban hành, họ phải chi trả các loại phí ngoài không hạch toán được vào mục nào hoặc phải mua ở thị trường ngoại tệ ngoài nhà nước… Câu hỏi đặt ra là tại sao thị trường bên ngoài lại “dư dật” ngoại tệ như vậy, cách hành xử và chênh lệch lớn trong thời gian qua giữa giá mua và bán ngoại tệ, như có tờ báo đã nói, vô hình trung (hay ai đó cố ý) đã biến ngân hàng không chỉ dừng ở mức “tiếp tay” mà thực sự trở thành “chợ đen” buôn bán ngoại tệ. Chênh lệch đó đi về đâu? Ai được hưởng? Chắc chỉ có ngân hàng mới có lời giải đáp đích thực. Cũng xin nói nhỏ một điều, chắc nhìn thấy nếu không xử lý khéo mọi chính sách trong khủng khoảng mà khâu đột phá là tài chính – tiền tệ thì ngân hàng có thể vừa là ngành dễ đổ bể, vừa là ngành dễ “đục nước, béo cò” nên một trong những việc làm ngay sau khi nhậm chức khi phải đối mặt ngay với khủng khoảng bắt nguồn từ tài chính, Tổng thống Mỹ Obama đã có quyết định kiểm soát ngay hệ thống lương và thưởng của ngân hàng.
Nhà nước kêu rằng dự trữ ngoại tệ của Nhà nước chỉ đủ cho mấy tuần nhập khẩu trong khi ngoại tệ của các doanh nghiêp, chủ yếu là các tập đoàn và TCty nhà nước tại các ngân hàng lên tới hàng tỷ, dự trữ trong dân, theo con số dự đoán, cũng không nhỏ; vàng tích trữ trong dân chắc cũng không thua kém và có khi hơn cả của Nhà nước, nhập vào bao nhiêu là hết bấy nhiều cho dù giá vàng ở Việt Nam vẫn cao hơn giá thế giới, kể cả khi giá thế giới giảm thì giá vàng Việt Nam vấn tăng… Rồi thị trường chứng khoán, cái phong vũ biểu của nền kinh tế cũng không phản ảnh đúng tình hình và trở thành sân chơi điều tiết bởi các “bàn tay ma” khiến nhiều nhà “đầu tư” khốn đốn, thay vì đầu tư dài hạn thì chuyển sang “lướt sóng” là chính, và, không rõ liệu có tới được 20% vốn của thị trường này quay lại phục vụ cho xản xuất/kinh doanh hay không (?). Nghịch lý nữa là nhiều tập đoàn Nhà nước, nhiều TCTy thành lập ra công ty chứng khoán của mình nhưng hoạt động của nhiều công ty này cũng không phục vụ việc huy động vốn cho chính tập đoàn/TCTy mẹ của họ mà lao vào vòng xoáy “đầu cơ, trục lợi” để mặc mẹ luôn ngửa mặt lên trời kêu hoài về lỗ dài và thiếu vốn! Vì vậy, chứng khoán chỉ là một thị trường ảo nhiều hơn thực (?).
Phải chăng do mất niềm tin vào Việt Nam đồng trong suốt một thời gian dài nên ngoại tệ (chủ yếu và chỉ biết có USD) và vàng đã thoát khỏi chức năng “thước đo giá trị” mà chỉ còn lại là “vật tàng trữ”, “vật giữ dưới gối” (chứ không phải gửi ở ngân hàng) để tự điều tiết khi có khó khăn, điều dễ gây ra ảo ảnh đối với một số người cho rằng ảnh hưởng của khủng khoảng đối với ta không lớn như đối với các nước khác và thậm chí ngộ nhận rằng các biện pháp của ta là đủ liều lượng và có hiệu quả hơn, đủ tầm để đi rao giảng với người ngoài!
Thử vẽ sơ đồ đường đi của ngoại tệ mới có thể thấy bức tranh thực giải thích tại sao người làm ra ngoại tệ (xuất khẩu) lại thiếu ngoại tệ khi cần để nhập khẩu, phải chăng nó rơi vào những “thùng không đáy” của cái “bong bóng” bất động sản, rơi vào túi những kẻ tham nhũng…(?) . Do bỏ nhà công vụ mà tỷ lệ người sở hữu bất động sản ở Việt Nam cao hơn nhiều nước, nên chung cư xây bao nhiêu cũng “thiếu” vì không đủ cung cấp cho một số đầu nậu đầu cơ, mua đi bán lại ăn chênh lệch và chuyển chênh lệch đó sang vàng và USD để tàng trữ.
Không có chính sách tài khóa và tài chính thích hợp, công khai và minh bạch được giám sát bởi công luận và người dân (người đóng thuế) thì khó mà có thể huy động được vốn của toàn xã hội vào sản xuất và khó có thể sớm giảm lạm phát mà ngược lại sẽ rơi vào vòng xoáy vô tận.
Trong khi chờ đợi chỉ giáo của các nhà kinh tế, các nhà hoạch định chính sách vĩ mô và vi mô, người viết thiển nghĩ cần phải có ổn định trong chính sách dài và trung hạn thay cho những “giật cục” riêng rẽ ngắn hạn, “đá” lẫn nhau, gây tác động tiêu cực lan tỏa. Cải cách cơ cấu không dừng lại ở khẩu hiệu hô hào, chủ trương này như đã nêu ra từ nhiều năm nay, ngay từ đầu khi mới nảy sinh những dấu hiệu ban đầu của khủng khoảng (2007) nhưng rồi không rõ theo hướng nào, bớt gì, bỏ gì, dừng gì, ở đâu và khi nào (?); phát triển khu vực nào thực sự làm ăn có hiệu quả, hạn chế khu vực nào đồng vốn bỏ vào không hoặc sinh lời quá kém, chớ vì “con đẻ” (Nhà nước), “con nuôi” (tư nhân), “con ngoài giá thú” (FDI) mà đối xử không bình đẳng; phải chống đầu cơ, chống cửa quyền (vì được độc quyền); lấy lại lòng tin nói chung và lòng tin vào Đồng tiền Việt Nam, nói riêng, kiên quyết chống Đô la hóa ngay trong Nhà nước với con mắt rộng rãi hơn khi nhìn các ngoại tệ trong cùng một giỏ; chỉ bao giờ “giá của vốn” (lãi suất) thấp hơn lãi trong sản xuất, kinh doanh thì mới thu hút được đồng tiền vào sản xuất/kinh doanh, còn không, tiền, tốt nhất, là chỉ để cho vay kiếm lời là chính, vàng và ngoại tệ cứ tiếp tục nằm trong tay một bộ phận bên ngoài như một phương tiện tích trữ mà thôi; với tinh thần “xả thân”, Nhà nước, cán bộ Nhà nước từ mọi cấp hãy gương mẫu trong tiết kiệm chi tiêu “của công” (tiền thuế của dân), chống lãng phí và tham nhũng thực sự và triệt để hơn(2).
Mong rằng chống lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô để phát triển, xin chớ nói “hy sinh phát triển để ổn định”, vì chỉ có ổn định thì mới có phát triển bền vững. Mọi việc sẽ không chỉ dừng lại ở khẩu hiệu, sẽ không còn chỉ là chủ trương, sẽ không chỉ là quyết liệt của trên mà là hành động cụ thể của tất cả các cấp, các ngành, các địa phương… Muốn làm được như vậy thì không thể thiếu công khai, minh bạch, dân chủ bàn bạc và kiểm tra chặt chẽ.
Mong “cơn bão” sớm qua để trời lại sáng!
N.G.H.
(1) Lê nin nói : Không có kiểm kê, kiểm soát, không có quản lý.
(2) Tin đồn có tài khoản cá nhân lên tới 260 triệu USD đang gửi ở ngân hàng trong nước đã được cải chính là chỉ có 260.000USD thôi. Xin thưa bọn tham nhũng không để tiền ở ngân hàng trong nước đâu vì làm như vậy chẳng khác nào “lạy ông tôi ở bụi này”. Giá mạng Wikileak lại coi Việt nam là một đối tượng cần phanh phui để đưa lên mạng nhứng người có tài khoản ở các ngân hàng nước ngoài hay những giao dịch liên quan tới chuyển tiền/rửa tiền thì chắc Ủy ban chống tham nhũng của ta đỡ vất vả!
http://boxitvn.wordpress.com/2011/04/18/nhi%E1%BB%81u-cu-h%E1%BB%8Fi-c%E1%BA%A7n-gi%E1%BA%A3i-dp/#more-22503

Chuyên gia độc lập về tác động của nợ nước ngoài và các nghĩa vụ tài chính có liên quan khác của Quốc gia về việc thụ hưởng đầy đủ các quyền con người, đặc biệt là quyền kinh tế, xã hội và văn hóa
Công tác tại Việt Nam, 21-29 tháng 3, 2011

BÁO CÁO TỔNG KẾT CÔNG TÁC
Hà Nội, 29 tháng 3 2011
Thưa các quý vị đại biểu, giới truyền thông,
Đầu tiên cho phép tôi được cảm ơn Chính phủ Việt Nam đã có lời mời tôi thực hiện chuyến nghiên cứu tại Việt Nam, vì sự đánh giá cao của chính phủ Việt Nam cho chuyến nghiên cứu, cũng như là sự hợp tác toàn diện của Chính phủ trong suốt chuyến thăm. Tôi cũng xin được bày tỏ lời cảm ơn chân thành tới Nhóm Điều phối Quốc gia Liên Hợp Quốc, đặc biệt là Văn phòng của Điều Phối viên Thường trú, vì sự trợ giúp cho đoàn trong quá trình chuẩn bị cho chuyến thăm.
Mục tiêu chính của chuyến thăm của tôi lần này là nhằm đánh giá, trên tinh thần hợp tác và đối thoại, ảnh hưởng của nợ nước ngoài tới việc thực hiện các quyền con người và hiện thực hóa các Mục tiêu Phát triển Thiên Niên Kỷ của Liên Hợp Quốc (MDGs). Tôi cũng tìm hiểu về tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới tới gánh nặng nợ nước ngoài, nhân quyền và các MDGs của Việt Nam.
Tôi đã có những cuộc làm việc rất chi tiết và mang tính xây dựng với các quan chức cấp cao của các Bộ ban ngành, với đại diện của Ủy ban Ngân sách và Kinh tế của Quốc hội, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, các đối tác phát triển (cả song phương lẫn đa phương), cũng như là đại diện các tổ chức xã hội dân sự. Tôi xin cảm ơn các đối tác đã chia sẻ thông tin và quan điểm trong suốt quá trình làm việc.
Các cuộc tiếp xúc đã giúp tôi có được nhiều thông tin. Bên cạnh đó, tôi cũng được cung cấp một số lượng lớn các tài liệu chính thức và Chính phủ và các đối tác cũng đã hứa hẹn sẽ cung cấp thêm các tài liệu bổ sung. Những thông tin này sẽ được xem xét một cách kĩ lưỡng trong quá trình chuẩn bị báo cáo cuối cùng lên Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp Quốc vào tháng 6 năm 2012. Trong gian đoạn chuẩn bị, tôi cũng sẽ báo cáo các ghi chép sơ bộ của chuyến thăm lên Hội đồng Nhân quyền vào tháng 6 năm nay.
Hôm nay, tôi mong muốn chia sẻ với các quý vị những nhận định sơ bộ và các khuyến nghị rút ra được trong quá trình công tác, trên tinh thần hợp tác hơn nữa và nhằm góp phần thúc đẩy phát triển con người tại Việt Nam. Các điểm này sẽ được phát triển và nêu chi tiết hơn trong báo cáo cuối cùng.
Thưa quý vị và các bạn,
Chính phủ Việt Nam xứng đáng được khen ngợi về những thành quả đã đạt được trong quá trình thực hiện các MDGs. Việt Nam đã hoàn thành được 3 trên 8 các MDGs trước thời hạn: giảm tỉ lệ nghèo xuống còn một nửa, đảm bảo bình đẳng giới và phổ cập giáo dục tiểu học. Việc thực hiện các MDGs còn lại cũng đã đạt được những tiến bộ lớn. Với cam kết rõ ràng của Chính phủ và sự hỗ trợ không ngừng nghỉ của các đối tác phát triển, tôi tin tưởng Việt Nam có thể hoàn thành các mục tiêu MDGs còn lại vào đúng thời hạn.
Trong thập kỉ qua, thu nhập bình quân trên đầu người của Việt Nam đã tăng từ mức 390 đô la Mỹ vào năm 2000 lên đến 1200 đô la Mỹ vào năm 2010. Hơn bảy triệu việc làm đã được tạo ra và việc trở thành một quốc gia có thu nhập trung bình thấp là minh chứng cho những thành quả đáng ngưỡng mộ của Việt Nam trong phát triển kinh tế xã hội. Những thành quả này là minh chứng cho cam kết chính trị của Chính phủ nhằm cải thiện đời sống kinh tế – xã hội của người dân.
Mặc dù đã đạt được tiến bộ rõ rệt, Việt Nam vẫn phải đối mặt với một số các khó khăn, thách thức, bao gồm cả những khó khăn liên quan tới việc trở thành “quốc gia có thu nhập trung bình thấp”. Trong chuyến công tác, tôi cũng đã nhận được nhiều ý kiến bày tỏ lo ngại về “bẫy thu thập trung bình”, mà ở đó các khoản vay kém ưu đãi sẽ thay thế cho các khoản viện trợ và vay ưu đãi thông qua viện trợ phát triển chính thức (ODA). ODA đã đóng vai trò hết sức quan trọng trong thúc đẩy phát triển con người tại Việt Nam. Năm ngoái, ODA đã đóng góp gần 11% tổng đầu tư xã hội và 17% tổng chi ngân sách.
Tuy nhiên, sự phụ thuộc của Việt Nam vào ODA nhằm duy trì tăng trưởng dựa vào đầu tư ngày càng khó khăn hơi bởi sự giảm viện trợ ODA trên toàn thế giới cũng như tác động của khủng hoảng kinh tế thế giới.
Việc hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế thế giới cũng đã đem lại những tác động tích cực và tiêu cực. Mặc dù hội nhập đã đem lại các cơ hội đầu tư và thương mại lớn hơn, sự gia tăng các dòng chảy hàng hóa và dịch vụ cũng có thể làm nảy sinh các vấn đề xã hội trong một bộ phận dân chúng, đặc biệt là trong các nhóm yếu thế nhất. Một tác động nữa của gia tăng đầu tư nước ngoài là khoảng cách ngày càng tăng trong thu nhập của lao động phổ thông và lao động tay nghề cao.
Tác động của biến đổi khí hậu cũng là một thách thức khác. Việt Nam là một quốc gia chịu nhiều thiên tai và dễ chịu tổn thương bởi mực nước biển dâng, đặc biệt là vùng đồng bằng Sông Cửu Long. Các tác động này có thể dẫn tới giảm sút thu nhập nông sản, mất kế sinh nhai và gây ra hiện tượng di dân, mà tác động cuối cùng là ảnh hưởng tiêu cực tới phát triển.
Chính phủ cũng đã nhận thức được các thách thức này và đã thể hiện cam kết giải quyết chúng. Về khía cạnh này, Chính phủ hiện đang thực hiện một số chính sách nhằm ổn định nền kinh tế. Chính phủ cũng đã phối hợp với các bên liên quan (bao gồm cả Quốc Hội, các đối tác phát triển và xã hội dân sự) nhằm xây dựng Chiến lược Phát triển Kinh tế Xã hội giai đoạn 2011 – 2020 và Kế hoạch Phát triển Kinh tế Xã hội 5 năm 2011 – 2015. Các chính sách này xứng đáng nhận được sự ủng hộ của các đối tác phát triển quốc gia.
Trong báo cáo UPR của mình, Chính phủ Việt Nam cũng đã nhấn mạnh rằng con người là trung tâm của các chiến lược phát triển quốc gia. Theo mô hình phát triển con người của Việt Nam, phát triển chỉ thực sự có ý nghĩa khi mà nó thực sự phục vụ từng con người, và được họ làm chủ. Tôi hoàn toàn ủng hộ cách tiếp cận này.
Tuy nhiên, để đảm bảo được cách tiếp cận này, các chương trình và chính sách kinh tế xã hội quốc gia cần thấm nhuần các nguyên tắc nhân quyền, trong đó đặt cao sự tham gia của người dân, tính minh bạch và chịu trách nhiệm. Các nguyên tắc này (sự tham gia của người dân, tính minh bạch và chịu trách nhiệm) là các cấu phần chính của bất kỳ một chiến lược phát triển bền vững nào. Cách tiếp cận nhân quyền hướng dẫn quá trình thiết kế, thực hiện và đánh giá các chương trình và dự án kinh tế xã hội không chỉ nâng cao tính hiệu quả và bền vững của các chiến lược phát triển của Chính phủ mà còn góp phần đảm bảo tính bền vững của các mục tiêu.
Người dân Việt Nam không những là những đối tượng hưởng lợi chính của các chương trình phát triển kinh tế xã hội mà còn là những đối tượng liên quan quan trọng nhất trong sự phát triển của quốc gia. Do vậy, cần nỗ lực hết sức để tăng cường sự tham gia toàn diện của người dân trong quá trình thiết kế, thực hiện và đánh giá các chương trình và chính sách phát triển.
Trong bối cảnh đó và nhằm tăng cường hiệu quả của các chiến lược Phát triển Kinh tế Xã hội, Chính phủ Việt Nam cần xem xét thông qua một Kế hoạch Hành động về Quyền Con người theo như Tuyên bố Viên và Chương trình Hành động Viên.
Chúng ta cần hết sức lưu ý rằng mặc dù giảm nghèo là nền tảng quan trọng vững chắc cho việc thúc đẩy và bảo vệ quyền con người, bản thân nó sẽ không đảm bảo việc thực hiện quyền con người. Do vậy, các chính sách và chương trình quốc gia, bao gồm cả các chương trình về giảm nghèo và bảo trợ xã hội, cần phải tuân thủ đầy đủ các nguyên tắc nhân quyền được quy định trong Hiến Pháp và các Công ước Nhân quyền mà Việt Nam đã phê chuẩn.
Được biết, Hiến Pháp Việt Nam cũng đã quy định đảm bảo các quyền con người và Việt Nam cũng đã phê chuẩn một số các công cụ quốc tế về nhân quyền và các Công ước của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO). Tôi hoan nghênh cam kết của Chính phủ Việt Nam nhằm phê chuẩn Công ước về Quyền của Người Khuyết Tật và kí kết Công ước chống Tra tấn, và các hành động, hình phạt Tàn ác, Vô tính người hay làm nhục con người. Các công cụ quốc tế này ràng buộc các Quốc gia thành viên phải tiến hành các biện pháp tư pháp và nhiều biện pháp khác, bao gồm cả việc thành lập các thể chế nhân quyền, nhằm tạo điều kiện thực hiện các điều khoản của chúng. Về khía cạnh này, tôi ghi nhận rằng đã có các cuộc thảo luận liên quan tới việc thành lập các thể chế nhân quyền quốc gia tuân thủ các Nguyên tắc về Tình trạng của các Thể chế Quốc gia liên quan tới thúc đẩy và bảo vệ quyền con người (các Nguyên tắc Pa-ri). Tôi tin tưởng rằng một thể chế ở cấp quốc gia như vậy sẽ góp phần quan trọng bổ trợ cho các nỗ lực của Chính phủ nhằm cải thiện đời sống xã hội của người dân.
Liên quan tới tính bền vững của nợ nước ngoài của Việt Nam và tác động của nó lên các MDGs, tôi muốn lưu ý hai vấn đề quan trọng cần sớm được giải quyết: đó là vấn đề thâm hụt ngân sách và thâm hụt thương mại. Thêm vào đó, các rào cản tiếp cận thông tin cũng cần phải được giải quyết. Nhằm nâng cao tính minh bạch và chịu trách nhiệm trong quản lí và sử dụng các nguồn tài chính công, Chính phủ cần đảm bảo sự sẵn có một cách kịp thời của các thông tin chính xác liên quan tới nợ và ODA. Các biện pháp này sẽ góp phần quan trọng cho nỗ lực phát triển của Chính phủ.
Như đã nêu ở trên, đây chỉ là các nhận xét và khuyến nghị ban đầu, tôi sẽ còn tiếp tục phát triển và khảo sát thêm chi tiết cho báo cáo cuối cùng và tham khảo ý kiến với Chính phủ trong quá trình đối thoại về vấn đề quan trọng này.
Xin cảm ơn.
—————————————————————————————————-
Ông Lumina là một luật sư người Zambia, có bằng Tiến sỹ về Luật quốc tế/Nhân quyền. Năm 2008, Ông được Hội đồng Nhân quyền chỉ định làm Chuyên gia Độc lập tìm hiểu về tác động của nợ nước ngoài và nghĩa vụ tài chính quốc tế liên quan của nhà nước đối với việc thụ hưởng nhân quyền trọn vẹn, đặc biệt là quyền văn hóa, xã hội và kinh tế. Ông hoạt động độc lập với các chính phủ, tổ chức và phục vụ với tư cách cá nhân. Nhiệm vụ của chuyên gia độc lập là giống nhau ở tất cả các nước.
Để hiểu thêm về nhiệm vụ của chuyên gia độc lập, xin mời truy cập:
http://www2.ohchr.org/english/issues/development/debt/index.htm

http://www.viet-studies.info/kinhte/BaoCaoTacDongNoNuocNgoai.htm

Advertisements

Gửi bình luận »

Không có bình luận

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: