Hoàngquang’s Blog

12/04/2011

Việt Nam: khủng hoảng vì hồ hởi

Filed under: Kinh tế — hoangquang @ 2:37 chiều
Tags: ,

Vũ Hoàng và Nguyễn Xuân Nghĩa, RFA
& Thử “Giải phẫu” 3.500 tỷ của Petro Vietnam “không rõ ràng” ở đâu? Mai Huy
Đăng bởi bvnpost on 12/04/2011

Trong ba tháng đầu năm nay, Việt Nam như bị chấn động bởi hàng loạt vấn đề dồn dập:

Tỷ lệ lạm phát tại Việt Nam từ tháng 12-2010 đến tháng 3-2011. RFA PHOTO

Lạm phát lại hoành hành như ba năm về trước trong khi khiếm hụt cán cân thương mại bào mỏng số dự trữ ngoại tệ và cách đối phó của chính quyền gây phản ứng hốt hoảng trên thị trường vàng và đô la. Mới chỉ bốn năm trước thôi, sau khi gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới, Việt Nam đã là nguồn kỳ vọng cho giới đầu tư nước ngoài. Ngày nay, xứ này đang là quốc gia có vấn đề. Vì sao lại như vậy? Diễn đàn Kinh tế tìm hiểu nguyên nhân và hậu quả qua cuộc trao đổi sau đây do Vũ Hoàng thực hiện với nhà tư vấn kinh tế Nguyễn Xuân Nghĩa.

Vượt tầm kiểm soát?
Vũ Hoàng: Xin kính chào ông Nghĩa. Thưa ông, Chính quyền Việt Nam lại vừa ban hành một số biện pháp kinh tế mới như tăng lãi suất tái tài trợ, nâng mức lương tối thiểu, giảm giá đồng bạc. Những biện pháp trên nối tiếp hàng loạt quyết định nhằm ổn định tình hình vật giá đã như bung ra khỏi khả năng kiểm soát của chính quyền. Kỳ này, Diễn đàn Kinh tế xin đề nghị ông phân tích cho nguyên nhân của tình trạng bất thường này sau khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới năm 2007 và vượt qua được nạn Tổng suy trầm Toàn cầu trong các năm 2008-2009.

Lý do quan trọng nhất khả dĩ giải thích trường hợp này thì có lẽ đó là sự lạc quan thiếu cơ sở của Chính phủ do sự am hiểu chưa tường tận về quy luật kinh tế.
Ô. Nguyễn Xuân Nghĩa

Nguyễn Xuân Nghĩa: – Nếu có một lý do quan trọng nhất khả dĩ giải thích trường hợp này thì có lẽ đó là sự lạc quan thiếu cơ sở của Chính phủ do sự am hiểu chưa tường tận về quy luật kinh tế và lại ít chú trọng đến phẩm chất cuộc sống của người dân. Câu chuyện này khá dài nên tôi xin đi từng bước giải thích.
– Trước tiên, lãnh đạo Việt Nam là những người đa nghi và chưa am hiểu quy luật kinh tế. Họ thảo luận rất căng vì nhiều chuyện không đáng và ngần ngại ký kết một số thỏa thuận với bên ngoài, như Hiệp định Thương mại Song phương với Hoa Kỳ năm 2000 hoặc thỏa ước gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới năm 2006. Lồng trong sự thiếu hiểu biết đó là một phản ứng khác cũng đáng nói không kém là “đầu cơ kiến thức”. Tức là không chia sẻ thông tin một cách rộng rãi cho mọi người về những luật chơi mới trong nền kinh tế thị trường. Trong khi ấy, và đây là yếu tố thứ ba, Chính quyền lại thích tuyên truyền cho nên khi có những thay đổi về quy luật ứng xử về kinh tế thì lại coi đó là thành tích và chỉ nói đến những mặt tích cực mà không cảnh báo về loại vấn đề mà kinh tế quốc dân có thể gặp. Từ sông hồ con con khi ra tới biển lớn thì mình sẽ gặp những thách đố mới và lớn lao hơn. Hậu quả của ba đặc tính đa nghi, giấu diếm vì tư lợi và tuyên truyền về chính trị là quốc gia không được chuẩn bị cho một trò chơi lớn sau khi Việt Nam là thành viên của Tổ chức WTO. Khi ấy, người ta chỉ lạc quan hồ hởi và không nhìn xa.
Vũ Hoàng: Như vậy, ông trở lại nguyên ủy sâu xa của vấn đề ngày nay từ việc Việt Nam gia nhập Tổ chức WTO từ gần năm năm về trước?
Nguyễn Xuân Nghĩa: – Thưa vâng vì một vụ khủng hoảng như hiện nay có những nguyên nhân sâu xa chứ không thể xảy ra bất ngờ đâu. Lãnh đạo giỏi là người phải biết tiên liệu là trường hợp không có tại Việt Nam. Mà làm sai lại không bị kỷ luật là trường hợp chỉ có tại Việt Nam. Tôi xin được giải thích tiếp.
– Sau khi Việt Nam gia nhập Tổ chức WTO thì đến lượt giới đầu tư quốc tế cũng lạc quan hồ hởi vì triển vọng phát triển của xứ này. Kết quả là trong không khí phấn khởi chung, nguồn tư bản trút vào Việt Nam đã tăng ào ạt và thực tế là tăng quá sức hấp thụ của một nền kinh tế dù sao vẫn có cơ chế èo uột và một hệ thống quản lý kinh tế rất thô sơ.

Tiền đồng Việt Nam và tiền đô la Mỹ. AFP PHOTO

– Chúng ta nhìn thấy việc đó qua cách ứng xử của Việt Nam với một nguồn tiền bỗng dưng tràn ngập trong nhiều dự án đầu tư mà ít ai thẩm định giá trị kinh tế. Nếu Việt Nam có kinh nghiệm thì có thể đã thấy tái diễn hiện tượng tôi gọi là sự hồ hởi Đông Á 10 năm về trước, trước khi có vụ khủng hoảng 1997-1998. Khi vụ khủng hoảng ấy xảy ra trong các lân bang, Việt Nam không bị hiệu ứng trực tiếp và nặng nề vì chưa hội nhập với thế giới bên ngoài và lãnh đạo lại chẳng hiểu như vậy mà cứ tưởng rằng mình khôn. Vì vậy, nên 10 năm sau không chuẩn bị ứng phó với nguồn tiền quá nhiều quá rẻ tràn vào như đã tràn vào Thái Lan, Malaysia hay Phi Luật Tân trước đó.
Nguy cơ khủng hoảng?
Vũ Hoàng: Theo như ông phân tích thì Việt Nam có gặp lại bài toán của các nước Đông Á 10 năm về trước khi tư bản nhập nội đã đột ngột trút vào nền kinh tế?
Nguyễn Xuân Nghĩa: – Thưa đúng như vậy về hai mặt tâm lý và quản lý. Nhưng không hẳn là vì vậy mà Việt Nam sẽ lại bị khủng hoảng y hệt như các nước lân bang Đông Á kia, mà có thể lại gặp chuyện khác. Tôi xin giải thích tiếp trước khi mình nói đến những chuyện khác đó là gì.

Việt Nam gặp hai yêu cầu trái ngược là vừa kềm hãm lạm phát vừa đạt tốc độ tăng trưởng cao mà tăng trưởng lại là ưu tiên của lãnh đạo.
Ô. Nguyễn Xuân Nghĩa

– Khi đầu tư nước ngoài tràn vào kể từ năm 2007 tới cao điểm là 2009, và lên tới 10% của tổng sản lượng nội địa GDP, lãnh đạo Việt Nam thực tin vào sự tuyên truyền của chính mình mà không nhìn ra vấn đề. Vì tin như vậy nên cũng hồ hởi chạy theo trào lưu lạc quan của thiên hạ mà bơm tín dụng vào kinh tế với mục tiêu là đạt mức tăng trưởng rồng cọp. Cùng với đầu tư nước ngoài, lượng tín dụng đó dẫn tới hiện tượng gọi là nóng máy kinh tế, tức là gây nguy cơ lạm phát. Yếu kém về khả năng quản lý khiến Việt Nam khó đối phó với nạn lạm phát tiền tệ do tự mình gây ra. Huống hồ là trong năm 2008, Việt Nam còn lãnh thêm áp lực lạm phát ngoại nhập là giá thương phẩm và lương thực đều tăng. Vì vậy, Việt Nam gặp hai yêu cầu trái ngược là vừa kềm hãm lạm phát vừa đạt tốc độ tăng trưởng cao mà tăng trưởng lại là ưu tiên của lãnh đạo.
– Thế rồi, vào đúng lúc đó, thế giới lại bị nạn Tổng suy trầm 2008-2009 và ưu tiên là tăng trưởng khiến Việt Nam lại áp dụng bài bản Trung Quốc là bơm tiền vào kinh tế để kích thích sản xuất. Nhưng lại còn hơn Trung Quốc là với số lượng kích cầu cao gần gấp rưỡi so với Tổng sản lượng, bằng 22% GDP! Người thiếu kinh nghiệm cứ thường hay quá khích như vậy…
Vũ Hoàng: Như vậy, trên đại thể thì ta có thể hiểu ra vì sao Việt Nam đang bị nguy cơ lạm phát cao nhất các nước trong khu vực. Nhưng vì sao cùng lúc đó Việt Nam lại bị khủng hoảng về ngoại hối, hoặc vì sao Việt Nam lại bị nhập siêu đến nỗi dự trữ ngoại tệ cứ hao hụt dần?
Nguyễn Xuân Nghĩa: – Sau khi phân tích nguyên nhân từ tâm lý đến chính sách của vụ khủng hoảng hiện tại, ta mới nhìn vào sự non yếu của cơ chế kinh tế, cũng xuất phát từ chính sách.
– Nguồn tín dụng bơm ra để kích cầu đã tạo ra một sức hút đáng kể về nhập khẩu trong khi xuất khẩu không tăng cùng nhịp độ, vì vậy mới có nạn nhập siêu là nhập nhiều hơn xuất. Nhưng, trong cơ chế kinh tế bất thường của xứ này có một khu vực gọi là chủ lực lại giữ ví trí chuyển lực như sợi dây curoa trong một bộ máy, là các doanh nghiệp nhà nước. Chính doanh nghiệp nhà nước thu hút nhiều tài nguyên nhất và thay vì trút vào các dự án sản xuất lại dồn qua thị trường đầu cơ tài chính và bất động sản. Một thí dụ điển hình mà không duy nhất là việc Tập đoàn Vinashin đã hút tiền và đẩy qua những ngành không thuộc diện sản xuất chủ yếu của mình.

– Sự non yếu thứ hai, cũng thuộc về chính sách, là người ta không chỉ nhập khẩu để chế biến và tái xuất khẩu mà còn nhập nhẩu nhiều hơn nhu cầu chế biến đó. Thí dụ ai cũng nghĩ ra là khi Việt Nam mua vào các linh kiện điện tử để ráp chế và bán ra ngoài, vậy mà số mua lại cao hơn số bán tới 40% nên gây ra nạn nhập siêu rất lớn. Trung bình mỗi tháng Việt Nam bị nhập siêu mất khoảng một tỷ đô la. Trong hiện tượng nhập cảng thả giàn này ta còn thấy ra việc mua vào rất nhiều loại xa xỉ phẩm đắt tiền mà chỉ một thiểu số có tiền và có quyền mới có thể hưởng.
Vũ Hoàng: Xin hỏi ông ngay một câu rất nóng hổi của thời sự. Trong mấy năm đầy biến động như vậy vì sao nhiều doanh nghiệp Việt Nam lại xuất khẩu vàng qua Thụy Sĩ lên tới mấy tỷ đô la dưới dạng vàng trang sức để họ đúc thành vàng thỏi?
Nguyễn Xuân Nghĩa: – Tôi nghĩ là do nhiều lỗ hổng trong cơ chế kinh tế quá thô thiển. Nếu xuất khẩu vàng dưới diện trang sức lại được miễn thuế so với 10% thuế suất đánh trên vàng thoi thì nhiều doanh nghiệp có thể kéo vàng thành dây rất thô sơ để bán ra dưới dạng vàng trang sức cho bên kia mua vào và đúc lại thành vàng thoi! Nhà nước thì coi đó là thành tích xuất khẩu được gần ba tỷ đô la nữ trang! Đơn giản như vậy thôi mà cũng giúp nhiều người thu vào mấy trăm triệu một năm, cho tới khi nhà nước biết ra thì quá trễ! Sự non yếu của nhà nước có thể thấy ra từ thí dụ kỳ lạ như vậy, cho tới khi phải đột ngột ra lệnh cấm luôn cả việc buôn bán vàng thoi!

Kịch bản đáng sợ
Vũ Hoàng: Trở lại chuyện tương lai, chính quyền Việt Nam đang ráo riết đối phó với nguy cơ lạm phát, liệu việc đó có thành hay không?
Nguyễn Xuân Nghĩa: – Sau hàng loạt biện pháp vừa qua, tôi chưa tin rằng ưu tiên sẽ là ổn định vật giá mà vẫn là đẩy mạnh tăng trưởng. Đây là một kịch bản rất đáng sợ.
– Thứ nhất, Việt Nam có ban hành nhiều biện pháp kềm hãm tín dụng qua các loại lãi suất và dự trữ pháp định, nhưng tới 45% tài sản của hệ thống ngân hàng vẫn nằm trong tay các ngân hàng của nhà nước và vì các ngân hàng này bị chi phối bởi chính sách nhà nước thì biện pháp tiền tệ như tại các xứ khác vẫn không có hiệu quả. Song song cùng các khí cụ đòn bẩy như lãi suất, Việt Nam vẫn phải điều tiết ngân hàng bằng thông tư hành chính, với hiệu quả rất thấp.

Sau hàng loạt biện pháp vừa qua, tôi chưa tin rằng ưu tiên sẽ là ổn định vật giá mà vẫn là đẩy mạnh tăng trưởng. Đây là một kịch bản rất đáng sợ.
Ô. Nguyễn Xuân Nghĩa

– Việc thứ hai là yếu tố lạm phát ngoại nhập. Giá thương phẩm và nông sản đang tăng trên thế giới nên phần nào có lợi cho nông gia và giới xuất khẩu nông sản như gạo, cao su, cà phê, hạt điều nhưng lại gây khó khăn cho nhiều ngành sản xuất khác. Ngân sách Việt Nam không thể tiếp tục trợ giá năng lượng như điện và xăng dầu nên phải cho tăng giá và sẽ còn tăng nữa.
– Chuyện thứ ba là Việt Nam đã và sẽ còn phải phá giá đồng bạc so với đô la Mỹ, vốn dĩ xuống giá khắp nơi trừ tại Việt Nam. Khi phá giá như vậy, ngành du lịch có thể kiếm lợi và vì vậy lại hút thêm đầu tư nước ngoài vào khách sạn và đẩy tiếp nạn bong bóng địa ốc trong khi các ngành khác đều bị điêu đứng vì phá giá cũng gây ra lạm phát. Một trong những nơi bị chấn động nặng nhất chính là thị trường chứng khoán của Việt Nam. Tôi nghĩ rằng chỉ số VN-Index ở trong Nam sẽ rớt xuống “thực giá” của nó là giữa 350 đến 450 điểm, và tác động thực tế thì không nhiều nhưng về tâm lý lại lớn hơn và càng dễ gây ra phản ứng hốt hoảng. Tức là sau mấy năm lạc quan hồ hởi, người ta sẽ lại bi quan hốt hoảng, là điều cực bất lợi cho kinh tế và là một thách đố lớn về chính sách.
Vũ Hoàng: Như vậy, liệu Việt Nam có gặp một vụ khủng hoảng như các nước Đông Á thời 97-98 không?
Nguyễn Xuân Nghĩa: – Nhiều người lạc quan thì không tin vào kịch bản đó. Bản thân tôi thì không được như vậy mà không phải vì hiệu ứng của thiên tai vừa xảy ra tại Nhật Bản dù sao chưa gây tai hại cho Việt Nam như cho nhiều nước khác trong khu vực.
– Lý do thận trọng là người ta chưa thấy ra quyết tâm ổn định vật giá so với ưu tiên của chế độ vẫn là đạt mức tăng trưởng cao. Chúng ta có thấy điều ấy ở chi tiêu tăng trưởng là từ 7 đến 7,5% trong kế hoạch kinh tế năm năm.
– Thứ hai là ngay trong cách đối phó với nạn lạm phát, người ta vẫn thấy một sự bất nhất, thiếu phối hợp và nguy hiểm nhất là sự cám dỗ của giải pháp bao cấp năm xưa. Tức là trở lại chế độ kiểm soát giá cả và giao dịch như ta đã thấy trên thị trường vàng và đô la. Việc kiểm soát duy ý chí như vậy không công hiệu, gây ra tham nhũng buôn lậu và càng dội ngược vào bội chi ngân sách, sau cùng còn gây ra sức bật của thị trường, là làm cho lạm phát còn bùng nổ dữ dội hơn.
– Nói vắn tắt lại, người ta chỉ tin tưởng là Việt Nam đã trưởng thành khi cải tổ cái mấu chốt của cơ chế là hệ thống doanh nghiệp nhà nước bất lực và bất công và khi nhà nước chấn chỉnh được hệ thống chi tiêu và khả năng quản lý của mình. Trong khi chờ đợi thì nên lo nhiều hơn mừng.
Vũ Hoàng: Xin trân trọng cảm tạ ông Nghĩa đã dành cho đài Á châu Tự do cuộc phỏng vấn này.
V.H & N.X.N
Nguồn: rfa.org
http://boxitvn.wordpress.com/2011/04/12/vi%E1%BB%87t-nam-kh%E1%BB%A7ng-ho%E1%BA%A3ng-v-h%E1%BB%93-h%E1%BB%9Fi/#more-22336

________________
Thử “Giải phẫu” 3.500 tỷ của Petro Vietnam “không rõ ràng” ở đâu?
Đăng bởi bvnpost on 12/04/2011
Mai Huy

“Nếu áp dụng luật doanh nghiệp vào hình thức “Tập đoàn kinh tế nhà nước” thì theo lời Chủ tịch Petro Vietnam và trên thực tế, Tập đoàn này ngoài việc hoạt động theo Luật Doanh nghiệp còn phải tuân thủ Luật Dầu khí, đó là điều bình thường vì [Petro Vietnam] cũng là một doanh nghiệp, và hoạt động trong lĩnh vực nào thì chịu chi phối của luật ngành đó, nhưng theo [Petro Vietnam] thì còn có quy chế quản lý tài chính riêng theo nghị định của Chính phủ ban hành. Nhưng nếu Petro Vietnam không được hưởng đầy đủ những điều kiện của một doanh nghiệp bình thường thì theo đó sẽ cũng không có nghĩa vụ trách nhiệm đầy đủ bình thường đối với đồng vốn chăng? Câu hỏi này chỉ có thể được giải phẫu khi và chỉ khi xác định rõ trách nhiệm và nghĩa vụ của tập đoàn với đồng vốn kinh doanh. Như vậy xét về mặt thực tế thì tái đầu tư 3.500 tỷ cho hoạt động kinh doanh của Tập đoàn Dầu khí (Petro Vietnam) như hiện nay là đương nhiên vì nếu không thì sẽ phân bổ như thế nào khi không có chế tài trách nhiệm với hiệu quả kinh doanh của các tập đoàn “lỗ cũng như lãi” mà thôi?” – Mai Huy.
Những câu hỏi trên đặt ra thật chí lý vì việc dành cho Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (Petro Vietnam) một tài khoản khổng lồ 3.500 tỷ sau một năm làm ăn lẽ ra phải đưa về cho Nhà nước số tiền lãi bằng chừng ấy là điều không thể lý giải được, và bản thân việc đó là bằng chứng cho thấy sự tồn tại như hiện nay của các tập đoàn kinh tế nhà nước đối với sự nghiệp đẩy mạnh nền kinh tế nước nhà đi lên thật không có bao lăm thực chất. Song chúng tôi còn muốn lý giải sự việc vượt ra ngoài những điều ông Mai Huy đã đặt dấu hỏi. Chẳng hạn, chức năng của các tập đoàn kinh tế nhà nước xét từ yêu cầu thực tế-thực dụng nhất là gì? Là để cho Nhà nước chủ động nắm một nguồn mạch tài chính khi cần phải đối phó với một số đòi hỏi đặc thù nào đó của “cầu” mà Nhà nước không biết nắm ở nguồn nào cả – hãy cứ nhìn vào một việc nhỏ là các khoản chi cho những kiểu đại hội khác nhau, hoành tráng từ cấp trung ương đến tận cơ sở thì có thể ngầm hiểu. Tập đoàn kinh tế nhà nước đương nhiên phải chấp hành xuất ra cung ứng cho Nhà nước, nhưng xuất ra lúc này thì lại có quyền đòi lại lúc có thể đòi. Và đây là luật bất thành văn, nếu có chế tài cũng chắc gì đã xóa bỏ được. Lại chẳng hạn, Nhà nước khi giải thể Vinashin đã từng gán quá nhiều khoản nợ khổng lồ lưu cữu của Vinashin cho Tập đoàn Petro Vietnam mà Tập đoàn này đành phải è cổ gánh chịu, thì biết đâu đây cũng chính là món “lại quả” ngầm, như một cách Nhà nước gián tiếp bỏ tiền ra trả nợ cho Vinashin mà không mang tiếng đi ngược với những quy định cứng công khai không được phép làm. Ấy là cứ giả định thế chứ không nhất thiết giả định đó đã đúng. Dù sao, con số 3.500 tỷ đồng cũng làm tâm lý xã hội rơi vào một cơn choáng váng, có khả năng dẫn đến mất niềm tin – và phá vỡ các quy tắc vốn có – đối với cách quản lý tập đoàn kinh tế của Nhà nước như hiện nay. Giải đoán cách này cách khác trong dư luận nhân dân là điều không lấy gì làm ngạc nhiên, nhưng sẽ rất có ích để người cầm chịch tỉnh táo suy ngẫm, hoặc kịp thời điều chỉnh.
Nguyễn Huệ Chi

(Tamnhin.net) – Chừng nào chưa rõ ràng chừng ấy phải trả giá? Mọi mắc mớ không thể giải quyết được khi hiệu quả kinh doanh không được đánh giá và phân định rõ ràng, từ đó không có hướng giải quyết hay nói cách khác là không có lối thoát khi không biết ai là chủ khối tài sản của Tập đoàn kinh tế nhà nước.

Đã là kinh tế thị trường thì các doanh nghiệp phải kinh doanh mà khi kinh doanh thì mục tiêu là phải kiếm lời vì kinh doanh không tránh được quy luật giản dị là cần có vốn và lợi nhuận.
Khi phân tích kết quả của quá trình đầu tư kinh doanh của doanh nghiệp thì nếu có lợi nhuận ắt doanh nghiệp phát triển hoặc thua lỗ thì dẫn đến phá sản. Nhưng bài toán phân chia trách nhiệm về tài sản ở cả hai tình huống này của tập đoàn kinh tế nhà nước đang không có hoặc có mà không rõ ràng? Dẫn đến nhiều thắc mắc của nhân dân và làm giảm niềm tin của nhân dân từ nhiều cách giải quyết không hợp lý nhưng không có cách nào khác tốt hơn vì chưa có chế tài?
Mối liên kết giữa quyền và nghĩa vụ của kinh tế tập đoàn nhà nước đang rất mơ hồ và không theo quy luật phát triển kinh tế và cũng không theo quy luật kinh doanh nào cả mà ngay từ đầu nó được sinh ra đã có mầm mống của sự không rõ ràng về quyền sở hữu khối tài sản đó là ai? Trách nhiệm bảo tồn và phát triển khối tài sản này đang vô hướng?
Là Nhà nước ư vậy thì Nhà nước giao cho “Tập đoàn kinh tế nhà nước” họ quản lý và kinh doanh khối tài sản ấy thì họ có quyền lợi và trách nhiệm gì? Hay nói cách khác họ có quyền thay mặt Nhà nước định đoạt khối tài sản đó không? Nếu có thì chế tài như thế nào? Khi họ mang về lợi nhuận và ngược lại khi họ bị thua lỗ và phá sản?
Đã là kinh tế thị trường thì đồng vốn thả vào kinh doanh bắt buộc phải kiếm lời nếu không có lợi nhuận thì chắc chắn là thua lỗ và phá sản? Vậy ta định hướng giải quyết vấn đề hậu của kinh doanh này ra sao đối với mô hình tập đoàn kinh tế nhà nước mà làm sao giải quyết được khi không biết cái đầu vào là của ai thì cái đầu ra chắc cũng là “không ai cả”.
Vì vậy xét theo luật kinh doanh thì khoản tiền 3.500 tỷ đồng mà Chủ tịch Hội đồng thành viên Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (Petro Vietnam) Đinh La Thăng đã cho biết không phải là vốn ngân sách là đúng vì đấy là lợi nhuận của kết quả kinh danh mà Tập đoàn này đem lại của năm hoạch toán tài chính 2010 và tái đầu tư cho kế hoạch tài chính kinh doanh của Tập đoàn cho năm sau 2011. Điều đó là đương nhiên nếu như khi giao vốn cho tập đoàn kinh doanh mà Nhà nước không yêu cầu phải nộp về ngân sách Nhà nước khoản lãi suất nhất định theo quy chế thể chế tài chính hoặc là yêu cầu Tập đoàn phải nộp bao nhiêu phần trăm lợi nhuận về ngân sách Nhà nước.
Nhưng nếu xét về quyền sở hữu tài sản thì khoản tiền 3.500 tỷ tái đầu tư cho Tập đoàn năm 2011 đó là của Nhà nước vì Tập đoàn kinh doanh bằng vốn của Nhà nước?
Vậy thì rất bất công. Xét về mặt khách quan thì vấn đề hiệu quả trong kinh doanh của tập đoàn kinh tế nhà nước mà Nhà nước sở hữu 100% vốn thì lãi Nhà nước hưởng lỗ Nhà nước chịu còn tâp đoàn sẽ không có trách nhiệm gì khi thua lỗ mà cũng chẳng có quyền lợi gì khi phát triển và có lợi nhuận?
Điển hình là vụ Vinashin thua lỗ đến 86.000.tỷ đồng nhưng biết quy trách nhiệm về tài sản cho ai trong Tập đoàn mà chỉ quy trách nhiệm về thiếu tinh thần trách nhiệm trong quản lý mà thôi.
Do vậy việc 3.500 tỷ mà Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (Petro Vietnam) được tái cấp vốn năm 2011 là đương nhiên và có thể nói không phải chỉ có [Petro Vietnam] mà các tập đoàn kinh tế nhà nước khác nếu kinh doanh có lợi nhuận chắc chắn cũng sẽ được hưởng như vây? Nếu như không có quy định bắt buộc về tài chính khi giao vốn và trách nhiệm về tài chính đến cùng với hiệu quả kinh doanh đối với tập đoàn nói chung và với cá nhân, tập thể sử dụng nguồn vốn Nhà nước.
Nếu áp dụng luật doanh nghiệp vào hình thức “Tập đoàn kinh tế nhà nước” thì theo lời Chủ tịch Petro Vietnam và trên thực tế, Tập đoàn này ngoài việc hoạt động theo Luật Doanh nghiệp còn phải tuân thủ Luật Dầu khí, đó là điều bình thường vì [Petro Vietnam] cũng là một doanh nghiệp, và hoạt động trong lĩnh vực nào thì chịu chi phối của luật ngành đó, nhưng theo [Petro Vietnam] thì còn có quy chế quản lý tài chính riêng theo nghị định của Chính phủ ban hành. Nhưng nếu Petro Vietnam không được hưởng đầy đủ những điều kiện của một doanh nghiệp bình thường thì theo đó sẽ cũng không có nghĩa vụ trách nhiệm đầy đủ bình thường đối với đồng vốn chăng? Câu hỏi này chỉ có thể được giải phẫu khi và chỉ khi xác định rõ trách nhiệm và nghĩa vụ của tập đoàn với đồng vốn kinh doanh. Như vậy xét về mặt thực tế thì tái đầu tư 3.500 tỷ cho hoạt động kinh doanh của Tập đoàn Dầu khí (Petro Vietnam) như hiện nay là đương nhiên vì nếu không thì sẽ phân bổ như thế nào khi không có chế tài trách nhiệm với hiệu quả kinh doanh của các tập đoàn “lỗ cũng như lãi” mà thôi?.
Vì vậy để giải quyết tận gốc bài toán kinh doanh là xác định nguồn vốn và hiệu quả của việc sử dụng nguồn vốn, tức cần xác định rõ ràng quyền lợi và nghĩa vụ của tập thể và cá nhân về tài sản trong mô hình kinh tế tập đoàn.
Giao cho tập đoàn nguồn vốn nếu tập đoàn đầu tư kinh doanh có lãi thì được hưởng là bao nhiêu? Khoản bắt buộc khi giao nguồn vốn Nhà nước đầu tiên phải tính đến trả được gốc và lãi là bao nhiêu, còn lợi nhuận thì tập đoàn được hưởng bao nhiêu %. Theo đó nếu tập đoàn kinh doanh thua lỗ thì trách nhiệm về tài chính phải chịu là bao nhiêu % số lỗ.
Nếu ta quy định được quyền và trách nhiệm của từng tập thể, cá nhân của tập đoàn kinh tế về trách nhiệm tài chính như vậy thì nhân dân, hay các đại biểu của dân không ai thắc mắc gì về việc tái cấp vốn hay việc Nhà nước phải ghánh chịu về tài chính hoàn toàn về việc thua lỗ của các tập đoàn mà Vinahsin là một ví dụ.
Như vậy xét về mặt lý thì nếu cách quản lý tài chính của Nhà nước với các tập đoàn kinh tế nhà nước như hiện nay thì vấn đề Chính phủ tái cấp vốn hay tái đầu tư 3.500 tỷ cho [Petro Vietnam] năm 2011 là đương nhiên mà vẫn làm như vậy vì có phương án nào khả quan và đúng đắn hơn đâu khi nguồn vốn đầu tư cho các tập đoàn chưa xác định trách nhiệm của hiệu quả kinh doanh.
“Chừng nào chưa rõ ràng, chừng ấy phải trả giá” đó là quy luật của kinh tế, đã là kinh doanh phải kiếm lời và “ăn cho” nhưng “buôn so” mới có hiệu quả khi kinh doanh.
M.H.
Nguồn:Tamnhin.net
http://boxitvn.wordpress.com/2011/04/12/th%C6%B0%CC%89-gia%CC%89i-ph%CC%83u-3-500-ty%CC%89-c%E1%BB%A7a-petro-vietnam-khng-ro%CC%83-ra%CC%80ng-%C6%A1%CC%89-du-2/#more-22337

Advertisements

Gửi bình luận »

Không có bình luận

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: