Hoàngquang’s Blog

04/03/2011

Hiến pháp Việt Nam cần được sửa đổi một cách căn bản

Filed under: Không phân loại — hoangquang @ 10:55 sáng
Tags:

Phỏng vấn ông Mai Thái Lĩnh về vấn đề sửa đổi hiến pháp và trưng cầu dân ý
Duy Ái – VOA Thứ Ba, 01 tháng 3 2011

“…một khi các quyền tự do căn bản chưa được thực thi, quyền tự do ứng cử – bầu cử còn bị hạn chế thì nhân dân sẽ không có được một Quốc hội thật sự đại diện cho mình, và như vậy sẽ không thể có được một Hiến pháp tốt. Trong hoàn cảnh đó, việc tiến hành “phúc quyết Hiến pháp” rất dễ trở thành một thứ hình thức dân chủ giả hiệu nhằm “hợp pháp hóa” và chỉ làm đẹp thêm cho một chế độ dân chủ phi-tự do (illiberal democracy).

Hình: Getty Images/iStockphoto

Trước và sau Đại hội XI của Đảng Cộng Sản Việt Nam có hai sự kiện đáng chú ý. Một mặt, ông Đinh Thế Huynh, người đã từng là Tổng biên tập báo Nhân Dân, nay là ủy viên Bộ chính trị phụ trách mảng tư tưởng – văn hóa, đã thay mặt giới lãnh đạo đương quyền tuyên bố rằng “Việt Nam không có nhu cầu đa nguyên đa đảng”. Mặt khác, báo chí trong nước đã đăng tải nhiều bài viết nói về vấn đề sửa đổi hiến pháp. Trong các bài viết này có hai bài được nhiều người chú ý bàn luận là bài trả lời phỏng vấn của cựu Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An về việc sửa hiến pháp và bài ” Từ phúc quyết Hiến pháp đến trưng cầu chính sách” của Tiến sĩ Nguyễn Sỹ Phương. Gần đây nhất, ngày 10-2-2011, Bộ trưởng Tư pháp Hà Hùng Cường tuyên bố: “Đây là thời điểm chín muồi để sửa đổi Hiến pháp 1992.”
Các nhà quan sát cho rằng việc bàn luận rộng rãi và cởi mở về việc nên sửa đổi hiến pháp như thế nào để người dân có thể thật sự là người làm chủ đất nước là một diễn tiến tích cực cho mục tiêu dân chủ hóa Việt Nam. Để tìm hiểu thêm về việc này, đài VOA đã tiếp xúc với ông Mai Thái Lĩnh, cựu Phó chủ tịch Hội đồng Nhân dân Thành phố Đà Lạt (1989-1994), và được ông cho biết một số ý kiến như sau.

Ông Mai Thái Lĩnh, cựu Phó chủ tịch Hội đồng Nhân dân Thành phố Đà Lạt (1989-1994)


VOA: Xin ông cho biết sơ qua về những hoạt động của nhà chức trách VN liên quan tới vấn đề sửa đổi bản hiến pháp 1992, và theo ông, đâu là nguyên do làm cho việc này trở thành một việc bức thiết?

Mai Thái Lĩnh: Trong một bài trả lời phỏng vấn gần đây, ông Nguyễn Văn An, người đã từng là ủy viên Bộ Chính trị ĐCSVN hai khóa (8 và 9), và là cựu Chủ tịch Quốc hội (2001-2006), đã phát biểu như sau: “Trước tiên tôi muốn nhấn mạnh rằng chúng ta đã sửa đổi Hiến pháp nhiều lần rồi mà vẫn chưa đạt yêu cầu. Nếu tính từ năm 1946 đến 1992 là 46 năm, ta đã sửa đổi lớn 3 lần vào các năm 1959, 1980 và 1992. Đó là chưa kể nhiều lần chúng ta sửa đổi nhỏ khác.” Ông nhận xét: “… tôi cho rằng các lần sửa đổi Hiến pháp sau này có một vài vấn đề cốt lõi lại xa rời hoặc lại không rõ ràng bằng Hiến pháp năm 1946 – Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.” (http://tuanvietnam.vietnamnet.vn/2010-06-24-cuu-chu-tich-quoc-hoi-ban-viec-sua-hien-phap)
Như vậy, có thể nói Đảng cộng sản Việt Nam đã làm ra tổng cộng 4 bản Hiến pháp, nhưng những bản hiến pháp về sau đều kém hơn bản Hiến pháp 1946, tức là bản Hiến pháp được hình thành vào lúc Mặt trận Việt Minh mới cướp được chính quyền nhưng quyền lực chính trị vẫn chưa hoàn toàn nằm trong tay Đảng cộng sản.
Nếu chỉ tính từ thời kỳ đổi mới kinh tế (1986), đến nay đã được 25 năm. Nhưng trong khi chủ trương đổi mới về mặt kinh tế, ngày càng gắn chặt với kinh tế thị trường thì về mặt ý thức hệ, Đảng vẫn không dám rời bỏ chủ nghĩa Mác – Lê-nin, và về chính trị vẫn khư khư ôm lấy độc quyền chính trị. Sự khập khiễng, lệch pha giữa kinh tế và chính trị – tư tưởng khiến cho hệ thống chính trị và hệ tư tưởng của Đảng CSVN đã và đang trở thành vật cản đối với nhu cầu bảo vệ Tổ quốc và phát triển đất nước theo hướng bền vững.
Chính vì vậy mà yêu cầu sửa đổi Hiến pháp trở thành một trong những vấn đề bức thiết. Mặc dù các thành phần bảo thủ trong Đảng chỉ có ý định sửa đổi một số điều trong bản Hiến pháp 1992 theo kiểu “giật gấu vá vai”, rất nhiều đảng viên và trí thức – kể cả những người đã từng giữ cương vị lãnh đạo như ông Nguyễn Văn An, đều cảm thấy không thể dừng lại ở đấy mà phải tiến hành sửa chữa những vấn đề mấu chốt liên quan đến thể chế chính trị.
VOA: Với tư cách là một người tranh đấu cho dân chủ VN, ông nghĩ gì về những ý kiến của hai ông Nguyễn Văn An và Nguyễn Sỹ Phương, trong đó có những đề xuất mà một số người cho là sẽ góp phần đáng kể để thúc đẩy tiến trình dân chủ hóa, nếu được thực hiện?
Mai Thái Lĩnh: Những ý kiến của ông Nguyễn Văn An thông qua một số bài trả lời phỏng vấn có ý nghĩa tích cực ở chỗ đã nêu lên một sự thật: Hiến pháp phải được sửa đổi một cách căn bản chứ không thể chỉ sửa đổi một cách lặt vặt hay chỉ dừng lại ở một số chi tiết nhỏ nhặt. Và để có thể sửa đổi Hiến pháp cho phù hợp với yêu cầu của tình hình mới, cần phải để cho nhân dân – nhất là giới trí thức, được đóng góp ý kiến vào việc sửa đổi Hiến pháp, chứ không thể coi đó chỉ là công việc riêng của một số chuyên gia và các nhà lãnh đạo Đảng.
Đặc biệt đáng lưu ý là ý kiến của ông Nguyễn Văn An khi ông cho rằng đây là lỗi hệ thống. Mặc dù ông An đã tìm cách diễn đạt một cách khéo léo để cho vừa với cái khuôn của tư duy chính thống, người đọc cũng dễ dàng hiểu được: nói “lỗi hệ thống” có nghĩa là những khuyết, nhược điểm đó thuộc về bản chất của chế độ cộng sản chứ không chỉ là những “bệnh ngoài da”, những hiện tượng nhất thời.
Ông An cũng đặc biệt nhấn mạnh đến quyền lập hiến của nhân dân. Nói cách khác, Hiến pháp phải thể hiện ý chí của người dân chứ không phải chỉ thể hiện ý chí của một thiểu số đang nắm quyền.
Trong số những trí thức ủng hộ tích cực đề xuất của ông Nguyễn Văn An, đáng chú ý là những ý kiến của Tiến sĩ Nguyễn Sỹ Phương ở Cộng hòa Liên bang Đức. Tuy nhiên, nếu lùi lại một chút về mặt thời gian, chúng ta có thể thấy những ý kiến này xuất phát từ việc nghiên cứu và đánh giá lại bản Hiến pháp năm 1946 – thể hiện trong các bài viết của một số tác giả như Tiến sĩ Nguyễn Sĩ Dũng, Tiến sĩ Phạm Duy Nghĩa, v.v…đã phổ biến trên báo chí từ năm 2005 đến nay.
VOA: Theo ông, những ý tưởng của hai vị đó có những tương đồng, tương phản như thế nào với những ý kiến, mong muốn của giới tranh đấu cho nhân quyền và dân chủ VN?
Mai Thái Lĩnh: Tôi không có tham vọng phát biểu thay cho tất cả những người hiện đang đấu tranh cho tự do, dân chủ và nhân quyền ở trong nước cũng như ở ngoài nước. Ở đây tôi chỉ nêu ý kiến của cá nhân, và cũng có thể là của một số người gần gũi về mặt quan điểm:
Trước hết, ông Nguyễn Văn An – và cả Tiến sĩ Nguyễn Sỹ Phương, đã có một quan niệm chưa thật khoa học khi cho rằng “quyền lập hiến là của nhân dân, Quốc hội chỉ là cơ quan được ủy quyền, không thể làm thay hoàn toàn cho nhân dân”. Do lập luận như thế cho nên cả hai ông đều cho rằng sau khi được Quốc hội thông qua, dự luật sửa đổi Hiến pháp nhất thiết phải được đưa ra cho nhân dân phúc quyết. Thật ra, ý kiến này xuất phát từ bản Hiến pháp 1946, trong đó quy định mọi sự sửa đổi Hiến pháp đều phải được nhân dân “phúc quyết”, nghĩa là phải đưa ra “trưng cầu dân ý”.
Trong thực tế, nếu tìm hiểu các quốc gia có nền dân chủ thành thục, lâu đời, đáng cho chúng ta học tập, thì có nhiều cách khác nhau để sửa đổi Hiến pháp:
– Ở một số quốc gia, quy trình sửa đổi Hiến pháp thường chỉ giới hạn trong các cơ quan lập pháp. Như ở Hoa Kỳ, dự luật sửa đổi Hiến pháp phải được thông qua tại Thượng viện và Hạ viện với đa số tuyệt đối (2/3). Vì Hoa Kỳ là một nước liên bang cho nên sau khi thông qua tại hai viện của Quốc hội, dự luật sửa đổi Hiến pháp sẽ được đưa về các tiểu bang để thông qua. Nếu được đa số tiểu bang thông qua (quy định ở Hoa Kỳ là ba phần tư số tiểu bang, nghĩa là 38 bang) thì dự luật sửa đổi sẽ có hiệu lực. Có hai cách để thông qua tại tiểu bang: hoặc do cơ quan lập pháp của tiểu bang thông qua, hoặc thông qua tại các hội nghị phê chuẩn (ratifying conventions). Từ trước đến nay, chỉ có tu chính án số 21 (21st Amendment) được phê chuẩn bằng các hội nghị phê chuẩn cấp tiểu bang, còn tất cả tu chính án khác đều do các cơ quan lập pháp cấp tiểu bang phê chuẩn.
Ngay tại nước Đức là nơi mà Tiến sĩ Nguyễn Sỹ Phương nêu dẫn chứng, việc sửa đổi Hiến pháp cũng không cần phải trưng cầu dân ý. Ông Phương dẫn chứng điều 146. Nhưng điều 146 của Luật cơ bản (Basic Law – tên gọi của Hiến pháp Cộng hòa Liên bang Đức) chỉ nói rằng Hiến pháp hiện hành (tức Hiến pháp 1949 sửa đổi) “sẽ hết hiệu lực vào ngày ban hành một hiến pháp được nhân dân Đức thừa nhận bằng một quyết định hoàn toàn tự do.” Như vậy, điều 146 chỉ mở đường cho một bản Hiến pháp mới sẽ hình thành trong tương lai, và bản Hiến pháp mới có thể sẽ được nhân dân Đức “phúc quyết” bằng một cuộc trưng cầu dân ý. Cho đến nay, việc sửa đổi Hiến pháp ở Đức vẫn dựa theo điều 79 của Luật cơ bản, nghĩa là dự luật sửa đổi Hiến pháp chỉ cần thông qua tại Nghị viện Liên bang (Bundestag, Federal Diet) và tại Hội đồng Liên bang (Bundesrat, Federal Council). Sau khi đã được 2/3 số thành viên của Nghị viện Liên bang (tức Quốc hội Đức) biểu quyết tán thành và đạt được 2/3 số phiếu tại Hội đồng Liên bang, dự luật sửa đổi sẽ có hiệu lực. Để đề phòng việc thay đổi Hiến pháp theo hướng độc tài, điều 79 có quy định một số vấn đề quan trọng không được phép sửa đổi.
– Ở một số quốc gia khác (như Hà Lan và một số nước Bắc Âu) việc sửa đổi Hiến pháp phải đạt được hai đa số kế tiếp nhau (successive majorities), có nghĩa là dự luật sửa đổi phải được thông qua hai lần liên tiếp với nội dung giống nhau, và giữa hai lần thông qua này phải có một cuộc tổng tuyển cử. Nói cách khác, việc sửa đổi Hiến pháp phải được hai khóa Quốc hội khác nhau thông qua.
– Chỉ có một số nước quy định “tất cả các sửa đổi Hiến pháp đều phải đưa ra trưng cầu dân ý”, trong đó có thể kể: Thụy Sĩ, Úc, Đan Mạch, Nhật Bản, Hàn Quốc (Nam Hàn), v.v… Ngay cả ở Pháp, mặc dù theo quy định dự luật sửa đổi phải đưa ra trưng cầu dân ý, nhưng Tổng thống vẫn có thể đưa dự luật ra cho hai viện của Nghị viện (Parlement) thông qua, dưới hình thức “đại hội” (congrès, tức là Thượng viện và Hạ viện họp chung), không cần phải tổ chức trưng cầu dân ý. Trong trường hợp này, dự luật sửa đổi phải đạt được đa số 3/5.
Tóm lại, không phải Hiến pháp của nước nào cũng buộc phải trưng cầu dân ý mỗi khi sửa đổi Hiến pháp. Trong thực tế, nhiều quốc gia không áp dụng phương thức trưng cầu dân ý vẫn bảo đảm được tính chất dân chủ của Hiến pháp, không để xảy ra hiện tượng Quốc hội hay một thế lực chính trị nào khác lạm dụng quyền lập hiến.
Như vậy, việc lạm dụng quyền lập hiến không bắt nguồn từ nguyên nhân nhân dân không được quyền phúc quyết Hiến pháp mà do những nguyên nhân khác.
VOA: Theo ông, quyền lập hiến ở Việt Nam có bị lạm dụng không?
Mai Thái Lĩnh: Quyền lập hiến của nhân dân Việt Nam đã bị lạm dụng, và theo tôi, tình trạng này phát sinh từ hai nguyên do:
(a) Quốc hội ở nước ta từ trước đến nay chưa thật sự là Quốc hội của dân mà chỉ là Quốc hội của Đảng, nói một cách chính xác là Quốc hội do Đảng lựa chọn. Do chỗ nhân dân chưa có quyền tự do để có thể tự ứng cử và bầu ra Quốc hội đại diện cho quyền lợi chính đáng của mình, nếu chỉ đổ lỗi cho “Quốc hội” một cách chung chung thì điều đó đồng nghĩa với việc chối bỏ trách nhiệm của Đảng cộng sản Việt Nam, đồng thời dễ gây ra sự ngộ nhận cho rằng lỗi hoàn toàn thuộc về phía nhân dân, trong khi nhân dân mới chính là người bị hại.
(b) Quốc hội của nước ta từ trước đến nay đều hoạt động dưới sự chỉ huy của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Ủy ban Thường vụ Quốc hội đáng lẽ chỉ làm công việc điều hành các hoạt động của Quốc hội nhằm bảo đảm và phát huy quyền và trách nhiệm của tất cả các đại biểu một cách bình đẳng, lại thay mặt cho Quốc hội để quyết định rất nhiều việc trọng đại. Có thể nói Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã tước đoạt quyền của tất cả các đại biểu. Cho nên nếu nói đến trách nhiệm lạm dụng quyền lập hiến của nhân dân thì chính các Ủy ban Thường vụ Quốc hội trong các khóa phải chịu trách nhiệm, chứ không phải toàn thể Quốc hội.
Ở các quốc gia dân chủ, Quốc hội không thể tước đoạt quyền lập hiến của nhân dân, bởi lẽ nếu Quốc hội khóa này làm sai thì nhân dân sẽ có cơ hội bầu ra một Quốc hội mới và Quốc hội khóa sau sẽ sửa chữa sai lầm của Quốc hội khóa trước. Ở nước ta, nhân dân không được quyền chọn Quốc hội, do đó cũng không có quyền thay thế Quốc hội, vì vậy sai lầm tiếp tục đẻ ra sai lầm, làm nảy sinh tình trạng lạm dụng quyền lập hiến hay tước bỏ quyền lập hiến của nhân dân.
VOA: Trong bài viết đăng trên trang Bauxite Việt Nam hồi tháng 9 năm ngoái, ông Nguyễn Sỹ Phương nói: “ Phúc quyết chính là dân chủ trực tiếp, hình thức cao nhất của dân chủ; áp dụng đối với Hiến pháp là bước đi đầu tiên khẳng định nguyên lý đó.” (http://boxitvn.blogspot.com/2010/09/tu-phuc-quyet-hien-phap-en-trung-cau.html). Ông nghĩ sao về nhận định này?
Mai Thái Lĩnh: Điều này thật ra chỉ đúng về phương diện lý thuyết. Trong thực tế, các hình thức dân chủ trực tiếp chỉ có kết quả tốt trong hoàn cảnh các quyền căn bản của con người và của công dân được bảo đảm. Còn trong các chế độ độc tài hay dân chủ giả hiệu, khi mà những quyền cơ bản tối thiểu như quyền bày tỏ chính kiến hay quyền ra báo tư nhân vẫn còn bị ngăn cấm, đe dọa thì việc áp dụng các hình thức dân chủ trực tiếp (như trưng cầu dân ý) rất dễ trở thành những màn kịch nhằm che đậy bản chất phản dân chủ của chế độ.
Trong quá khứ, các nhà độc tài có tầm cỡ như Hitler và Mussolini đều là những bậc thầy trong việc sử dụng trưng cầu dân ý để thực hiện các ý đồ thâu tóm quyền lực. Vào năm 1934, sau khi Tổng thống Hindenburg mất, Hitler đã tổ chức một cuộc trưng cầu dân ý để sáp nhập hai chức vụ Tổng thống và Thủ tướng Đức. Trong cuộc trưng cầu dân ý này, 95% cử tri đã tham gia bỏ phiếu, dẫn đến kết quả gần 90% số phiếu biểu quyết tán thành, tạo điều kiện cho Hitler nắm trọn quyền lực chính trị.
Gần đây, tại Ai cập, mặc dù tất cả các sửa đổi Hiến pháp đều phải thông qua trưng cầu dân ý, Hosni Mubarak và đảng của ông ta vẫn có thể khống chế toàn bộ hệ thống chính trị. Kể từ khi Mubarak nắm quyền Tổng thống (năm 1981), ông ta đã tái trúng cử ba lần vào các năm 1987, 1993 và 1999, tất cả đều thông qua các cuộc trưng cầu dân ý mà ông ta là ứng cử viên duy nhất do Quốc hội giới thiệu. Do áp lực trong nước và quốc tế, vào tháng 2 năm 2005, Mubarak đã yêu cầu Quốc hội sửa đổi điều 76 để cho phép bầu cử Tổng thống với nhiều ứng cử viên, nhưng nhiều điều kiện khắt khe đã được đặt ra để gây khó khăn cho những ứng cử viên trong hay ngoài đảng cầm quyền. Điều khoản sửa đổi này vẫn được cử tri Ai cập “phúc quyết” vào tháng 5 và sau đó, trong kỳ bầu cử tổ chức vào đầu tháng 9 năm 2005, Mubarak lại thắng cử một nhiệm kỳ nữa. Điều đó cho thấy “quyền phúc quyết Hiến pháp” đứng đơn độc không thể giúp cho nhân dân Ai Cập trở thành người làm chủ, trong thực tế lại trở thành một hình thức hoa mỹ để phụ họa cho trò hề chính trị của nhà độc tài Mubarak.
Như vậy, trưng cầu dân ý chỉ có giá trị trong hoàn cảnh người dân có được các quyền tự do căn bản (tự do tư tưởng, tự do ngôn luận và báo chí, tự do hội họp và lập hội,…). Hơn thế nữa, trưng cầu dân ý còn gắn liền với quyền tự do ứng cử và bầu cử. Ở bất cứ nơi nào quyền tự do ứng cử và bầu cử bị hạn chế, trưng cầu dân ý cũng sẽ trở thành giả dối, không phản ánh đúng ý chí và nguyện vọng của nhân dân.
Tóm lại, theo tôi, sửa đổi Hiến pháp là một dịp rất tốt để nâng cao dân trí. Giới trí thức và tầng lớp thanh niên cần tham gia vào việc tìm hiểu, thảo luận, phê bình để hoàn chỉnh Hiến pháp. Thế nhưng, một khi các quyền tự do căn bản chưa được thực thi, quyền tự do ứng cử – bầu cử còn bị hạn chế thì nhân dân sẽ không có được một Quốc hội thật sự đại diện cho mình, và như vậy sẽ không thể có được một Hiến pháp tốt. Trong hoàn cảnh đó, việc tiến hành “phúc quyết Hiến pháp” rất dễ trở thành một thứ hình thức dân chủ giả hiệu nhằm “hợp pháp hóa” và chỉ làm đẹp thêm cho một chế độ dân chủ phi-tự do (illiberal democracy).
Nói một cách dễ hiểu hơn: một chế độc tài mà khéo che đậy hoàn toàn có khả năng đánh lừa nhân dân và giành thắng lợi trong một cuộc trưng cầu dân ý có bề ngoài rất dân chủ nhưng nội dung lại hoàn toàn phản dân chủ. Vì thế, chúng ta cần phải hết sức cảnh giác!
VOA: Chân thành cám ơn ông đã dành thời giờ cho chúng tôi thực hiện cuộc phỏng vấn này.

http://www.voanews.com/vietnamese/news/focus/hien-phap-viet-nam-can-duoc-sua-doi-1-cach-can-ban-03-01-11-117157143.html

__________________________________________________________________________________________

Những ngộ nhận về Hiến pháp
TS. Nguyễn Sĩ Phương



Quốc gia nào chẳng muốn Hiến pháp nước mình như huân chương đeo trước ngực lấp lánh thế giới, mang đẳng cấp tín nhiệm như thương hiệu của những hãng nổi tiếng toàn cầu, mãi mãi là nơi công dân đặt niềm tin công lý; nhưng chỉ có thể kỳ vọng, một khi nguyên tắc bất di bất dịch “nhà nước thượng tôn hiến pháp” luôn được thoả mãn!
Hiến pháp được định nghĩa là luật cơ bản, nền móng xây dựng nên toà nhà nhà nước cùng hệ thống pháp luật của nó, chỉ có thể và buộc phải thay hoặc sửa, một khi sự phát triển của toà nhà đó đòi hỏi.
Lý thuyết dễ thống nhất vậy, nhưng một khi vấn đề thay hoặc sửa hiến pháp được đặt ra trong thực tế, thì giải quyết lại không dễ nếu không căn cứ vào các tiêu chí khoa học Hiến pháp, không lượng hoá được khái niệm “đòi hỏi” bằng trải nghiệm thực tế phong phú quốc gia và thế giới.
Có thể phân tích từ thí điểm mô hình bỏ HĐND huyện, quận, phường, tiến hành từ năm 2009 ở 10 tỉnh, thành, đặt ra đòi hỏi sửa điều khoản Hiến pháp xưa nay quy định cơ cấu chính quyền 4 cấp, trung ương, tỉnh, huyện quận, phường xã; ý kiến phản đối không phải vì nên bỏ hay không, mà đơn giản chỉ do ngộ nhận Hiến pháp là đạo luật rất thiêng liêng, không thể sửa lắt nhắt, làm tầm thường hóa Hiến pháp.
Khái niệm lắt nhắt tầm thường được ý kiến ở ngay cấp lập pháp lượng hoá sai cả thực tế, để bảo vệ ngộ nhận của mình: “sửa vặt, vài ba năm sửa vài điều ít nước làm lắm. 30-40 năm người ta mới sửa một lần” (Pháp luật TPHCM Online 18/04/2009). Thực tế cho đáp số ngược lại.

Giống ta nhất là Hiến pháp Trung Quốc năm 1982, Quốc hội khoá VII sửa đổi 2 điều vào ngày 12.4.1988, Quốc hội khoá VIII sửa đổi 9 điều ngày 29.3.2993, Quốc hội khoá IX sửa đổi 6 điều ngày 15.3.1999 và 13 điều được sửa đổi vào ngày 14.3.2004. Trong 22 năm sửa đổi 4 lần, bình quân 5-6 năm sửa 1 lần, có điều khoản chỉ sửa 1 câu, thậm chí chỉ mỗi tiêu đề.
Khác ta nhất là Hiến pháp Hoa Kỳ, trong vòng 200 năm từ 1791 tới 1992, sửa tổng cộng 27 lần, nghĩa là 7-8 năm sửa 1 lần. Nước Đức có thể coi là điển hình của sửa Hiến pháp „lắt nhắt”. Trong vòng 40 năm, từ 1951 đến 1990 sửa tới 38 lần, bình quân mỗi năm gần 1 lần, gồm 14 lần sửa 1 điều, 8 lần sửa 1 điểm, 4 lần sửa 1 câu, số lần còn lại sửa cả đoạn. Tính khoảng cách thời gian, có tới 9 năm, mỗi năm sửa 2 lần. Nhặt nhất, có 1 năm sửa tới 3 lần. Thực tế trên cho thấy, thời gian sửa nhặt hay thưa, mức độ nhiều hay ít không phải là dấu hiệu đánh giá chất lượng hiến pháp thiêng liêng hay không, vĩ đại hay tầm thường, nó chỉ phản ảnh những nhu cầu thay đổi chính trị đã được hiến pháp thoả mãn. Bởi Hiến pháp là công cụ chứ không phải mục đích !
“Thiêng liêng” thuộc phạm trù tư tưởng, tinh thần, lý tưởng, thể hiện mong muốn bất di bất dịch không được đụng đến bất chấp cả những thực tế ngược lại phũ phàng phải chịu đựng, được áp dụng chủ yếu trong lĩnh vực tâm linh, tôn giáo, trong khi luật pháp chỉ điều chỉnh các mối quan hệ bằng những chuẩn mực, thước đo, quy tắc xử sự, đong đo đếm được, không dùng để áp dụng cho tinh thần, tín ngưỡng nằm trong đầu, hay trong tâm.
Nếu coi “tư tưởng một khi đã thấm sâu vào quần chúng cũng tạo nên sức mạnh như lực lượng vật chất (Các Mác)”, thì ngộ nhận tư tưởng trên là cản trở lớn nhất đối với đòi hỏi hoàn thiện nền tảng hiến pháp luôn mâu thuẫn với xã hội phát triển không ngừng, không riêng ở ta mà với bất cứ quốc gia nào.
Hệ lụy vô cùng nặng nề, nếu có sửa hiến pháp, thì với ngộ nhận đó cũng sẽ sử dụng những quy định chung chung mang tính tư tưởng tinh thần như kinh thánh, chứ không phải những chuẩn mực, thước đo, quy tắc xử sử, vốn là đặc trưng bắt buộc của 1 văn bản pháp luật, với động cơ tránh cho ngôn từ hiến pháp không còn mâu thuẫn với thực tế luôn vận động muôn mầu muôn vẻ; hoặc coi hiến pháp chỉ như tuyên ngôn không còn được sử dụng làm căn cứ thước đo để đánh giá các văn bản lập pháp đúng hay sai – vốn là nền tảng của nhà nước pháp quyền phân biệt với nhà nước quân chủ; thậm chí thí nghiệm cả với hiến pháp như trường hợp bỏ hội đồng huyện quận phường, trong khi nó vẫn còn hiệu lực hiến định đúng nguyên lý nhà nước pháp quyền: bất cứ cấp chính quyền nào cũng gồm lập pháp hành pháp và tư pháp – điều không quốc gia hiện đại nào dám thử nghiệm vi phạm – chỉ có thể chọn lựa chính quyền mấy cấp, chứ không thể bỏ một nhánh trong cấp đó. Trong cả 3 trường hợp, hiến pháp sẽ ngày càng tụt hậu so với vận động của thực tế, mất uy lực, nhà nước cùng hệ thống pháp luật xây dựng trên nó khó tránh khỏi nguy cơ nội tại bị chông chênh.
Hệ lụy khác trực tiếp tác động đến cơ quan lập pháp, thay vì tạo ra một quy trình sửa đổi hiến pháp kịp thời, đơn giản, hiệu qủa, thì kéo dài nó khó biết hồi kết, với lý do cẩn trọng thiêng thiêng, mà chủ trương chuyển đổi ngân hàng trung ương độc lập với chính phủ, hay tổ chức lại hệ thống toà án theo mô hình các nước hiện đại ở ta đã được nhất trí ở cấp cao nhất, tới nay cũng chỉ dừng lại ở công đoạn bàn thảo, là một dẫn chứng.
Hiến pháp quốc gia nào cũng có ít nhất 2 phần, phần quyền công dân và cơ cấu tổ chức bộ máy nhà nước. Tuy nhiên cách trình bày cả cấu trúc lẫn nội dung, hiến pháp nước ta tương tự hiến pháp Liên Xô 174 điều, ban hành năm 1977, khác với hầu hết các nước hiện nay.
Nếu coi hiến pháp phản ảnh thể chế chính trị, thì sự khác và giống nhau đó là tất yếu trong giai đoạn lịch sử thế giới phân chia 2 phe đã qua. Nhưng hiện nay, loài người đang trong thời đại hội nhập nghĩa là phải cùng thừa nhận những giá trị phổ quát, dù thể chế chính trị khác nhau như thế nào, bằng không sẽ bị gạt ra ngoài. Một trong những giá trị đó là quyền công dân.
Hiến pháp ta trong hầu hết các điều khoản đề cập đều mở đầu: “Công dân có quyền…”, và tại điều 51 còn quy định: “Quyền và nghĩa vụ của công dân do Hiến pháp và luật quy định”. Cách trình bày đó dễ dẫn tới ngộ nhận quyền công dân do nhà nước cho mà có, mâu thuẫn với nguyên lý dân chủ: “mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng, tạo hoá (chứ không phải nhà nước) cho họ những quyền không ai có thể chối cãi” (Tuyên ngôn độc lập). Ngộ nhận trên đồng nghĩa ngộ nhận coi hiến pháp là công cụ của nhà nước sinh ra để cai trị dân, tức nhà nước giữ quyền lập hiến – vốn đặc trưng của nhà nước quân chủ, chứ không phải như trong nhà nước dân chủ, hiến pháp là công cụ của dân, đưa ra những thước đo, chuẩn mực, quy tắc ứng xử, giới hạn pháp lý nhà nước được phép làm, hoặc phải làm, theo đúng những đòi hỏi của chủ nhân nó là người dân, tức nhân dân lập hiến hay người dân có quyền phúc quyết hiến pháp; điển hình như Hiến pháp EU, từng nước thành viên buộc phải tổ chức dân phúc quyết. Chính vì sinh ra để bảo đảm quyền, lợi ích của dân, nên hầu hết hiến pháp các nước hiện đại đều bắt đầu bằng chương mục: quyền cơ bản công dân. Sau đó mới đến các chương mục về bộ máy nhà nước để bảo đảm quyền đó.
Có thể dẫn liệu Hiến pháp Đức, điều khoản đầu tiên được bắt đầu bằng câu: „Nhân phẩm là quyền bất khả xâm phạm (khác với câu: công dân có quyền về nhân phẩm). Chú ý và bảo vệ nó là trách nhiệm của mọi quyền lực nhà nước”. Tinh thần đó có thể tìm thấy cả ở Trung Quốc, khi ngày 14.3.2004, lần đầu tiên trong lịch sử, hiến pháp họ bổ sung: “Tài sản tư hữu hợp pháp là quyền bất khả xâm phạm. Nhà nước phải chú ý và bảo vệ quyền con người”. Trong điều 1 Hiến pháp Đức còn đưa ra ràng buộc đối với nhà nước: “Các quyền cơ bản khác nêu tại các điều tiếp theo là quyền trực tiếp buộc cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp phải chấp hành”, nhằm nhấn mạnh quyền một khi được hiến định, thì đương nhiên được thực hiện trực tiếp, nhà nước buộc phải phục tùng, khác hẳn với ngộ nhận rằng: hiến pháp chỉ đưa ra điều khoản chung chung, không có giá trị áp dụng nếu thiếu văn bản lập pháp cụ thể hoá nó.
Ảnh: TTXVN
Quyền công dân trực tiếp buộc nhà nước phải chấp hành, liên quan tới nguyên lý cơ bản của nhà nước pháp quyền: người dân được quyền làm tất cả trừ những gì luật pháp cấm, ngược lại nhà nước chỉ được làm những gì luật pháp cho phép.
Chẳng hạn, hiến pháp hầu hết các nước đều khẳng định: biểu tình là quyền cơ bản của người dân. Nghĩa là người dân hoàn toàn có quyền xuống đường tập hợp nhau ủng hộ hay chống một chủ trương chính sách nào đó của nhà nước, bất cứ đâu, lúc nào, không cần báo trước. Nhưng trên thực tế quyền đó bị giới hạn, chỉ bởi Luật biểu tình dựa trên điều khoản an ninh của Hiến pháp đưa ra điều cấm: không được biểu tình khi thiết quân luật, biểu tình phải đăng ký trước để nhà nước bảo vệ, phải có người tổ chức kẻo gây bạo động… Không có luật này, người dân có quyền biểu tình vô giới hạn, bất chấp tất cả. Như vậy, quyền hiến định về biểu tình hoàn toàn được công dân tự động thực hiện; nó chỉ bị giới hạn khi và chỉ khi có văn bản lập pháp đưa ra quy định (tất nhiên không mâu thuẫn với hiến pháp), chứ hoàn toàn không như ngộ nhận phổ biến ở ta cho rằng chỉ được phép biểu tình khi có luật biểu tình, mà không đặt ra câu hỏi, vậy chẳng nhẽ quyền hiến định tự do đi lại, chỉ được phép thực hiện khi có luật đi lại tự do, còn không thì cứ phải ngồi nhà chờ văn bản?
Không chỉ điều khoản Hiến pháp ta về quyền biểu tình bị ngộ nhận như vậy, mà nhiều quyền khác như quyền được thông tin, quyền lập hội… cũng ngộ nhận tương tự, trông chờ vào các văn bản lập pháp hướng dẫn ?!, thậm chí đến lượt văn bản lập pháp muốn thực hiện cũng phải trông chờ văn bản lập quy, rốt cuộc lẽ ra luật pháp quyết định quan chức hành xử thì ngộ nhận trên dẫn tới nghịch lý: quan chức hành xử quyết định luật pháp; chí có thể khắc phục bằng cách nhấn mạnh trong hiến pháp: quyền cơ bản của công dân là quyền trực tiếp, và chỉ khi đó mới thúc đẩy và buộc được cơ quan lập pháp phải ban hành luật tương ứng kịp thời, để khắc phục những hệ quả không mong muốn xảy ra kèm theo, nếu không họ phải chịu trách nhiệm trước quốc dân.
Nói đến luật pháp là nói đến chế tài bởi quyền lực công, vì vậy nội hàm khái niệm luật pháp luôn chứa đựng toà án trong đó, được toà án bảo vệ, thiếu nó khái niệm pháp luật không còn đúng nghĩa, trên thực tế sẽ vô giá trị. Vì vậy, sự hiện hữu và tính độc lập của toà án là cốt tử bảo đảm tính tối thượng của hiến pháp và pháp luật. Trên nghĩa đó, thành lập toà án hiến pháp độc lập ở ta là một đòi hỏi bức bách, và cũng chỉ khi đó, mọi tranh cãi và sửa đổi hiến pháp mới thực sự có ý nghĩa.
Hiện ở ta, mối quan hệ giữa 3 cơ quan lập pháp hành pháp và tư pháp được bàn cãi nhiều về học thuật, theo lý thuyết tam quyền phân lập hay coi đó là một thể thống nhất có phân công phân nhiệm. Dù theo quan điểm nào thì câu hỏi thực tế vẫn phải trả lời là toà án khi thụ lý và ra phán quyết có phải xin ý kiến chỉ đạo của ai hay cấp nào không? Nếu có, thì pháp luật không còn là tối thượng mà người và cấp chỉ đạo mới là tối thượng ! không thể biện hộ bằng bất cứ quan điểm gì.
Quốc gia nào chẳng muốn Hiến pháp nước mình như huân chương đeo trước ngực lấp lánh thế giới, mang đẳng cấp tín nhiệm như thương hiệu của những hãng nổi tiếng toàn cầu, mãi mãi là nơi công dân đặt niềm tin công lý; nhưng chỉ có thể kỳ vọng, một khi nguyên tắc bất di bất dịch “nhà nước thượng tôn hiến pháp” luôn được thoả mãn!
http://tuanvietnam.vietnamnet.vn/?vnnid=8719

Advertisements

Gửi bình luận »

Không có bình luận

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: